GVMN31 Quyền trẻ em, phòng, chống bạo hành và xử lý vi phạm về quyền trẻ em trong cơ sở GDMN Bạo lực trẻ em, Bạo lực học đường ở cơ sở giáo dục mầm non là gì? Bạo lực trẻ em đề cập đến bất kỳ tổn hại.
Trang 1GVMN31: Quyền trẻ em, phòng, chống bạo hành và xử lý vi phạm về quyền trẻ
em trong cơ sở GDMN
Bạo lực trẻ em, Bạo lực học đường ở cơ sở giáo dục mầm non là gì?
Bạo lực trẻ em đề cập đến bất kỳ tổn hại về thể chất, tình cảm hoặc tình dục nào đối với trẻ do người lớn hoặc trẻ khác gây ra Bạo lực học đường đề cập đến các hành vi bạo lực xảy ra trong môi trường học đường, chẳng hạn như bắt nạt, quấy rối, tấn công thể chất và lạm dụng bằng lời nói
Trong bối cảnh của các cơ sở giáo dục mầm non, bạo lực trẻ em và bạo lực học đường có thể đề cập đến các vụ việc gây hấn, đe dọa và các hình thức gây tổn hại khác đối với trẻ em do bạn bè hoặc người lớn làm việc với trẻ gây ra Điều này có thể bao gồm các hành vi như đánh, đẩy, gọi tên hoặc loại trừ khỏi các hoạt động
Bạo lực trẻ em và bạo lực học đường trong các cơ sở giáo dục mầm non
có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với trẻ em có liên quan, bao gồm tổn hại về thể chất và tinh thần, đồng thời có thể dẫn đến những ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển về mặt xã hội và cảm xúc của trẻ Điều quan trọng đối với các nhà giáo dục và người chăm sóc là tạo ra một môi trường an toàn và nuôi dưỡng trẻ em, đồng thời thực hiện các biện pháp chủ động để ngăn chặn và giải quyết mọi vụ bạo lực có thể xảy ra Điều này có thể bao gồm việc dạy trẻ về sự tôn trọng, đồng cảm và giải quyết xung đột, cũng như có các chính sách và thủ tục rõ ràng để ứng phó với các vụ bạo lực
Hình thức và biểu hiện của Bạo lực học đường ở cơ sở giáo dục mầm non:
Bạo lực thể chất: là việc một đối tượng/ nhóm đối tượng cố ý sử dụng vũ
lực có khả năng làm tổn hại gây ra tử vong hoặc không gây ra tử vong cho người khác
Xao nhãng hoặc đối xử thờ ơ là việc không đáp ứng những nhu cầu về thể
chất và tâm lý, không đảm bảo các quyền lợi chính đáng mà người khác được hưởng
Bạo lực tinh thần là ngược đãi về tinh thần, lạm dụng tinh thần, lạm dụng
bằng lời nói, lạm dụng tình cảm hoặc thờ ơ, xao nhãng gây ra những suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, lo lắng sợ hãi làm ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của người khác
Bạo lực tình dục bao gồm bất kỳ hành động tình dục hay ý định thực
hiện hành động tình dục nào với người khác mà không được sự đồng ý hoặc thực hiện các hành động xúi giục hoặc cưỡng ép, đe dọa hoặc ép buộc trẻ em tham gia vào bất kỳ hành động tình dục nào
Biểu hiện của Bạo lực thể chất ở cơ sở GDMN
Trang 2Bạo lực thể chất bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức sau đây:
Tất cả các hình thức tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt độc ác, phi nhân tính
Tất cả các hình thức trừng phạt thân thể, ép buộc người khác vào những
tư thế khó chịu, tấn công bằng tay hoặc một đồ vật, ép ăn uống, cho sử dụng những chất kích thích hoặc chất độc hại cho cơ thể (như thuốc mê, chất gây nghiện, chất độc…)
Ngăn cản không đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cơ thể: ăn, uống, nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân,
Bị một hay nhóm đối tượng trong cơ sở GDMN bắt nạt thân thể và ăn hiếp
Các hình thức Bạo lực tình dục
Bạo lực tình dục bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức sau đây:
- Quấy rối, tấn công tình dục, cưỡng hiếp người khác ở cơ sở GDMN; Vuốt ve mơn trớn, cưỡng hiếp và tấn công tình dục trẻ em;
- Sử dụng trẻ em/người khác để lạm dụng và bóc lột tình dục vì mục đích thương mại (như buôn bán người vì mục đích tình dục, văn hóa phẩm khiêu dâm, mại dâm đặc biệt trong ngành du lịch, nô lệ tình dục, buôn bán trẻ em);
- Tội phạm mạng/Lạm dụng và bóc lột tình dục trực tuyến/qua mạng hoặc bằng công nghệ số
Các hình thức Bạo lực tinh thần
Bạo lực tinh thần bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức:
- Hạ thấp, xúc phạm, chê bai (nói với họ là người kém cỏi, không có giá trị, không được yêu mến, không được mong muốn, lăng mạ, bêu xấu tên tuổi, làm nhục, làm mất uy tín, nhạo báng và nói xấu);
- Tất cả các hình thức vi phạm sự riêng tư và vi phạm sự bảo mật có thể gây ra tác động tâm lý có hại cho người khác;
- Gây sợ hãi, hăm dọa, đe dọa; bóc lột và mua chuộc; hắt hủi và chối bỏ;
cô lập, phớt lờ và thiên vị; Từ chối phản ứng tình cảm; xao nhãng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần, y tế và giáo dục;
- Để trẻ em chứng kiến bạo lực gia đình hoặc đối xử thù địch;
- Đưa vào giam giữ, cô lập
- Bắt nạt và uy hiếp trên mạng thông qua điện thoại, internet;
Biểu hiện của Xao nhãng hoặc đối xử thờ ơ
Với trẻ: bao gồm, nhưng không giới hạn, các hình thức sau đây:
- Xao nhãng thể chất (không bảo vệ trẻ tránh khỏi bị xâm hại, trong đó có việc không giám sát thường xuyên; không cung cấp cho trẻ những thứ thiết yếu
và chăm sóc sức khỏe cơ bản);
- Xao nhãng tinh thần hoặc tình cảm, trong đó có việc thiếu sự hỗ trợ tình cảm và yêu thương, lơ là, người chăm sóc không có khả năng chú ý tới những tín hiệu và dấu hiệu của trẻ, để trẻ chứng kiến hành vi BL hoặc hành vi lạm dụng ma túy và rượu;
- Không quan tâm tới những nhu cầu xã hội của trẻ em (như từ chối quyền được vui chơi, giải trí và tương tác xã hội);
- Xao nhãng việc học tập;
Trang 3- Bỏ rơi (hành vi cố ý để trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ)
* Với những người lớn khác trong cơ sở GDMN sự thờ ơ thể hiện:
- Không quan tâm, bỏ mặc những cảm xúc, sự mong muốn được hỗ trợ, can thiệp khi cần thiết;
- Không đảm bảo các quyền lợi của thành viên trong cơ sở giáo dục (không đảm bảo chế độ làm việc, chế độ lương thưởng, không cho tham gia/ cô lập trong các hoạt động đào tạo bồi dưỡng, hoạt động tập thể…) ;
- Không bảo vệ các thành viên trong cơ sở giáo dục khi xảy ra mất dân chủ, mất bình đẳng hoặc bị bạo lực, bóc lột
Nguyên nhân và hậu quả của Bạo lực học đường ở cơ sở giáo dục mầm non:
Đầu tiên phải kể đến là vai trò và trách nhiệm của cha mẹ Một số phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con cái Lấy lý do tiết kiệm chi phí, nhất thời để chọn môi trường kém chất lượng là không thể chấp nhận được Sự lựa chọn này đã dẫn đến nhiều hệ lụy đáng tiếc Hơn nữa, áp lực mà cha mẹ đặt lên người chăm sóc là quá lớn Yêu cầu của họ là con mình phải đạt cân nặng và chiều cao nhất định Do đó, người chăm sóc phải làm mọi cách để trẻ phát triển theo cách mà cha mẹ mong đợi để họ có thể giữ được đồng lương của mình
Chính sách xã hội hóa mầm non đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập các trường tư thục đáp ứng nhu cầu chăm sóc con cái của những gia đình không có đủ điều kiện cho trẻ vào trường công lập Mỗi lớp có khoảng 30-40 cháu nên rất khó để mỗi cô giáo có thể chăm sóc chu đáo hết các em Vì vậy, để bắt các em vào nề nếp, kỷ luật, đội ngũ giáo viên phải dùng biện pháp vật lý Hơn nữa, một số người chăm sóc chọn dạy học như một công việc kiếm tiền không phải vì họ yêu trẻ
Nhưng phần lớn, một trong những nguyên nhân đó là do đạo đức xuống cấp của một bộ phận đội ngũ giáo viên làm công tác giáo dục mầm non Sâu xa hơn là do pháp luật không được thực thi nghiêm túc Ngoài ra trình độ pháp luật của người dân còn kém trong khi quyền trẻ em được công khai và thực thi Điều này vô tình dẫn đến các vụ bạo hành trẻ em
Hậu quả của lạm dụng trẻ em là nghiêm trọng Chúng để lại những hậu quả đối với não bộ và thể chất của tuổi vị thành niên Tác động vật lý là rõ ràng nhất và có thể bao gồm các vết thương nghiêm trọng hoặc tử vong do giết người hoặc tự tử Khi đó, trẻ có thể bị chậm phát triển trong tương lai
Durrant JE (2005) cho rằng những đứa trẻ phải chịu hình phạt về thể xác
có xu hướng tham gia vào các hành vi hung hăng như làm tổn thương gia đình hoặc bạn bè của chúng trong tương lai Họ không thể kiểm soát hành động của
họ một cách chính xác “Khi trẻ lớn lên, chúng ghi nhớ những gì đã làm với
Trang 4chúng và cuối cùng chúng cũng làm như vậy với những đứa trẻ hơn chúng, đặc biệt là ở trường Một số người trở nên rối loạn tâm thần.”
Steven, D (2014) tuyên bố rằng lạm dụng có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển tinh thần và tâm lý của trẻ em Trẻ em bị bạo hành có não nhỏ hơn 6%
so với bình thường Bạo lực có thể dẫn đến rối loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh ở trẻ em Bởi vì bộ não có mô hình hoạt động tương tự như những người lính tham chiến Hơn nữa, trẻ có thể thay đổi tính cách như lầm lì, bướng bỉnh
và sinh hoạt lạ lùng Steven cũng xác nhận rằng nạn nhân có thể cảm thấy khó giao tiếp và thiết lập mối quan hệ Điều này có thể làm cho mọi thứ tồi tệ hơn
Căn cứ pháp lý của phòng chống BLHĐ ở Việt Nam
- Công ước bảo vệ trẻ em, Luật trẻ em, Luật Giáo dục , Luật Hình sự
- Nghị quyết 29-NQ/TW Về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT
- NĐ 80/2017/NĐ-CP, về MTGD an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống BLHĐ
- Quyết định 04/VBHN- BGDĐT, Ban hành Điều lệ trường mầm non
- Thông tư 13 /2010/TT-BGDĐT về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong CS GDMN
- Thông tư 21/2014/TT-BGDĐT, Quy định về quản lí và sử dụng xuất bản phẩm tham khảo trong các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX
- Thông tư 19/2018/TT-BGDĐT, Quy định về kiểm định chất lượng GD
và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường MN
- Chỉ thị 18/CT-TTg năm 2017, về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em
- Chỉ thị 993/CT-BGDĐT, tăng cường giải pháp phòng, chống BLHĐ trong CSGD
Phòng chống BLHĐ ở cơ sở GDMN: là những biện pháp nhằm ngăn
ngừa và xử lý tình huống bạo lực xảy ra với những đối tượng có liên quan trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình CS-GD trẻ em ở cơ sở GDMN
Phòng chống BLHĐ mang lại những lợi ích to lớn:
- Tạo ra văn hóa bài trừ bạo lực trong cơ sở GD;
- Tạo dựng được MTGD an toàn, lành mạnh, thân thiện để các thành viên của cơ sở GD yên tâm học tập, làm việc hiệu quả
- Không còn bất cứ tổn thương nào do bạo lực xảy ra đối với các thành viên tham gia vào hoạt động CS-GD tại cơ sở giáo dục
- Tạo dựng lòng tin tưởng, sự yên tâm cho các bậc PH và cộng đồng xã hội đối với ngành GD
Nguyên tắc phòng chống BLHĐ ở cơ sở GDMN
+ Khách quan, trung thực: trong nhìn nhận, đánh giá sự việc, hiện tượng.
Dám thừa nhận những hạn chế, sai phạm
+ Đồng bộ, nhất quán:
Tính đồng bộ được thể hiện trong các trang bị, tạo thành hệ thống hoàn chỉnh từ quy định, nhân lực, các trang thiết bị phục vụ cho phòng ngừa, xử lý
Trang 5BLHĐ Các quy định, quy trình thực hiện cần được xây dựng nhất quán tránh gây lúng túng cho người thực hiện
+ Mềm dẻo, tế nhị nhưng kiên quyết: Các tình huống BLHĐ đa phần
không công khai và được che giấu do đó khi tìm hiểu về vấn đề cần mềm dẻo và
tế nhị Tuy nhiên trong giải quyết vấn đề BLHĐ cần có quy trình và thực hiện kiên quyết đến cùng mới có sức răn đe
+ Cộng đồng trách nhiệm: cần tạo ra sức mạnh tổng lực từ nhiều lực
lượng, giúp quá trình phát hiện, xử lý và giám sát được đa chiều và triệt để
*Giải pháp phòng chống Bạo lực học đường ở cơ sở giáo dục mầm non:
BP đảm bảo hành lang pháp lý cho việc thực thi phòng chống BLHĐ
+ Rà soát, cập nhật và phổ biến các văn bản quy phạm để áp dụng tại CSGD
+ Đề xuất các ý kiến với cấp trên về những bất cập khi thi hành các văn bản quy phạm
BP tăng cường nhận thức, kĩ năng của các đối tượng liên quan đến phòng chống BLHĐ
+ Cung cấp các văn bản quy phạm Yêu cầu cán bộ, giáo viên, nhân viên trong CSGD tìm hiểu các quy định pháp luật có liên quan như: quyền trẻ
em, luật giáo dục, quy định về xây dựng MTGD an toàn lành mạnh thân thiện….
+ Đăng tải, cập nhật các nội dung chuyên môn, quy định có liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp nói chung và phòng chống BLTE nói riêng… lên trang web của trường hoặc nhóm trao đổi chuyên môn
+ Tổ chức thi/ tọa đàm/ sinh hoạt chuyên môn về những nội dung phục vụ cho phòng chống BLHĐ: các quy định pháp luật về GDMN nói chung và phòng chống BLTE nói riêng; về các biện pháp phòng chống BLTE, kiểm soát các cảm xúc tiêu cực trong công việc…
+ Khuyến khích GV thường xuyên trau dồi đạo đức nghề và tự bồi dưỡng chuyên môn và có hình thức đánh giá định kì
+ Trang bị kĩ năng quan sát và đánh giá cho GV
+ Trang bị kĩ năng phòng chống BLHĐ, xử lý các tình huống nghi BLHĐ hoặc đã xảy ra BLHĐ
+ Tăng cường các hình thức tác động đến nhận thức và hành vi PH qua các kênh khác nhau
+ Bổ sung các tài liệu hỗ trợ GV trong phát triển chuyên môn, nhận thức
về BLHĐ và phòng chống BLHĐ
+ Tổ chức các cuộc nói chuyện, cuộc thi nhằm tôn vinh người làm nghề GDMN, tăng cường nhận thức về giá trị nghề nghiệp, niềm tự hào về nghề cho GVMN
Những biện pháp cần thực hiện trong giai đoạn “Phát hiện vấn đề”
Quan sát đánh giá theo hình thức kiểm tra, dự giờ:
+ Sử dụng tiêu chí đánh giá công khai, nhất quán trong toàn cơ sở giáo dục
Trang 6+ Đánh giá định kỳ (theo tháng, quý, học kỳ) các thành tố của MTGD, đánh giá chéo giữa các lớp/tổ, ngẫu nhiên, đột xuất
+ Lưu giữ các minh chứng, có biên bản ghi nhận
Quan sát thường xuyên trong sinh hoạt:
+ GV quan sát các biểu hiện của trẻ khi tham gia các hoạt động trong nhóm lớp
+ Tăng cường giao tiếp gần gũi để trẻ có thể tin tưởng và chia sẻ những cảm xúc, sự lo lắng, sợ hãi của trẻ
+ Thu thập các thông tin từ những người khác để có thông tin đầy đủ hơn
Những biện pháp thực hiện trong giai đoạn ngăn ngừa - xử lí
*Ngăn ngừa bạo lực học đường cần thực hiện thường xuyên:
+ Giải pháp về đảm bảo các điều kiện tổ chức môi trường giáo dục
+ Giải pháp về xây dựng văn hóa bài trừ bạo lực
+ Giải pháp hỗ trợ giáo viên giải tỏa áp lực
+ Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng
+ Giải pháp tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
Việc triển khai thực hiện các giải pháp cần có thời gian để "ngấm" và tạo
sự chuyển biến trong nhận thức, hành vi, thái độ do đó khi đã thống nhất lựa chọn các giải pháp và biện pháp cụ thể để triển khai cầm quyết tâm, nhất quán thực hiện tránh tình trạng mới đầu thì làm rầm rộ nhưng sau đó buông lỏng dần
và trở về nề nếp cũ
*Xử lý các tình huống bạo lực học đường: Điều 6 Nghị định 80/2017 NĐCP, Điều 48, 49 Luật trẻ em
Mức hỗ trợ áp dụng với những đối tượng tham gia vào hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở cơ sở giáo dục mầm non có nguy cơ bị bạo lực học đường:
- Phát hiện kịp thời các hành vi gây gỗ, có nguy cơ gây bạo lực học đường
- Đánh giá mức độ nguy cơ hình thức bạo lực có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn hỗ trợ cụ thể
- Cảnh báo về nguy cơ trẻ em bị bao lực; tư vấn kiến thức, kĩ năng, biện pháp can thiệp nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ cho trẻ, cha,
mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em
- Tăng cường giám sát để BLHĐ không có cơ hội xảy ra