giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp á châu chi nhánh đà nẵng
Trang 1NHTMCP Á Châu ĐN là một trong những NH có tình hình kiểm soát tín dụng được xem là khá tốt Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, việc hướng đến các tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo hạn chế RRTD, là việc nênlàm đối với bất kỳ NH nào, và ACB cũng không ngoại lệ Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, sau thời gian thực tập tại PGD Lý Thái Tổ của Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng, tôi đã
quyết định chọn đề tài: "Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á
Châu Chi nhánh Đà Nẵng" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng, từ đó tìm ra các nguyên nhân gây ra RRTD trong thời gian qua
- Trên cơ sở những nguyên nhân đó, đề xuất một các biện pháp nhằm hạn chế rủi
ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý luận về RRTD, các chuẩn mực đánh giá, giám sát về quản trị tín dụng và thực trạng cấp tín dụng tại ACB CN Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng cấp tín dụng của Chi nhánh giai đoạn 2009 đến
2011 và các nguyên nhân dẫn đến RRTD, từ đó đề xuất các vấn đề kỹ năng quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Á Châu theo chuẩn mực Basel
Trang 2r
5
4 Phương pháp nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với các phương pháp thống
kê, so sánh, tổng hợp…đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của luận văn Đồng thời tiếp thu ý kiến của cán bộ quản lý điều hành có liên quan để hoàn thiện giải pháp
5 Kết cấu của khóa luận:
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, khóa luận được thiết kế thành ba chương:Chương I: Lý luận chung về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng RRTD tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng giai đoạn 2009 – 2011
Chương III: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng
Sơ đồ 1.01: Tóm tắt và mô tả nội dung nghiên cứu của đề tài
Do thời gian thực tập ngắn, bản thân còn nhiều hạn chế trong kiến thức, cùng với việc thiếu kinh nghiệm làm việc thực tế, vì vậy nội dung khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luận báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới anh Trần Quốc Toản GĐ PGD Lý Thái Tổ ACB Chi nhánh Đà Nẵng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập này
Và đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo TS.Nguyễn Hòa Nhân đã tận
Lý do nghiên cứuVấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết liên quan
đến vấn đề nghiên cứu
Thực trạng quản trị RRTD tại ACB ĐN trong thời
gian qua
Một số giải pháp hạn chế RRTD tại ACB ĐN
Trang 3r
5
CHƯƠNG I--
LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1 Tổng quan về hoạt động Tín dụng của NHTM:
Khái niệm Ngân hàng thương mại trên thế giới tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Theo điều 4, khoản 3 của luật các TCTD 2010 qui định:“Ngân hàng thương
mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản…
1.1.1 Khái niệm tín dụng:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm) Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trên cơ
sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:
Tín dụng là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay trong một thời hạn nhất định Quan hệ tín dụng dựa trên nền tảng của
sự tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể và trên nguyên tắc có hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”.
1.1.2 Phân loại tín dụng:
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên những tiêu thức nhất định Phân loại tín dụng một cách khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả QTRRTD Tùy vào cách tiếp cận mà tín dụng NH được chia thành:
Trang 4r
5
a) Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1 năm) Tín dụng ngắn hạn được sử dụng để bổ sung vốn lưu động và các nhu cầu thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể vay vốn
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, khoản tín dụng trung hạn thường được sử dụng đểđáp ứng nhu cầu vốn thực hiện các dự án cải tạo tài sản cốđịnh, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, nói chung là đầu tư theo chiều sâu
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, khoản tín dụng dài hạn thường được sử dụng đểđầu tư xây dựng các công trình mới
b) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
- Cho vay đảm bảo không bằng Tài sản: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
- Cho vay đảm bảo bằng Tài sản: là loại tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ thể vay vốn được bảo đảm bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo đảm bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba…
c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng được cấp cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc đáp ứng nhu cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các chủ thể kinh tế
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại TD được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ đời sống và thường được thu hồi dần từ nguồn thu nhập của cá nhân vay vốn
1.1.3 Vai trò tín dụng ngân hàng:
a) Góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu vốn Nhờ nguồn vốn tín dụng, các chủ thể kinh tế không những bảo đảm quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường,
Trang 5r
5
b) Là công cụ thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế:
Trong khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại tiền tệ, tín dụng góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định tiền tệ Đồng thời, tín dụng cũng cung cấp vốn cho nền kinh tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, làm cho sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cảu xã hội, góp phần làm bình ổn giá cả thị trường trong nước
c) Là công cụ thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế:
Tín dụng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động Mặt khác,
do có nguồn vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội nên đã thu hút một lượng lớn lao động xã hội Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống ổn định, ai cũng có công ăn việc làm…Đó là tiền đề quan trọng để ổn định trật tự xã hội
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng:
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng: “Là những tác động tiềm năng có tính tiêu cực đến tài sản hoặc giá trị của ngân hàng phát sinh từ một vài tiến trình hiện tại hoặc sự kiện tương lai”.
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước thì RRTD là: “Khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Có thể nói rủi ro tín dụng là biểu hiện tập trung nhất của sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro (Return –Rick Trade - Off), ngân hàng biết rằng cho vay là sẽ gặp phải rủi ro Vậy, tại sao ngân hàng lại cho vay để rồi phải lo quản lý rủi ro? Tương tự, trong cuộc sống ai cũng biết rằng chơi hụi là rủi ro, thế nhưng tại sao nhiều người vẫn cứ chơi hụi? Có ít nhất hai lý do để giải thích điều này
Trang 6r
5
- Thứ nhất, do rủi ro là sự không chắc chắn Nếu biết chắc chắn cho vay sẽ mất
vốn thì ngân hàng đã không cho vay
- Thứ hai, do rủi ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm ẩn lợi nhuận Ngân hàng cho
vay là kỳ vọng tìm kiếm lợi nhuận nếu biết chắc chắn cho vay không có lợi nhuận thì Ngân hàng đã không cho vay
Vì vậy quản trị rủi ro tín dụng tốt là nhân tố chủ yếu quyết định sự thành công của các ngân hàng Ngược lại thất bại của các ngân hàng thường bắt nguồn từ các vấn
đề tín dụng Bản chất của rủi ro tín dụng xét về góc độ người vay xuất phát từ 2 nhân
6 NHTM: Vietinbank, Vietcombank, Eximbank, Sài Gòn Công thương, Đại Nam, Gia Định với tổng số tiền gần 6.000 tỷ đồng và 32,6 triệu USD Bản thân các NHTM sẽ xem đây như là một bài học nhớ đời về rủi ro tín dụng
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng:
Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách phân loại RRTD phù hợp:
Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân:
- Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc các chếđộ, chính sách
- Rủi ro chủ quan do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay vì
vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác
Trang 7r
5
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh thì RRTD:
Sơ đồ 1.2: Phân loại rủi ro tín dụng Ngân hàng
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ:
- Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
- Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
- Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý
danh mục cho vay của NH, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
- Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể
đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nghiệp vụ
Trang 8r
5
- Rủi ro tập trung là trường hợp NH tập trung cho vay quá nhiều đối với một số
KH, cho vay quá nhiều KH hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định…
Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ
cấu các loại rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử dụng vốn vay…
1.2.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng:
1.2.3.1 Ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM:
Ảnh hưởng đến ngân hàng bị rủi ro:
- Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản vốn huy động đến hạn, điều này sẽ làm ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân hàng tăng lên so với
dự kiến
- Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, ngân hàng không còn đủ vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Và kết quả
là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến
bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
Đối với hệ thông ngân hàng: Mỗi ngân hàng trong 1 quốc gia đều có liên
quan đến hệ thông ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh
tế Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng và bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của ngân hàng nhà nước và chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM khác, làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Trang 9Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ (2007 - 2008) đã làm rung chuyển toàn cầu Mặt khác mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước liên quan.
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức
độ khác nhau: nhẹ thì ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung
và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọngvà có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng:
1.3.1 Khái niệm và mục tiêu về quản trị rủi ro tín dụng:
- Quản trị rủi ro tín dụng là: là tiến trình trong đó ngân hàng sẽ nghiên cứu, theo dõi, thẩm định về rủi ro tín dụng đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng, qua đó
Trang 10và đánh giá tốt rủi ro.
1.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng:
Trong hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động chủ yếu Nếu quản lý tốt, tín dụng sẽ góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngân hàng Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm giảm giá trị ngân hàng Vì thế, mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là làm giảm thiểu tối
đa rủi ro tín dụng Muốn vậy ngân hàng phải lượng hóa và đánh giá được rủi ro tín dụng để từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả Có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá RRTD, các mô hình này rất đa dạng bao gồm cả định lượng và định tính Một số mô hình phổ biến sau:
- Năng lực của người vay (Capacity): Người vay phải có năng lực pháp luật dân
sự và năng lực hành vi dân sự, xem người đi vay có phải là đại diện hợp pháp của pháp luật hay không ?
- Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính
Trang 111.3.2.2 Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng:
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng mô hình định lượng để lượng hóa được rủi ro và dự báo những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng Các
mô hình thường được sử dụng là:
a) Xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s:
RRTD hay rủi ro không hoàn được vốn trái phiếu của công ty thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu Những đánh giá này được chuẩn bị bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất
Trang 12r
5
Đối với Moody’s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, chứng khoán trong 4 loại đầu được xem như loại chứng khoán nên đầu tư, còn các loại chứng khoán bên dưới được khuyến cáo là không nên đầu tư Nhưng do có mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc NH chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán này
Tóm lại, NH đánh giá xác suất rủi ro của người vay, từ đó định giá các khoản
vay Việc này phụ thuộc vào quy mô của khoản vay và chi phí thu thập thông tin
b) Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng cho mô hình điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Sau đây là những hạng mục và điểm thường được sử dụng ở các NH Mỹ
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm số
1 Nghề nghiệp của người vay
- Công nhân có kinh nghiệm (tay nghề cao) 8
2 Trạng thái nhà ở
4 Kinh nghiệm nghề nghiệp
5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành
Trang 138 Các tài khoản của Ngân hàng
- Có tài khoản tiết kiệm và phát hành séc 4
KH có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục nêu trên là 43 điểm, thấp nhất
là 9 điểm Giả sử NH biết mức 28 điểm là ranh giới giữa KH có tín dụng tốt và KH
có tín dụng xấu, từ đó NH hình thành khung chính sách tín dụng theo mô hình điểm như sau:
Tổng số điểm của khách hàng Quyết định tín dụng
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng mang tính khách quan hơn, không tùy thuộc quá nhiều vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng Tuy nhiên mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi hàng ngày của nền kinh tế – xã hội
Ưu điểm : mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ động trong quá trình cho vay
và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng
Nhược điểm : mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích
ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và trong cuộc sống gia đình
1.3.2.3 Xác định mức độ rủi ro tín dụng:
Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng:
Trang 14r
5
Căn cứ quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về “phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng”.
Giúp các đối tượng hữu quan nhận thức được thực trạng của Ngân hàng về nhiều khía cạnh: về khả năng sinh lời, mức độ rủi ro, khả năng tăng trưởng, vị thế trên thị trường…
Là cơ sở để dự báo về những xu hướng chủ yếu và triển vọng về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong tương lai (xét trong ngắn và dài hạn)
Là cơ sở để các đối tượng hữu quan ra các quyết định cần thiết: Cổ đông, đội ngũ quản trị, Cơ quan Thuế, Ngân hàng trung ương, người gửi tiền…
c) Tỷ lệ dự phòng/Tổng dư nợ:
Trang 15Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩnNhóm 2: Nợ cần chú ýNhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩnNhóm 4: Nợ nghi ngờNhóm 5: Nợ có khả năng mất vốnBên cạnh đó, Quy định cũng nêu rõ, thời gian thử thách để chuyển khoản vay quá hạn về trong hạn là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài hạn và 3 tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi vay của khoản vay
bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Trường hợp một KH có nhiều hơn một khoản nợ với NH mà có bất kỳ khoản
nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì NH buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của KH đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro Khi
NH cho vay hợp vốn không phải với vai trò là NH đầu mối, NH khi thực hiện phân
Trang 16- Trích lập dự phòng rủi ro: Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN quy định, trên cơ
sở phân loại các khoản nợ theo 5 nhóm các NH phải trích lập dự phòng cụ thể để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra, đồng thời trích lập dự phòng chung với tỷ lệ 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định Tuy nhiên việc phân loại nợ phải được NHNN chấp thuận và phải dựa trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ có xem xét đến đặc điểm hoạt động kinh doanh, đối tượng KH, tính chất rủi ro của khoản nợ từng NH
1.3.3 Quy trình quản trị rủi ro theo Ủy ban Basel:
Ủy ban Basel về giám sát NH là một Ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động NH được thành lập năm 1975 bởi các Thống đốc NH Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Thụy Điển, Anh và Mỹ) Ủy ban tổ chức các cuộc họp thường niên tại trụ sở NH thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sỹ)
1.3.3.1 Nhận dạng rủi ro và phân loại rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro bao gồm các bước: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD, nguyên nhân từng thời
kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD
- Để nhận dạng rủi ro nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi
ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các
hồ sơ đã có vấn đề Kết quả phân tích cho ra những dấu hiệu, biểu hiện, nguyên nhân RRTD, từ đó nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống rủi ro
1.3.3.2 Tính toán, cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chụi đựng tổn thất khi sảy ra rủi ro:
Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích đánh giá mức độ rủi ro dựa trên các tiêu chuẩn được đặt ra
Đánh giá rủi ro khách hàng vay:
Trang 17+ Chấm điểm tín dụng chỉ áp dụng trong hệ thống NH: Để đánh giá mức độ RRTD đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và cá nhân Chấm điểm tín dụng chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính, các thông tin cần thiết trong Giấy đề nghị vay vốn cùng với các thông tin khác về KH do NH thu thập được nhập vào máy tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để phân tích, xử lý bằng phần mềm cho điểm Kết quả chỉ ra mức độ RRTD của người vay Hiệu quả kỹ thuật này cao, giúp ích đắc lực cho quản trị rủi ro đối với KH là cá nhân và doanh nghiệp nhỏ Vì đối tượng này không có báo cáo tài chính, hoặc không đầy đủ, thiếu tài sản thế chấp, thiếu thông tin nên thường khó khăn trong tiếp cận NH.
+ Xếp loại tín dụng áp dụng đối với doanh nghiệp lớn, có đủ báo cáo tài chính,
số liệu thống kê tích lũy nhiều thời kỳ phục vụ cho việc xếp loại Áp dụng rộng rãi hơn, không những trong hoạt động NH, kinh doanh chứng khoán mà còn trong kinh doanh thương mại, đầu tư…
- Tại các NH có thể khác nhau về cách thực hiện, tên gọi, chỉ tiêu đánh giá, nhưng luôn cùng chung một mục đích là xác định khả năng, thành ý của KH trong hoàn trả tiền vay, lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết Từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một KH cũng như để trích lập dự phòng rủi ro Bao gồm 2 loại phân tích:
+ Phân tích phi tài chính: Sử dụng các mô hình như 6C, 5P…
+ Phân tích tài chính: Đối với khoản vay của doanh nghiệp, thì ngoài các yếu tố phi tài chính, NH còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp Đây là việc phân tích hiện trạng tài chính, khái quát khả năng quản trị vốn và các hoạt động kinh doanh qua số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm
Xác định tổn thất ước tính, NH sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu sau:
Trang 18KH mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng được cấp.
- Giúp NH xác định chính xác giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc chứng khoán hóa các khoản vay sau này Đây cũng là xu hướng hiện nay của các NHTM, vì đây là công cụ hiệu quả nhất để san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục đầu tư các khoản vay
- Giúp NH xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng RRTD Việc xác định chính xác tổn thất ước tính giúp việc trích lập dự phòng trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn rất nhiều
- Xác định xác suất vỡ nợ: giúp NH nâng cao được chất lượng của việc giám sát
và tái xếp hạng KH sau khi cho vay, hay tái xếp hạng KH
1.3.3.3 Áp dụng các chính sách, công cụ phòng chống thích hợp với từng loại rủi ro và tài trợ rủi ro:
Kiểm soát rủi ro:
Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro Căn cứ vào mức độ rủi ro
đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính, và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại, có nhiều lựa chọn:
- Không làm gì bằng cách chủ động hay thụ động chấp nhận rủi ro: với những khoản vay nhỏ thì chi phí cho việc phòng tránh đôi khi còn cao hơn việc chấp nhận mức thiệt hại Hoặc với xác suất rủi ro quá cao, NH né tránh rủi ro bằng cách hạn chế hoặc từ chối cấp tín dụng
- Với những khoản vay còn lại, khi đó các công cụ phòng chống rủi ro đặc biệt hữu hiệu để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro cũng như tổn thất Các biện pháp bao gồm: ngăn ngừa rủi ro, bán nợ, phân tán rủi ro, và quản trị rủi
ro thông qua công cụ phái sinh
Tài trợ rủi ro:
Trang 19+ Đối với các tổn thất không lường trước được rủi ro, NH phải dùng vốn tự có làm nguồn dự phòng để bù đắp Nếu khả năng quản trị rủi ro yếu kém gây ra mức tổn thất cao, vốn tự có của NH sẽ bị hao mòn, quy mô tài chính và khả năng cạnh tranh của NH sẽ bị ảnh huởng.
- Ngoài ra, cần áp dụng các biện pháp khác để tài trợ rủi ro, gồm: Tham gia bảo hiểm trong suốt quá trình cấp tín dụng, xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ
1.3.4.4 Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh phương pháp phòng chống:
Việc báo cáo kịp thời, theo đúng yêu cầu về rủi ro là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác kiểm tra kiểm soát, quản trị rủi ro Định kỳ và nội dung báo cáo được áp dụng thích hợp cho từng đối tượng nhận báo cáo
Tóm lại, nguyên tắc Basel về Quản trị nợ xấu: Quan điểm của Ủy ban Basel là
sự yếu kém trong hệ thống NH của một quốc gia sẽ đe dọa đến sự ổn định về tài chính trên toàn quốc gia đó Vì vậy nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính là điều
mà Ủy ban Basel quan tâm Ủy ban đã ban hành 17 nguyên tắc về quản trị nợ xấu, quản trị RRTD và đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp: Hội đồng Quản trị phải phê duyệt định kỳ chính sách RRTD, xem xét RRTD và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của NH về tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro Trên cơ sở đó, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu cho từng
Trang 20- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: Các NH cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh như thị trường mục tiêu, đối tượng KH, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng Xây dựng hạn mức tín dụng cho từng KH và nhóm KH vay vốn
để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên
cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với KH trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau
NH cần phải có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với
sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia Đồng thời, phát triển đội ngũ nhân viên quản lý RRTD có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý RRTD Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có
sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các KH có quan hệ
- Duy trì quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp: Cần có hệ thống quản lý cập nhật đối với các danh mục đầu tư có RRTD, bao gồm cập nhật hồ
sơ tín dụng, thu nhập thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các hợp đồng vay theo quy mô và mức độ phức tạp của NH Đồng thời, hệ thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các cam kết của KH để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề Các chính sách RRTD của NH cần nêu cụ thể cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề, trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này nên giao cho bộ phận tiếp thị hay xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng Các NH nên xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý RRTD, giúp phân biệt các mức độ RRTD trong các tài sản có tiềm năng rủi ro của NH
Trang 21r
5
CHƯƠNG II-((-
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á
CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2009 – 2011.
2 1 Tổng quan về hoạt động của Ngân hàng TMCP Á Châu CN Đà Nẵng: 2.1.1 Giới thiệu về ngân hàng:
- Tên giao dịch quốc tế ASIA COMMERCIAL BANK
Để mở rộng phạm vi hoạt động và góp phần hoàn thiện ACB, ban lãnh đạo Ngân hàng đã có quyết định số 212/QĐ-NH 15 ký ngày 13/08/1996 thành lập Chi nhánh ACB Đà Nẵng Sau gần 17 năm hoạt động đến nay đã phát triển thêm 8 phòng
Trang 22ACB đã thiết lập một cơ cấu quản trị điều hành phù hợp với các tiêu chuẩn về
tổ chức và hoạt động của NHTM theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP và Thông tư 06/2010/TT-NHNN Còn đối với chi nhánh, ACB cũng đã lựa chọn một bộ máy tổ chức phù hợp, thể hiện sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các phòng ban
Ghi chú cho sơ đồ:
: Quan hệ trực tuyến: Quan hệ chức năng
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ các Phòng ban:
Đứng đầu tại chi nhánh là Trưởng đơn vị đây là cấp quản lý cao nhất, chịu báo cáo với Hội Sở về HĐKD ở đơn vị, triển khai các HĐKD phù hợp nhu cầu khách hàng Trưởng đơn vị bao gồm một giám đốc và các phó giám đốc
a) Khối kinh doanh: Gồm có:
- Phòng khách hàng cá nhân: Gồm bộ phận TD cá nhân và bộ phận tư vấn tài chính (PFC) Nhiệm vụ của phòng là tìm kiếm khách hàng, bên cạnh đó còn tư vấn cho khách hàng lựa chọn sản phẩm phù hợp
- Phòng khách hàng doanh nghiệp: gồm có bộ phận TD doanh nghiệp và bộ phận thanh toán quốc tế Nhiệm vụ xử lý các hồ sơ vay của DN nhỏ và lớn
b) Khối vận hành: Gồm có:
- Phòng giao dịch ngân quỹ:
+ Bộ phận giao dịch: giao dịch trực tiếp với khách hàng, gồm tổ Teller và Nhân viên phát triển đại lý thẻ
+ Bộ phận ngân quỹ: điều quỹ từ trụ sở chính về các phòng giao dịch, gồm Kiểm ngân và Tổ điều quỹ
- Phòng hỗ trợ tín dụng: Bao gồm CSR tiền gửi và CSR tiền vay, kiểm soát viên tín dụng, pháp lý chứng từ Hỗ trợ khách hàng lựa chọn sản phẩm vay phù hợp, giúp khách hàng cân đối chi tiêu của mình Ngoài ra phục vụ việc giải ngân và thu nợ
Trang 23nhánh Đà Nẵng là đẩy mạnh công tác huy động vốn Trong huy động vốn, ACB có
nhiều sản phẩm tiết kiệm cả nội tệ lẫn ngoại tệ và vàng, các sản phẩm rất đa dạng
thích hợp với nhu cầu của dân cư và tổ chức
Bảng 2.01: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2009-2011
(Bao gồm tiền VNĐ và Ngoại tệ qui đổi ra VNĐ) Đvt: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch 10/09 Chênh lệch 11/10 Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%) Tiền gửi của
khách hàng 2.155.417 89,23 2.487.208 89,70 3.191.320 88,53 331.791 15,39 704.112 28,31Tiền gửi, tiền
vay từ các
TCTD khác
256.357 10,61 281.519 10,15 408.209 11,32 25.162 9,82 126.690 45,00 Các khoản
vay khác 3.735 0,16 4.249 0,15 5.339 0,15 514 13,76 1.090 25,65Tổng nguồn
vốn huy động 2.415.509 100,0 2.772.976 100,0 3.604.868 100,0 357.467 14,80 831.892 30,00
(Nguồn: phòng hành chính kế toán)
a) Tiền gửi của khách hàng:
Trong số các nguồn vốn huy động thì tiền gửi của khách hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây Tiền gửi của khách hàng
đến 31/12/2011 là 3.191.320 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 88,53% trong tổng nguồn
vốn, tăng 28,31% so với 2010 (tương ứng 704.112 triệu đồng) trong nguồn vốn huy
động của ACB Bên cạnh đó, toàn bộ nguồn vốn huy động của ACB là huy động từ
trong nước
b) Vay từ Các khoản vay khác, tiền gửi và tiền vay từ các TCTD khác:
Trang 24r
5
Trước những khó khăn trong việc huy động từ tiền gửi của khách hàng năm
2011 và tác động việc điều chỉnh chính sách đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo Thông tư
13 thì nhu cầu vốn từ thị trường cấp 2 và các nguồn khác trở nên cần thiết hơn đối với tất cả các ngân hàng, không loại trừ ACB Khoản mục này có số dư cuối năm
2010 là 285.768 triệu đồng chiếm tỷ trọng 10,3%, đến 31/12/2011 là 11,47%
2.1.2.2 Tình hình dư nợ tại Ngân hàng TMCP Á Châu CN Đà Nẵng:
Hoạt động TD là hoạt động nghiệp vụ quan trọng quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, vì thế Ngân hàng luôn đặt ra mục tiêu mở rộng tín dụng, đồng thời hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2011 là 19,94%
Tỷ trọng (%) Giá trị
Tỷ trọng (%)
Phân theo loại hình cho vay
Cho vay trung, dài hạn 358.926 50,35 343.583 40,20 455.339 44,40
Phân theo loại tiền tệ
- Thứ nhất là về phía Ngân hàng: Việc huy động vốn trung, dài hạn gặp nhiều
khó khăn do lạm phát tăng cao, nguồn tiền nhàn rỗi trú ẩn vào những kênh đầu tư hấp dẫn hơn như: vàng, chứng khoán, các ngoại tệ mạnh: USD, GBP… đã hạn chế khả năng huy động vốn của NH từ đó hạn chế khả năng cho vay trung, dài hạn
- Thứ hai về phía khác hàng: Do khách hàng của Ngân hàng chủ yếu hoạt động
trên lĩnh vực thương mại-dịch vụ, nên vốn quay vòng nhanh do đó chỉ cần vay trong
Trang 252.1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh:
Chênh lệch thu chi năm 2011 tăng 20,00 % so với năm 2010, tương đương với 8.758 triệu đồng Trong tổng thu nhập, thu nhập từ lãi chiếm tỷ trọng lớn, cụ thể năm
2009 tỷ lệ này này là 63,17%, năm 2010 là 67,27% và năm 2011 là 64,71%, các nguồn thu khác chiếm tỷ trọng không cao đây là điều dễ hiểu bởi hoạt động TD là hoạt động chủ yếu và quan trọng của các NHTM ở Việt Nam
Trang 26Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch 10/09 Chênh lệch 11/10
Giá trị Tỷ trọng (%) Giá trị Tỷ trọng (%) Giá trị Tỷ trọng (%) Tuyệt đối đối (%)Tương Tuyệt đối
I.Thu nhập 166.321 100,00 202.865 100,00 261.145 100,00 36.544 21,97 58.280
Trang 27dư nợ năm 2011 lại giảm 0,01% so với năm 2010 điều này cho thấy việc quản lý nợ trong năm 2011 tốt hơn năm 2010 Nguyên nhân dẫn đến việc nợ xấu tăng cao như vậy là do sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, diễn biến phức tạp của tình hình lạm phát tăng cao trong nước… khiến cho khách hàng không thể hoàn trả đầy
đủ các khoản vay theo đúng hạn cho Ngân hàng, khiến cho tình hình quá hạn của Ngân hàng tăng lên Tuy nhiên, phần lớn các khoản nợ xấu này chủ yếu là nợ quá hạn nhóm 3 (nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày) cho nên có khả năng thu hồi rất lớn Cụ thể
nợ quá hạn nhóm 3 năm 2011 là 4.320 triệu đồng chiếm tỷ lệ 56,12% trong tổng số
nợ xấu, nợ nhóm 4, 5 chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số nợ xấu lần lượt là 27,99% và 15,89%
Trang 282.2.2.1 Phân tích tình hình nợ xấu theo thành phần kinh tế:
Để thấy được đối tượng nào trong nền kinh tế có thể gây ra rủi ro cho Ngân hàng nhiều nhất thì ta sẽ tiến hành phân tích tình hình cho vay của Ngân hàng theo thành phần kinh tế Trong đó ta sẽ phân nhóm các thành phần kinh tế thành 2 nhóm chính bao gồm: Doanh nghiệp và hộ gia đình, cá nhân và tổ chức khác, trong đó: Doanh nghiệp sẽ bao gồm: Doanh nghiệp Quốc doanh và ngoài Quốc doanh
Bảng 2.05: Phân tích tình hình nợ xấu theo thành phần kinh tế
Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh 336.542 47,21 451.359 52,81 577.684 56,33
Hộ gia đình, cá nhân và tổ chức khác 361.350 50,69 383.670 44,89 428.266 41,76
Nợ xấu 5.553 100,0 6.497 100,0 7.698 100,0
Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh 2.895 52,13 2.728 41,99 3.484 45,26
Hộ gia đình, cá nhân và tổ chức khác 2.308 41,56 3.249 50,01 3.613 46,94
Qua bảng số liệu trên ta thấy dư nợ tín dụng của Ngân hàng tăng theo từng năm
Dư nợ tín dụng đối với các Doanh nghiệp ngoài Quốc Doanh và Hộ gia đình, cá nhân
Trang 29Nợ quá hạn của các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và Hộ gia đình, cá nhân và
tổ chức khác chiếm tỷ trọng khá lớn, đây cũng là điều dễ hiểu vì đi đôi với dư nợ tín dụng cao thì việc nợ quá hạn cao là điều bình thường Còn dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp quốc doanh mặc dù chiếm tỷ trọng không cao, cụ thể năm 2009 là 14.970 triệu đồng, năm 2010 là 19.657 triệu đồng chiêm tỷ trọng 2,3% và năm 2011
là 19.587 triệu đồng tương ứng với 1,9% nhưng tỷ trọng nợ xấu, nợ quá hạn lại chiếm một tỷ trọng tương đối cao, cụ thể vào cuối năm 2010, 2011 tỷ lệ nợ xấu của nhóm này lần lượt là 8% và 7,81% Do đó Ngân hàng cần tăng cường công tác thu nợ đối với các doanh nghiệp Quốc doanh
2.2.2.2 Phân tích tình hình nợ xấu theo bảo đảm tín dụng:
Thông thường thì Ngân hàng căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng và tính chất của khoản vay đó mà yêu cầu khách hàng có hay không có TSĐB Và trong qui định 178/1999/NĐ-CP đã nêu rõ: “TCTD có quyền quyết định lựa chọn việc cho vay có đảm bảo bằng Tài sản, cho vay không có đảm bảo bằng Tài sản theo qui định của Chính phủ và chụi trách nhiệm về quyết định của mình”
Để Ngân hàng và khách hàng có thể thực hiện các quan hệ vay mượn thì điều quan trọng là khách hàng phải đảm bảo được 3 nguyên tắc tín dụng, trong đó vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi đầy đủ, đúng hạn và vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích là điều kiện cần, còn việc vay vốn phải có TSĐB là điều kiện đủ Đặc biệt là các cá nhân hay doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chỉ trừ số lượng không nhiều các doanh nghiệp nhà nước hay các cán bộ công nhân viên chức nhà nước hay cán bộ trong ngân hàng Để nghiên cứu tình hình rủi ro tín dụng theo hình thức đảm bảo tín dụng, ta tiến hành nghiên cứu bảng sau:
Trang 30Biểu đồ 2.01: Cơ cấu dư nợ phân theo đảm bảo tín dụng năm 2011
Đối với vấn đề cho vay đảm bảo không bằng Tài sản hay nói cách khác là cho vay Tín chấp, ta thấy dư nợ cho vay chiếm tỷ trọng khá nhỏ năm năm 2010 có số dư cuối năm là 40.769 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 4,77%, năm 2011 tăng lên là 54.558 chiếm 5,32% Việc cho vay Tín chấp được thực hiện trên cơ sở Chi nhánh đánh giá
Trang 31r
5
chóng thu hồi vốn Do đó số lượng khách hàng được cho vay Tín chấp rất ít, việc trả
nợ gốc và lãi của nhóm đối tượng khách hàng này khá tốt nên tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu là thấp Đây là sản phẩm cho vay tín chấp của ACB:
Theo xu hướng hiện nay các Ngân hàng cho vay Tín chấp ngày càng nhiều, nhất
là trong cho vay tiêu dùng và ACB cùng không là ngoại lệ Ta thấy tỷ lệ cho vay Tín chấp của Ngân hàng tăng theo từng năm nhưng với mức độ thận trọng cao
2.2.2.3 Phân tích tình hình nợ xấu theo ngành nghề:
Bảng 2.07: Phân tích tình hình nợ xấu theo ngành nghề
Tỷ trọng (%) Giá trị
Tỷ trọng (%)