1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công chứng viên trong hoạt động công chứng

18 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công chứng viên trong hoạt động công chứng
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật công chứng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 36,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN 2 I Về công chứng viên và hoạt động công chứng 2 II Quy định của pháp luật hiện hành về quyền công chứn.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG

II Quy định của pháp luật hiện hành về quyền công chứng viên 3 2.1 Được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề công chứng 3 2.2 Được tham gia thành lập Văn phòng công chứng hoặc làm Việc theo chế độ

2.3 Được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của pháp luật 5 2.4 Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để

2.5 Được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch vi phạm pháp luật,

3.1 Tuân thủ các nguyên tắc hành nghề công chứng 7 3.2 Hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng 7 3.3 Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng 7 3.4 Giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; trường hợp từ chối yêu cầu công chứng thì phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu công chứng 8 3.5 Giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác 9 3.6 Tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm 9 3.7 Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng mà mình là công chứng viên hợp danh 10 3.8 Tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên 11 3.9 Chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của tổ chức hành nghề công chứng mà mình làm công chứng viên và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công

PHẦN 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ

Trang 2

II Những mặt hạn chế, bất cập 14

PHẦN 3 NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 17

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lời mở đầu của bộ quy tắc đạo đức hành nghề công chứng Ban hành kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã khẳng

định: “Công chứng là một nghề cao quý, bởi hoạt động công chứng bảo đảm tính an

toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.” Như vậy, không thể phủ nhận tầm quan trọng của hoạt động công chứng cũng

như vai trò “người gác cổng cho các hợp đồng giao dịch” của công chứng viên Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội, tranh chấp trong các giao dịch dân

sự giữa các chủ thể ngày càng tăng và ngày càng phức tạp Khi tiến hành giải quyết tranh chấp nếu không có những bằng chứng xác thực sẽ rất khó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Công chứng viên tham gia vào quá trình xác lập hợp đồng giao dịch của các bên với tư cách là bên thứ ba, chứng kiến, chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của nội dung hợp đồng giao dịch Để thực hiện được nhiệm vụ đó, nhà nước đã ủy nhiệm cho công chứng viên được phép nhân danh quyền lực nhà nước

để chứng nhận tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch Đồng thời tiến hành xây dựng

và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động công chứng, đặc biệt là xây dựng chế định công chứng viên nhằm tạo môi trường pháp lý cho sự phát triển của hoạt động công chứng, đảm bảo hoạt động công chứng của công chứng viên diễn ra đúng pháp luật

Luật Công chứng năm 2014 dành toàn bộ Chương II, từ Điều 8 đến Điều 17

để quy định về nội dung chế định công chứng viên, những yếu tố sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình các chủ thể thực hiện hoạt động công chứng Các quy định về quyền

và nghĩa vụ của công chứng viên tại Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 là những quy định cơ bản nhất, thể hiện rõ nhất địa vị pháp lý công chứng viên trong giai đoạn hiện nay1 Theo đó, công chứng viên phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và quy định của pháp luật có liên quan và được pháp luật bảo đảm một số quyền hành nghề công chứng Tuy nhiên thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của công chứng viên còn nhiều hạn chế Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: hạn chế của quy định pháp luật, vấn nạn giấy tờ giả… Do đó, việc phân tích,

1 Học viện Tư pháp, Giáo trình Kỹ năng hành nghề công chứng, tập 1, tr 22.

Trang 4

nghiên cứu về “Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công chứng viên trong

hoạt động công chứng – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật” là rất cần

thiết để nhằm góp phần đảm bảo quyền lợi của công chứng viên - người đứng ra bảo đảm an toàn pháp lý cho xã hội cũng như đảm bảo sự phát triển của hoạt động công chứng nói chung

NỘI DUNG PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG

CHỨNG VIÊN

I Về công chứng viên và hoạt động công chứng

Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, hoạt động công chứng càng đóng vai trò quan trọng hơn trong các loại giao dịch dân sự, trong đời sống xã hội Công chứng đã trở thành một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền Bởi thông qua hoạt động công chứng, các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi

xử sự theo đúng pháp luật

Khái niệm công chứng được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng

2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng

chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.” Như vậy,

công chứng là một hoạt động bổ trợ tư pháp, là việc công chứng viên - chủ thể có thẩm quyền - theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức và theo quy định của pháp luật, chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản; tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng

Trang 5

Hoạt động công chứng được thực hiện với mục đích tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu công chứng, phòng ngừa vi phạm pháp luật, giúp việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi và góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Với tư cách là chủ thể tiến hành hoạt động công chứng, công chứng viên dưới

sự ủy nhiệm của nhà nước, tiến hành cung cấp dịch vụ công nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế – xã hội Có thể nói công chứng viên là một chức danh tư pháp trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia Cùng với các chức danh tư pháp khác như thẩm phán, công tố viên (hay kiểm sát viên), chấp hành viên, luật sư, thì công chứng viên là một chức danh tư pháp chỉ đến những người có trình độ pháp lý, kiến thức pháp luật và trình độ nghiệp vụ nhất định để đáp ứng được những công việc thực thi pháp luật trong một lĩnh vực pháp luật nhất định - lĩnh vực công chứng, được Nhà nước đương thời cho phép hành nghề, thừa nhận hoặc quyết định bổ nhiệm bằng quyền lực của mình.2

Luật Công chứng 2014 đã đưa ra định nghĩa công chứng viên như sau:

“Công chứng viên là “người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng”( Khoản 2 Điều 2) Theo quy

định trên, công chứng viên là những người có đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn,

kỹ năng về công chứng theo quy định của pháp luật, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Thông qua việc thực hiện hoạt động công chứng, công chứng viên là người có trách nhiệm giúp các bên tham gia giao kết thể hiện ý chí của mình một cách vô tư, khách quan, đúng pháp luật qua đó loại bỏ những nguyên nhân gây ra tranh chấp, đảm bảo an toàn pháp lý phòng ngừa rủi ro pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực

Công chứng viên giữ một vị trí và vai trò chủ chốt để đảm bảo trật tự về pháp

lý, có vai trò bổ trợ cho các hoạt động về tư pháp Luật Công chứng năm 2014 dành toàn bộ Chương II, từ Điều 8 đến Điều 17 để quy định về nội dung chế định công chứng viên, những yếu tố sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình các chủ thể thực hiện

2 Theo Chu Hồng Sơn, “Quy Chế Công Chứng Viên Theo Pháp Luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, trang

12.

Trang 6

hoạt động công chứng Trong đó, các quy định về quyền và nghĩa vụ của công chứng viên tại Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 là những quy định cơ bản nhất, thể hiện

rõ nhất địa vị pháp lý công chứng viên trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở kế thừa và phát triển thành tựu lập pháp của các giai đoạn trước, Luật Công chứng năm 2014 đã

bổ sung một số quyền, nghĩa vụ của công chứng viên nhằm phân định một cách rõ hơn địa vị pháp lý của công chứng viên, tạo thêm những điều kiện thuận lợi cho công chứng viên trong quá trình hành nghề Theo đó, công chứng viên được pháp luật bảo đảm một số quyền hành nghề công chứng, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và các quy định của pháp luật có liên quan

II Quy định của pháp luật hiện hành về quyền công chứng viên

2.1 Được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề công chứng

Có thể nói công chứng viên là yếu tố trung tâm trong hoạt động công chứng, là chủ thể thực hiện nhiệm vụ chính trị của một “thẩm phán phòng ngừa” là phòng ngừa những giao dịch, thỏa thuận không phù hợp với quy định của Pháp luật, tạo môi trường pháp lý an toàn cho những chủ thể có thể an tâm giao kết hợp đồng, giao dịch trong đời sống kinh tế, thương mại, dân sự Cùng với các chức danh tư pháp khác như thẩm phán, công tố viên (hay kiểm sát viên), chấp hành viên, luật sư, thì công chứng viên

là một chức danh tư pháp chỉ đến những người có trình độ pháp lý, kiến thức pháp luật

và trình độ nghiệp vụ nhất định để đáp ứng được những công việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực công chứng, được Nhà nước cho phép hành nghề, thừa nhận và quyết định bổ nhiệm bằng quyền lực của mình Công chứng là một nghề đặc thù và cần thiết cho xã hội Tuy nhiên nghề công chứng cũng là nghề mà công chứng viên phải chịu nhiều áp lực và đối mặt với không ít nguy cơ và rủi ro tiềm ẩn trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp Do đó, quyền hành nghề của công chứng viên cần được đảm bảo

Những năm gần đây, nhận thức của nhà nước và các cá nhân, tổ chức về vị trí, vai trò, chức năng của hoạt động công chứng, công chứng viên đã có những thay đổi đáng ghi nhận Nhưng cũng không thể tránh được trong quá trình hành nghề đôi khi quyền và lợi ích hợp pháp của các công chứng viên vẫn bị xâm hại Bảo vệ quyền và lợi ích hành nghề hợp pháp của công chứng viên, bảo đảm hành nghề theo pháp luật là một trong những nhiệm vụ, đồng thời là quyền hạn quan trọng của Nhà nước, Hiệp Hội công chứng cũng như của Hội Công chứng các tỉnh, thành phố Để bảo đảm quyền

Trang 7

hành nghề của công chứng viên, Nhà nước đã đưa ra một loạt các quy định để tạo điều kiện tốt nhất cho công chứng viên trong quá trình hành nghề như được công chứng các hợp đồng, giao dịch trong phạm vi thẩm quyền của mình, được từ chối công chứng trong những trường hợp pháp luật quy định, quyền được bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, quyền được mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, được đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cùng cây thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng …

Bên cạnh đó, Việc thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam và 59 Hội công chứng viên địa phương góp phần hoàn thiện hệ thống tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên từ Trung ương đến địa phương đã bước đầu nâng cao vai trò tự quản nghề nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên Tổ chức

xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên, hỗ trợ các cơ quan chức năng xử lý kịp thời, nhanh chóng, nghiêm khắc các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của công chứng viên Đồng thời những tổ chức này cũng tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực công chứng, tạo môi trường pháp lý an toàn và thuận lợi cho việc hành nghề công chứng

2.2 Được tham gia thành lập Văn phòng công chứng hoặc làm Việc theo chế độ hợp đồng cho tổ chức hành nghề công chứng

Trước khi luật công chứng 2006 được ban hành và có hiệu lực, chỉ tồn tại một hình thức tổ chức hành nghề công chứng duy nhất là Phòng công chứng nhà nước Từ Luật công chứng 2006 và tiếp đó là Luật Công chứng 2014, có hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng song hành hoạt động dưới sự quản lý, giám sát của Sở Tư pháp

là Phòng Công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập và Văn phòng công chứng do các công chứng viên đứng ra thành lập và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập Thẩm quyền công chứng, chứng thực, quyền và nghĩa vụ của các

tổ chức hành nghề công chứng được pháp luật quy định chung không có sự phản biệt giữa Phòng công chứng và Văn phòng công chứng Quy định này bảo đảm sự bình đẳng của các tổ chức hành nghề công chứng trong hoạt động công chứng và trong quản lý nhà nước về công chứng

Trang 8

Quy định về quyền thành lập Văn phòng công chứng của Luật Công chứng năm 2014 đã có sự thay đổi theo hướng chặt chẽ hơn so với Luật Công chứng năm

2006 Về hình thức Văn phòng công chứng là công ty hợp danh, bắt buộc phải có từ 2 công chứng viên trở lên, không có thành viên góp vốn khác với quy định về công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 2014 Vì theo tính chất công việc, công chứng viên thực hiện dịch vụ công, chịu trách nhiệm cá nhân về những thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề Ngoài ra, Luật Công chứng năm 2014 vẫn kế thừa quy định Luật Công chứng năm 2006 khi cho phép Văn phòng công chứng có quyền thuê công chứng viên làm việc theo hợp đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức hành nghề công chứng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đáp ứng nhu cầu công chứng của nhân dân

2.3 Được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của pháp luật

Về mặt phạm vi công việc được hành nghề, điều đáng chú ý là Luật Công chứng 2014 quy định thêm (so với Luật Công chứng 2006) cho công chứng viên có thêm chức năng chứng thực sao y bản chính và chứng thực chữ ký người yêu cầu chứng thực và chữ ký người dịch văn bản (tức quay lại phần phạm vi công việc gần giống như giai đoạn do Nghị định 75/2000/NĐ-CP quy định) Đồng thời, để phân biệt

vị trí, vai trò của công chứng viên trong hệ thống tư pháp với các chức danh khác thì Luật Công chứng 2014 đã quy định rõ những việc mà công chứng viên được quyền thay mặt, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện Theo đó nhiệm vụ của công chứng viên là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng

2.4 Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng

Công chứng viên phải xác định tính xác định tính hợp lệ, đầy đủ của các giấy

tờ, tài liệu liên quan đến hợp đồng, giao dịch do người yêu cầu công chứng cung cấp Những giấy tờ, tài liệu này có thể là giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đối với tài sản đem ra giao dịch, các giấy tờ về uỷ quyền, về tình

Trang 9

trạng hôn nhân… Đây chính là giấy tờ pháp lý chứng minh quyền giao kết hợp đồng giao dịch của người yêu cầu công chứng, cũng là cơ sở để công chứng viên xác định được đối tượng của hợp đồng giao dịch đối với những hợp đồng giao dịch có đối tượng là tài sản Chỉ thông qua giấy tờ này, người yêu cầu công chứng mới có thể chứng minh được mình là chủ sở hữu, chủ sử dụng của tài sản đang là đối tượng của hợp đồng giao dịch Trong trường hợp có nghi ngờ về độ tin cậy của những giấy tờ, tài liệu nêu trên thì công chứng viên có quyền công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; Việc quy định công chứng viên có quyền

đề nghị các chủ thể liên quan cung cấp thông tin, tài liệu là cần thiết nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của những chủ thể có liên quan, giúp các bên đảm bảo an toàn pháp

lý, giải quyết việc công chứng hợp đồng, giao dịch hiệu quả và tuân theo pháp luật Các tài liệu này sẽ được cung cấp cho các công chứng viên trước khi tiến hành công chứng hợp đồng, giao dịch

Hoạt động công chứng là hoạt động pháp lý ngoài tố tụng, nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể pháp luật, phòng ngừa các tranh chấp có thể phát sinh mà công chứng viên có thể giải quyết được bằng việc thực hiện nhiệm vụ trung gian pháp

lý và là một công cụ không thể thiếu được để quản lý một nền tư pháp hiệu quả Thông qua quá trình công chứng, công chứng viên xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Để đảm bảo giao dịch các bên xác lập là không vi phạm pháp luật thì cần xác định giao dịch là xác thực và hợp pháp; việc xác định sẽ diễn ra trên cơ sở công chứng viên tiếp xúc trao đổi với người yêu cầu công chứng và dựa trên các thông tin, tài liệu mà các chủ thể có liên quan cung cấp phục vụ việc công chứng

2.5 Được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội

Tại Khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng 2014 quy định về công chứng hợp

đồng, giao dịch: “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công

chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì công chứng viên

đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công

Trang 10

chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng” Trường hợp khác, nếu công

chứng viên nhận thấy hợp đồng, giao dịch:“ có điều khoản vi phạm pháp luật, trái

đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật thì công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền

từ chối công chứng”(Điều 40 Luật Công chứng 2014) Việc từ chối công chứng phải

dựa trên những căn cứ xác thực trên cơ sở quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào cảm xúc cá nhân về dân tộc, tôn giáo, lối sống, tuổi tác, khuyết tật, nghề nghiệp hay giới tính của người yêu cầu công chứng Quyền từ chối công chứng là một quyền đặc biệt nhấn mạnh tính độc lập, khách quan, trung thực trong quá trình của công chứng viên Đồng thời quyền này cũng thể hiện rõ chức năng của công chứng viên và quyền thay mặt nhà nước thực hiện pháp luật của công chứng viên trên cơ sở hiểu biết thấu đáo về pháp luật và đạo đức xã hội để bảo vệ trật tự an toàn pháp lý trong xã hội

III Nghĩa vụ của công chứng viên

3.1 Tuân thủ các nguyên tắc hành nghề công chứng

Nguyên tắc hành nghề công chứng được Luật công chứng đưa vào vị trí thứ ba sau Điều 1 và Điều 2 để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nguyên tắc hành nghề công chứng Đây là những nguyên tắc xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công chứng viên

Công chứng viên là chủ thể được Nhà nước bổ nhiệm để trao cho một phần quyền lực công của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng chính là chứng nhận tính xác thực, tính chính xác, tính hợp pháp và tính phù hợp với đạo đức xã hội của các hợp đồng, văn bản giao dịch dân sự hoặc các giấy tờ dân sự khác Đồng thời, chính hành vi chứng nhận của công chứng viên sẽ làm cho các văn bản, giấy tờ này trở thành có hiệu lực pháp luật như các văn bản của Nhà nước ban hành ra, được nhân dân và Nhà nước thừa nhận giá trị pháp lý Cũng vì lý do đó, hành vi công chứng của công chứng viên còn được xã hội tin tưởng và nhìn nhận như một chuẩn mực về sự đúng đắn, đặt vào

đó một sự tin cậy rất cao nếu như không muốn khẳng định gần như là tuyệt đối Chính

vì những lý do nêu trên mà trong quá trình hành nghề, công chứng viên phải tuân thủ các nguyên tắc hành nghề công chứng đã được luật hóa Theo đó, công chứng viên

Ngày đăng: 27/04/2023, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w