1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ vừa) Biên soạn: PGS.TS Bùi Huy Nhượng

93 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ vừa)
Tác giả PGS.TS Bùi Huy Nhượng
Trường học Cục Phát Triển Doanh Nghiệp, Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư
Chuyên ngành Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Tài liệu đào tạo
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 744,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (0)
    • 1.1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế (5)
    • 1.2. Hình thức hội nhập kinh tế quốc tế (6)
    • 1.3. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế (8)
      • 1.3.1. Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế (8)
      • 1.3.2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế (9)
    • 1.4. Nhân tố thác đẩy quá trình hội nhập KTQT (11)
  • CHƯƠNG 2:CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (0)
    • 2.1 Thuế quan và hạn ngạch xuất, nhập khẩu (14)
      • 2.1.1. Thuế xuất, nhập khẩu (14)
      • 2.1.2. Hạn ngạch (quotas) (14)
    • 2.2. Cấm xuất khẩu, nhập khẩu và giấy phép nhập khẩu (15)
      • 2.2.1. Cấm xuất, nhập khẩu (15)
    • 2.3. Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (17)
      • 2.3.1. Các quy định kỹ thuật (techical requirements) tiêu chuẩn (standards) và thủ tục xác định sự phù hợp (17)
      • 2.3.2. Các thủ tục đánh giá sự phù hợp (18)
      • 2.3.3. Kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (Sanitary (18)
      • 2.3.4. Thủ tục về đóng gói sản phẩm (20)
      • 2.3.5. Yêu cầu về dán nhãn sinh thái (20)
      • 2.3.5. Các yêu cầu về phương pháp sản xuất/ khai thác và chế biến sản phẩm (PPM) (21)
    • 2.4. Quy tắc xuất xứ (22)
    • 2.5. Thủ tục hành chính (22)
  • CHƯƠNG 3:NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CAM KẾT GIA NHẬP (0)
    • 3.1. Giới thiệu về WTO (24)
      • 3.1.1. Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (24)
      • 3.1.2. Mục tiêu và chức năng hoạt động của WTO (26)
      • 3.1.3. Nguyên tắc pháp lý của WTO (27)
      • 3.1.4. Cơ cấu tổ chức của WTO (28)
      • 3.1.5. Quá trình thông qua quyết định trong WTO (30)
    • 3.2. Các cam kết đa phương của Việt nam trong WTO (30)
      • 3.2.1. Tổng quan về cam kết đa phương của Việt nam trong WTO (30)
      • 3.2.2. Một số nội dung chính trong cam kết đa phương của Việt Nam (31)
    • 3.3. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ (34)
      • 3.3.1. Biểu cam kết dịch vụ (34)
      • 3.3.2. Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và tài chính (35)
  • CHƯƠNG 4:MỘT SỐ LIÊN KẾT VÀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ ĐIỂN HÌNH (0)
    • 4.1. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (43)
      • 4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển (43)
      • 4.1.2 Cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc hoạt động của ASEAN (45)
      • 4.1.3. Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN (48)
    • 4.2. Giới thiệu tổng quan về AFTA (50)
      • 4.2.1. Quá trình hình thành AFTA (50)
      • 4.2.3. Quá trình tham gia AFTA và lịch trình giảm thuế của Việt Nam (51)
      • 4.2.4. Tình hình thực Men AFTA của việt Nam (52)
      • 4.3.3. Mục tiêu (57)
      • 4.4.1. Giới thiệu chung về ASEM (61)
      • 4.4.2. Kết quả hợp tác (63)
      • 4.4.3. ASEM qua các kỳ họp cấp cao (64)
      • 4.4.4. Việt Nam & ASEM (66)
  • CHƯƠNG 5:TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆT NAM (0)
    • 5.1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (72)
    • 5.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam (74)
      • 5.2.1. Thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong quá trình hội nhập (74)
      • 5.2.2. Cơ hội và thách thức của Hội nhập đối với nền kinh tế Việt Nam (79)
    • 5.3 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với các doanh nghiệp Việt Nam (83)
      • 5.3.1. Thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam (83)
      • 5.3.2. Khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam (84)
      • 5.3.4. Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam (91)

Nội dung

Khu vực mậu dịch tự do FTA: Theo hình thức này, tất cả các thành viên trong khối phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng có thế bao g

QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế

Thuật ngữ "hội nhập kinh tế quốc tế" đã xuất hiện từ giữa thập niên 1990, gắn liền với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN và tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cùng các tổ chức kinh tế quốc tế khác Từ khi gia nhập WTO, cụm từ này ngày càng trở nên phổ biến Ngoài "hội nhập kinh tế quốc tế", các thuật ngữ như "nhất thể hóa nền kinh tế thế giới", "liên kết kinh tế quốc tế" và "toàn cầu hóa" cũng thường được sử dụng, với sự khác biệt chủ yếu nằm ở phạm vi và nội dung hợp tác kinh tế giữa các quốc gia.

Liên kết kinh tế quốc tế đề cập đến các quan hệ kinh tế dựa trên tự do hóa mậu dịch giữa các quốc gia trong cùng khu vực, như Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU), và Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Mặc dù có sự tương đồng giữa hội nhập kinh tế quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế, hiện vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn mực nào cho khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế có hai cách hiểu: theo nghĩa hẹp, đó là sự tham gia của các quốc gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực; theo nghĩa rộng, nó là quá trình mở cửa nền kinh tế và tham gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế, đối lập với tình trạng đóng cửa và cô lập Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tăng cường sự gắn kết giữa các nền kinh tế dựa trên chia sẻ nguồn lực và lợi ích, tuân thủ các quy tắc chung trong các tổ chức quốc tế Kết quả của hội nhập là sự giảm bớt tính tự chủ kinh tế của mỗi quốc gia và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ Quá trình này cũng hình thành các định chế và chủ thể quốc tế mới, có thể là tổ chức liên chính phủ, tổ chức siêu quốc gia, hoặc tổ chức lai ghép giữa hai hình thức trên, như trường hợp của EU hiện nay.

Hội nhập quốc tế chủ yếu diễn ra qua các quốc gia, là những chủ thể chính trong quan hệ quốc tế với đủ thẩm quyền và năng lực để đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế Ngoài các quốc gia, còn có nhiều chủ thể khác tham gia, tạo thành lực lượng tổng hợp trong quá trình hội nhập này.

Hình thức hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình kết nối các nền kinh tế quốc gia với kinh tế khu vực và toàn cầu thông qua việc tự do hóa và mở cửa nền kinh tế Quá trình này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Mức độ cam kết mở cửa nền kinh tế trong hội nhập có thể khác nhau, và theo một số nhà kinh tế, tiến trình này được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao.

Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA) là giai đoạn đầu tiên trong quá trình hội nhập, trong đó các nước thành viên cung cấp ưu đãi thương mại thông qua việc cắt giảm thuế quan Tuy nhiên, phạm vi của các ưu đãi này còn hạn chế, thể hiện qua số lượng quốc gia tham gia, số lượng mặt hàng được cắt giảm thuế quan và mức độ cắt giảm Ví dụ về hình thức hội nhập này bao gồm Hiệp định PTA của ASEAN năm 1977, Hiệp định Thương mại song phương Việt-Mỹ năm 2001, và Hiệp định GATT năm 1947 và 1994.

Khu vực mậu dịch tự do (FTA) yêu cầu các thành viên cắt giảm và loại bỏ hàng rào thuế quan cũng như hạn chế định lượng trong thương mại hàng hóa giữa họ, trong khi vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập với các nước ngoài khối Điều này dẫn đến việc các nước thành viên mất quyền tự chủ về chính sách thương mại nội khối, nhưng vẫn giữ được quyền tự chủ trong thương mại ngoại khối Ví dụ điển hình của FTA bao gồm Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), NAFTA và AFTA Gần đây, nhiều hiệp định FTA mới đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, không chỉ tập trung vào hàng hóa mà còn bao gồm dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và mua sắm chính phủ.

Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP- đang đàm phán)

Liên minh thuế quan (CU) là hình thức phát triển cao hơn, trong đó các nước thành viên không chỉ cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối mà còn thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài Kết quả là tất cả các nước trong liên minh áp dụng chính sách thuế quan thống nhất Ví dụ điển hình của hình thức này bao gồm nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.

Thị trường chung là hình thức mà các nước thành viên không chỉ loại bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong thương mại nội khối, mà còn thiết lập chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối Ngoài ra, các thành viên còn đồng thuận xóa bỏ mọi hạn chế về lưu thông các yếu tố sản xuất như vốn và lao động, nhằm tạo ra một thị trường thống nhất cho tất cả Một ví dụ điển hình cho hình thức này là Liên minh châu Âu, nơi đã xây dựng thị trường duy nhất trước khi trở thành một liên minh kinh tế.

Liên minh kinh tế-tiền tệ là hình thức hội nhập kinh tế cao nhất, dựa trên một thị trường chung và chính sách kinh tế, tiền tệ chung, với đặc trưng là sử dụng đồng tiền chung và ngân hàng trung ương thống nhất Hiện nay, Liên minh Châu Âu (EU) là ví dụ điển hình cho mô hình này Mỗi quốc gia có thể lựa chọn hình thức hội nhập phù hợp với đặc điểm riêng, nhưng thường phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao Hội nhập kinh tế đóng vai trò quan trọng cho sự bền vững của các lĩnh vực hội nhập khác, đặc biệt là chính trị, và được các quốc gia ưu tiên thúc đẩy như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, và là con đường phát triển duy nhất cho các quốc gia Sự tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho các nước.

1.3.1 Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế, từ đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội Hội nhập tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác toàn cầu.

Hội nhập quốc tế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, sản phẩm và doanh nghiệp Điều này cũng góp phần tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế.

Hội nhập quốc tế nâng cao trình độ nguồn nhân lực và phát triển nền khoa học công nghệ của quốc gia Điều này đạt được thông qua hợp tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước khác, cũng như tiếp thu công nghệ mới từ đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia tiên tiến.

Hội nhập mang lại cho người tiêu dùng cơ hội lựa chọn sản phẩm và dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cả cạnh tranh hơn Điều này cũng giúp họ tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với các quốc gia khác, đồng thời mở rộng cơ hội tìm kiếm việc làm cả trong và ngoài nước.

Hội nhập giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về tình hình và xu thế phát triển toàn cầu, từ đó họ có thể xây dựng các chính sách phát triển phù hợp với thực tế của đất nước.

Hội nhập quốc tế giúp các quốc gia xác định vị trí phù hợp trong trật tự toàn cầu, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế, đồng thời tăng cường khả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển bền vững.

Hội nhập đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình và ổn định khu vực cũng như quốc tế, cho phép các quốc gia tập trung vào phát triển Đồng thời, nó tạo điều kiện cho việc phối hợp nỗ lực và nguồn lực giữa các nước nhằm giải quyết những vấn đề chung của khu vực và thế giới.

1.3.2 Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tạo ra những thách thức đáng kể cho các quốc gia Cạnh tranh gia tăng có thể khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế gặp khó khăn, thậm chí dẫn đến phá sản Hệ quả của tình trạng này là gia tăng nạn thất nghiệp và sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội.

Hội nhập kinh tế gia tăng sự phụ thuộc của các quốc gia vào thị trường quốc tế, làm cho nền kinh tế trở nên dễ bị tổn thương trước các biến động lớn như khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, các nước đang phát triển gặp khó khăn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chủ chốt.

Các nước đang phát triển đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành sử dụng nhiều tài nguyên và lao động nhưng có giá trị gia tăng thấp Nếu không có biện pháp thích hợp, họ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệ thấp, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và tình trạng hủy hoại môi trường.

Hội nhập có thể gây ra thách thức cho độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia, đồng thời dẫn đến nguy cơ mất văn hóa, bản sắc dân tộc và giá trị truyền thống.

Hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ đối mặt với các vấn đề như khủng bố quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh và nhập cư bất hợp pháp.

Hội nhập kinh tế quốc tế có tính hai mặt, với việc khai thác lợi ích và hạn chế bất lợi phụ thuộc vào chính sách của từng quốc gia Nhiều nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc, Malaixia, Mêhicô, và Braxin đã tận dụng tốt cơ hội từ hội nhập để đạt được tăng trưởng kinh tế-xã hội ổn định và vươn lên hàng các nước công nghiệp mới Ngược lại, một số quốc gia như Thái Lan, Phi-líp-pin, Inđônêxia, Việt Nam, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha mặc dù vẫn thu được lợi ích nhưng chưa xử lý tốt các thách thức, dẫn đến khó khăn Tuy nhiên, hội nhập quốc tế hiện nay đã trở thành lựa chọn chính sách phổ biến của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Nhân tố thác đẩy quá trình hội nhập KTQT

Quan hệ kinh tế giữa các nước ngày càng phổ biến và đa dạng, bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau Trong vài thập kỷ qua, sự xuất hiện của các yếu tố kinh tế kỹ thuật mới đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa Một số yếu tố cơ bản đã góp phần vào sự hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm sự phát triển công nghệ, tăng cường thương mại và đầu tư quốc tế.

Sự phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ

Quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế tri thức đang trở thành xu thế phổ biến toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia phát triển Các nước đang phát triển cũng đang chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, nhờ vào thành tựu của khoa học công nghệ Sự phát triển của kinh tế tri thức dựa vào các công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin và vận tải, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã xóa bỏ rào cản địa lý trong giao dịch giữa các quốc gia Tất cả các quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi quá trình toàn cầu hóa, và để tồn tại và phát triển, việc tham gia vào hội nhập quốc tế là điều không thể tránh khỏi.

Sự chuyển đổi trong chính sách phát triển kinh tế của các nước

Toàn cầu hoá là xu thế không thể tránh khỏi, nhưng tốc độ của nó phụ thuộc vào chính sách mở cửa của từng quốc gia Quá trình hội nhập diễn ra khi các quốc gia thực hiện cải cách, mở cửa, tư nhân hoá và tự do hoá lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động.

Lịch sử phát triển cho thấy rằng để đạt được bước đột phá trong kinh tế, các quốc gia cần mở cửa và áp dụng chính sách hướng ngoại Điều này đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu kinh tế, coi thị trường quốc tế là nền tảng cho sản xuất sản phẩm và dịch vụ Để thực hiện điều này, các quốc gia cần mở cửa nền kinh tế, tiếp nhận công nghệ và thu hút vốn đầu tư nhằm xây dựng cơ cấu ngành kinh tế phù hợp Chiến lược hướng về xuất khẩu đã thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và nền kinh tế thông qua phân công lao động quốc tế dựa trên thế mạnh của từng nền kinh tế dân tộc.

Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu đòi hỏi các quốc gia phải cùng hợp tác giải quyết

Khi nền kinh tế phát triển, nhiều vấn đề toàn cầu như phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và biến đổi khí hậu xuất hiện, đòi hỏi sự phối hợp giữa các quốc gia để giải quyết Những vấn đề này ảnh hưởng đến toàn thế giới và quyết định sự tồn vong của cộng đồng nhân loại Để giải quyết hiệu quả, cần nỗ lực không chỉ từ mỗi quốc gia mà còn từ sự hợp tác quốc tế, vì không một quốc gia nào, dù phát triển hay chậm phát triển, có thể tự mình giải quyết triệt để các vấn đề toàn cầu.

Sự lớn mạnh của các công ty xuyên quốc gia về hệ thống sản xuất và phân phối trên phạm vi toàn cầu

Các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia, với tiềm lực về vốn và công nghệ, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Sự phát triển mạnh mẽ của họ đã tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Mỗi quốc gia có thể tham gia vào một giai đoạn trong chuỗi sản xuất quốc tế, dẫn đến việc gia tăng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.

Các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đã đóng góp quan trọng vào việc tăng giá trị xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển Sự bành trướng của các công ty này không chỉ thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế mà còn tạo ra mối liên hệ và sự phụ thuộc giữa các nền kinh tế, góp phần giảm bớt khoảng cách phát triển giữa nhiều quốc gia trên thế giới.

Sự ra đòi và phát triển của các định chế quốc tế mang tính khu vực và toàn cầu

Trên thế giới, nhiều tổ chức quốc tế như WTO, IMF, WB và các tổ chức khu vực như EU, NAFTA, APEC có ảnh hưởng lớn đến toàn cầu hóa và khu vực hóa Các tổ chức này chủ yếu nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các quốc gia thành viên.

Tất cả các tổ chức quốc tế đều nỗ lực cắt giảm và hướng tới việc xóa bỏ rào cản thương mại và đầu tư giữa các quốc gia Điều này thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương, làm tăng sự gắn bó lẫn nhau giữa các nền kinh tế Kết quả là quá trình phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc trong nội bộ tổ chức, dẫn đến hình thành một thị trường thống nhất trong khu vực.

THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Thuế quan và hạn ngạch xuất, nhập khẩu

Hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng thuế quan, hay còn gọi là thuế xuất, nhập khẩu, để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của mình.

Thuế quan là loại thuế áp dụng cho hàng hóa trong quá trình xuất nhập khẩu, với mức thuế có thể từ 0% đến cao hơn tùy theo quy định của từng quốc gia Mức thuế thấp khuyến khích xuất nhập khẩu, trong khi mức thuế cao hạn chế hoạt động này Ưu điểm của thuế quan bao gồm tính dễ áp dụng, khả năng áp dụng cho hầu hết các mặt hàng, và việc tạo ra sự bình đẳng cho doanh nghiệp, đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách Tuy nhiên, thách thức lớn là xác định mức thuế quan tối ưu để vừa đảm bảo nguồn thu, vừa quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và ngăn chặn buôn lậu Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, các cam kết quốc tế khiến chính phủ các nước mất dần quyền chủ động trong việc thiết lập chính sách thuế quan nhập khẩu.

Hạn ngạch là quy định giới hạn số lượng hoặc giá trị hàng hóa được phép xuất nhập khẩu, bao gồm nhiều loại như hạn ngạch áp dụng cho tất cả các nước, hạn ngạch song phương, hạn ngạch theo sản phẩm, và hạn ngạch thuế quan Mặc dù các quy định của WTO không cho phép các thành viên áp dụng biện pháp hạn ngạch, trong một số trường hợp đặc biệt, hạn ngạch có thể được áp dụng một cách tạm thời và không phân biệt đối xử để ngăn chặn hoặc giảm bớt tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm và các sản phẩm thiết yếu khác.

Việc áp dụng công cụ hạn ngạch nhập khẩu có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa trong nước, tạo ra sự phân biệt giữa các doanh nghiệp được phân bổ hạn ngạch và gây khó khăn trong việc xác định tiêu chí phân bổ hợp lý.

Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota - TRQ) là biện pháp kiểm soát khối lượng hàng nhập khẩu thông qua việc áp dụng các mức thuế quan khác nhau Cụ thể, hàng hóa nằm trong hạn ngạch sẽ chịu mức thuế quan nhập khẩu thông thường, trong khi hàng hóa vượt quá hạn ngạch sẽ phải chịu mức thuế quan cao hơn nhiều Do đó, người tiêu dùng sẽ phải trả giá cao để tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu.

Cấm xuất khẩu, nhập khẩu và giấy phép nhập khẩu

Cấm xuất khẩu và nhập khẩu là biện pháp bảo hộ tối đa, ngăn chặn hoàn toàn hoạt động thương mại giữa các quốc gia Trong thực tế thương mại quốc tế, có nhiều trường hợp cấm nhập khẩu, bao gồm cấm theo quốc gia, theo thời gian, theo mặt hàng, hoặc tạm dừng cấp phép nhập khẩu.

Theo quy định của WTO, các nước thành viên không được phép áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu nếu không có lý do chính đáng Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, các thành viên có thể thi hành các biện pháp này để đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, con người, động vật và thực vật, cũng như bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm Ngoài ra, các biện pháp tạm thời cũng có thể được áp dụng để ngăn chặn hoặc giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm và các sản phẩm thiết yếu khác, đồng thời cần thiết để thực hiện các tiêu chuẩn và quy định trong thương mại quốc tế.

Danh mục hàng cấm nhập khẩu của Việt Nam hiện nay bao gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, hóa chất độc hại, và pháo các loại Ngoài ra, một số mặt hàng đặc thù theo từng chuyên ngành cũng bị cấm nhằm bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, thú y, và an ninh quốc phòng Cụ thể, có quy định cấm hoặc hạn chế nhập khẩu các loài động thực vật quý hiếm, giống cây trồng, vật nuôi, cũng như các loại phế thải, phế liệu và hóa chất độc hại theo công ước BASEL.

2 2 2 Giấy phép nhập khẩu (import licences)

Giấy phép nhập khẩu là thủ tục cho phép doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Công cụ này giúp cơ quan chức năng kiểm soát các mặt hàng nhạy cảm, nhưng cũng có thể gây méo mó trong thương mại Việc áp dụng giấy phép gặp khó khăn do thiếu công khai về tiêu chí cấp phép, quy trình và thời hạn cấp giấy phép, cũng như các điều kiện và thủ tục liên quan Nếu thủ tục hành chính quá phức tạp, có thể dẫn đến hiện tượng tiêu cực và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.

Cấp phép nhập khẩu tự động cho phép tất cả các đơn được chấp thuận mà không hạn chế khối lượng nhập khẩu và không đặt ra hạn chế với nhà nhập khẩu, với thời gian phê duyệt trong vòng 10 ngày Ngược lại, cấp phép nhập khẩu không tự động yêu cầu các đơn vị xin cấp phép phải đáp ứng các điều kiện nhất định Các thủ tục này cần tương ứng với phạm vi và thời hạn của biện pháp thực hiện, đồng thời không tạo ra gánh nặng hành chính không cần thiết Đối với các trường hợp cấp phép không nhằm mục đích quản lý số lượng, các thành viên phải công bố đầy đủ thông tin về cơ sở cấp phép.

Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại

Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBTs) trong WTO quy định việc thiết lập và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm bảo vệ sức khỏe, an toàn con người, động thực vật và môi trường Mục tiêu chính của Hiệp định là giảm thiểu tác động của các quy định kỹ thuật và thủ tục đánh giá tiêu chuẩn đến thương mại quốc tế Hiệp định cũng nhấn mạnh rằng các tiêu chuẩn kỹ thuật, bao gồm quy định về đóng gói, quảng bá sản phẩm và yêu cầu nhãn mác, không được gây ra tác động hạn chế thương mại lớn hơn mức cần thiết để đạt được các mục tiêu hợp lý của Chính phủ Đồng thời, việc đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật quá cao có thể khiến các công ty và đối tác kinh doanh không thể thực hiện, dẫn đến những tác động hạn chế thương mại vô hình.

2.3.1 Các quy định kỹ thuật (techical requirements) tiêu chuẩn (standards) và thủ tục xác định sự phù hợp

Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đặt ra yêu cầu cụ thể về tính chất vật lý của sản phẩm, bao gồm kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và chức năng Chúng cũng quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm, cũng như các quy trình và phương pháp liên quan Sự khác biệt chính giữa tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật là tính bắt buộc; ở các nước phát triển, sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng quy định kỹ thuật sẽ không được phép bán ra thị trường, trong khi sản phẩm không tuân thủ tiêu chuẩn vẫn có thể được bán, mặc dù có thể bị người tiêu dùng từ chối.

Các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn nhằm bảo vệ an toàn, sức khỏe con người, động thực vật và môi trường, đồng thời ngăn chặn hành vi lừa dối Tuy nhiên, chúng cũng là rào cản lớn đối với các nước đang và kém phát triển trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài do thiếu trình độ và kỹ năng công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản an toàn sản phẩm, đặc biệt là lương thực, thực phẩm Các nước phát triển thường yêu cầu các nước này tuân thủ quy định nghiêm ngặt về môi trường và phải cung cấp mẫu sản phẩm để kiểm tra, thử nghiệm, dẫn đến việc phức tạp hóa thủ tục kiểm tra và chứng nhận sản phẩm xuất khẩu.

2.3.2 Các thủ tục đánh giá sự phù hợp Để có cơ sở khẳng định hàng nhập khẩu đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu đề ra, nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp như xét nghiệm, thẩm tra xác thực, kiểm định chứng nhận - đƣợc sử dụng để đảm bảo rằng các sản phẩm nhập khẩu có đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật do các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn của nước nhập khẩu đặt ra hay không Tuy nhiên, do điều kiện và trình độ phát triển của các quốc gia hiện không đồng đều nên khi đánh giá sự phù hợp với các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn này không được tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế, phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử và đối xử quốc gia, phải minh bạch và tiến tới hài hoà hoá Mặt khác, các thành viên không không thể đƣa ra các biện pháp đó không đƣợc áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện, hay hạn chế vô lý đối với thương mại quốc tế

2.3.3.Kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (Sanitary and Phytosanitary)

Hiệp định SPS quy định các biện pháp nhằm bảo vệ sức khỏe con người, động vật và môi trường thông qua việc kiểm dịch động thực vật và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Hiệp định này bao gồm các quy định nhằm phòng tránh rủi ro vệ sinh cho hàng hóa, liên quan đến chất phụ gia, chất độc tố và các chất có hại cho sức khỏe con người trong lương thực, thực phẩm và đồ uống Nó cũng quy định các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của thực phẩm có hại Mục tiêu của Hiệp định SPS là đảm bảo rằng các quy định về an toàn và sức khỏe không gây ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại quốc tế.

Nội dung chính của Hiệp định SPS là

Khuyến khích các quốc gia áp dụng tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, đồng thời hài hòa hóa các thủ tục và quy định Trong trường hợp áp dụng tiêu chuẩn cao hơn, cần đảm bảo rằng điều này dựa trên cơ sở không phân biệt đối xử, có bằng chứng khoa học và phải thực hiện các đánh giá rủi ro.

- Các biện pháp đƣa vào áp dụng không đƣợc có các tác động hạn chế thương mại nhiều hơn mức độ bắt buộc và cần thiết phải hạn chế ;

Các thành viên của WTO có nghĩa vụ thông báo cho ủy ban chức năng liên quan về các biện pháp SPS ảnh hưởng đến thương mại Họ cũng cần thành lập các cơ quan Quốc gia để kiểm tra các biện pháp này và chịu trách nhiệm cung cấp thông tin cho các thành viên.

Các biện pháp kiểm dịch động thực vật nhằm phát hiện độc tố (kháng sinh, hóa chất) và vi sinh (nấm, côn trùng) trong sản phẩm HACCP là một phương pháp phổ biến được nhiều quốc gia áp dụng trong thương mại quốc tế để kiểm soát chất lượng thủy sản và thịt Ở nhiều nước phát triển, các quy định về SPS rất nghiêm ngặt.

Các luật, nghị định và quy định liên quan đến tiêu chuẩn sản phẩm cuối cùng, phương pháp sản xuất và chế biến, cũng như các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp thuận là rất quan trọng.

Quy định về biện pháp cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan đến việc vận chuyển cây trồng, vật nuôi và các chất dinh dưỡng cần thiết trong quá trình vận chuyển.

Các quy định về phương pháp thống kê và thủ tục chọn mẫu, cùng với các phương pháp đánh giá rủi ro, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm Ngoài ra, yêu cầu về đóng gói và nhãn mác cũng cần được tuân thủ chặt chẽ để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

2.3.4.Thủ tục về đóng gói sản phẩm

Quy định đóng gói bao gồm các yêu cầu về nguyên vật liệu, tái sinh, xử lý và thu gom sau sử dụng Tiêu chuẩn liên quan đến đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói yêu cầu việc đóng gói phải phù hợp với tái sinh hoặc sử dụng lại Nếu không tuân thủ, nguyên liệu đóng gói và sản phẩm có thể bị thị trường từ chối.

Các quy định này ảnh hưởng đến xuất khẩu của các nước đang và kém phát triển (LDCs) sang thị trường các nước đang phát triển Nhiều nước nhập khẩu không tin tưởng vào quy trình bao gói sản phẩm từ LDCs, trong khi các nước phát triển lo ngại rằng bao bì từ các nước này không thể tái chế, dẫn đến vấn đề trong xử lý chất thải tại nước nhập khẩu.

Liên bang Đức đã từ chối nhập khẩu sản phẩm từ Indonesia được đóng gói bằng bì gai, loại vật liệu không phân hủy tại Đức Sự khác biệt trong tiêu chuẩn bao bì và đóng gói có thể ảnh hưởng đến cạnh tranh thương mại quốc tế Điều này xuất phát từ sự khác nhau về quy định, chi phí sản xuất bao bì, nguyên liệu sản xuất và khả năng tái chế giữa các quốc gia.

2.3.5 Yêu cầu về dán nhãn sinh thái

Quy tắc xuất xứ

Quy tắc xuất xứ bao gồm các luật, quy định và quyết định hành chính nhằm xác định nguồn gốc hàng hoá Những quy tắc này không liên quan đến các chế độ thương mại liên minh hay tự trị, do đó không dẫn đến việc hưởng ưu đãi thuế quan vượt quá đối xử tối huệ quốc (MFN).

Quy tắc xuất xứ bao gồm tất cả các quy tắc liên quan đến chính sách thương mại không ưu đãi, như đối xử tối huệ quốc về thuế suất, thuế chống phá giá, thuế đối kháng, và các biện pháp tự vệ Nó cũng đề cập đến yêu cầu nhãn xuất xứ hàng hóa, các hạn chế số lượng và hạn ngạch thuế quan không phân biệt đối xử, cũng như quy tắc xuất xứ trong mua sắm chính phủ và thống kê thương mại.

Thủ tục hành chính

Mặc dù các cam kết quốc tế nhằm tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại, nhưng sự khác biệt về kinh tế và chính trị giữa các quốc gia dẫn đến việc áp dụng các biện pháp tinh vi cản trở thương mại quốc tế Việc phân biệt giữa rào cản kỹ thuật và các biện pháp hạn chế nhập khẩu là rất khó khăn.

- Quy định về quảng cáo: quy định cấm quảng cáo rƣợu ngoại gây sự phân biệt đối xử;

Nhà nhập khẩu phải thực hiện việc đặt cọc một khoản tiền tương đương nửa giá trị hàng hóa nhập khẩu vào kho bạc nhà nước trong một thời gian nhất định, tuy nhiên, khoản tiền này sẽ không được hưởng lãi suất.

- Quy định về thanh toán: yêu cầu các doanh nghiệp nhập khẩu hàng tiêu dùng phải thanh toán ngay thuế nhập khẩu;

Quy định về kích cỡ nông sản là biện pháp bảo vệ thương mại của nhiều quốc gia, như Hoa Kỳ áp dụng kích thước tối thiểu cho khoai tây nhập khẩu từ Mexico, Nhật Bản yêu cầu kích cỡ cho táo nhập khẩu từ Hoa Kỳ, và một số nước khác cũng đặt ra tiêu chuẩn kích cỡ đối với hạt tiêu xuất khẩu từ Việt Nam.

Quy định về vị trí làm thủ tục hải quan tại Việt Nam gây khó khăn cho việc nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là xe ô tô cũ, khi chỉ cho phép thực hiện thủ tục tại 4 cảng biển duy nhất.

Việt Nam đã cam kết gia nhập WTO, cho phép nhập khẩu xe máy trên 175cc từ sau ngày 31/5/2007, nhưng vẫn giữ quyền áp dụng các biện pháp hành chính như quy định về độ tuổi người sử dụng và chế độ cấp bằng lái xe đặc biệt.

Quy định về nhãn mác hàng hoá tại Việt Nam yêu cầu các sản phẩm nhập khẩu phải có nhãn hiệu rõ ràng và hướng dẫn sử dụng được dịch sang tiếng Việt Điều này đảm bảo rằng người tiêu dùng có thể hiểu rõ thông tin về sản phẩm trước khi sử dụng.

NỘI DUNG CƠ BẢN CAM KẾT GIA NHẬP

Giới thiệu về WTO

3.1.1 Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ hai chưa kết thúc, các quốc gia đã bắt đầu xem xét việc thiết lập các tổ chức kinh tế chung để hỗ trợ tái thiết sau chiến tranh Hội nghị Bretton Woods được tổ chức tại New Hampshire, Hoa Kỳ vào năm 1944 đã dẫn đến sự ra đời của hai tổ chức tài chính quan trọng nhất thế giới: Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Ngoài ra, một tổ chức thương mại chung mang tên Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) cũng được đề xuất thành lập.

Phạm vi điều chỉnh của ITO rất rộng, bao gồm việc làm, đầu tư, cạnh tranh và dịch vụ, dẫn đến quá trình đàm phán Điều lệ kéo dài Năm 1946, 23 nước đã đàm phán riêng để đạt được ưu đãi thuế quan nhằm thúc đẩy tái thiết sau chiến tranh Nhằm ràng buộc những ưu đãi này, họ đã đưa một phần chính sách thương mại vào dự thảo Hiến chương ITO, tạo thành GATT, có hiệu lực từ 1/1/1948 như một thỏa thuận tạm thời Mặc dù Hiến chương ITO được thông qua tại Havana vào tháng 3/1948, sự trì hoãn phê chuẩn của Quốc hội Hoa Kỳ đã ngăn cản các nước khác phê chuẩn, khiến ITO không thành hiện thực Do đó, GATT trở thành định chế đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế cho đến khi WTO ra đời.

Trong 48 năm tồn tại, GATT đã đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy và đảm bảo tự do hóa thương mại toàn cầu, với số lượng bên tham gia tăng nhanh chóng Trước khi WTO được thành lập vào ngày 1/1/1995, GATT đã có 124 bên ký kết và 25 đơn xin gia nhập Nội dung của GATT ngày càng bao trùm, từ việc giảm thuế quan đến các biện pháp phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Mức thuế trung bình đã giảm từ 40% vào năm 1948 xuống còn khoảng 4% cho các nước phát triển và 15% cho các nước đang phát triển vào năm 1995.

Mặc dù đã đạt đƣợc những thành công lớn, nhƣng đến cuối những năm

Vào những năm 1980 và đầu 1990, GATT bắt đầu bộc lộ những bất cập trước sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế và công nghệ Nhận thấy sự cần thiết phải củng cố hệ thống thương mại đa biên, các nước tham gia GATT đã tiến hành thảo luận và cập nhật Hiệp định GATT từ năm 1986 đến 1994 Kết quả là GATT 1994 ra đời, bao gồm các hiệp định riêng biệt về nông nghiệp, dệt may, trợ cấp và tự vệ, tạo thành nền tảng cho các Hiệp định thương mại đa phương Vòng đàm phán Uruguay cũng đã thông qua nhiều quy định mới về thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ Một trong những thành công lớn nhất là Tuyên bố Marrakesh, dẫn đến việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chính thức hoạt động từ ngày 1/1/1995.

3.1.2 Mục tiêu và chức năng hoạt động của WTO

WTO, với vai trò là tổ chức thương mại toàn cầu, công nhận các mục tiêu của GATT, bao gồm ba mục tiêu chính.

Thúc đấy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển ôn định, bên vững và bảo vệ môi trường

Thúc đẩy phát triển thể chế thị trường và giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên trong hệ thống thương mại đa phương là cần thiết, phù hợp với nguyên tắc Công pháp quốc tế Điều này đảm bảo các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển, được hưởng lợi ích thực chất từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế.

Nâng cao mức sông và tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên là mục tiêu quan trọng, đồng thời đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu Theo Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, tổ chức này có năm chức năng cơ bản.

Quản lý thống nhất việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương; giám sát và tạo điều kiện, bao gồm cả hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia thành viên trong việc thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế.

Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên là một phần quan trọng trong việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO cùng các hiệp định thương mại đa phương.

Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên đảm bảo việc thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO.

Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác nhƣ Quỹ

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các chính sách và dự báo xu hướng phát triển tương lai của nền kinh tế toàn cầu.

3.1.3.Nguyên tắc pháp lý của WTO

WTO hoạt động dựa trên một bộ luật lệ và quy tắc phức tạp, bao gồm hơn 60 hiệp định và quyết định điều chỉnh thương mại quốc tế Tất cả các văn bản này được xây dựng trên 4 nguyên tắc pháp lý nền tảng: tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng.

- Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)

Tối huệ quốc (MFN) là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO, yêu cầu các nước thành viên áp dụng thuế quan và quy định đối với hàng hóa nhập khẩu một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử Điều này có nghĩa là nếu một nước thành viên áp dụng mức thuế hay ưu đãi cho sản phẩm từ một nước thành viên, thì mức thuế hoặc ưu đãi đó cũng phải được áp dụng cho sản phẩm tương tự từ tất cả các quốc gia thành viên khác ngay lập tức và vô điều kiện Tuy nhiên, WTO cũng cho phép một số ngoại lệ đối với nguyên tắc này.

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) yêu cầu các quốc gia phải đối xử công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước Theo nguyên tắc này, mọi sản phẩm nhập khẩu, sau khi hoàn tất các thủ tục hải quan, sẽ được hưởng quyền lợi không kém hơn so với các sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước.

- Nguyên tắc mở cửa thị trường

Nguyên tắc “mở cửa thị trường” hay “tiếp cận thị trường” (market access) đề cập đến việc cho phép hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài vào thị trường Trong bối cảnh thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đồng ý mở cửa thị trường của mình, điều này tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu cởi mở Về mặt chính trị, “tiếp cận thị trường” phản ánh nguyên tắc tự do hóa thương mại của WTO, trong khi về mặt pháp lý, nó khẳng định cam kết của các quốc gia trong việc thúc đẩy thương mại tự do.

Các cam kết đa phương của Việt nam trong WTO

3.2.1 Tổng quan về cam kết đa phương của Việt nam trong WTO

Các cam kết đa phương của Việt Nam dựa trên các nguyên tắc trong hiệp định WTO, ràng buộc mọi thành viên nhằm điều chỉnh hệ thống luật lệ và cơ chế thương mại Việt Nam cam kết thực hiện toàn bộ các hiệp định WTO ngay khi gia nhập, bao gồm các quy định cụ thể về cấp phép, hải quan, kiểm dịch, chống phá giá và sở hữu trí tuệ.

Các cam kết đa phương của Việt Nam tập trung vào các vấn đề chính như chính sách tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thanh toán; quy định về sở hữu và đặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; tư nhân hóa và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; khung xây dựng và thực thi chính sách; quyền kinh doanh xuất nhập khẩu và các biện pháp can thiệp như thuế nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, và các quy định về xuất khẩu Ngoài ra, chính sách công nghiệp, bao gồm trợ cấp, hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn và chứng nhận, cũng như các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch, là những yếu tố quan trọng trong các cam kết này.

3.2.2 Một số nội dung chính trong cam kết đa phương của Việt Nam khi gia nhập WTO

Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền

Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và không xem mua sắm của doanh nghiệp này là mua sắm của chính phủ Thay vào đó, nhà nước tham gia như một cổ đông bình đẳng Cam kết này phù hợp với chủ trương đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Do đó, Việt Nam không điều chỉnh Luật Doanh nghiệp nhà nước trong quá trình thực hiện cam kết Hàng năm, Việt Nam có trách nhiệm báo cáo cho WTO về tiến độ cổ phần hóa cho đến khi chương trình này kết thúc.

Quyền kinh doanh về xuất khẩu và nhập khẩu

Kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã mở cửa cho các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa như các doanh nghiệp và cá nhân trong nước, ngoại trừ một số mặt hàng nhạy cảm và thuộc danh mục thương mại nhân dân Các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam có thể đăng ký quyền xuất nhập khẩu theo thông lệ quốc tế Tuy nhiên, quyền này chỉ cho phép thực hiện thủ tục hải quan mà không bao gồm quyền phân phối hàng hóa trong nước.

Việc áp dụng nhiều mức thuế tiêu thụ đặc biệt cho rượu, bia dựa trên nồng độ cồn hiện nay của Việt Nam có thể vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO Tuy nhiên, Việt Nam đã cam kết điều chỉnh cách đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng để phù hợp với quy định của WTO.

Biện pháp hạn chế định lƣợng đối với hàng nhập khẩu (bao gồm cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu )

Việt Nam đồng ý cho phép nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31-05-2007, phù hợp với quy định pháp luật Đối với thuốc lá điếu và xì gà, chỉ một doanh nghiệp thương mại nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ Về ô-tô cũ, cho phép nhập khẩu xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức thuế nhập khẩu theo biểu cam kết và đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật Cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hoá phẩm sẽ tuân thủ quy định minh bạch của WTO.

Chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp tự vệ

Việt Nam cam kết tuân thủ các Hiệp định của WTO về biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ Trong 12 năm kể từ khi gia nhập, Việt Nam được công nhận là nền "Kinh tế phi thị trường" Tuy nhiên, nếu có thể chứng minh với đối tác rằng Việt Nam đã hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường, đối tác đó sẽ ngừng áp dụng quy chế "phi thị trường" đối với Việt Nam.

Các chính sách ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ

Trong phần này, chúng tôi sẽ làm rõ các chính sách ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ và đưa ra một số cam kết nhằm bổ sung cho Biểu cam kết dịch vụ Một số cam kết quan trọng bao gồm:

- Việc cấp phép cung ứng dịch vụ sẽ đƣợc thực hiện theo các tiêu chí khách quan, minh bạch;

Các doanh nghiệp tư nhân có quyền tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông không liên quan đến hạ tầng mạng và có thể hợp tác liên doanh với nước ngoài theo các quy định trong Biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ.

Không quá 3 tháng sau khi Nghị định gia nhập WTO được phê chuẩn, Chính phủ Việt Nam sẽ ban hành Nghị định hướng dẫn cấp phép dịch vụ chuyển phát nhanh Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này sẽ được quyền sở hữu và vận hành phương tiện đường bộ phục vụ cho dịch vụ của họ.

Các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sẽ được hưởng đối xử quốc gia trong việc thiết lập hiện diện thương mại Mặc dù Việt Nam không cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài mở thêm điểm giao dịch ngoài trụ sở, nhưng không hạn chế số lượng chi nhánh của họ Đặc biệt, máy rút tiền tự động (ATM) không bị ràng buộc bởi quy định này, và ngân hàng nước ngoài sẽ được hưởng đối xử MFN và đối xử NT trong việc lắp đặt và vận hành máy ATM.

Việt Nam cho phép các bên tham gia liên doanh tự thỏa thuận về tỷ lệ vốn tối thiểu cần thiết để quyết định các vấn đề quan trọng của Công ty TNHH và công ty cổ phần Để thực hiện cam kết này, cần có hình thức pháp lý phù hợp để sửa đổi điều 52 và 104 của luật Doanh nghiệp.

Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

3.3.1 Biểu cam kết dịch vụ Đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được tiến hành theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) Dựa trên những nguyên tắc này, các quốc gia hay vùng lãnh thổ chƣa là thành viên WTO tiến hành đàm phán mở cửa thị trường với các thành viên WTO căn cứ theo yêu cầu đàm phán mà các thành viên này đƣa ra Kết quả đàm phán cuối cùng đƣợc thế hiện trong Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (gọi tắt là Biểu cam kết dịch vụ) Biểu cam kết dịch vụ gồm 3 phần: cam kết chung, cam kết cụ thể và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc (MFN)

Phần cam kết chung trong Biểu cam kết dịch vụ bao gồm các quy định áp dụng cho tất cả các ngành và phân ngành dịch vụ Nội dung chủ yếu tập trung vào các vấn đề kinh tế - thương mại tổng quát như chế độ đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, và các biện pháp thuế cũng như trợ cấp cho doanh nghiệp trong nước.

Các cam kết cụ thể trong Biểu cam kết dịch vụ bao gồm những điều khoản áp dụng cho từng loại dịch vụ như viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, và vận tải Mỗi dịch vụ sẽ có nội dung cam kết riêng, thể hiện mức độ mở cửa thị trường và đối xử quốc gia đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Phần này bao gồm cam kết mở cửa cho các dịch vụ ngân hàng, tài chính, chứng khoán, kế toán, kiểm toán, thuế, bảo hiểm, phân phối, logistics, chuyển phát, viễn thông, kinh doanh và vận tải.

Danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc liệt kê những biện pháp cho phép vi phạm nguyên tắc MFN đối với các dịch vụ có miễn trừ Theo quy định của GATS, một thành viên có thể vi phạm nguyên tắc MFN nếu biện pháp đó được đưa vào danh mục miễn trừ và được sự chấp thuận của các thành viên WTO.

3.3.2 Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và tài chính

3.3.2.1.Các cam kết chung về dịch vụ ngân hàng và tài chính

Nội dung cam kết về dịch vụ ngân hàng trong WTO bao gồm các dịch vụ như nhận tiền gửi từ công chúng, cho vay dưới nhiều hình thức, dịch vụ thuê mua tài chính, và các dịch vụ thanh toán như thẻ tín dụng và chuyển tiền Ngoài ra, còn có bảo lãnh và cam kết, kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của khách hàng với các công cụ thị trường tiền tệ, môi giới tiền tệ, và quản lý tài sản Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, cùng với việc cung cấp và chuyển thông tin tài chính cũng nằm trong phạm vi cam kết này.

3.3.2.2 Cam kết về hoạt động các NH nước ngoài

Các dịch vụ NH nước ngoài được cung cấp tại Việt nam

Theo cam kết, Việt Nam cho phép các ngân hàng nước ngoài không có hiện diện thương mại tại nước này cung cấp dịch vụ cho khách hàng, nhưng chỉ giới hạn ở một số dịch vụ nhất định.

- Cung cấp thông tin tài chính;

- Xử lý dữ liệu tài chính;

- Cung cấp phần mềm tài chính;

- Tƣ vấn, môi giới, phân tích tín dụng;

Nghiên cứu và tư vấn về đầu tư, danh mục đầu tư, mua lại, tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh doanh Đồng thời, việc nắm rõ điều kiện thành lập ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cũng đóng vai trò then chốt trong việc thu hút vốn đầu tư và mở rộng thị trường.

Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng liên doanh tại Việt Nam ngay từ thời điếm chính thức gia nhập WTO với điều kiện:

Ngân hàng thương mại nước ngoài tham gia liên doanh tại Việt Nam cần có tổng tài sản trên 10 tỷ đô la Mỹ tính đến cuối năm trước khi nộp đơn xin thành lập liên doanh.

- Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 50% vốn điều lệ

Việt Nam đã cam kết cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài kể từ ngày 1/4/2007, với điều kiện ngân hàng nước ngoài là chủ đầu tư phải có tổng tài sản trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước khi nộp đơn xin thành lập ngân hàng tại Việt Nam.

Việc thành lập ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không chỉ cần tuân thủ các cam kết đã nêu, mà còn phải đáp ứng các điều kiện kỹ thuật chung theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hộp 1: Quy định gì về việc thành lập ngân hàng FDI?

Nghị định 22/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và văn phòng đại diện của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam Nghị định này đã đưa vào các điều kiện thành lập ngân hàng FDI theo cam kết WTO của Việt Nam, đặc biệt là đối với chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam.

Việt Nam cam kết cho phép các ngân hàng thương mại nước ngoài đƣợc thành lập chi nhánh của họ tại Việt Nam với điều kiện:

- Ngân hàng mẹ có tổng tài sản trên 20 tỷ đỏ la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn xin lập chi nhánh ở Việt Nam;

- Chi nhánh đƣợc thành lập phải chịu các han chế trong hoat đông của mình

Các ngân hàng nước ngoài muốn mở chi nhánh tại Việt Nam cần tuân thủ các điều kiện kỹ thuật theo quy định của pháp luật Việt Nam, bên cạnh các cam kết đã nêu Điều này áp dụng cho cả ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài.

Hộp 2: Quy định thành lập chi nhánh NHNN tại Việt Nam Những nội dung về điều kiện đối với việc mở chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam đã được đưa vào Công văn số 1210/NHNN-CNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nhƣ vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành có mức mở cửa nhƣ mức cam kết

Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cấp phép cho một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động, với tổng cộng 37 chi nhánh tính đến tháng 4 năm 2007, mà không phải tuân thủ các điều kiện giống như các ngân hàng trong nước.

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, việc thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ các điều kiện theo quy định tại Công văn liên quan, đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế.

Hộp 3 - Hạn chế hoạt động của chi nhánh NHNN tại Việt Nam

SỐ LIÊN KẾT VÀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ ĐIỂN HÌNH

ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Ngày đăng: 28/04/2023, 01:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w