H.T.Chang & R.H.Miao, Lan hài Paphiopedilum sp, Kim tuyến đá vôi Anoectochilus calcareous, Bảy lá một hoa Paris polyphylla Sm… Lịch sử tồn tại hơn 4000 năm trong công cuộc xây dựng và b
Trang 1Ê VĂ ỰC
Ê CỨU BẢO Ồ OÀ C Y UỐC QUÝ
Ế BẢY Á Ộ OA (Paris polyphylla Smith)
Trang 2Hà Nội, ngày tháng năm 2019
gười cam đoan
ê Văn ực
Trang 3Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Nhà trường Đồng thời, cảm ơn quý thầy/cô giáo, Phòng Đào tạo Sau đại học, đặc biệt là PGS.TS Vũ Quang Nam đã dành nhiều thời gian, giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành Luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các cán bộ và nhân viên Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thựchiện và thu thập số liệu nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia liên quan đã tận tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện Luận văn
Luận văn tốt nghiệp này một phần được hỗ trợ từ đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản (NAFOSTED), giai đoạn 2017 - 2020, Mã số: 106.03-
2017.16 do PGS.TS Vũ Quang Nam làm Chủ trì với tên “Nghiên cứu giám định các loài giổi ăn hạt ở Việt Nam (Michelia spp.) bằng phương pháp hình thái, phân tử và sinh thái” Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó!
Do điều kiện thời gian có hạn, mặc dù bản thân tôi cũng đã nỗ lực, cố gắng hết mình nhưng chắc chắn Luận văn không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Cá nhân tôi kính mong tiếp tục nhận được ý kiến góp ý của các thầy, cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp để Luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
ọc viên
ê Văn ực
Trang 4ỤC ỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 Ổ QUA VỀ VẤ Ề Ê CỨU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.2 Nghiên cứu trong nước 6
1.3 Nghiên cứu tại BQL KBTTN Pù Luông 8
Chương 2 ỤC ÊU, Ố ƯỢ , V , Ộ DU VÀ ƯƠ Á Ê CỨU 11
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 11
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 11
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.3 Nội dung nghiên cứu 12
2.4 Phương pháp nghiên cứu 12
2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có 12
2 4.2.Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa 12
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 15
2.4.4 Phương pháp nhân giống hữu tính đối với loài Bảy lá một hoa 15
Trang 52.4.5 Phương pháp xác định nguyên nhân gây suy giảm và giải pháp
bảo tồn loài Bảy lá một hoa nói riêng và thực vật nói chung tại Khu
BTTN Pù Luông 16
Chương 3 ẶC Ể Ự Ê , K Ế - XÃ Ộ 18
3.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.1 Vị trí địa lý 18
3.1.2 Đặc điểm địa hình 18
3.1.3 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 19
3.1.4 Đặc trưng cơ bản về tài nguyên rừng 19
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 29
3.2.1 Tình hình dân số và dân tộc 29
3.2.2 Lao động và phân bố lao động 32
3.2.3 Các hoạt động kinh tế của người dân 34
3.2.4 Cơ sở hạ tầng và văn hoá giáo dục 38
Chương 4 KẾ QUẢ Ê CỨU VÀ ẢO UẬ 41
4.1 Đặc điểm lâm học loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa 41
4.2 Hiện trạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông 43
4.2.1 Đặc điểm phân bố của loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 43
4.2.2 Tình trạng khai thác, buôn bán loài Bảy lá một hoa của người dân tại khu vực nghiên cứu 51
4.3 Kết quả thử nghiệm khả năng nảy mầm của loài Bảy lá một hoa 52
4.3.1 Kết quả thử nghiệm khả năng nảy mầm của loài Bảy lá một hoa bằng phương pháp gieo hạt 52
4.3.2 Kết quả thử nghiệm khả năng nhân giống bằng hom (đầu củ giống) 54
4.4 Các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển đối với loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông 57
Trang 64.4.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát triển đối với loài Bảy lá một
hoa tại khu vực nghiên cứu 57
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài 59
KẾ UẬ , Ồ VÀ K UYẾ Ị 61
À U A K ẢO 63
Trang 7DA ỤC CÁC Ừ V Ế Ắ
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
KBTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên
CITES Công ước về buôn bán quốc tế các loài động
vật, thực vật hoang dã nguy cấp
CR Critically Endangered - Rất nguy cấp
DD Data Deficient - Thiếu dữ liệu
ĐDSH Đa dạng sinh học
IUCN Danh lục đỏ các loài có nguy cơ bị diệt vong
của Hiệp hội Bảo vệ thiên nhiên thế giới
LC Least Concern - Ít quan tâm
NC Near Threatened - Sắp bị đe dọa
NĐ 32 Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ PTNT Phát triển nông thôn
VU Vulnerable - Sẽ nguy cấp
Trang 8DA ỤC CÁC BẢ
Bảng 3.1 Diện tích các loại đất, loại rừng 20
Bảng 3.2 Đa dạng các bậc taxon của hệ thực vật 25
Bảng 3.3 Khu hệ động vật ở Khu BTTN Pù Luông 28
Bảng 3.4 So sánh các loài động vật tại các khu rừng đặc dụng Thanh Hóa 29
Bảng 3.5 Phân bố dân cư của các xã nằm trong Khu BTTN 30
Bảng 3.6 Phân bố dân cư trong vùng lõi KBT 31
Bảng 3.7 Mật độ dân số của các xã nằm trong Khu BTTN Pù Luông 31
Bảng 3.8 Tỷ lệ sinh, chết, tăng tự nhiên qua các năm tại các xã thuộc Khu BTTN Pù Luông 32
Bảng 3.9 Lao động và phân bố lao động của các xã thuộc KBT 33
Bảng 3.10 Lao động phân theo ngành nghề ở các xã nằm trong KBT 34
Bảng 3.11 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại 9 xã nằm trong Khu BTTN Pù Luông năm 2010 35
Bảng 3.12 Diện tích trồng và năng suất cây phi lương thực tại 9 xã nằm trong Khu BTTN Pù Luông 36
Bảng 3.13 Thống kê đàn gia súc, gia cầm tại các xã nằm trong Khu BTTN Pù Luông (năm 2010) 37
Bảng 4.1 Tọa độ 10 tuyến điều tra Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 44 Bảng 4.2 Bảng tổng hợp phân bố Bảy lá một hoa theo đai cao trên tuyến 49 Bảng 4.3 Bảng giá thu mua loài Bảy lá một hoa của 5 người dân tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra độ thuần của hạt giống Bảy lá một hoa 52
Bảng 4.5 Quá trình nảy mầm của hạt Bảy lá một hoa 53
Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra độ thuần của hom giống bảy lá một hoa 54
Bảng 4.7 Quá trình nảy mầm của hom bảy lá một hoa 55
Trang 9DA ỤC CÁC Ì
Hình 3.1 Biểu đồ tỉ trọng của các bậc taxon 26
Hình 4.1; 4.2 Hình thái lá loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 41
Hình 4.3; 4.4 Hình thái hoa loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 42
Hình 4.5; 4.6 Hình giải phẫu quả Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 42
Hình 4.7; 4.8 Hình thái quả và hạt loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 43
Hình 4.9 Bản đồ tuyến điều tra Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu 44
Hình 4.10 Mô hình gieo ươm hạt Bảy lá một hoa 53
Hình 4.11 Biểu đồ diễn biến quá trình nảy mầm của hạt cây bảy lá một hoa 54
Hình 4.12 Mô hình gieo ươm hom củ Bảy lá một hoa 55
Hình 4.13 Biểu đồ diễn biến quá trình nảy mầm của than củ Bảy lá một hoa 56
Hình 4.14 Cây con Bảy lá một hoa mọc từ thân củ 56
Hình 4.15 Trên đỉnh núi nhìn xuống Thôn Eo Điếu - xã Cổ Lũng 58
Hình 4.16 Thôn Eo Điếu - xã Cổ Lũng khi nhìn từ dưới lên 58
Hình 4.17 Đường lên 3 Thôn Son, Mười, Bá - xã Lũng Cao 58
Hình 4.18 Trên thôn Son nhìn xuống khu trung tâm xã Lũng Cao 58
Trang 10Ặ VẤ Ề
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, lãnh thổ đất nước trải dài từ Bắc xuống Nam, địa hình biến đổi từ Đông sang tây, đã tạo ra một khu hệ thực vật vô cùng phong phú và
đa dạng Ngoài yếu tố thực vật bản địa, Việt Nam còn là nơi giao lưu với các nhân tố thực vật ngoại lai thuộc các khu hệ thực vật vùng lân cận
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có tổng diện tích quy hoạch 17.171,03 ha gồm 3 phân khu chức năng là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 8.866,26 ha, phân khu phục hồi sinh thái chiếm 7.995,74 ha và phân khu hành chính dịch vụ chiếm 215,53 ha Khu BTTN Pù Luông nằm trên địa phận của 2 huyện Quan Hóa và Bá Thước, phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung bộ Việt Nam, nơi đây được xem là vị trí quan trọng ở phía Tây Bắc của dải núi đá vôi Pù Luông- Cúc Phương- Ngọc Sơn Theo kết quả điều tra năm 2013 tại đây đã ghi nhận có 2.487 loài động thực vật, trong đó có 1.579 loài thực vật thuộc 680 chi, 200 họ, 76 bộ, 12 lớp và 6 ngành đã được ghi nhận; với nhiều nhiều loài thực vật quý hiếm được xếp trong sách đỏ Việt Nam (2000) và sách đỏ thế giới (2002) như: Thông Pà
Cò (Pinuskwangtungensis), Nghiến (Excentrodendrontonkinense(Gagnep.) H.T.Chang & R.H.Miao), Lan hài (Paphiopedilum sp), Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareous), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Sm…
Lịch sử tồn tại hơn 4000 năm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc ta để tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của xã hội đều gắn liền với việc sử dụng các tài nguyên thực vật vào cuộc sống.Cuộc sống luôn gắn bó mật thiết với rừng và tình yêu thiên nhiên cây cỏ đã hình thành nên nét đẹp trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc Mặt khác, những kiến thức bản địa trong sử dụng cây rừng làm công cụ lao động, làm
Trang 11nhà ở, làm thuốc chữa bệnh, làm rau ăn và thức uống là những minh chứng cho giá trị to lớn của thực vật rừng
Hiện nay, hệ sinh thái rừng ở Việt Nam cũng như ở một số nước khác trên thế giới đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến sự mất cân đối
về môi trường, có nguy cơ bị mất nguồn gen của một số loài quý hiếm, đồng thời tính đa dạng của một số hệ sinh thái sẽ dần bị xuy giảm Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo tồn được nguồn gen và đảm bảo được tính đa dạng sinh học của các loài trong hệ sinh thái rừng?
Để làm được điều này rất cần có những nghiên cứu đầy đủ, cụ thể về
sự đa dạng của từng loài trong hệ sinh thái để làm cơ sở khoa học cho các phương án bảo tồn cho mai sau
Ngày nay, khi đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu về thẩm mỹ và ẩm thực đã nâng lên, đặc biệt là nghệ thuật chơi cây cảnh, sử dụng các loại cây dược liệu làm thức uống được con người để ý đến và quan tâm sâu sắc Một số loài trong họ Trọng lâu (Trilliaceae) có giá trị cao về dược liệu và kinh tế, đặc biệt là các
cây trong chi Paris, vì vậy đây là đối tượng được người dân khai thác chưa
bền vững làm cho các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên Trong
Sách đỏ Việt Nam (2007), Paris polyphylla Smith là cây quý hiếm nguy
cấp (phân hạng EN A1c,d) (được đề nghị có biện pháp khai thác hợp lý nguồn thuốc, đồng thời đưa vào trồng để bảo vệ nguồn gen) Bảy lá một hoa cũng có tên trong nhóm II, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (kèm theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng
01 năm 2019 của Chính phủ) Do vậy, cần phải có những giải pháp để bảo tồn
tính đa dạng của loài trong chi Paris và nhằm mục đích đáp ứng được các nhu
cầu bảo tồn, lợi ích của con người
Loài cây Bảy lá một hoa hiện tại là một loài dược liệu quý, hiếm và
có giá trị lớn về kinh tế nên việc nghiên cứu nhân giống, tạo giống cây dược liệu có chất lượng tốt là rất cần thiết
Trang 12Với lí do nêu ở trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo
tồn loài cây thuốc quý hiếm Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”
Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ cung cấp số liệu khoa học đầy
đủ nhất và cập nhật nhất về hiện trạng phân bố, khả năng nhân giống của loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
Trang 13sử dụng Những kinh nghiệm dân gian được nghiên cứu ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của quốc gia đó
Theo WHO đến năm 1985, trên thế giới đã có khoảng 20.000 trong
số 25.000 loài thực vật được dùng trực tiếp để làm thuốc hoặc có nguồn cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc Trong đó, vùng nhiệt đới châu Á ước tính có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc Ấn Độ có 6.000 loài, Trung Quốc có 5.135 loài Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc ở dạng cổ truyền thì nhiều năm nay người ta đã chế ra nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên Cho đến nay chưa có con số chính xác thống kê về tổng số lượng thực vật được sử dụng là bao nhiêu, chỉ đoán là rất lớn
Nhìn chung hiện nay nền y học cổ truyền được nhiều tổ chức; chính phủ quan tâm nhằm tạo ra những dạng bào chế mới; thuốc mới đáp ứng nhu cầu làm thuốc dự phòng và chữa bệnh Cho tới nay có hơn 30.000 hoạt chất được tách triết từ nguồn thực vật Rất nhiều hoạt chất có giá trị cao Nhu cầu về hoạt chất có nguồn gốc thực vật ngày càng tăng, trong khi đó nguồn thực vật cung cấp có hạn, phụ thuộc vào nhiều vấn đề: năng suất, điều kiện khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, điều kiện thổ nhưỡng… Chính vì vậy, nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật được nhiều quốc gia quan tâm, đầu tư phát
Trang 14triển… Những sản phẩm của sinh khối tế bào thực vật đã được thương mại hóa, có giá trị cao trong nhiều lĩnh vực: dược phẩm (thuốc điều trị các bệnh đái đường, bệnh tim mạch, bệnh gan mật, thuốc bổ dưỡng…) các thực phẩm bổ dưỡng, mỹ phẩm, chất phụ gia thực phẩm (chất màu, hương liệu, gia vị, các chất dùng trong chế biến thực phẩm), các chất dùng trong nông nghiệp…
Xu hướng trên thế giới hiện nay là vừa bảo tồn những cây, con có giá trị làm thuốc quý hiếm, vừa có kế hoạch khai thác có hiệu quả những nguồn gen này để chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng cao; giá thành phù hợp Chính vì vậy, để tiến hành bảo tồn có hiệu quả thì vấn đề khai thác các nghiên cứu nhằm hoàn thiện các dẫn liệu khoa học của các loài cần bảo tồn là hết sức quan trọng
Trên thế giới, gần đây nhiều công trình nghiên cứu về hoạt chất và
tác dụng y dược của Bảy lá một hoa, đặc biệt là các loài Parischinensis Franchet; Paris yunnanensis Franchet và Paris polyphylla Smith Theo Y
Dược hiện đại, nhiều nghiên cứu in vitro và nghiên cứu lâm sàng (Lee et al 2005; Guo et al 2008; Zhu et al 2010; Shah et al 2012; Li et al 2013; Kumar et al 2014; Negi et al 2014; Sharma et al 2015 ) cho thấy, dược liệu Bảy lá một hoa có hoạt tính dược lý đối với nhiều loại bệnh, như kháng nhiều loại ung thư, ung thư cổ tử cung (Paris saponin VII kháng u dòng tế bào Hela, U14); ung thư dạ dày và ung thư gan ở người (dioscin và polyphyllin D ức chế dòng tế bào SGC-7901, BGC-823; HepG2, R-HepG2, BxPC3, SMMC-7721); ung thư phổi (dòng tế bào NSCLC, A549, LA795); ung thư thực quản (dòng tế bào ECA109); ung thư vú ở người (polyphyllin
D điều trị dòng tế bào MCF-7 và MDA-MB-231); hoạt tính đối với các loại
bệnh Alzheimer; Chống nấm (Saccharomyces cerevisiae Hansen, Candida albicans,Cladosporium cladosporioides); kháng vi khuẩn(Bacillus dysentery, B
Trang 15typhi, B paratyphi, E coli,Staphylacoccus aureas, Haemolytic streptococci, Meningococci ); hoạt tính diệt tinh trùng; hoạt tính ức chế enzyme đa chức
năng tyrosinase (điều trị rối loạn về siêu sắc tố melanin của da, mỹ phẩm làm trắng da); hoạt tính kháng ký sinh trùng Leishmania; chất chống oxy hóa; kích thích miễn dịch (glucoside của saponin diosgenyl); hoạt tính hạ nhiệt (sốt và nhức đầu); các loại khác (điều trị bệnh co cơ tử cung, chảy máu tử cung bất thường, hoạt tính cầm máu, tiêu chảy, thuốc trừ giun sán) [30]
Các loài của chi Paris đã được nghiên cứu về hình thái và phân loại chi này ở Trung Quốc (Ji et al., 2006), phân tích trên 3 gen ITS, psbA-trnH
và trnL-trnF Gen trnL-trnF, psbA-trnH và trnL-trnF + psbA-trnH thì các
thứ P polyphylla var polyphylla, P polyaphylla var chinensis và P polyphylla var yunnanensis có mối quan hệ gần gũi nhất Nhưng trên gen ITS thì thứ P polyphylla var polyphylla, P polyaphylla var chinensis là gần gũi nhau, còn quan hệ với P polyphylla var yunnanensis lại khác biệt rất lớn giữa 2 nhóm.Tuy nhiên, từ hai thứ P polyphylla var polyphylla và
P polyphylla var yunnanensis có ý nghĩa rất lớn trong Y học dân tộc
Trung Quốc, khi được phân lập các hoạt chất và thử trên các dòng tế bào ung thư vú, ung thư gan, chống viêm, thì thấy được hiệu quả rõ rệt Ngoài
ra, một số hợp chất phân lập và được thử nghiệm từ loài P polyaphylla var chinensis cũng có hiệu quả tương tự hai thứ trên [28]
1.2 ghiên cứu trong nước
Hiện nay ở Việt Nam đã điều tra phát hiện được gần 4.000 loài thực vật có công dụng làm thuốc; trong đó có tới hơn 90% là cây mọc tự nhiên tập trung chủ yếu ở rừng Hàng năm, đã khai thác một khối lượng lớn các loài dược liệu sử dụng cho nhu cầu làm thuốc trong nước và xuất khẩu Nguồn tài nguyên thuốc của Việt Nam đã và tiếp tục đang bị suy giảm nghiêm trọng về số lượng loài, trữ lượng cũng như diện tích phân bố do những nguyên nhân chính như: khai thác liên tục trong nhiều năm; diện tích
Trang 16rừng tự nhiên bị suy giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng vì nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cây thuốc tăng mạnh Trong Hội thảo tổng kết 20 năm bảo tồn cây thuốc, vấn đề trên cũng được nhấn mạnh thông qua một số tham luận
Bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam đã trở thành vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm.Việc thiết lập hệ thống các vườn Quốc gia và khu BTTN cũng nhằm mục đích bảo tồn nguyên vẹn nguồn tài nguyên sinh học trong hệ sinh thái
tự nhiên vốn có của nó, trong đó có nhiều loài cây thuốc Bên cạnh đó có nhiều
dự án đã triển khai nhằm mục đích bảo tồn cây thuốc như các dự án: “Đánh giá hiện trạng tài nguyên dược liệu Việt Nam”, “Bảo tồn cây thuốc cổ truyền”,
“Bảo tồn và sử dụng bền vững cây thuốc của đồng bào Dao ở Ba Vì” Nhiều
chuyên khảo cũng đã đi sâu và nghiên cứu từng đối tượng cụ thể, bao gồm
“Nghiên cứu và bảo tồn cây Hoàng Liên ở Sapa”, “Nghiên cứu nhân giống Ba kích” Tất cả đều nhằm mục đích bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Việt Nam
Từ năm 2012 đến nay Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng đã xây dựng vườn nhân giống 10.000 cây giống/năm và bảo tồn được hơn 1.000 cá thể cây
nhân giống Bảy lá một hoa, thuộc đề tài của chương trình Quỹ Gen: “Khai thác
và phát triển nguồn gen Bảy lá một hoa và Huyết rồng lào làm nguyên liệu sản xuất thuốc” Qua đánh giá cho thấy cây Bảy lá một hoa có tiềm năng cho phát
triển sản xuất mang lại kinh tế ở các vùng núi cao, khí hậu lạnh, thích hợp với điều kiện và tập quán canh tác của đồng bào miền núi người Thái, người Dao, người Tày, người Mông…
Ở Việt Nam, theo Phạm Hoàng Hộ (1999) chi Paris có 5 loài và phân loài, Paris delavayi Franchet, Paris polyphylla Sm subsp polyphylla, Paris polyphylla Sm subsp fargesii (Fr.), Paris polyphylla Sm subsp yunnanensis (Fr.), Paris hainanensis var vietnamica [12]
Trong danh lục các loài thực vật Việt Nam (2005) công bố 6 loài,
Parischinensis (Franchet), Paris delavayi Franchet, Paris fargesii Franchet,
Trang 17Paris hainanensis Merr, Paris polyphylla Smith, Paris yunnanensis Franchet (Nguyễn Tiến Bân, 2005) Gần đây, Ji et al (2006) phát hiện mô tả loài mới Paris caobangensis Y.H Ji, H Li, Z.K Zhou [7]
Đỗ Huy Bích và cs (2006), tập hợp các dẫn liệu về cây thuốc Bảy lá
một hoa Paris polyphylla Smith (mô tả, phân bố sinh thái, cách trồng, thành
phần hóa học và tác dụng dược lý, tính vị công năng, công dụng) [3]
Trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Trọng lâu nhiều lá Paris polyphylla
Smith là cây quý hiếm nguy cấp (phân hạng EN A1c,d) (được đề nghị có biện pháp khai thác hợp lý nguồn thuốc, đồng thời đưa vào trồng để bảo vệ
nguồn gen) [3] Như vậy cho đến nay, ở Việt Nam chi Paris hiện đã biết có
7 loài và phân loài (thứ), đó là:
Paris caobangensis Y.H Ji, H Li, Z.K Zhou
Parischinensis Franchet (Paris polyphylla var chinensis (Franchet) Paris delavayi Franchet
Paris fargesii Franchet (Paris polyphylla Sm subsp fargesii (Fr.) Paris hainanensis Merr.(Paris hainanensis var vietnamica)
Paris polyphylla Smith (Paris polyphylla var polyphylla)
Paris yunnanensis Franchet (Paris polyphylla Sm subsp yunnanensis (Fr.)
1.3 Nghiên cứu tại BQ KB ù uông
Ngay sau khi thành lập KBTTN Pù Luông (1999) đã có nhiều công trình nghiên cứu Điển hình như tác giả Averyanov L., et al (2005) Giá trị của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông trong việc bảo tồn tính đa dạng thực vật Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, các tác giả
đã đánh giá về sự đa dạng thảm thực vật và thành phần loài với 152 họ, 477 chi, 1.109 loài [1]
Dự án “Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa” của Viện sinh thái và bảo vệ
Trang 18công trình (2012 - 2013) đã thống kê K BTTN Pù Luông có 1.542 loài thực vật thuộc 711 chi, 193 họ, 76 bộ, 12 lớp và 6 ngành.Trong 167 loài thực vật quý hiếm có ở khu BTTN Pù Luông có tới 60 loài có tên trong Sách đỏ Việt nam,
trong đó có 2 loài ở mức Rất nguy cấp (CR) đó là loài Kim cang petelot (Smilax petelotii T Koyama.) và loài Re hương (Cinnamomumparthenoxylon (Jack)
Meissn.) 18 loài ở mức nguy cấp (EN), 40 loài ở mức sắp nguy cấp (VU) [2]
Tác giả Nguyễn Văn Chính 2014 đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”.Kết quả của Công trình nghiên cứu đã chỉ ra:
Trong 167 loài thực vật quý hiếm có ở khu BTTN Pù Luông có tới
60 loài có tên trong Sách đỏ Việt nam (2007, phần Thực vật), trong đó 2
loài ở mức Rất nguy cấp (CR) đó là loài Kim cang petelot (Smilax petelotii
T Koyama.) và loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack)
Meissn.), 18 loài ở mức nguy cấp (EN), 40 loài ở mức sắp nguy cấp (VU) Nghị định 32/2006/NĐ - CP có 4 loài thuộc nhóm IA và 20 loài thuộc nhóm Danh Lục đỏ IUCN 2012 có 106 loài trong đó 1 loài ở mức cực kỳ nguy cấp (CR) là cây Sao hòn gai (Hopea chinensis (Merr.) Hand.-Mazz.),
6 loài ở mức nguy cấp (EN), 12 loài ở mức sắp nguy cấp ( VU), 2 loài sắp
bị đe dọa (NT), 66 loài ít quan tâm (LC) và 2 loài thiếu dữ liệu (DD), 17 loài mức ít nguy cấp (LR) [5]
Nguyễn Văn Tập và cs (2014), Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng phân bố của các loài cây dược liệu tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa.Tác giả chỉ ra rằng có sự phân bố của loài Bảy lá một hoa tại KBTTN
Pù Luông [20]
Tác giả Đoàn văn Công 2016 thực hiện đề tài "Nghiên cứu bảo tồn
loài Thông pà cò (Pinus kwangtungensis Chun ex Tsiang) và Thông đỏ bắc (Taxus chinensis (Pilg.) Rehder) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông,
Trang 19tỉnh Thanh Hóa", Đề tài đề xuất được 07 nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại KBTTN Pù Luông: Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư hiện đang sinh sống xung quanh KBTTN
Pù Luông; Phát triển kinh tế nâng cao thu nhập người dân; Ổn định dân số; Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng; Tăng cường chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn; Phục hồi bảo tồn rừng; Xây dựng vườn cây mẫu và vườn sưu tập [6]
Trương Văn Vinh 2016 với đề tài "Nghiên cứu bảo tồn loài Nghiến
(Excentrodendron tonkinense (A.Chev.) H.T Chang & R.H Miao) và Trai
Lý (Garcinia fagracoides A Chev.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông,
tỉnh Thanh Hóa”[25]
TS Hoàng Văn Sâm và Ths Nguyễn Hữu Cường2011, Báo cáo kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng loài Nghiến, Kim tuyến đá vôi và Lan Hài tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, báo cáo chuyên đề đã bổ sung cho khu hệ thực vật ở khu BTTN Pù Luông 18 loài thực vật Trong đó 2 loài có tên trong
Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2006) là: Bách bộ dây (Stemona tuberosa Lour.) và Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum (Thumb.) Makino) Đã
xác đinh được các mối đe dọa gây ảnh hưởng xấu đến tính đa dạng thực vật tại khu bảo tồn, đặc biệt là gây nguy hại cho 3 loài thực vật quý hiếm Trong
đó khai thác gỗ trái phép là mối đe dọa chính [19]
Như vậy có thể thấy rằng trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo tồn các loài quý hiếm, nguy cấp đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, việc tìm ra giải pháp để bảo tồn và phát triển đối với các loài quý hiếm, trong đó có loài Bảy lá một hoa hiện nay là rất cần thiết và cấp bách
Trang 20Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển loài Bảy lá một
hoa (Paris polyphylla Smith) tại Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
2.2 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith)
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nội dung nghiên cứu chi tiết gồm: Nghiên
cứu thực trạng phân bố của loài thực vật Bảy lá một hoa; Thử nghiệm nhân giống hữu tính; Xác định các mối đe dọa đối với loài; Đề xuất giải pháp
bảo tồn và phát triển bền vững đối với loài thực vật Bảy lá một hoa
- Phạm vi về không gian: Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có
diện tích là 17.171,03 ha, tuy nhiên đối với loài thực vật Bảy lá một hoa chỉ phân bố ở một số khu vực rừng trên núi đá vôi và trên núi đất của KBTTN
Pù Luông, vì vậy đề tài lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại một số tiểu khu
Trang 21261, 262 thuộc địa phận xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước và các tiểu khu 27,
41, 136 thuộc các xã Phú Lệ, Hồi Xuân, Thanh Xuân, huyện Quan Hóa,
tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 12/2017 đến tháng 4/2019
2.3 ội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thực trạng phân bố loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
- Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
- Thử nghiệm khả năng nhân giống hữu tính loài Bảy lá một hoa
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
2.4 hương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu nêu trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có
- Đề tài sẽ kế thừa có chọn lọc và phát triển các nghiên cứu trước đây
về vấn đề đa dạng hệ thực vật của Khu BTTN Pù Luông và các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tại khu vực nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hoá các thông tin đã có liên quan đến nội dung của đề tài
2 4.2.Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa
Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật” 1997, “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004), và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008)
Trang 222.4.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa
Các trang thiết bị xác định vị trí: Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000; máy định vị toàn cầu GPS; la bàn, nhãn, dây buộc, kéo cắt cành, nhãn ghi mẫu; bút ghi nhãn, bút ghi dây buộc; ống nhòm, túi đựng mẫu tạm thời; kẹp mẫu, cồn công nghiệp
2.4.2.2 Điều tra thu thập số liệu trên tuyến và trên OTC
- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn
- Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết
- Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của các loài trên các tuyến điều tra vào bản đồ thảm thực vật rừng của Khu BTTN Pù Luông
- Dùng máy ảnh để lưu lại hình ảnh của loài thực vật quý hiếm trên tuyến điều tra
* Thiết lập các tuyến điều tra:
Căn cứ vào điều kiện thời gian cũng như về nhân lực, vật lực cần thiết phục vụ công tác điều tra, nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của
đề tài đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian và các điều kiện cần thiết khác Công tác chuẩn bị nội nghiệp đóng góp một phần rất quan trọng, sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp KBTTN Pù Luông, điều kiện địa hình và ý kiến góp ý của lãnh đạo, cán bộ khoa học - kỹ thuật đã nhiều năm làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Pù Luông sẽ tiến hành lập 10 tuyến điều tra
a Điều tra cá thể loài:
- Điều tra, thu thập tiêu bản đo tính tất cả các cá thể loài thực vật quý, hiếm Bảy lá một hoa được tìm thấy trên tuyến điều tra
Trang 23- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước đo mét có chia cự li đến cm Kết quả điều tra theo tuyến được ghi vào mẫu biểu sau:
ẫu biểu 01 Biểu điều tra loài Bảy lá một hoa theo tuyến
Tuyến số:………Kiểu rừng hính:………
Độ cao:……….Độ dốc:……….Hướng dốc:…….…… Ngày điều tra:……… Người điều tra:……… ………
b) Xác định sự phân bố theo độ cao
Sử dụng định vị toàn cầu (GPS) để xác định độ cao phân bố của từng
cá thể loài thực vật quý hiếm Bảy lá một hoa Căn cứ vào kết quả điều tra
sự phân bố của loài và bản đồ địa hình đã được số hoá theo các độ cao khác nhau để phân chia theo các đai cao phù hợp và chính xác
2.4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
Phân tích tài liệu xây dựng báo cáo
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để phân tích tài liệu xây dựng báo cáo Các chuyên gia thảo luận theo nhóm để phân tích tình trạng phân
bố, đặc tính sinh thái, tình trạng bảo tồn của loài thực vật trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Sách đỏ Việt nam (2007)
Phân hạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa được trình bày theo biểu mẫu sau:
Trang 24ẫu biểu 02 Biểu phân hạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa
TT ên Việt am ên khoa học ức độ đe dọa
S V 2007 32/2006
2.4.2.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân
Phỏng vấn cán bộ BQL KBTTN Pù Luông và người dân địa phương về nơi phân bố cũng như một số đặc điểm của các loài thực vật Bảy lá một hoa
2.4.2.5 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa
Các mẫu thu phải có đủ của các bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản và được gắn Etyket để ghi lại các thông tin sơ bộ ngoài thực địa, mẫu thu được sẽ được kẹp trong giấy báo khổ A3 và nẹp tạm thời bằng kẹp mắt cáo bằng gỗ
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Ép mẫu: Trước khi sấy mẫu cần ép phẳng trên giấy báo dày, đảm bảo phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa hoặc quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu
Sấy mẫu và tẩm mẫu: Mẫu mang về sau khi ép cần được sấy ngay Khi sấy chú ý để mẫu dựng đứng để nước bốc hơi dễ dàng và mẫu chóng khô
Phân tích mẫu: Sử dụng phương pháp chuyên gia: phân tích theo họ, chi So mẫu với bộ mẫu chuẩn tại Khu BTTN Pù Luông và Trường Đại học Lâm nghiệp, xác định tên loài dựa vào các đặc điểm của cành, lá, hoa, quả
2.4.4 Phương pháp nhân giống hữu tính đối với loài Bảy lá một hoa
a/ Vật liệu: Hạt giống và hom thu hái từ cây mẹ trên rừng, cát, đất, lưới che, bình tưới, phân chuồng hoai, túi bầu…
b/ Xử lý hạt giống và hom: Khi thu hái được hạt giống từ cây mẹ, tiến hành bóc tách lớp cùi của quả, rửa sạch, phơi ráo nước dưới ánh nắng tán xạ
Trang 25để chuẩn bị mang đi gieo hạt Hom phải được cắt tỉa gọn gàng, hom không bị thối, hỏng mắt chồi và nấm bệnh
c/ Gieo ươm: Nghiên cứu trên 2 giá thể gieo ươm gồm:
- Gieo ươm trên giá thể cát ẩm: sau khi xử lý sạch cát, chuyển vào luống gieo với độ dày 15 cm, cho Hạt giống và hom vào và phủ một lớp cát mỏng dày 3 cm lên trên, sau đó tiến hành dùng bình tưới cho đủ ẩm
- Gieo ươm trên giá thể cát trộn đất: tỷ lệ Cát: Đất = 70 : 30%, sau khi trộn tỷ lệ Cát và đất đưa vào luống gieo ươm với độ dày 15 cm, cho hạt giống vào và phủ lên một lớp cát, đất dày 3 cm, sau đó tưới cho đủ ẩm
d/ Cấy giống vào bầu: Thành phần ruột bầu gồm: đất phù xa, cát, phân chuồng hoai, phân NPK với tỷ lệ 79 % đất: 20 % phân chuồng hoai: 1 % NPK Khi cây mầm được 2 lá tiến hành mang ra cấy vào bầu Sau khi cây tiến hành chăm sóc cây con cấy trên luống bầu
Toàn bộ quá trình thu hái hom và hạt giống, gieo ươm và cấy cây con vào bầu được theo dõi và đo đếm định kỳ
2.4.5 Phương pháp xác định nguyên nhân gây suy giảm và giải pháp bảo tồn loài Bảy lá một hoa nói riêng và thực vật nói chung tại Khu BTTN Pù Luông
Để đạt được mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên của thực vật nói chung
và bảo tồn loài Bảy lá một hoa nói riêng tại Khu BTTN Pù Luông, tôi đi tìm hiểu các nguyên nhân gây suy giảm trữ lượng của loài Bảy lá một hoa để từ
đó xác định các giải pháp bảo tồn Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp tiếp cận sau:
- Quan sát trực tiếp các chứng cứ và phỏng vấn người dân các thông tin
về mức độ tác động của con người Sau khi xác định và liệt kê các mối đe doạ trong Khu BTTN tiến hành đánh giá theo phương pháp của (Margoluis and Salafsky, 2001) Cho điểm các đe dọa theo thang điểm từ 1 đến N điểm (N bằng tổng số đe dọa xem xét) tùy theo mức độ ảnh hưởng của mỗi đe dọa
Trang 26Mỗi đe dọa được cho điểm theo 3 tiêu chí: diện tích ảnh hưởng của đe dọa, cường độ ảnh hưởng của đe dọa và tính cấp thiết của đe dọa Mức độ ảnh hưởng càng lớn số điểm cho càng cao Tránh cho 2 đe dọa cùng số điểm bằng nhau;
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn loài: Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân đó, để xây dựng các giải pháp bảo tồn có hiệu quả nhất, chúng tôi tiến hành phân tích cụ thể từng nguyên nhân, áp dụng nhiều giải pháp, xây dựng nhiều chương trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác động của nguyên nhân đó
Trang 27Phía Đông giáp với huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm, Thanh Xuân có diện tích quy hoạch Khu Bảo tồn
Vùng lõi và vùng đệm Khu BTTN Pù Luông nằm trên địa giới hành chính của 9 xã thuộc 2 huyện
Huyện Quan Hoá: 5 xã (Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân
Trang 28Hai dãy núi có kiểu địa mạo tương phản một cách rõ ràng do khác nhau về nền địa chất Dãy nhỏ hơn ở phía Tây Nam được hình thành chủ yếu từ đá lửa và đá biến chất Dãy lớn hơn ở phía Đông Bắc lại hình thành bởi những vùng đá vôi bị chia cắt mạnh, đây là một phần của dãy núi đá vôi liên tục chạy từ VQG Cúc Phương đến tỉnh Sơn La Độ cao của khu vực biến động từ 60 m đến 1.667 m, đỉnh cao nhất là núi Pù Luông
3.1.3 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn
Khu BTTN Pù Luông có khí hậu nhiệt đới gió mùa, và có gió mùa Đông - Bắc từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, gió mùa Đông -Nam từ tháng 3 đến tháng 10 Gió Lào khô nóng thổi từ hướng Tây xuất hiện vào giữa tháng 4 và tháng 5 (Anon, 1998a)
Nhiệt độ trung bình hàng năm biến động trong khoảng từ 20
-250C.Nhiệt độ tối đa đạt xấp xỉ 370C đến 390C, trong khi nhiệt độ tối thiểu trong khoảng từ 5 - 100C Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối thấp,
từ 1.500 - 1.600 mm Lượng mưa tối đa ước đạt 2.540 mm, tập trung từ tháng 7 đến tháng 9 (chiếm 65 - 70%) Mưa phùn tập trung vào mùa Xuân (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau).Lượng mưa tối thiểu khoảng 1.000 mm (Anon, 1998a)
Thuỷ văn: Có hệ thống suối ngắn, lưu vực hẹp và độ dốc chủ yếu đổ
về một hướng, nên khu vực có tiềm năng thuỷ điện nhỏ Hệ thống suối nếu được đầu tư đầy đủ sẽ đảm bảo đủ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn lương thực cho đồng bào các dân tộc hiện đang sinh sống ở đây
3.1.4 Đặc trưng cơ bản về tài nguyên rừng
3.1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
Căn cứ vào kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hàng năm từ bản đồ rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, kết quả giải đoán ảnh vệ tinh Spot5 và kết quả phúc tra ngoài thực địa tháng 10- 11/2012 cho thấy hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng Khu BTTN Pù Luông tại Bảng 3.1:
Trang 29Bảng 3.1 Diện tích các loại đất, loại rừng
Thanh Hóa, giai đoạn 2006 - 2015)
Từ số liệu trên về hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của Khu BTTN Luông, cho thấy:
Trang 30a) Đất có rừng
Diện tích đất có rừng 16.675,34 ha, độ che phủ là 97,11%, chủ yếu là rừng tự nhiên Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị để bảo tồn, là nơi có các hệ sinh thái rừng, nơi phân bố, cư trú và môi trường sống của các loài động vật rừng, những sinh cảnh cần được bảo tồn:
- Rừng núi đá: 9.920,03ha (chiếm 58,04%)
Trữ lượng rừng: Tổng trữ lượng các loại rừng 637.772,9 m3, tre nứa 160.113 ngàn cây, trong đó; rừng giàu: 163.627 m3 bình quân 180 m3/ha; rừng trung bình 199.804 m3
bình quân 130 m3/ha; rừng nghèo 236.019 m3
bình quân 70 m3/ha; rừng phục hồi 37.267 m3
, 65 m3/ha; rừng tre nứa 52.740 cây, bình quân 50 - 60 m3/ha, 3.000 cây/ha
Từ số liệu nêu trên cho thấy hệ sinh thái rừng trong khu vực có chất lượng khá tốt, tỷ lệ rừng giầu và rừng trung bình chiếm 80% diện tích KBT
b) Đất chưa có rừng
Diện tích đất chưa có rừng 186,66 ha (chiếm 1,09%); gồm đất trảng
cỏ (IA), đất trống có cây gỗ mọc rải rác, (IB, IC) Tuy không có rừng, nhưng nhóm đất này là nơi kiếm ăn của các loài thú ăn cỏ, nhóm thú móng guốc như Lợn rừng, Nai và một số loài thú nhỏ khác
Trang 313.1.4.2 Hiện trạng tài nguyên thực vật đặc trưng
a) Các kiểu thảm thực vật rừng đặc trưng
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng đất thấp trên đá vôi, có diện tích khoảng 4.800 ha Kiểu rừng này phân bố đến độ cao khoảng 700 m; phân bố ở tiểu khu 73 xã Thành Sơn; tiểu khu
74, 250, 251, 252, 254, 255, 259, 261 xã Lũng Cao và 1 phần tiểu khu 262 thuộc xã Cổ Lũng được chia làm 6 tầng chính Các loài cây ưu thế của tầng
1 gồm các loài cây Nghiến (Excentrodendron tonkinense); Các loài cây thuộc chi Ficus, Cui lá to (Heritiera macrophylla), Chò nhai (Anogeissus acuminata),Nhãn rừng (Dimocarpus longan), Thị núi (Diospiros bangoiensis) Các loài cây tái sinh gồm Ôrô (Streblus ilicifolia), Nghiến (Excentrodendron tonkinense); Thích Bắc bộ (Acer tonkinensis); những nơi ẩm ướt và được che bóng thì
có các loài phổ biến khác như Kim giao (Nageia fleuryi), Bằng lăng (Lagerstromia balance)
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng đất thấp trên đá phiến, có diện tích khoảng 650 ha Kiểu rừng này còn một diện tích nhỏ còn sót lại phân bố ở độ cao 60 - 100 m, phân bố ở tiểu khu
262, 265, ở chân dãy núi đá vôi nằm ở phía Đông thôn Khuyn, xã Cổ Lũng Đây là nơi duy nhất trong KBT có kiểu rừng này Kiểu rừng này cũng được chia làm 6 tầng chính Các loài cây ưu thế của tầng 1 gồm Gội (Agaila sp)
và Phay (Duabaga grandifora);các loài cây tái sinh chủ yếu là Chò nhai (Anogeissus acuminata), Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica), Mát (Millettia ichtyochotona)
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng núi thấp trên đá vôi ở độ cao 700 - 950 m, có diện tích khoảng 4.900 ha Kiểu rừng này rất phổ biến trong KBT phân bố ở các tiểu khu 256, 257,
260 xã Lũng Cao; tiểu khu 262, 265, 268 xã Cổ Lũng, tiểu khu 27, 30, 52
xã Phú Lệ Chúng mọc trên những phần cao của sườn những dãy núi đá vôi
Trang 32và ít bị tác động Thành phần loài và cấu trúc điển hình nhất của kiểu rừng này được thấy trên những sườn dốc và trên những đường đỉnh có độ cao trung bình nằm giữa các đỉnh và chóp núi cao hơn Kiểu rừng này cũng được phân chia làm 6 tầng chính: Tầng 1 của kiểu rừng này cao tới 40 m, các loài ưu thế của tầng này là: Nghiến (Burretiodendro tonkinensis), Thông lớn (Dacrycarpus imbricatus), Cui lá to (Heritiera macrophylla), các loài Dẻ (Quercus sp) Các loài cây tái sinh chủ yếu là Chân chim (Schefflera sp), Thông tre (Podocapus neriifolius), các loài cây Gội (Aglaia sp), các loài Re (Cinamomum sp), Duối (Streblus macrophylus)
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá kim núi thấp trên đá vôi (ở độ cao 700 – 850 m); có diện tích khoảng 1.000 ha Phân bố chủ yếu ở tiểu khu 270 và một phần của tiểu khu 265 thuộc xã Cổ Lũng Kiểu rừng này là dạng rừng nguyên sinh rất hiếm còn sót lại tại rất ít các đỉnh núi đá vôi thuộc khu vực xã Cổ Lũng Kiểu rừng này được chia
làm 5 tầng chính Tầng 1 của kiểu rừng này chủ yếu là Thông Pà Cò (Pinus kwantungensis), đôi khi có một số loài cây lá rộng đi kèm là Sơn trà (Eriobotrya bengalensis), Chẹo (Platycarya strobilifera), Thông đỏ (Taxus chinensis) Các loài cây tái sinh chủ yếu là Đại cúc phương (Pistachia cucphuongensis), Xoài rừng (Mangifera minutifolia), Trai lí (Fagraea fragransRoxb.), Kim giao (Nageia fleuryi),…
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng núi thấp trên đá bazan (ở độ cao 1000-1650m), có diện tích khoảng 4.500
ha Kiểu rừng này được che phủ bởi các quần xã rừng nguyên sinh và thứ sinh Phân bố ở các tiểu khu 269, 271 thuộc xã Thành Lâm, tiểu khu 75,
258, 264 thuộc xã Thành Sơn; tiểu khu 41 thuộc xã Phú Lệ; tiểu khu 65,84 thuộc xã Phú Xuân; tiểu khu 115,136, 145 thuộc xã Hồi Xuân; tiểu khu 156,158; tiểu khu 96 thuộc xã Thanh Xuân Kiểu rừng này có sương mù, tạo ra những khu vực có độ ẩm cao và luôn ẩm ướt, thậm chí trong cả mùa khô, điều này cho phép hình thành một thảm thực vật ẩm ướt khác biệt với các kiểu rừng mọc trên núi đá vôi Kiểu rừng này cũng được chia làm 6
Trang 33tầng chính Các loài cây ưu thế của tầng 1 gồm nhiều loài cây của họ Dẻ như: Dẻ
giáp (Castannopsis armata), Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus); các loài của họ Mộc lan như Giổi lá láng (Michelia foveolata) Ngoài ra còn một số loài Hạt trần quý hiếm như Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii); Dẻ tùng Vân Nam (Amentotaxus yunnamnensis); Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia); Kim giao (Nageia fleuryi); ngoài ra còn các loài ưu thế của các loài cây lá rộng như: Các loài gội (Aglaia sp), các loài Re (Cinamomum sp) Các loài cây tái sinh chủ yếu là Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii); Kim giao (Nageia fleuryi); Các loài gội (Aglaia sp); các loài Re (Cinamomum sp); Luống xương (Anneslea fragrans)
Một vài loại rừng phát triển không phân tầng có cấu trúc và thành phần loài đặc biệt, chúng giàu về thành phần các loài cây hiếm và đặc hữu,
có diện tích khoảng 800 ha Các loại thảm thực vật không phân tầng được thấy ở đây là:
- Rừng nguyên sinh rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng núi thấp cây lùn dạng bụi trên những đỉnh núi đá vôi riêng lẻ;
b) Những đặc trưng cơ bản hệ thực vật rừng
Theo kết quả điều tra của dự án “Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa” của Viện sinh thái và bảo vệ công trình năm 2012 - 2013 cho thấy Khu BTTN Pù Luông hiện nay
có 1.579 loài thực vật thuộc 680 chi, 200 họ, 76 bộ, 12 lớp và 6 ngành đã được ghi nhận cụ thể như sau:
Trang 35Tỉ lệ của các đơn vị taxon trong taxon bậc ngành được thể hiện trong biểu đồ sau:
ình 3.1 Biểu đồ tỉ trọng của các bậc taxon
So sánh với khu hệ thực vật của vườn Quốc gia Cúc Phương (1.827 loài), khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (762 loài), khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (308 loài) thì khu hệ thực vật ở đây khá phong phú Sự phong phú này không chỉ do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho thực vật sinh trưởng,
mà đây còn là nơi gặp gỡ của nhiều luồng thực vật như:
+ Khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa;
+ Luồng thực vật Indonesia - Malaysia;
+ Luồng thực vật India - Myanma
Trong số 200 họ thực vật, các họ sau đây có số loài chiếm ưu thế: họ
Cà phê (Rubiaceae) 46 loài; họ Đậu (Fabaceae), 35 loài, họ Long não
Trang 36(Lauraceae) 27 loài, họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) 27 loài, họ Long não (Lauraceae) 27 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 22 loài, họ Thượng tiến (Gesneriaceae) 22 loài, họ Gai (Urticaceae) 21 loài Trong tổng số 1.579 loài có 58 loài thực vật quý hiếm (sách Đỏ Việt Nam (2007, phần Thực vật)) chiếm 3,67% tổng số loài Đây là những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cao nhất ở Việt Nam.Vì những loài thực vật này sử dụng làm thuốc, lấy gỗ cho nên nó bị khai thác quá mức dẫn đến trong tự nhiên đang bị cạn kiệt dần và có nguy cơ tuyệt chủng Do vậy, cần có những chính sách hợp lý để bảo vệ và nhân giống
nuôi trồng trong tự nhiên
3.1.5.3 Đa dạng về động vật rừng
- Đã ghi nhận được 55 loài động vật nổi thuộc 35 giống, 18 họ, 2 ngành Đây là dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài động vật nổi ở Khu BTTN PùLuông
- Ghi nhận được 177 loài động vật đáy thuộc 142 giống, 70 họ, 3 ngành Trong đó 24 loài có trong IUCN 2013 và 1 loài trong DLĐVN
2007 Đây là dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài động vật nổi ở Khu BTTN Pù Luông
- Lớp cá ghi nhận được 67 loài thuộc 49 giống, 21 họ và 6 bộ Trong
đó có 13 loài được liệt kê trong IUCN 2013 và không có loài nào nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007)
- Lớp côn trùng ghi nhận 347 loài thuộc 237 giống, 80 họ của 17 bộ Trong đó, DLĐVN 2007 có 1 loài; IUCN 2013 có 16 loài
- Lớp chim ghi nhận 117 loài thuộc 91 giống, 43 họ, 13 bộ Trong
đó, 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 93 loài có tên trong IUCN
2013, 4 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP
- Lớp thú ghi nhận 79 loài thuộc 47 giống, 24 họ, 9 bộ Trong đó, có
29 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 69 loài có tên trong IUCN
2013, 27 loài có tên trong NĐ 32/2006/NĐ-CP
Trang 37- Lớp lưỡng cư ghi nhận 26 loài thuộc 18 giống, 7 họ, 1 bộ Trong
đó, duy nhất có 1 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 19 loài có tên trong IUCN 2013
- Lớp bò sát ghi nhận 40 loài thuộc 30 giống, 14 họ, 2 bộ Trong đó,
12 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 19 loài có tên trong IUCN
2013, 8 loài có tên trong NĐ 32/2006/NĐ-CP
Hệ động vật hiện có 908 loài, thuộc 277 họ, 31 bộ, bao gồm 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư, 24 loài dơi, 62 loài thú,
158 loài côn trùng, 96 loài ốc cạn Có 51 loài động vật quý hiếm và đặc hữu xếp trong SĐVN (2007) và Sách Đỏ Thế giới (2009) như: Voọc mông
trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc xám (Trachypithecus phayrei), Báo gấm (Pardofelis nebulosa), Beo lửa (Catopuma temminckii), Sơn dương (Capricornis sumatraensis),Gấu đen châu Á (Ursus thibetanus) và các loài thú nhỏ hơn như Cầy vằn Bắc (Hemigalus owstoni) và Nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura)
Bảng 3.3 Khu hệ động vật ở Khu B ù uông
(Nguồn: Đỗ Tước và Lê Trọng Trải, báo cáo điều tra khu Hệ động vật rừng
Pù Luông, FFI, 2013; Dự án điều tra lập danh lục động thực vật rừng, 2012)