1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) tư duy nghệ thuật thơ việt nam giai đoạn 1975 1985

157 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Duy Nghệ Thuật Thơ Việt Nam Giai Đoạn 1975-1985
Tác giả Nguyễn Hữu Công
Người hướng dẫn PGS.TS Hồ Thế Hà
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt, Âm vang chiến hào Hữu Thỉnh, in chung, Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Tự hát Xuân Quỳnh, Đến với dòng sông, Người đàn bà ngồi đan Ý Nhi, Núi mọc trong gương các tác giả n

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ

NGUYỄN HỮU CÔNG

TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1975-1985

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Huế - 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ

NGUYỄN HỮU CÔNG

TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1975-1985

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 9.22.01.21

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Hồ Thế Hà

Huế - 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, những nhận định, kết luận trong luận án đều trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Hữu Công

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án, bản thân tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình về mọi mặt từ quý thầy cô, cơ quan, gia đình và bạn bè thân thiết Qua đây, chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Huế, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Tổ Văn học Việt Nam

- Quý thầy, cô giáo trong và ngoài trường đã giảng dạy và hỗ trợ chúng tôi về tri thức trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

- Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hồ Thế Hà - người thầy tận tụy hướng dẫn, trang bị cho tôi những tri thức và kinh nghiệm quý báu để hoàn thành luận án

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn quan tâm, đồng hành và động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành chương trình học tập

Tác giả

Nguyễn Hữu Công

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4

4 Đóng góp của luận án 5

5 Cấu trúc luận án 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 6

1.1 Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 6

1.1.1 Những nghiên cứu chung 6

1.1.2 Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm 17

1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài 29

1.2.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu 29

1.2.2 Hướng triển khai đề tài 30

Tiểu kết 31

Chương 2 VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 32

2.1 Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ 32

2.1.1 Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật 32

2.1.2 Tư duy nghệ thuật thơ 35

2.2 Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca 38

2.2.1 Khái lược về bối cảnh lịch sử 38

2.2.2 Nhu cầu đổi mới thơ ca 42

2.3 Diện mạo thơ nhìn từ lực lượng sáng tạo và các bước ngoặt thơ 46

2.3.1 Nhìn từ lực lượng sáng tạo đồng hành 46

2.3.2 Nhìn từ các bước ngoặt chuyển mình 54

Tiểu kết 63

Trang 6

Chương 3 TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

1975-1985 NHÌN TỪ HỆ ĐỀ TÀI VÀ CẢM HỨNG THẨM MỸ 64

3.1 Đề tài chiến tranh với cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa 64

3.1.1 Nhận thức lại cuộc sống và con người thời chiến 64

3.1.2 Cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa 71

3.2 Đề tài hậu chiến với cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng 77

3.2.1 Nhận thức mới cuộc sống và nhân sinh thời bình 77

3.2.2 Cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng 83

3.3 Đề tài tình yêu với cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến 89

3.3.1 Nhận thức đa chiều về tình yêu và lẽ sống 89

3.3.2 Cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến 96

Tiểu kết 102

Chương 4 TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 103

4.1 Điểm nhìn nghệ thuật 103

4.1.1 Điểm nhìn sử thi - hướng ngoại 103

4.1.2 Điểm nhìn đời thường - hướng nội 108

4.2 Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật 113

4.2.1 Ngôn ngữ ngợi ca và ngôn ngữ tự bạch, đời thường 113

4.2.2 Giọng điệu lạc quan và giọng điệu triết lý, tự vấn 120

4.3 Không gian và thời gian nghệ thuật 126

4.3.1 Sự đa dạng thức về không gian nghệ thuật 126

4.3.2 Sự đa chiều kích về thời gian nghệ thuật 132

Tiểu kết 137

KẾT LUẬN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN

ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thơ Việt Nam hậu chiến 1975-1985 được xem là giai đoạn bản lề từ thời chiến sang thời bình, từ khuynh hướng sử thi - dân tộc sang khuynh hướng đời tư - thế sự; từ giọng cao sang giọng trầm; từ ngợi ca đất nước với cảm hứng chính là lãng mạn, hào hùng sang ngợi ca cuộc sống mới với cảm hứng đạo đức, nhân văn mới

Xuất phát từ tư duy đổi mới văn học nghệ thuật, thơ có sự vận động cân bằng trở lại trong các mối quan hệ của đời sống Nếu trước đây, thơ thường hướng về con người xã hội, con người chính trị - kết tinh cái tôi trữ tình công dân thì bây giờ, thơ ưu tiên thể hiện con người cá thể mang cảm quan đời tư - thế sự với cái tôi trữ tình đa diện, nhiều bất an, giằng xé, thiên về hướng nội Thơ không né tránh những vấn đề cá nhân, những băn khoăn về thân phận con người mà lắng lại với những suy tư mang tính triết lý, chiêm nghiệm của đời thường hậu chiến Thơ vì thế, mang cái nhìn so sánh với quá khứ và dự cảm cho tương lai trên nền hiện thực và sự vận động mới của xã hội

1.2 Thơ giai đoạn này đã kịp để lại những giá trị riêng với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu, có sức sống và hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ theo tư duy nghệ thuật riêng, làm tiền đề cho thơ giai đoạn từ Đổi mới (1986) trở về sau tiếp biến, vận động và phát triển

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chung và riêng đề cập đến nội dung và hình thức thơ giai đoạn này với nhiều hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau Chính vì xuất phát từ những điểm nhìn

và quan niệm khác nhau nên mỗi công trình đều có những đánh giá riêng, đồng thuận có, đối lập cũng không ít Thậm chí có công trình cho rằng, thơ giai đoạn này không mấy giá trị, vì nó vẫn trượt theo đà quán tính của thơ trước năm 1975 Nhưng đa phần đều cho rằng, thơ giai đoạn này diễn ra hợp quy luật, cả về thực tiễn lẫn lý luận và xem đây là giai đoạn quá độ cần thiết, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và nhu cầu của chính thơ ca

Xuất phát từ cái nhìn khoa học và biện chứng, chúng tôi tìm hiểu thơ giai đoạn này vừa để khẳng định thành tựu hợp quy luật của nó vừa để khám phá bản chất thi ca Bởi mỗi giai đoạn thi ca tuy khác nhau về kiểu tư duy, về

Trang 8

quan niệm nghệ thuật, đặc biệt là quan niệm về cuộc sống và con người nhưng bao giờ cũng có tính kế thừa và cách tân theo một dòng chảy thống nhất Ngôn ngữ, thể loại, phương pháp và hệ hình tư duy thơ theo dòng chảy

đó cũng có những thay đổi theo để phù hợp với tầm đón đợi mới của độc giả Hơn nữa, vì là giai đoạn bước ngoặt nên thơ Việt Nam hậu chiến 1975-1985

có quy luật riêng của nó Và nhà thơ, trong ý thức nghệ thuật của mình sẽ có nhu cầu nhìn lại để đánh giá ưu, nhược điểm của thơ giai đoạn trước và dự báo những thay đổi hợp quy luật cho thơ giai đoạn kế tiếp Thay đổi ở đây được hiểu theo nghĩa có kế thừa, phát huy và phát triển thơ thời chiến theo yêu cầu và tầm đón nhận của cuộc sống, của công chúng tiếp nhận và của chính thi ca trong cuộc sống thời bình

1.3 Nghiên cứu “Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1985”, chúng tôi nhằm khẳng định vị trí và thành tựu của thơ giai đoạn này trong tính kế thừa, phát triển từ thơ giai đoạn 1945-1975, xem đó là tiền đề cho thơ giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay Chúng tôi sẽ nghiên cứu sự vận động của cảm hứng và tư duy sáng tác, chỉ ra sự tiếp cận đối tượng, các phạm trù thẩm mỹ và phương thức nghệ thuật mới của thơ giai đoạn này Chúng tôi cũng đồng thời khẳng định, nhận thức lại, nhận thức mới về đề tài chiến tranh và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thơ giai đoạn 1945-

1975-1975, chỉ ra sự vận động và thay đổi ngôn từ, thể loại theo yêu cầu tự thân của cuộc sống và thi ca thời hậu chiến Qua đó, luận án góp phần nhận rõ diện mạo và thành tựu hợp quy luật của thơ giai đoạn 1975-1985 thông qua các tác gia, tác phẩm tiêu biểu

Đây chính là lý do chúng tôi chọn “Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985” làm đề tài và đối tượng nghiên cứu cho luận án của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung khảo sát các tác phẩm thơ của những nhà thơ tiêu biểu trong mười năm đầu sau chiến tranh làm đối tượng khảo sát chính, cụ

thể là thơ của nhiều thế hệ: Hồn tôi đôi cánh (Xuân Diệu), Đất sau mưa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ (Huy Cận), Hái theo mùa, Hoa trên đá (Chế Lan Viên), Con đường và dòng sông (Tế Hanh), Khoảng cách giữa lời (Bằng

Trang 9

Việt), Âm vang chiến hào (Hữu Thỉnh, in chung), Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Tự hát (Xuân Quỳnh), Đến với dòng sông, Người đàn bà ngồi đan (Ý Nhi), Núi mọc trong gương (các tác giả người dân tộc), Thay cho lời hát ru (Đinh Thị Thu Vân), Trăng phù sa (Võ Văn Trực), Bài thơ không năm tháng (Lâm Thị Mỹ Dạ), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Thành phố tháng Tư (Lê Thị Kim, Nguyễn Nhật Ánh), Khối vuông ru-bích (Thanh Thảo), Gương mặt tôi yêu, Sóng nhà đêm biếc (Nguyễn Trọng Tạo, in chung), Hoa trong cây, Những điều cùng đến (Vũ Quần Phương), Những mùa trăng mong chờ (Lê Thị Mây), Tiếng hát tháng giêng (Y Phương), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm

(Nguyễn Khoa Điềm) và một số bài thơ của các tác giả khác… Ngoài ra, trong quá trình triển khai, làm rõ sự vận động, kế thừa và tiếp biến của tư duy thơ, chúng tôi sẽ mở rộng liên hệ, khảo sát với thơ Việt Nam trước năm

1975 và sau năm 1986 để so sánh, đối chiếu, từ đó có cái nhìn tổng thể về thơ trong sự tiếp biến và tiệm biến của hai giai đoạn của cùng một dòng chảy thơ ca thống nhất

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là những đặc điểm cơ bản của tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985 ở cảm hứng nghệ thuật, biểu hiện cụ thể thành các đề tài/ phạm vi hiện thực của đời sống được phản ánh vào tác phẩm và một số phương thức thể hiện đặc sắc, như: điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu, sự chiếm lĩnh không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật

Riêng ở phạm vi đối tượng nghiên cứu/ khảo sát, chúng tôi căn cứ ở những tập thơ ghi năm xuất bản trong giai đoạn 1975-1985, tuy vậy, giới hạn thời gian ở đây cũng có tính tương đối (vì có những bài thơ viết trước

1975, nhưng xuất bản lại thuộc giai đoạn này hoặc có nhiều tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn này, nhưng đến sau năm 1985 mới cho xuất bản) Vì vậy, trong quá trình khảo sát có những sáng tác rơi vào hai thời khoảng trước 1975 hoặc sau 1985 nhưng phù hợp với chất thơ và tư duy thơ giai đoạn này cũng được chúng tôi trích dẫn để minh chứng cho những luận điểm khoa học được đặt ra trong luận án

Trang 10

3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Hướng tiếp cận

Đề tài tiếp cận theo hướng vận dụng lý thuyết Thi pháp học và lý thuyết tư duy nghệ thuật thơ để nghiên cứu đặc trưng thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 trong tiến trình vận động của thơ Việt Nam hiện đại, nhằm chỉ ra tư duy thơ ở bình diện nội dung và hình thức mang tính quan niệm của từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm theo yêu cầu và thao tác làm việc của thi pháp học và mỹ học tiếp nhận hiện đại

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Từ hướng tiếp cận trên, để giải quyết nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này nhằm xét tần suất

các yếu tố và phân loại chúng để xác định nội dung; từ đó, đưa ra những luận chứng xác đáng, sinh động, cụ thể cho các lập luận, phân tích và đúc kết thành luận điểm khoa học

- Phương pháp loại hình: Phương pháp này vận dụng những nguyên tắc

loại hình trong lĩnh vực văn học, giúp tìm hiểu, nghiên cứu thơ theo đặc trưng thể loại ở các dạng thức biểu hiện cụ thể, từ nội dung trữ tình đến các phương thức trữ tình; chỉ ra các nguồn cảm hứng, tư duy nghệ thuật, thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu…

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này nhằm tập trung so

sánh những đặc điểm cơ bản của thơ Việt Nam giai đoạn hậu chiến

1975-1985 với các giai đoạn trước và sau đó Ngoài ra, trên cơ sở khảo sát này, chúng tôi sẽ đối sánh thơ của các tác giả với tác giả, tác giả với phong trào, qua đó, thấy được sự tương đồng và khác biệt trong tư duy và phương thức thể hiện của mỗi nhà thơ, nhằm khẳng định phong cách sáng tạo cũng như vai trò của họ trong sự phát triển thể loại và trong tiến trình vận động của thơ hiện đại Việt Nam

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi

hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan đến giai đoạn thơ 1975-1985 về các phương diện khác nhau: bối cảnh lịch sử, cách thể hiện về nội dung và hình thức thơ Trên cơ sở tổng hợp, xâu chuỗi các vấn đề bản chất của thơ, chúng tôi có thể

Trang 11

phác họa được diện mạo và chân dung thơ thời kỳ này ở các mặt căn bản

4 Đóng góp của luận án

- Chỉ ra những đặc trưng cơ bản về nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật của thơ Việt Nam 1975-1985, xem đây như là mô hình khách thể trong tương quan với mô hình sáng tạo của chủ thể, phù hợp với quy luật của đời sống và nghệ thuật

- Khẳng định những thành tựu và chỉ ra những hạn chế của thơ giai đoạn hậu chiến 1975-1985 trên cơ sở chỉ ra được sự vận động nội tại hợp quy luật của chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ, của tư duy nghệ thuật thơ trong giai đoạn lịch sử với tính đặc thù riêng

- Khẳng định giá trị của thơ giai đoạn này trong dòng chảy của nền thơ Việt Nam hiện đại và đặc biệt, làm rõ quá trình vận động tư duy thơ của bước ngoặt chuyển tiếp từ 1975, làm tiền đề tích cực cho thơ Việt Nam thời

kỳ đổi mới từ 1986 trở về sau

5 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận án

được triển khai trong bốn chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

Chương 2 Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ và diện mạo thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

Chương 3 Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 nhìn từ

hệ đề tài và cảm hứng thẩm mỹ

Chương 4 Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 nhìn từ phương thức thể hiện

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985

Thơ Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến năm 1985, tuy diễn ra trong thời gian ngắn, đủ tròn một thập niên, nhưng do tính đặc thù về bối cảnh lịch sử và đặc trưng thơ ca mà nó đã thực hiện được một vòng quay, một chu kỳ của sáng tạo và tiếp nhận Giai đoạn này đã kịp để lại những tác giả và tác phẩm tiêu biểu Các nhà thơ đã chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người trong tính bản chất và thẩm mỹ của chúng để xây dựng nên những hình tượng thơ, ngôn từ thơ và tư duy thơ mang đặc điểm riêng Thành tựu thơ giai đoạn này được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và nhận định ở hai cạnh khía chung/ khái quát, riêng/ cụ thể và nâng lên thành những vấn đề có tính lý luận về tư duy thơ, lý luận thơ mang tính đặc thù, xuất phát từ mối quan hệ mới giữa khách thể thẩm mỹ và chủ thể sáng tạo

1.1 Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

1.1.1 Những nghiên cứu chung

Giai đoạn mười năm (1975-1985) là một giai đoạn lịch sử đặc biệt/ bản

lề, đánh dấu sự kết thúc chiến tranh và chuẩn bị bước vào khôi phục và đổi mới của xã hội Việt Nam Khoảng thời gian này, nhân dân vừa khắc phục hậu quả của chiến tranh, vừa bắt tay xây dựng đất nước trong hòa bình Văn học thời kỳ sau chiến tranh vừa tồn tại những đặc điểm của văn học sử thi vừa xuất hiện những đặc điểm của nền văn học thời đổi mới Thơ giai đoạn này, vì thế, là sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn văn học: văn học chiến tranh, văn học hậu chiến và kéo dài đến văn học đổi mới Để nhận rõ bước chuyển này trong sáng tạo, thơ trở thành đối tượng quan tâm hàng đầu của giới nghiên cứu

Có khá nhiều công trình, bài viết kết hợp nghiên cứu một cách khái quát nội dung, phương thức nghệ thuật của thơ sau năm 1975 nói chung và cũng có nhiều bài nghiên cứu riêng về thơ giai đoạn 1975-1985 Những bài viết đó tập

trung trong các công trình: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch

sử và lý luận do Phan Cự Đệ chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, 2004), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy của nhiều

Trang 13

tác giả (Nhà xuất bản Giáo dục, 2005), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường (Nhà xuất bản Giáo dục, 2009) của Nguyễn Văn Long, Văn học 1975-1985 tác phẩm và dư luận (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1997) của nhóm tác giả Vân Trang, Hoàng Ngô, Bảo Hưng, Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1998) của Lê Lưu Oanh, Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1995 (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1999) của Vũ Văn Sỹ, Thơ Việt Nam hiện đại (Nhà xuất bản

Lao động, 2002) của nhóm tác giả Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ và nhiều công trình khác…

Nghiên cứu văn học 1975-1985 với tư cách là một giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ hậu chiến, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam

Trong công trình Nửa thế kỷ thơ Việt Nam, Vũ Tuấn Anh đã nêu một số vấn đề

về sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam sau năm 1975, đó là cái tôi tiếp tục âm hưởng sử thi và đối thoại với sử thi Vũ Tuấn Anh cho rằng:

“có một độ chênh nhất định giữa cảm hứng ngợi ca và sự khác biệt của hiện thực đời sống chiến tranh Ở bề mặt hiện tượng, cái tôi sử thi dường như vẫn tiếp tục quán tính của giai đoạn trước, ít có sự biến đổi Nhưng ở bề sâu, có thể thấy một sự vận động thầm lặng và bền bỉ của cái tôi trữ tình sử thi nhằm đạt đến một chất lượng và chiều sâu mới” [1,tr.156] Tuy nhiên, Vũ Tuấn Anh chỉ khai thác sự vận động chung của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam sau

1975, chứ không chú ý đến thơ giai đoạn 1975-1985 - giai đoạn thơ được các nhà thơ chiếm lĩnh và sáng tác với tư cách là giai đoạn nền tảng để làm nổi bật

sự vận động của thơ Việt Nam từ sau 1986 đến nay Vì vậy, tác giả chưa thấy hết vai trò của thơ giai đoạn này với tư cách là cái gạch nối, là quy luật có tính bước ngoặt

Trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Mã Giang Lân cũng đã điểm

qua giai đoạn thơ 1975-1985 để làm nổi bật sự phát triển của thơ sau 1986 Ông cho rằng: “Thơ Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau 1986 bộc lộ rõ ý thức

cá nhân “cái tôi” bừng tỉnh, “cái tôi” ý thức về mình, về những vấn đề phong phú của cuộc đời Từ đó, kéo theo một loạt các tương quan trong cấu trúc nhân cách: con người trở nên phức tạp và được soi sáng dưới nhiều bình diện”

Trang 14

[73,tr.68] Dù vậy, theo Mã Giang Lân, xét trên bình diện thi pháp, thơ giai đoạn này vẫn theo đà quán tính của thơ trước 1975 ở những nét chính về cảm hứng nghệ thuật và cái nhìn nghệ thuật

Hòa cùng nhận định trên, trong bài viết Thành tựu thơ Việt Nam thời hậu chiến 1975-1985, Mã Giang Lân cũng đã khái quát bước chuyển của thơ

từ chống Mỹ cứu nước sang thời kỳ hậu chiến với việc điểm lại các tác giả, tác phẩm chính, từ đó, chỉ ra những cảm hứng lớn trong thơ thời kỳ này Đó

là cảm hứng ca ngợi: “ Trước hết là một thái độ, một rung động chân thành trước thực tế đất nước đang đối mặt với cuộc chiến tranh mới Tình cảm công dân, tinh thần yêu nước lại một dịp nữa bùng lên ở mỗi người, nhất là với nhà thơ, có phần nhạy cảm” [76,tr.361] “Viết về chiến tranh, sự hồi sinh của đất nước, về lao động xây dựng, các nhà thơ hướng tới ca ngợi con người Con người ở nhiều thế hệ, nhiều hoàn cảnh, tâm trạng với những tâm thế khác nhau Con người hiện lên đúng như nó tồn tại Con người vừa tự hào vừa chấp nhận hy sinh, vừa yên vui vừa lo toan, vừa chủ động vừa chịu đựng” [59,tr.366] Cảm hứng đời tư thế sự, theo Mã Giang Lân đã chuyển từ hiện thực cách mạng sang biểu hiện hiện thực riêng tư hàng ngày, xuất hiện qua

mô típ “tôi một mình, tôi suy tư triết lý về thân phận cá nhân, về cuộc đời” [76,tr.368] Đây là nhận định có tính khách quan, căn cứ ở mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ, tạo ra đặc điểm thi pháp bổ sung và thi pháp khác so với thơ trước 1975

Trong Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Phạm Quốc Ca cho

rằng: lực lượng sáng tác gồm có năm thế hệ và ba kiểu nhà thơ (trữ tình công dân, trữ tình cá nhân, trữ tình thế sự), trong đó “góp phần làm nên diện mạo chính của thơ sau 1975 là lớp nhà thơ trẻ xuất hiện trong thời kỳ chống

Mỹ cứu nước” [13,tr.39] Thơ giai đoạn này “cảm hứng đối thoại với một số giá trị sử thi trước 1975 và phi sử thi hóa cho thấy bước tiến mới của thơ về giá trị nhận thức , xu hướng phi sử thi hóa nền thơ còn thể hiện rõ nét sự chuyển hướng sang trữ tình thế sự” [13,tr.59] “Đặc biệt đáng ghi nhận là ý thức tìm tòi sáng tạo những giá trị mới mẻ, góp phần thúc đẩy hành trình thơ

ca nhân loại tiến về phía trước” [13,tr.119] Dù vậy, tác giả vẫn chưa chỉ ra

Trang 15

những giá trị mới mẻ ấy ở những nội dung và hình thức cụ thể nào một cách sáng rõ và đầy đủ

Trong công trình Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975, Nguyễn Văn Long đã chỉ ra những chặng

đường phát triển của văn học sau chiến tranh gồm: chặng đường từ 1975 đến

1985, chặng đường từ 1986 đến 1990, chặng đường từ 1990 đến 2005 Đối với giai đoạn 1975-1985, tác giả đã nêu: “Đây là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học thời kỳ hậu chiến Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học” [82] Nguyễn Văn Long cũng cho rằng thơ từ sau 1975 “xuất hiện nhiều dạng thức của cái tôi”, đó là cái tôi thế sự với những cảm xúc khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa, day dứt trước hiện trạng xã hội, nhân thế, đó là cái tôi “đào xới tận cùng bản thể”, cái tôi “được khai thác ở mọi bình diện, tầng bậc, trong mọi

mối quan hệ” [82] Trong một bài viết khác, Thơ sau 1975 - nhìn chung về diện mạo và những đổi mới, Nguyễn Văn Long đã nêu ra một số những

khuynh hướng chính trong sự phát triển của thơ từ sau năm 1975, đó là: (1) Tiếp tục mạch cảm hứng sử thi, nhưng thiên về bi tráng và gắn liền với những trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân, (2) Hướng vào đời sống thế sự và trở về với cái tôi cá nhân, (3) Đi sâu vào những vùng mờ của tâm linh, vô thức và đưa thơ theo hướng tượng trưng, siêu thực, (4) Khuynh hướng chú trọng tìm tòi về hình thức đặc biệt là “chữ” Đồng thời, ông nhìn nhận và nêu ra một số đổi mới của thơ sau 1975, đó là đổi mới trong quan niệm thơ: “Các nhà thơ và

cả người đọc thơ giờ đây nhìn nhận thơ đúng với bản chất, khả năng và giới hạn của nó Thơ không thể quay lưng lại với thực tại xã hội, nhưng trước hết

nó là nhu cầu tự biểu hiện của cá nhân để khám phá bản ngã của mình, cả ở khoảng mù mờ, lộn xộn của tiềm thức, vô thức Thơ được đặt trở về giữa cuộc đời thực, không đứng cao hơn, mà cũng không thấp hơn với bao nhiêu nhu cầu và các hoạt động tinh thần khác của con người Đó cũng là một biểu hiện của tinh thần dân chủ hóa trong văn học” [81,tr.104] Cùng với việc nhận thức lại bản chất chức năng của thơ, thì quan niệm về nhà thơ, về vai trò và sứ mệnh của chủ thể ý thức cũng có sự thay đổi: “Từ vị trí nhà thơ là người

Trang 16

truyền lệnh, nhà thơ thiên sứ, phán truyền những những chân lý của thời đại, phát ngôn cho ý chí và tiếng nói của cộng đồng, nay nhà thơ trở về với vị trí khiêm tốn là chính mình - xuất hiện phổ biến trong thơ ngày nay là hình ảnh nhà thơ giữa đời thường, nhà thơ “thảo dân”, nếm trải mọi cảnh ngộ, mọi cảm giác của người đời, và nhiều khi hoang mang, bất lực, không thể tìm thấy lời đáp cho nhiều câu hỏi của mình và những người khác” [81,tr.105]

Lã Nguyên trong bài viết Nhìn lại các bước đi, lắng nghe những tiếng nói đã nêu những nét cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1975-1985, đó

là sự “vận động theo quán tính của văn học thời chiến Đề tài chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học những năm này”

[76] Trong một bài viết khác Văn học Việt Nam trong bước ngoặt chuyển mình, Lã Nguyên nhận xét sâu hơn và đa dạng hơn cả lý luận và thực tiễn, sát

với bản chất văn học giai đoạn này: “Trước 1975, nhà văn sáng tác là để biểu dương ca ngợi: ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân và biểu dương tất cả những

gì tiêu biểu cho nhân dân, cho Tổ quốc Sau 1975, người cầm bút lại có nhu cầu luận bàn, điều trần, thậm chí dùng sáng tác văn học để kiến nghị với xã hội về hàng loạt vấn đề quan trọng của đời sống” [100] Theo tác giả, hai giai đoạn văn học khác nhau gắn với tâm thế sáng tạo khác nhau: một đằng là tâm thế bị động của người xướng tụng, một đằng là tâm thế chủ động của người cải tạo hoàn cảnh, làm chủ tình huống Cho nên, nhà văn trước đây thường không dám vượt qua những chuẩn mực quy phạm, những quan điểm chính thống Nhà văn hôm nay lại hiện lên trong tác phẩm vừa như nhà tư tưởng dám phản biện lại cả những chuẩn mực quy phạm, những quan điểm quan phương để tìm kiếm chân lý, vừa như nhà hoạt động xã hội can dự trực tiếp vào lĩnh vực đời sống

Công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 của Lê Lưu Oanh đã đi sâu

khai thác cái tôi trữ tình và các hình thức thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ giai đoạn 1975-1990 Lê Lưu Oanh đã chỉ ra cái tôi trữ tình được thể hiện trong giai đoạn này là cái tôi sử thi, cái tôi đời tư - thế sự và cái tôi mang xu hướng hiện đại chủ nghĩa, vì vậy, hình thức thể hiện là thể loại trường ca, thơ văn xuôi, thơ ngắn và thơ rất ngắn, câu thơ mang giọng điệu, nhịp điệu của đời sống hiện đại Hình ảnh và biểu trưng mới đa nghĩa, giàu ấn tượng bên

Trang 17

cạnh hình thức biểu đạt mang dáng dấp không gian Tác giả đã nhận định:

“Trong thơ trữ tình sau 1975, vẫn còn sự tiếp tục của cái tôi sử thi, cái tôi công dân từng giữ vai trò chủ đạo trong thơ ca cách mạng 1945-1975, với tất cả cái cao đẹp, mạnh mẽ và phong phú của nó trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của cái tôi cộng đồng trong truyền thống văn hóa dân tộc (…) Tuy nhiên, sự tiếp tục ấy không hoàn toàn nguyên vẹn Bên cạnh chủ đề sử thi, xuất hiện chủ đề thế sự thông qua những cảm nhận về số phận, hiện diện ngay trong thể loại trường ca Cái tôi thế sự và đời tư được chú ý trên phương diện cá nhân, trong những khác biệt với ý thức cá nhân các giai đoạn lịch sử trước Trên những đổi mới của xã hội, vai trò sáng tạo của chủ thể được chú ý Cái tôi trữ tình lần đầu tiên ý thức mình như một nhà thơ nói lên tiếng nói riêng về cuộc đời” [103,tr.192] “Những tìm tòi của cái tôi trữ tình hiện nay khá tự do, rất mạnh

mẽ, khẩn trương, táo bạo đến mức liều lĩnh, cực đoan Việc đi sâu vào thế giới cái tôi, cùng với sự giải phóng cá tính, đã làm thơ đa dạng chưa từng có…” [103,tr.194] Từ góc độ lý luận, Lê Lưu Oanh đã đề cao vai trò của cái tôi, xem đây là yếu tố cấu trúc nên giá trị chỉnh thể của tác phẩm theo nhu cầu của cuộc sống và của chính bản thân thi ca

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Bích Thu, qua tiểu luận: Thơ và một số vấn đề đã nêu rõ sự đổi mới trong thơ sau năm 1975 Sự đổi mới ấy của thơ,

phần nào đã khẳng định được vị trí của nó trong đời sống tinh thần của công chúng Thơ sau năm 1975 đã cố gắng tiếp cận với hiện thực, cập nhật những biến động mới và khác của xã hội

Với công trình Mạch thơ trong nguồn thế kỷ, Vũ Văn Sỹ đã tìm hiểu về

thơ của các nhà thơ giai đoạn những năm đầu thập kỷ 80 nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc nêu đặc điểm về nội dung của những bài thơ, cảm hứng thơ của các nhà thơ giai đoạn này chứ chưa đi sâu khai thác toàn diện thơ giai đoạn 1975-1985, nhất là về mặt phương thức nghệ thuật

Với bài viết Thế hệ nhà thơ Việt Nam sau 1975 đã khẳng định một thời đại mới của thi ca, Nguyễn Việt Chiến đã đưa ra nhận định: “Mấy thập niên

sau của 1975 đã xuất hiện một thế hệ thơ mới, họ là những gương mặt của thơ thời hậu chiến nối tiếp đến hôm nay Họ đã làm nên dòng chảy đầy sức sống

sáng tạo và đa dạng của nền thơ đương đại” [20] Trong công trình Thơ Việt

Trang 18

Nam 1975-2005, Tìm tòi và cách tân, nhìn từ đặc trưng thể loại, Nguyễn Việt

Chiến cho rằng thơ giai đoạn này đã có một hành trình mới với nhiều đổi mới đột biến về nội dung và hình thức “Trong số những thành tựu nổi bật của thế

hệ các nhà thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 đó là họ đã có những bước chuyển mới rất cơ bản về nội dung phản ánh, về nghệ thuật và thi pháp Thơ của họ gần gũi với cuộc đời hơn, gần với thiên nhiên, gần gũi với tâm sự buồn vui của con người hơn, thơ của họ nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói thân phận Ngòi bút thơ của họ chủ động hơn, tìm tòi, vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ thuật mới” [19,tr.203]

Trong chuyên luận Thơ Việt Nam hiện đại - Thi luận và Chân dung của

Hồ Thế Hà, tác giả đã khái lược đặc điểm của thơ giai đoạn 1975-2000 với những đặc điểm bản chất Tác giả cho rằng: “Đề tài, chủ đề trong thơ có sự biến đổi Thơ mở rộng diện phản ánh ra nhiều diện, nhiều chiều, không ưu tiên và thiên lệch về phía nào… Thơ có khuynh hướng đào sâu thăm dò hiện thực bằng cái nhìn biện chứng Thơ cố gắng phát hiện những cơ sở tồn tại khách quan của đời sống như: không gian, thời gian và những giá trị vĩnh hằng khác như tình yêu, lẽ sống… Con người được đặt trong các mối quan hệ chủ quan, khách quan, nhận thức môi trường… Thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ cũng có những đặc điểm mới mẻ Nó là cơ sở để con người suy tư, chiêm nghiệm Thơ hấp dẫn người đọc ở chỗ ngày càng tăng cường yếu tố văn hóa của cuộc sống hàng ngày bằng cách làm hiện lên những giá trị văn hóa quá khứ của người Việt Nam Một đặc điểm khác của thơ Việt Nam sau 1975 là tính thế sự ngày càng được tăng cường” [46,tr.117-181]

Bên cạnh mặt nội dung, văn học sau 1975, vấn đề hình thức thể loại cũng

là yếu tố được các nhà nghiên cứu, phê bình chú ý đến Đề tài Một số vấn đề

cơ bản của lý luận và thực tiễn văn học Việt Nam do Tôn Phương Lan và Vũ

Văn Sỹ đồng chủ nhiệm đã có những cách nhìn về thể loại văn học Việt Nam, đại ý như sau: Nền văn học cách mạng trước 1975 là nền văn học mà tư duy

sử thi đã trở thành tư duy nghệ thuật chủ đạo trong sáng tác, thể tài chủ yếu của hệ thống thể loại đều mang tinh thần sử thi viết về con người mà số phận của họ gắn kết chặt chẽ với số phận cộng đồng Sau 1975, quan niệm về văn

Trang 19

học và ý thức nghệ thuật tất yếu đã có sự thay đổi vì chịu sự chi phối theo tinh thần đổi mới của toàn xã hội Tư duy nghệ thuật ấy đã đưa lại những thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người Mối quan hệ giữa nhà văn - tác phẩm và bạn đọc được hình thành Nhà văn dần dần ý thức hơn về vai trò của cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật; tài năng và bản lĩnh, cá tính được coi trọng, do đó đã khiến cho sự thống nhất trong một khuynh hướng văn học chuyển dần sang tính đa khuynh hướng, đa cái nhìn nghệ thuật Văn học do

đó, cũng chịu sự tác động của quy luật thời bình, đặc biệt là chịu tác động mạnh mẽ từ nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Mở rộng cái nhìn đối với văn học Việt Nam sau năm 1975, thông qua

bài viết: Văn học Việt Nam sau 1975 - Một cái nhìn toàn cảnh, Nguyễn

Đăng Điệp đã có những nhận định về thơ giai đoạn này như sau: Sự đa dạng

về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của thơ Việt sau 1975 Nếu trước đây, Tố Hữu và Chế Lan Viên được coi là những người lĩnh xướng của thơ ca kháng chiến thì sau 1975, hiện tượng này không xuất hiện trở lại Thay vào đó, mỗi người có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ

có thể hình thành một xu hướng, một phái nhóm chứ không xuất phát từ một phương pháp sáng tác độc tôn nào đó Chính sự đa dạng và phân cực về tư duy nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm mỹ, về bút pháp và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca sau 1975 đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hóa Người ta không còn thấy lạ khi bên này là những nhà thơ đắm mình trong văn hóa truyền thống và bên kia là những cách tân theo kiểu phương Tây; bên này là những nhà thơ có ý thức bày tỏ cảm xúc mãnh liệt và bên kia là những cây bút tỉnh táo giấu kín cảm xúc của mình… Tất cả những phương cách ấy đều có quyền tồn tại với điều kiện là thơ họ phải hay và mới Nhưng mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống

và hay không đồng nghĩa với những thuật xiếc chữ để tạo nên sự tân kỳ mà trống rỗng Có thể nói, trong bài viết, Nguyễn Đăng Điệp đã có cái nhìn toàn diện về văn học Việt Nam sau năm 1975 về các phương diện: nội dung, hình thức thể hiện, sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật qua từng giai đoạn văn học,

Trang 20

các khuynh hướng nổi bật, sự biến đổi về thể loại, những động hình ngôn ngữ mới

Một bài viết khác cũng của Nguyễn Đăng Điệp: Giọng điệu trong thơ trữ tình, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu giọng điệu thơ qua từng giai đoạn, trong

đó, có đề cập đến giọng điệu trong thơ sau năm 1975 Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “chất giọng ru vỗ, ngọt ngào, đầy nhạc trước 1975 đã được thay bằng một kiểu giọng khác, lý trí hơn, thô ráp hơn và chói gắt, “trục trặc” hơn “So với trước, thơ giai đoạn này đã “hạ tông” dám nhìn thẳng vào mặt trái của cuộc chiến” [33,tr.45]

Cũng bàn về giọng điệu, trong công trình Thơ trữ tình Việt Nam giai đoạn 1975-1990, Lê Lưu Oanh đánh giá: “Giọng điệu là yếu tố thay đổi rõ

nhất Giọng điệu ru gợi, ôm ấp, vỗ về, mềm mại bị phá vỡ, thay vào đó là một giọng điệu lý trí, tỉnh táo, trúc trắc, gần gũi với hiện thực hơn Xuất phát từ cái nhìn đa chiều, phức tạp, tiềm ẩn chất duy lý, đầy chất văn xuôi” [103,tr.193] Về phương thức biểu hiện cũng có sự thay đổi: “Cách tư duy biểu đạt thiên về hai xu hướng rõ rệt Một xu hướng đi vào truyền thống và đổi mới trên những chất liệu truyền thống Đó là việc sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ thô sơ, dân dã, giàu chất dân gian, mộc mạc, hồn nhiên, là việc dựa trên cấu trúc thơ truyền thống và đổi mới nhịp điệu bằng cách phá vỡ cấu trúc câu, ngắt dòng, ngắt nhịp không theo luật cố định Một xu hướng đi tới

“hiện đại”, tách rời truyền thống dân tộc, mang hơi hướng phương Tây rất rõ,

từ những thi đề rất xa lạ, đến câu thơ “như thơ dịch”, từ những hình ảnh cầu

kì, xa lạ đến những từ ngữ đầy chất ấn tượng, vô thức Có những yếu tố ngay trong bản thân đã chứa đầy mâu thuẫn, đối lập Tình cảm vừa được đẩy cao phần duy lý, vừa hạ thấp xuống miền bản năng, vô thức Từ ngữ vừa duy mĩ,

“tân kì”, vừa thô thiển, phàm tục Hình ảnh vừa tinh tế, đẹp đẽ đầy ấn tượng vừa nhiều chất liệu thực tế trần trụi Cách tiếp cận đời sống vừa có xu hướng gần gũi với hiện thực, vừa có xu hướng đi vào miền xa xôi, mờ ảo, tượng trưng Đây là một giai đoạn thơ chứa rất nhiều mâu thuẫn, nhiều khuynh hướng, nhiều giọng điệu” [103,tr.193-194]

Trong một bài viết khác, Thơ 1975-1995, sự biến đổi của thể loại, Vũ

Văn Sỹ đã nhận định có tính khái quát như sau: Thơ trữ tình Việt Nam hai

Trang 21

mươi năm qua đang có những bước phân hóa trong nhận thức thẩm mỹ thể loại… Các nhà thơ đã ý thức đặt lên hàng đầu thế giới nội cảm, sự trải nghiệm cuộc đời để khơi dậy nguồn cảm hứng nghệ thuật Sự điều chỉnh trong cách cảm thụ, nhìn nhận và lý giải thế giới, con người qua lăng kính chủ quan, khiến các sản phẩm đổi mới ngay từ khi xuất hiện đã thu hút sự chú ý của người đọc kể từ hai phía, cả cỗ vũ lẫn phản bác… Sự phân hóa của thái độ thẩm mỹ với hiện thực và ngôn ngữ, lúc đầu thường được biểu hiện manh nha trong ý thức cá nhân và tự phát, mang tính chất không cụ thể về mặt nhận thức Nghĩa là sự đổi mới thơ mới chỉ tồn tại trong dư luận xã hội, trong tiềm năng, trong ý thức, trong tư tưởng nhà thơ, nhưng chưa được nghệ thuật hóa bằng ngôn bản, chưa mang tính tự giác và cá thể hóa cao độ

Trong công trình Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Phạm Quốc Ca

đã khảo sát các đặc điểm của không gian, thời gian nghệ thuật, sự biến đổi thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu, trong đó chú trọng đến sự biến đổi của các thể loại trữ tình Theo ông, “Sau năm 1975 các thể thơ thường được sử dụng là thơ

tự do, lục bát, năm chữ, bảy chữ Thơ tự do chiếm tỉ lệ cao nhất: 645/1144

(56%) dựa trên Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000 Điều đó phản ánh xu thế

tiếp tục tự do hóa về hình thức thơ Một phía khác là sự tiếp tục sử dụng hình thức thơ truyền thống và những cải tiến mới” [13,tr.186-187]

Lê Hồ Quang với công trình Tư duy thơ Việt Nam sau 1975 (qua sáng tác của một số tác giả thế hệ đổi mới) đã khái quát: “Nếu trong thời chiến,

thơ được quan niệm như tiếng nói của lý tưởng cách mạng, tiếng nói của

“đồng chí, đồng ý, đồng tình”, là một thứ vũ khí tinh thần đắc lực góp phần vào cuộc chiến đấu của dân tộc thì đến thời Đổi mới, thơ trước hết là tiếng nói tinh thần của cá nhân hiện đại, khi đối diện với bao vấn đề phức tạp của đất nước, dân tộc và nhân loại Đó là tiếng nói của cảm xúc, của tư tưởng

và của trực giác, tâm linh… Khác với cái tôi sử thi trong thơ ca cách mạng, giờ đây, hiện diện trong thơ thế hệ đổi mới là một hình tượng cái tôi đa dạng và không dễ khuôn vào một số mô tả giản lược” [109]

Nguyễn Thiên Lan với bài viết Sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật trong thơ Việt Nam thời hậu chiến, đã đề cập đến sự tiếp nối cảm hứng sử thi như một

quán tính nghệ thuật, thể hiện trong những tác phẩm có ý nghĩa tường thuật,

Trang 22

tổng kết chiến tranh của thơ những năm sau 1975 Theo đó, “Thơ của họ như bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, suy ngẫm và ý tưởng, cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm” [70] “Họ đã chạm được vào cõi sâu của tâm hồn, không chỉ bằng sự phá vỡ của sắc cạnh của lý trí mà còn bằng cảm xúc của trái tim Sự dồn nén, bức xúc của tâm trạng bật dậy trong họ những câu thơ không chịu bằng phẳng một hệ hình mới, một nhịp vận động riêng trong cách tổ chức câu chữ và những bài thơ đổi mới của họ ra đời” [70]

Ngoài ra, Đỗ Lai Thúy với Một cái nhìn vào thế hệ nhà thơ sau 1975, Mai Văn Phấn với Khuynh hướng cách tân trong thơ sau 1975, Phạm Quốc

Ca với Trữ tình cá nhân trong thơ Việt Nam sau 1975, Đặc điểm giọng điệu thơ Việt Nam sau 1975, Phạm Ngọc Hiền với Mấy đặc điểm của thơ Việt Nam sau 1975, Nguyễn Văn Long với Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch

sử văn học Việt Nam từ sau 1975, Thụy Khuê với Hai mươi năm văn học hải ngoại 1975-2000… cũng đã quan tâm đến thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

ở nhiều góc độ, nhiều bình diện và nhiều hướng tiếp cận khác nhau

Đỗ Lai Thúy trong công trình Thơ như là mỹ học của cái Khác đã bàn

sâu về tư duy thơ, thực tiễn thơ Việt hiện đại từ góc nhìn hệ hình: tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại, liên hệ cụ thể với tác giả, tác phẩm và đi đến

nhận định đặc điểm thi pháp cho từng giai đoạn thơ theo diễn trình của cái Khác Ông xem đây chính là kết quả của quy luật tương tác từ nhiều mối quan

hệ triết - mỹ - văn hóa và của chính quy luật thi ca, thông qua ý thức nghệ thuật của chủ thể sáng tạo trong từng bước ngoặt chuyển mình của đời sống

xã hội Vì thế “để bảo vệ mình mãi mãi là một cái Khác, thơ trong tiến trình của nó, phải luôn luôn đổi khác Thơ Việt mỗi lần đổi khác, ngoài việc tự thân vận động của nó, bao giờ cũng phải có sự trợ lực, nhiều khi là cú hích quyết liệt, của các yếu tố bên ngoài Thơ Việt, bởi vậy, luôn là sự lai ghép Nó lớn lên bằng những yếu tố ngoại sinh, tức cái Khác của cái Khác” [139,tr.83] Từ

đó, ông có cái nhìn khác về lịch sử thơ Việt hiện đại, trong đó, ông nhìn nhận thơ Việt Nam 1975-1985 cũng là một chuyển đổi của cái Khác, phù hợp với hoàn cảnh của thơ giai đoạn hậu chiến Và ông cho rằng: “Mỗi lịch sử thơ có một số phận riêng, vận động theo quy luật của chính nó, chứ không phải chỉ theo các mốc hoặc các tư tưởng chính trị - xã hội” [139,tr.99], “cái Khác như

Trang 23

là động lực phát triển của văn học, một loại hình chủ đạo của nghệ thuật, nhất

là của thơ, thể loại chính của văn học, đặc biệt của văn học Việt Nam nói riêng” [139,tr.107] Những lập luận dẫn đến những kết luận như trên giúp chúng tôi nhận thức thêm rằng, thơ Việt Nam 1975-1985 đã diễn ra hợp quy luật và có những thành tựu đáng được nghiên cứu, khẳng định Nó là một chặng đường quan trọng, diễn ra trong sự chuyển tiếp thống nhất, khách quan của cả hành trình thơ hiện đại Việt Nam

Bên cạnh đó, trong các công trình nghiên cứu và giáo trình lý luận văn

học đề cập đến tư duy nghệ thuật thơ, phải kể đến tác phẩm Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành Tác giả đúc kết lý luận về

sự vận động của tư duy thơ ở mỗi giai đoạn và sự tác động của mỗi hoàn cảnh lịch sử với thơ ca, vai trò chủ thể trong mối quan hệ với khách thể, những tác động của tư duy chính trị, tư duy triết học đối với tư duy nghệ thuật, khả năng nhận thức thực tại và khả năng dự báo của tư duy thơ Các

tác giả Nguyễn Phan Cảnh (Ngôn ngữ thơ), Bùi Công Hùng (Quá trình sáng tạo thi ca), Hà Công Tài (Chiếm lĩnh sự thật và con đường đổi mới thơ)… đã có nhiều góc độ khác nhau để nghiên cứu thơ và tư duy thơ trong

tiến trình vận động, phát triển của thơ Việt Nam hiện đại Bên cạnh đó,

hàng loạt những công trình nghiên cứu thơ bằng thi pháp học ra đời: Giáo trình thi pháp học (Trần Đình Sử), Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử), Thi pháp thơ Huy Cận (Trần Khánh Thành), Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (Hồ Thế Hà)… đã đưa lại

những thành công nhất định trong nghiên cứu, sáng tạo nghệ thuật Lý thuyết thi pháp học đã được vận dụng một cách đồng bộ để nghiên cứu nghệ thuật thơ, tư duy thơ

1.1.2 Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm

Tổng kết, nhận định về thơ một giai đoạn bao giờ cũng đi từ riêng đến chung, từ điểm đến diện và ngược lại Vì vậy, bên cạnh những công trình nghiên cứu chung như trên, xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm Các tác giả được chọn để nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là những nhà thơ tiêu biểu, có đóng góp về thi pháp thể loại trên hành trình hiện đại như: Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Võ Văn

Trang 24

Trực, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Ý Nhi, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Y Phương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Nguyễn Quang Thiều…

Có thể nói đây là “những cánh chim báo bão” đem lại những khám phá

và dự báo về sự đổi mới thi ca Sáng tác của họ được bạn đọc đón nhận với cái nhìn đa chiều, trong phạm vi luận án, chúng tôi quan tâm đến những nghiên cứu ghi nhận những dấu hiệu đổi mới mà các nhà thơ đã mang lại cho thơ giai đoạn 1975-1985 Các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm nghiên cứu kịp thời về thơ của các tác giả giai đoạn này có Phong Lê, Mã Giang Lân, Trần Đình Sử, Lý Hoài Thu, Nguyễn Bá Thành, Hồ Thế Hà, Chu Văn Sơn, Lã Nguyên, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Điệp với những bài viết cụ thể, chỉ ra được những đặc trưng nghệ thuật riêng của từng tác giả, tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học, phong cách học, ngôn ngữ học và mỹ học tiếp nhận hiện đại…

Trong bài viết Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân, Chu Văn Sơn đã khẳng định

Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ trong quan niệm nhân sinh và nghệ thuật, trong hình tượng cái tôi (cái tôi thảo dân) Theo ông, thơ Nguyễn Duy

là tiếng thơ của “những tâm tình ở đằng sau tâm tình”, “dù phiêu dạt đường nước, dù phiêu du đường xa xứ người, với bao nhiêu là mời gọi quyến rũ, Nguyễn Duy vẫn đau đáu một niềm cố hương, vẫn thiết tha đến thế với cỏ và lúa và hoa hoang quả dại - vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải - bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua…, thủy chung đến thế với tre pheo, rơm rạ, xó bếp, góc vườn, cái chum, cái chĩnh, cái rổ, cái xề, nặng tình đến thế với bạn bè đồng đội…” [26,tr.338]

Trong bài viết Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Quang

Sáng cũng nhận định “Thơ Nguyễn Duy đượm tình dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong độ cổ điển phương Đông” [26,tr.320] Và quan trọng là “Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước mình bằng tình cảm rất cụ thể của người dân Người dân, cụ thể hơn là người nông dân, người thợ, người lính, người bạn, người cha, người bà, người vợ, và chính mình là những người lao động đang chiếm số đông gần như tuyệt đối trong thành

Trang 25

phần nhân dân nói chung Thơ Nguyễn Duy có niềm tự hào chính đáng về nhân dân mình, cùng với nỗi buồn thương chính đáng” [26,tr.320]

Tuy nhiên, các bài viết trên chỉ đề cập và đi tìm nét chung trong thơ Nguyễn Duy, nhất là giai đoạn sau năm 1975 mà không đi sâu vào tìm hiểu

tập thơ Ánh trăng (1984), tác phẩm sau chiến tranh và trước thời kỳ đổi mới

của nhà thơ, một tác phẩm được giới nghiên cứu xem là khởi đầu cho động

thái đổi mới thơ của Nguyễn Duy

Thanh Thảo là nhà thơ được các nhà nghiên cứu nhắc tên nhiều trong

giai đoạn thơ sau 1975 Trong bài viết Thanh Thảo, một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975, Bích Thu đã nhận xét: “Thanh Thảo đã đem đến cho

người đọc một thực đơn tinh thần mới mẻ và độc đáo, góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của thơ hôm nay” và Bích Thu đã khẳng định: “Người đọc nhận ra cái mới của Thanh Thảo không phải là những nét trần trụi, gân guốc của thực tế chiến trường mà cái chính là tâm hồn thơ giàu kiến thức văn hóa, luôn khát khao đến những vấn đề mới mẻ, những suy cảm sâu sắc, đầy dấu ấn

Trong Dấu chân những người lính trẻ và thơ Thanh Thảo (1980), Lại

Nguyên Ân nhận định: “Tôi muốn nói đến một quan tâm xuyên suốt, một ý tứ chủ đạo, một điểm ngời sáng trong thơ anh: ấy là cố gắng phác họa chân dung tinh thần của những người trẻ tuổi - người lính - cùng thế hệ anh Nó như một

nhiệt hứng sáng tác đã xâu chuỗi các bài thơ ngắn của tập Dấu chân qua trảng cỏ làm một, xâu chuỗi tập thơ này với trường ca Những người đi tới biển là một” [6]…

Trang 26

Các bài viết và nhận định về các tập thơ chung của Thanh Thảo hay tập

thơ Dấu chân qua trảng cỏ (1979) (tập thơ được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979), Khối vuông ru-bich (1985) chủ yếu đề cập nội dung của

các tập thơ, chứ chưa đi sâu phân tích làm rõ sự vận động tư duy thơ Thanh Thảo giai đoạn này

Thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng gây được sự chú ý với nhiều nhà nghiên

cứu Trong Nguyễn Khoa Điềm từ Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Vũ Tuấn Anh đã chỉ ra tiến trình vận động, chủ yếu là tư duy

và cảm xúc của thơ Nguyễn Khoa Điềm từ thời chiến sang thơ thời bình

Theo Vũ Tuấn Anh, nếu ở Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, tư duy và

cảm xúc thơ Nguyễn Khoa Điềm “trước hết là hướng về, là nhập cuộc vào

hiện thực của cuộc chiến và đấu tranh” [1,tr.417], thì đến Ngôi nhà có ngọn lửa ấm “cái tôi hiện lên, tập trung đậm nét, tư duy lặng lẽ hướng vào bề sâu

nội tâm” [1,tr.417]

Nguyễn Trọng Tạo với bài Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ không chịu lùi

nhận xét: “Mảng thơ sau chiến tranh của Nguyễn Khoa Điềm càng khẳng định

rõ, chắc hơn phong cách thơ anh Đấy là sự tiếp tục đào sâu vào bản thể, vào

sự cô đơn và ý thức cá nhân” [121]

Vũ Quần Phương khi đọc Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã chỉ ra chất thơ

tiềm ẩn trong cái thường ngày của tập thơ này, theo ông, ở đó “quá ít những đền đài trang nghiêm óng ả nhưng ấm áp nặng chắc, gợi nhiều nghĩ ngợi về cái lẽ sống, lẽ chết của chúng ta, cái hạnh phúc đích thực của cuộc sống” [48,tr.87]; “Nguyễn Khoa Điềm đóng góp cho thơ những bài thơ rung động

có chiều sâu - chiều sâu của thời đại của cõi người” [48,tr.88]

Còn nhà thơ Thanh Thảo trong bài Miễn là dám bước qua giới hạn của chính mình dự cảm thấy trong thơ Nguyễn Khoa Điềm sự “say mê trong điềm

tĩnh, khi nói những điều cao lớn vẫn biết cúi nhìn những vật thấp nhỏ”… Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt thơ nổi bật trong nền thơ hiện

đại Việt Nam Hồ Thế Hà trong bài viết Thơ Hữu Thỉnh - Tương hợp và đa thanh, khi bàn về sự tương hợp trong hình tượng, trong đó, có các cổ mẫu

Đất, Lửa, Nước, Không khí trong thơ của nhà thơ này, đã viết: “Tất cả các quan hệ của con người và thế giới chung quanh đều diễn ra với các yếu tố vật

Trang 27

chất nói trên, tạo thành sự sống có lạc quan và bi quan Hữu Thỉnh đã ý thức thể hiện điều đó qua thi ca một cách nên thơ và đa dạng Tất cả những hình ảnh, sự vật và thế giới thiên nhiên cũng như con người đều được ông chiếm lĩnh và thể hiện chúng trong sự hình thành, vận động và phát triển tương quan với môi trường sống của chúng Tất cả cuối cùng kết tinh thành văn hóa - văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Đó chính là sức khái quát hóa và tổng hợp hóa của hình tượng thơ Hữu Thỉnh Đặt các hình tượng thơ Hữu Thỉnh trong quan hệ tác động, tương hỗ, tương hợp và sinh thành, chuyển hóa từ các cổ mẫu như trên sẽ giúp chúng ta nhận thức được sự đa dạng và đa nghĩa của thơ ông và qua đó, thấy được phần nào cơ chế của tâm lý học sáng tạo và vô thức sáng tạo theo quan niệm của phân tâm học về văn học mà Hữu Thỉnh đã ý thức nhận ra và thi hóa chúng một cách nghệ thuật” [46,tr.332] Bàn về hình thức và ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh, Hồ Thế Hà nhận xét: “Với cách tạo hình linh động thông qua cái nhìn ấn tượng và thị giác, Hữu Thỉnh thường gắn cho đối tượng và hiện tượng bằng những hình dung từ, bổ từ lạ, nhưng không gây sốc Và vì lạ nên hay, có sức vang ngân, hấp dẫn người đọc… Có lúc, đọc thơ Hữu Thỉnh, chúng ta phải vận dụng những logic của trực giác và ấn tượng mới hiểu được, bởi anh nói những điều “vô nghĩa nhưng là vô nghĩa hợp lý” (Chế Lan Viên), không thể dùng logic bình thường mà hiểu được… Hữu Thỉnh luôn dựa và phát giác ở ngôn ngữ khả năng tạo sinh nghĩa, ở khả năng biến ảo và linh hoạt qua nghệ thuật liên kết và hô ứng để tạo nghĩa mới cho từ ngữ” [46,tr.336-337]

Thơ Nguyễn Trọng Tạo được nhiều người tiếp cận nghiên cứu Trong lời

tựa tập thơ Đồng dao cho người lớn, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhận xét:

“Người Ham Chơi cũng Làm, cũng Biết thông thái mọi điều Nhưng gã lại là một tay giang hồ chí cốt, nhìn đời như một khu vườn hoan lạc, nơi đó gã sa đà

theo những cuộc vui với một tâm thức cóc cần nhẹ nhõm” [Tựa tập thơ Đồng dao cho người lớn, NXB Văn học, 1996, tr.7]

Nhìn từ góc độ một nhà thơ, Hoàng Cầm trong bài viết Đọc thơ

Nguyễn Trọng Tạo, có nhận xét thú vị: “Trọng Tạo như chú bé nhà quê đi

kiếm củi, trơ vơ và lủi thủi trên cánh đồng chiều, vừa vác bó củi khá nặng

về nhà vừa hát rất vô tư về những chuyện đời, những niềm riêng, nỗi chung

Trang 28

của rất nhiều người Tạo phải gọi bằng anh chị hay cô dì chú bác thường ngày vẫn dạy em dạy cháu về những điều sơ đẳng của lẽ sống con người…” Lý giải về hiện tượng nhà thơ này, Hoàng Cầm cho rằng: “Chỉ vì một lẽ, Trọng Tạo làm thơ như bó buộc từ đáy tâm linh Bao nhiêu nỗi niềm buộc anh phải viết ra nếu không thì sức nén, sức dồn ép của nó sẽ khiến anh ngạt thở hoặc ứa máu khắp các lỗ khiếu: mắt, tai, mồm, mũi” [Tạp chí Sông Hương, số 182, tr.65-72]

Với thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hồ Thế Hà trong bài viết Thông điệp

thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra chất hiện sinh mang cảm thức cô đơn

trong thơ của một cây bút văn xuôi: “Dù trong hiện tại, có lúc người thơ

không khỏi mang tư tưởng cô đơn, bi đát và hốt hoảng khi thấy “Trên tài hoa nhàu nát/ Trên trần gian khói sương/ Trên mặt người biến sắc/ Mưa in dấu vô thường” và chính người thơ đăm chiêu ngồi dáng người thượng cổ, đối ẩm và

tự thoại với bóng mình theo dáng một loài cây “Cây xấu hổ đau gì mà rủ lá/ Tôi gập người trên bóng tôi” và lan ra thành điệp khúc cô đơn” [45,tr.156]

Hồ Thế Hà nhận định tiếp: “Rong chơi để hóa giải nỗi buồn, rong chơi

để xóa tan nỗi đam mê hoang tưởng chính là sự rong chơi có ích và chứa đầy khát vọng tình yêu Những hình ảnh giai nhân lại hiện ra trong ký ức và tiềm thức của tác giả thật đẹp, đặc biệt là hình ảnh một tiên nữ buồn rầu, xõa tóc như mưa, như mây khói ám ảnh tác giả đến cả trong giấc mơ… Đến đây, ta có thể thấy nỗi buồn và ám ảnh phù du trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi trọn hành trình đau khổ của nó để thấu triệt sự lo âu hiện sinh của chính mình thông qua các phạm trù thời gian - không gian, thông qua thiên nhiên, hoa cỏ

- nơi thanh lọc và làm cao sang, hóa giải nỗi buồn, để nhà thơ tiếp tục mơ mộng vào khát vọng thiên thu…” [45,tr.157]

Trong Lời tựa tập thơ Chân trời sau chân trời (1985) của Vũ Quần Phương, nhà phê bình Vũ Nho chỉ ra rằng Vũ Quần Phương rất thận trọng,

không vội công bố những bài thơ đã viết của mình, khi cảm thấy nó chưa đủ chín “Chậm, thật chậm Anh nghe tiếng thì thầm của cỏ, nỗi ngập ngừng của hương, vị mưa nắng xa vời mặn chát, biển xanh, núi biếc… Không chỉ nghe thiên nhiên, mà còn nghe cuộc đời, nghe xã hội, nghe nỗi người lắm thứ mơ

hồ, nhiều điều nông nổi; nghe những điều chưa từng nghe Anh nghe tiếng nói

Trang 29

câm những tiếng thầm lay động xa xanh Và học nghe, lắng nghe sự lặng im Với tư cách là một người dấn thân cho nghề thơ, Vũ Quần Phương dành khá nhiều suy ngẫm cho thơ Không đặt vấn đề vì sao người đời thờ ơ với thơ, nhưng nhà thơ thấy thơ điếc khi người ta gọi, thơ say giấc khi đời bức xúc Thậm chí thơ nói mê khi đời tỉnh táo Với Vũ Quần Phương, thơ không phải

là thứ chơi vô thưởng, vô phạt bởi suốt một đời anh mài miệt với thơ ca

Anh cần mẫn thâm canh, gieo gặt trên cánh đồng thơ” [Tựa tập Chân trời sau chân trời, NXB Hội nhà văn, 1985, tr.7-8]

Lê Thiếu Nhơn thì lại khám phá dấu ấn cá nhân của nhà thơ này qua sự nhìn nhận: Vũ Quần Phương luôn viết ra những câu thơ “chắt chiu tâm tưởng”, hình như lúc nào ông cũng tập hợp quanh mình một đội quân chữ, và ông làm tổng chỉ huy Đội quân chữ của Vũ Quần Phương không phải ngẫu nhiên nhặt nhạnh được đâu, mà ông tuyển chọn kỹ lưỡng Đứng trong đội quân chữ của Vũ Quần Phương hầu hết là những chữ hội đủ phẩm chất để viết nên những câu không ai chê dở được Chính vì sự sát hạch ghê gớm, đội quân chữ của Vũ Quần Phương đều tinh nhuệ đến độ trở nên quen thuộc với độc giả và với chính tác giả! Ông biết rất rõ sự thật này và thừa nhận sự thật này tồn tại Lê Thiếu Nhơn cũng cho rằng cái tài của Vũ Quần Phương là có thể dùng những chi tiết rất cũ, hình ảnh rất cũ để tạo thành những câu thơ mới, là nhà thơ có biệt tài chọn phương pháp “nhắm mắt lại nhìn vào tâm tưởng” Theo

Lê Thiếu Nhơn, đấy là một phương pháp cực kỳ vất vả Với một không gian chật hẹp từ “tâm” đến “tưởng”, nhà thơ phải luôn tự vấn, tự dằn vặt, tự phản biện bản thân

Còn tác giả Thu Hằng thì cho rằng: Thơ Vũ Quần Phương trí tuệ, sâu sắc,

bao giờ cũng có điều để chiêm nghiệm, suy ngẫm về tình người, lẽ đời, về các vấn đề của đời sống xã hội Đó cũng là điều mà nhà thơ Phạm Khải từng nhận xét: Vũ Quần Phương đủ lịch lãm để biết điều hòa sao cho cân bằng các yếu tố

“tình” và “lý”, “nghĩ” và “cảm” trong quá trình sáng tạo của mình

Bên cạnh các nhà thơ nam tiêu biểu trên, trong thơ sau 1975, các nhà thơ nữ cũng tiếp tục khẳng định và đổi mới thi pháp thơ với nhiều tác phẩm mang phẩm tính mới mẻ, phản ánh đa dạng cuộc sống và con người cá nhân thời hậu chiến Nghiêng về cảm quan trữ tình mang đặc điểm giới, các nhà

Trang 30

thơ nữ đã có tiếng nói giàu thiên tính nữ trước chính mình và tha nhân một cách chân thành và giàu triết cảm Tác phẩm của họ nhanh chóng được các nhà nghiên cứu, phê bình tìm hiểu với nhiều cách tiếp cận khác nhau

Hồ Thế Hà với bài viết Thiên tính nữ trong thi giới Xuân Quỳnh đã

nhận xét: “Trong các nhà thơ nữ Việt Nam thời hiện đại, Xuân Quỳnh là người thể hiện thiên tính nữ sâu sắc và đậm đặc nhất trong thơ, xuất phát từ trái tim yêu thương, tâm hồn đa cảm và thiên lương mẫu tính cội nguồn của

nữ sĩ Người phụ nữ hiện diện trong thơ Xuân Quỳnh trước hết là nhân vật trữ tình tác giả - ngôi thứ nhất, thứ đến là những nhân vật trữ tình của bài thơ, có khi là nhân vật trữ tình nhập vai, ẩn dụ, nhân hóa nhưng tất cả đều được thông qua cảm xúc và tâm trạng của chính Xuân Quỳnh, thể hiện thành những quan hệ và kinh nghiệm sống trong từng không gian và thời gian cụ thể, chân thành và xúc động Thiên tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh là di sản thiên tính

nữ được nói bằng tiếng nói nghệ thuật tinh vi, ảo diệu và rất đỗi nhân hậu, dịu dàng” [46,tr.314] Theo Hồ Thế Hà, thiên tính nữ trong thi giới Xuân Quỳnh

đa dạng và biểu hiện thành các dạng thái của cái tôi trữ tình mang đậm phong cách cá nhân: Cái tôi trữ tình khát khao yêu thương và dâng hiến; Cái tôi trữ tình khắc khoải và ám ảnh đau thương; Cái tôi trữ tình chở che, bao dung và gắn bó; từ đó, ông đi đến nhận xét: “Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh là kết tinh của một tâm hồn đam mê sống, đam mê yêu, đam mê sáng tạo Hành trình thơ Xuân Quỳnh luôn đồng hành cùng cuộc sống với những vui buồn ân nghĩa quanh đời Thơ chị có sức vang ngân và luôn vẫy gọi liên chủ thể tiếp nhận, nhất là những độc giả phái đẹp để phát hiện và làm đầy những giá trị mới Họ tìm thấy ở đó những nỗi niềm thổn thức yêu thương và nhân hậu

tuyệt vời Chúng là kết tinh của những gì đồng nghĩa với Nguyên lý tính Mẫu

và Nữ tính vĩnh hằng bằng ngôn từ - hình tượng - tư tưởng luôn bất ngờ

nhưng gần gũi với cõi người bao la, nhân hậu Những triết lý, chiêm nghiệm trong cuộc đời và trong tình yêu đã nâng tầm tư tưởng, tính nhân bản của thơ chị lên chiều cao của tư duy sáng tạo Bản tính thiên bẩm tài hoa cùng với vốn sống và tâm hồn luôn rộng mở trước bao giông bão cuộc đời và chính mình

đã đem lại cho thi giới Xuân Quỳnh sức quyến rũ và sức sống kỳ diệu Thơ Xuân Quỳnh kết tinh thành giá trị riêng, phong cách riêng trong nền thơ hiện

Trang 31

đại Việt Nam” [46,tr.331-332] Đó là những nhận định đúng với bản chất về chất thơ và hồn thơ Xuân Quỳnh

Về tập Tặng riêng một người của Lê Thị Mây, tập thơ đạt giải thưởng

của Hội nhà văn Việt Nam năm 1990 và được xem là tín hiệu mở đầu một hồn thơ nữ hứa hẹn sức sáng tạo nghệ thuật trong tương lai Vũ Quần Phương

đã đánh giá cao, ông cho rằng thơ Lê Thị Mây là “sự kết hợp giữa cách tân và truyền thống nhiều khi ở cả hình thức biểu hiện và thể loại” và “cách cảm nghĩ thiên về khái quát và diễn đạt thiên về ấn tượng với nhiều biểu tượng đa diện” Vũ Quần Phương còn cho rằng “Thơ chị như một nốt nhạc lạ trong dàn nhạc quen thuộc của chúng ta, mới đầu hơi khó nghe, có vẻ như lạc điệu nhưng rồi với thời gian và với vận hội đổi mới nhân đạo hóa chủ nghĩa xã hội,

người ta nhận ra nó chính là một giai điệu hoàn chỉnh” [Tựa Tặng riêng một

người, NXB Tác phẩm mới, 1986, tr.8]

Nhà văn Nguyên Ngọc, khi nhận xét về giải thưởng này của Hội Nhà văn cũng đã ví thơ Lê Thị Mây như “những cái trụ chờ”, rồi đây sự vận động của thơ Việt Nam hiện đại sẽ xây tiếp vào đấy bao tầm cao mới

Trần Thị Trường trong bài viết Lê Thị Mây - Thi sĩ hong áo dưới trăng

đánh giá Lê Thị Mây là một trong những người “lặng lẽ đi tìm cho mình một lối riêng, mặc dù họ biết trong thời buổi ồn ào này, việc “tự nhiên hương” có thể hoàn toàn không xảy ra và nhiều khi phải chịu thiệt thòi” Bài viết khẳng định: Thơ của Lê Thị Mây không chỉ đặc biệt ở tính khúc chiết và nhịp điệu ngôn từ mà còn là ở hình ảnh đắt và đẹp

Trong cuốn Thơ Việt Nam hiện đại, tác giả Bích Thu với bài Lê Thị Mây, tìm tòi và thể hiện đã đề cập đến vài khía cạnh thuộc về thi pháp như không

gian hướng nội; cái tôi trữ tình luôn cô đơn, khắc khoải, không mấy gặp may trong hạnh phúc đời thường; thái độ thẳng thắn, táo bạo trước những bi kịch

và khát vọng cá nhân của bản thân tác giả; mô típ nhỡ nhàng, chờ đợi, tiếc nuối, chia tay cứ liên tục xoay vòng trong thơ chị Tác giả bài viết nhận thấy điểm nổi bật ở thơ Lê Thị Mây những năm gần đây là “hình ảnh con người đương đầu, chấp nhận cuộc sống hiện tại với những dạng vẻ phức tạp của lĩnh vực đời thường” [79,tr.432]

Trang 32

Trong khi đó, nhà phê bình Hoàng Vũ Thuật cho rằng thơ Lê Thị Mây

“không như một số nhà thơ khác, bản năng, giàu nữ tính Chị không giống

ai, một con người khác, phải nói rằng hoàn toàn khác, bởi cách biểu đạt của một giọng điệu phức tạp và đa diện, khởi nguồn từ lối tư duy khác lạ…Tư duy thơ Lê Thị Mây quả có sức ràng buộc người ta lại, không bỏ đi, không thờ ơ với nó Nhờ cách bung phá của cảm xúc, thơ gây được ấn tượng, khơi mạch chảy riêng, điều ấy đáng trọng, nó khẳng định con đường thơ của Lê Thị Mây đang đi” [133,tr.134]

Với thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi thống kê có trên dưới 23 bài viết, phê bình về các tập thơ của nhà thơ này Tìm hiểu về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong

bài viết Lâm Thị Mỹ Dạ và những vần thơ ám ảnh, Linh Sơn cho rằng: “Đi

qua những giông bão và sự lựa chọn khắt khe với chính mình, Lâm Thị Mỹ

Dạ đã đem đến cho người đọc những vần thơ ám ảnh và quặn thắt niềm thương và nỗi nhớ - trong đó có cả nỗi đau và khát vọng lớn lao về điều kỳ diệu của cuộc đời” [23,tr.390]

Đỗ Bạch Mai có bài viết giới thiệu chung về tập thơ Bài thơ không năm tháng: “Với hai mươi lăm bài thơ trong tập, Mỹ Dạ có những câu thơ về quê

hương Bình Trị Thiên của mình và có những câu thơ viết về những vùng đất

xa xôi khác trên đất nước; chị có những câu thơ viết về truyền thống xa xưa tổ tiên để lại và đồng đội làm nên qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; chị có những câu thơ viết về những con người đang làm ra những giá trị vật chất cho cuộc sống hôm nay …Với tập thơ này, điều đáng mừng là thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã trở nên sâu lắng hơn, thiết tha hơn, và đã có một sự bộc lộ rõ hơn nét dáng riêng của chị trong thơ” [23, tr.356-357]

Viết về bước ngoặt sáng tác của Lâm Thị Mỹ Dạ trong giai đoạn chuyển

giao trước và sau năm 1975, Hồ Thế Hà có bài Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ từ thời chiến đến thời hậu chiến, ông nhận định: “Thơ viết về chiến tranh của Lâm Thị

Mỹ Dạ mãi đánh thức tình yêu và lòng nhân ái của con người hôm qua, hôm nay và mai sau bởi cái nhìn của người trong cuộc, luôn cháy bỏng những khát vọng hòa bình và tươi xanh màu hy vọng Chiến tranh đã kết thúc và cuộc sống

đã hồi sinh nhưng những bài học về đạo đức và tinh thần lại mở ra từ những bài học về nỗi đau và kinh nghiệm của chiến tranh Thơ hơn thể loại nào khác phải

Trang 33

mang thông điệp nhân văn từ cảm thức của con người hôm nay để con người nhận thức về chúng và biết chắt chiu tình yêu trong hiện tại Thơ Lâm Thị Mỹ

Dạ đã xuất phát từ nhu cầu đó của con người trong chiến tranh và cả trong hòa bình để tái hiện và cảm thức Và kỳ diệu thay, thơ Mỹ Dạ đã tìm được điểm gặp nhau muôn thuở của nhân loại: Đó là vấn đề lựa chọn hành vi đạo đức và thông điệp chung sống hòa bình cho hành tinh mang tên trái đất của chúng ta Mãi còn đây khoảng trời xanh buốt nhức nhưng đầy tin yêu da diết trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ” [46,tr.394]

Với tập thơ Đề tặng một giấc mơ, Hồ Thế Hà cũng có nhận xét riêng:

“Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm giàu có và phong phú thêm giọng thơ đầy nữ tính và

nhân bản vốn có của mình từ Trái tim sinh nở đến Những bài thơ không năm tháng và Hái tuổi em đầy tay, nhưng giờ đây tính triết lý, nghiệm sinh được

tăng cường và sự khẩn thiết nhìn lại mình để thấy bước đi của thời gian và nỗi buồn không thể khác của con người và chính mình Từ đó, hướng khát vọng thi ca vào những chân trời mơ mộng Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị

Mỹ Dạ nằm ở đường biên của cái tôi và cái ta, giấc mơ và hiện thực, sự tự chôn vùi và sự tự nổ tung, giữa những gì đã qua và những gì sẽ đến, bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh, bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng

nói của sự va chạm, sinh thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp

truyền thống nhưng luôn phá và thay để làm giàu có cái phần hiện đại cần

thiết của thơ” [46, tr.406]

Trong giai đoạn này, tập thơ Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi được Giải

thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, gây được tiếng vang lớn

Võ Văn Trực trong bài viết Người đàn bà ngồi đan đã nhìn nhận: “Đọc thơ

chị, ta hình dung một người đàn bà đứng tuổi, nền nã, giữa chiều lạnh, ngồi đan

bên cửa sổ? Dưới chân chị cuộn len như quả cầu xanh/ Đang lăn những vòng chậm rãi Nhưng đáng quý hơn, trong sự yên ả kia, vẫn cồn cào bao nhiêu suy

nghĩ: Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay lo âu” [146]

Mã Giang Lân cũng nhận định: “Tập thơ mới của Ý Nhi: Người đàn bà ngồi đan vừa đến với bạn đọc Tập thơ thể hiện hướng tìm tòi và phẩm chất

mới của thơ Ý Nhi: nội tâm được triển khai đến tận cùng, những vấn đề của quá khứ và “đời thường” hiện tại được đưa ra xem xét, được nhìn nhận ở

Trang 34

những góc độ khác nhau làm nổi lên sự đa dạng của cảm xúc Thế nhưng tất

cả vẫn xuất phát từ một tấm lòng lo toan, trách nhiệm”, đến tập thơ này “Ý Nhi mới bộc lộ được bản lĩnh nghệ thuật của mình Cái phong phú của cuộc sống, cái gay gắt của đời thường, cái say sưa tinh tế của tâm hồn được chắt lọc, dồn nén tạo nên cảm xúc Nhiều câu thơ như nhắn nhủ, tâm tình đều được nâng lên khái quát, có độ sâu cần thiết” [77,tr.368]

Cùng nhận định về tập thơ này, Lê Lưu Oanh viết: “Đây là một trạng thái muốn tách mình ra khỏi thế giới để được thấy mình, cái tôi, rõ nhất Mô típ đi tìm bản thân là một mô típ chứa đựng khát vọng khẳng định mình Tập thơ

Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi đã diễn tả khá sâu sắc hành trình tìm cái tôi

ấy Tác giả đã quay lại tuổi thơ, tuổi thiếu nữ, dừng lại phán xét người đàn bà trong hiện tại, đã tìm đến những năm tháng đầy hoài bão lớn lao với những cuộc đời âm thầm, mạnh mẽ và bất diệt, và lại trở về với nỗi cô đơn của người

mẹ, người phụ nữ Con đường đi tìm ấy bộc lộ qua những miêu tả sự khát khao, trông ngóng, mong đợi: đi tìm, dấu chân kiên nhẫn, lang thang, ngóng đợi, mong chờ, đánh mất, tìm thấy, trải qua, đón gặp, bắt đầu, mong đợi, đi tìm đường dài, chờ đợi gì phía xa kia, lòng tôi qua năm tháng ra đi, trông chờ, đám lửa đợi chờ, dự cảm phập phồng khi cánh buồm chợt mở, tôi hằng kiếm mong chờ, đường dài xa típ tắp, đoạn đường còn lại, tôi đến với nẻo đường kia, cuối con đường gặp biển, tôi trở về Có những lúc tác giả tự nhủ đã tìm thấy nhưng rồi lại dường như chẳng nhận diện rõ mình vì thế tâm hồn tác giả luôn như “cây xao xác giữa ngày thường” [103,tr.107]

Đoàn Ánh Dương trong bài viết Những khúc quành của văn học nữ Việt Nam đương đại cho rằng: “Ý Nhi, với tập thơ Người đàn bà ngồi đan đã tạo

một bước ngoặt để đưa thơ từ cộng đồng trong đời sống chiến tranh trở về với

cá nhân trong đời sống dân sự Không có thành tựu từ trong chiến tranh, Lý Phương Liên và Dư Thị Hoàn, ngay trong những sáng tác đầu tiên của mình, cũng cùng cất tiếng nói cá nhân mà Ý Nhi chú ý Họ thực sự là những nhà thơ

nữ đầu tiên góp tiếng nói vào đổi mới (văn học)” [27,tr.11]

Ngoài ra, còn có các bài viết phê bình về các tác phẩm cụ thể như:

Chuyến đò đêm giáp ranh của Hữu Thỉnh, Ánh trăng của Nguyễn Duy, Khối vuông Ru-bich của Thanh Thảo, Mùa mưa anh sẽ về của Anh Ngọc, Đi trên

Trang 35

đường phố quê hương của Đào Xuân Quý, Quê hương mặt trời vàng của Thu Bồn, Mẹ và quả của Nguyễn Khoa Điềm, Đồng đội tôi trên đảo thuyền chài của Trần Đăng Khoa, Chị của Võ Văn Trực, Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam của Xuân Diệu, Tình ca người lính của Nguyễn Trọng Tạo,… Các bài

viết này phần lớn đều nêu lên cảm nhận về nội dung, hình thức nghệ thuật, còn phương diện đổi mới của từng tác phẩm, tác giả, góp phần khẳng định xu thế tất yếu của thể loại cũng như của thơ Việt Nam giai đoạn này thì chưa được phân tích một cách khoa học và cụ thể ở phương diện lý luận Tuy vậy, nhờ những công trình phê bình chung/ tổng quát và riêng/ cụ thể như trên đã tác động trực tiếp và gián tiếp đến quá trình sáng tạo, góp phần định hướng thẩm mỹ cụ thể cho thơ giai đoạn này vận động, phát triển đúng hướng và đạt những thành tựu đáng kể

1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài

Từ việc trình bày Tổng quan các công trình nghiên cứu chính liên quan với đề tài như trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét về tình hình nghiên cứu

và đề xuất hướng triển khai đề tài như sau:

1.2.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu

Thứ nhất: Thơ Việt Nam 1975-1985 là giai đoạn ngắn nhưng có tính chất

bước ngoặt, là bản lề của hai giai đoạn thơ trong cùng một dòng chảy liên tục

từ thời chiến sang thời hậu chiến Sự vận động, phát triển của thơ giai đoạn này

đã diễn ra hợp quy luật, có kế thừa, phát huy, bổ sung những nội dung và phương thức nghệ thuật mới, làm thành diện mạo, đặc điểm bản chất và những thành tựu mới Tuy nhiên, thơ giai đoạn này vẫn còn một số hạn chế do quán tính của thơ ca thời chiến tác động nên đường biên của sự đổi mới về các yếu

tố hình thức chưa thật dứt khoát, mới mẻ

Thứ hai: Thơ Việt Nam 1975-1985 đã trở thành đối tượng tiếp cận, được

các nhà lý luận, phê bình và các nhà nghiên cứu văn học quan tâm, bàn luận Các bài viết và công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu một số vấn đề của thơ Việt Nam 1975-1985 ở những bình diện và mục đích khác nhau nhưng chưa có sự bao quát một cách đầy đủ, toàn diện về giai đoạn thơ này, đặc biệt là diện mạo thơ và vấn đề tư duy nghệ thuật thơ Việc nghiên cứu gương mặt nhà thơ tiêu biểu và các tập thơ riêng cũng chưa được quan tâm

Trang 36

đầy đủ Hơn nữa, các nhà nghiên cứu hầu như chưa chú ý đến thi pháp cá nhân và sự đổi mới của từng tác giả, từng thi phẩm…

Thứ ba: Khi nghiên cứu thơ Việt Nam giai đoạn này, các công trình

nghiêng về phê bình tác giả, tác phẩm nhiều hơn là nghiên cứu tổng quan, tổng kết cả phong trào Các hướng tiếp cận và phương pháp vận dụng để nghiên cứu cũng chưa thật sự đa dạng mà chủ yếu vẫn nghiên cứu theo hướng thi pháp học, bình giảng, phân tích tác phẩm, nghiêng về xã hội học văn học Các phương pháp hiện đại như Mỹ học tiếp nhận, Phong cách học, Ngôn ngữ học, Phê bình sinh thái… chưa được quan tâm vận dụng tối đa Nghiên cứu theo lý thuyết hệ hình cũng chưa được cập nhật Vì vậy, các kết quả nghiên cứu chưa cho thấy được sự chuyển đổi cái nhìn nghệ thuật, đặc biệt là tư duy nghệ thuật mới mẻ của các nhà thơ lớn có định hướng và tiên phong đổi mới

1.2.2 Hướng triển khai đề tài

Căn cứ vào tình hình nghiên cứu, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành tựu

của những công trình đi trước, cùng với việc vận dụng lý thuyết về tư duy nghệ thuật thơ, chúng tôi tiến hành tìm hiểu, khám phá, chỉ ra các giá trị thẩm

mỹ bản chất trong tính toàn vẹn, bao quát của thơ 1975-1985, trong đó đặc biệt chú ý đến tính chỉnh thể nội dung và diễn ngôn của các tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Cụ thể, Luận án hướng tới giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu tư duy thơ và tư duy nghệ thuật thơ để lý giải triệt

để và cắt nghĩa sâu hơn về những đặc thù nghệ thuật trong các tác phẩm thơ giai đoạn 1975-1985 Với quan điểm xem thành tựu thơ giai đoạn này là kết quả của một mô hình khách thể, phù hợp với mô hình chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận, chúng tôi tiến hành đánh giá một cách khách quan, khoa học về hiện tượng và tiến trình vận động của thơ giai đoạn này, đặc biệt chú ý đến những cách tân, đổi mới trong tư duy nghệ thuật

Thứ hai: Nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn

1975-1985 để làm rõ đặc điểm có tính quy luật của “bước chuyển mình” trong thơ

từ thời chiến chuyển sang thời bình - một thời kỳ lịch sử mới với cảm hứng mới về hiện thực chiến tranh và hiện thực cuộc sống đời tư thế sự, tâm linh trong từng không gian và thời gian cụ thể cùng với các phương thức thể hiện

Trang 37

mang tính quan niệm của chủ thể sáng tạo

Thứ ba: Luận án cũng hướng tới khẳng định vị trí và thành tựu của thơ

giai đoạn 1975-1985 trong tính kế thừa và phát triển của thơ giai đoạn

1945-1975, coi đó là tiền đề cho thơ giai đoạn Đổi mới từ 1986 đến nay Đặc biệt, Luận án muốn khẳng định đây là sự chuyển mình mang tính bước ngoặt của một giai đoạn có nhiều thành tựu mới với những đặc điểm nội tại tạo thành cái nhìn nghệ thuật riêng, có tính đặc thù và mang tính tất yếu chứ không phải khuyết điểm hoặc nhược điểm như một số người quan niệm

cụ thể Do đó, hướng triển khai đề tài của Luận án như đã trình bày, chính là

cố gắng để làm đầy, bổ sung những vấn đề còn bỏ ngỏ khẳng định sự vận động hợp quy luật của thơ Việt Nam 1975-1985 và sự đóng góp của nó vào thành tựu chung của tiến trình thơ Việt Nam hiện đại

Trang 38

Chương 2 VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ

VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985

Tư duy thơ hay tư duy nghệ thuật thơ là phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật nói chung, nhưng nó mang tính riêng, phong phú và độc đáo của từng nghệ sĩ Thơ là loại hình nghệ thuật đặc biệt, chiếm lĩnh và thể hiện cuộc sống bằng hình tượng thông qua chất liệu ngôn từ - một phương diện giao tiếp mang tính xã hội hóa cao độ Vì vậy, thơ vô cùng linh động, ảo diệu, khó nắm bắt và cảm nhận theo kiểu thông thường Nhà thơ trong quá trình sáng tác, bên cạnh việc thể hiện những khám phá, rung động đối với cuộc sống còn phải chú ý đến mối quan hệ hài hoà giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ Trong từng giai đoạn, thi ca với những nội dung tư tưởng mang đặc điểm riêng sẽ thể hiện rõ sự vận động tư duy nghệ thuật của nhà thơ

2.1 Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ

2.1.1 Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tư duy là “sản phẩm cao

nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận ” [97,tr.194]

Nguyễn Bá Thành trong công trình Thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam cho rằng: “tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người”

[124,tr.15], “là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người” [124,tr.16], “tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại” [124,tr.16] Khi phân biệt với ý thức, với trí tuệ, lý trí, tư tưởng, ngôn ngữ và lôgic có thể thấy,

“đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng; truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của tư duy” [124,tr.18] Từ phương diện triết học để nhìn nhận hai phương pháp tư

Trang 39

duy siêu hình và phương pháp tư duy biện chứng, Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Cả Hegel và Lenin đều thừa nhận tính hạn chế của tư duy cá nhân và từng thời đại Không có tư duy của ai và của một thời đại nào lại có thể nắm bắt toàn bộ thực tại trong tính hệ thống, trong sự tồn tại muôn hình, muôn

vẻ, quan hệ qua lại chằng chịt lẫn nhau Tư duy mỗi cá nhân, mỗi thời đại, chỉ là tư duy có tính lịch sử, phản ánh những mắt xích, những vòng khâu, những mối quan hệ nhất định nào đó mà thôi” [124,tr.21] Tư duy logic và tư duy hình tượng đối xứng nhau qua các phạm trù (nội dung - hình thức, bản chất - hiện tượng, tất nhiên - ngẫu nhiên, nguyên nhân - kết quả, khả năng - hiện thực, phổ biến - đặc thù ) “Các đặc trưng của tư duy logic phù hợp ngẫu nhiên với nội hàm của các phạm trù đứng trước (hay đứng bên trái) Còn các đặc trưng của tư duy hình tượng thì phù hợp ngẫu nhiên với nội hàm của các phạm trù đứng sau (hay đứng bên phải)” [124,tr.32] Từ đó, “tư duy logic khi trở thành tư duy khoa học thì tìm hiểu cái cấu trúc bên trong Bản chất bên trong của thế giới hiện thực muôn màu muôn vẻ”, “tư duy hình tượng khi phát triển thành tư duy nghệ thuật thì theo con đường ngược lại Tức là triển khai các tư tưởng bản chất, các ý niệm khái quát thành cái hiện thực muôn màu muôn vẻ mang tính chất Hiện tượng” [124,tr.32]

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân xem tư duy nghệ thuật là

khái niệm “chỉ một dạng hoạt động trí tuệ, nhằm sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Đây là một dạng riêng của tư duy con người, khác biệt về tính chất, diễn biến, về mục tiêu cuối cùng, về chức năng xã hội, và phương thức gắn nối với thực tiễn xã hội” [8,tr.368] Theo đó, bản chất của tư duy nghệ thuật bị quy định bởi “phương thức vừa tinh thần vừa thực tiễn của việc chiếm lĩnh thế giới bằng nghệ thuật, bởi tính chất của việc phản ánh bằng nghệ thuật Đặc trưng kiểu tư duy này gắn chặt với sự phát triển các ý niệm về những dấu hiệu nổi bật của nghệ thuật, về tiềm năng nhận thức và tiềm năng trí tuệ của nghệ thuật” [8,tr.369] Tư duy nghệ thuật cũng là “sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan” [124,tr.54] Tư duy nghệ thuật “chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo” [124,tr.54] và là sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ ngôn ngữ, văn hóa của người sáng tạo Chính vì

Trang 40

thế, nghệ thuật luôn đòi hỏi người nghệ sĩ sáng tác, ở mọi lĩnh vực nghệ thuật nói chung, thi ca nói riêng, phải có cái nhìn nhạy bén và biết thâu tóm thế giới bằng những sáng tạo mới mẻ, mang tính độc lập

Mặt khác, cơ sở của tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng - cảm tính Trong tư duy nghệ thuật “trực giác đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức thẩm mỹ Trực giác góp phần kích thích ý đồ sáng tạo và trợ lực cho cảm hứng, nhiều khi nó trở thành một trong những nội dung trực tiếp của tác phẩm” [28,tr.54] Nó cho phép chủ thể sáng tạo “sử dụng hư cấu, tưởng tượng để xây dựng những hình tượng có tầm khái quát cao, tác động mãnh liệt tới người tiếp nhận” [28,tr.54] Do đó, có thể nhận thấy “tư tưởng, quan niệm của tác phẩm được xây dựng trên cơ sở tư duy nghệ thuật; việc lựa chọn các phương tiện biểu hiện cũng dựa trên cơ sở tư duy nghệ thuật” [31,tr.370] Tuy nhiên, “tư duy nghệ thuật không đơn thuần là biểu hiện cụ thể của tư duy cụ thể, gắn liền với các biểu tượng trực quan mà còn phản ánh trình độ tư duy trừu tượng và khái quát ở giai đoạn cao” [124,tr.56] Điều này giúp chủ thể sáng tạo có thêm được nhận thức sâu sắc trong quá trình sáng tác, bởi lẽ, trong tác phẩm văn học, nội dung và hình thức phải xuất phát

từ một tư duy nghệ thuật nhất quán mới có thể mang lại cho tác phẩm những giá trị đích thực

Các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học coi tư duy là “dạng hoạt động

trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật Bản chất của nó là do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế

giới bằng hình tượng quy định” [50,tr.260], còn tư duy nghệ thuật là “một bộ

phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Phương tiện của nó là các biểu tượng, biểu trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó là tình cảm Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể có, có thể dự cảm thấy theo xác suất, khả năng và tất yếu) Chính nhờ vào đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính chất phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt” [50,tr.261] Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật, người nghệ sĩ sẽ sáng tạo hình tượng, xác lập tư tưởng và quan niệm nghệ

Ngày đăng: 27/04/2023, 05:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
[2] Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
[3] Aristote (1992), Nghệ thuật thi ca (Nhiều người dịch), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1992
[4] M. Arnaudov (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học (Hoài Lam, Hoài Ly dịch), NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: M. Arnaudov
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1978
[5] Phạm Đình Ân (1983), “Tâm hồn, một thực thể thẩm mỹ của thơ ca”, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn, một thực thể thẩm mỹ của thơ ca
Tác giả: Phạm Đình Ân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1983
[6] Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
[7] Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2003
[8] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
[9] Lại Nguyên Ân (1984), “Mấy vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại”, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1984
[10] Lại Nguyên Ân (1980), “Dấu chân những người lính trẻ và thơ Thanh Thảo”, nguồn: https://phebinhvanhoc.com.vn/dau-chan-nhung-nguoi-linh-tre-va-tho-thanh-thao/ (30.4.2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu chân những người lính trẻ và thơ Thanh Thảo
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1980
[11] Mai Bá Ấn (2005), “Quan niệm của Thanh Thảo về thơ”, Tạp chí Sông Hương, số 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Thanh Thảo về thơ
Tác giả: Mai Bá Ấn
Nhà XB: Tạp chí Sông Hương
Năm: 2005
[12] Phạm Quốc Ca (2002), “Ý thức cá nhân trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Văn học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức cá nhân trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2002
[13] Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2003
[14] Phạm Quốc Ca, “Đặc điểm giọng điệu thơ Việt Nam sau 1975”, nguồn: http://vanhien.vn/news/Dac-diem-giong-dieu-tho-Viet-Nam-sau-1975-39804 (25.5.2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giọng điệu thơ Việt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Năm: 2019
[15] Phạm Quốc Ca, “Trữ tình cá nhân trong thơ Việt Nam sau 1975”, nguồn: http://vanhien.vn/news/Tru-tinh-ca-nhan-trong-tho-Viet-Nam-sau-1975-39825 (25.5.2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trữ tình cá nhân trong thơ Việt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Năm: 2019
[16] Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 2001
[17] Hoàng Minh Châu (1990), Bàn về thơ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1990
[18] Nguyễn Huệ Chi (1983), Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1983
[19] Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam 1975-2005, Tìm tòi và cách tân, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam 1975-2005, Tìm tòi và cách tân
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2007
[21] Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1991

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w