1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

“Nhận xét kết quả điều trị gãy đầu dưới xương quay bằng kéo nắn, bó bột tại Bệnh viện Đa khoa Tân Yên năm 2018 ”

44 37 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận xét kết quả điều trị gãy đầu dưới xương quay bằng kéo nắn, bó bột tại Bệnh viện Đa khoa Tân Yên năm 2018
Trường học Bệnh Viện Đa Khoa Tân Yên
Chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tân Yên
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ ĐẶT VẤN ĐỀ Gẫy đầu dưới xương quay là loại gẫy phổ biến nhất trong chấn thương vùng cổ tay, chiếm 16 số ca gãy xương trong cấp cứu, 8% tổng số ca gãy xương, 26% các trường hợp gãy xương ch.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gẫy đầu dưới xương quay là loại gẫy phổ biến nhất trong chấn thươngvùng cổ tay, chiếm 1/6 số ca gãy xương trong cấp cứu, 8% tổng số ca gãyxương, 26% các trường hợp gãy xương chi trên, 50% các trường hợp gãyxương cẳng tay [10] Gãy đầu dưới xương quay có thể gặp ở mọi lứa tuổi, gặpnhiều nhất ở 2 lứa tuổi: 6 - 10 tuổi và 60 - 69 tuổi Nguyên nhân gây chấnthương thường do ngã chống tay, hay gặp nhất là gẫy kiểu Pouteau- Colles.Còn lại số ít gặp hơn là: các loại gẫy nội khớp, gẫy mỏm trâm quay, gẫy kèmgẫy đầu dưới xương trụ hoặc gẫy mỏm trâm trụ

Định nghĩa về gẫy kiểu Pouteau-Colles (hoặc Colles): là gẫy đầu dướixương quay, đường gẫy cách khe khớp cổ tay 2,5- 3 cm, là loại gẫy ngoạikhớp, có 2 kiểu di lệch điển hình là di lệch ra ngoài (tạo hình lưỡi lê) và dilệch ra sau (tạo hình dĩa)[1]

Chức năng cổ tay có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt độngsinh hoạt của con người Vì thế gãy đầu dưới xương quay nếu không đượcđiều trị đúng và kịp thời sẽ để lại những di chứng nặng nề, làm mất hoặc giảmchức năng bàn tay dẫn đến không thực hiện được các động tác linh hoạt, khéoléo trong cuộc sống hàng ngày Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị, gãyđầu dưới xương quay như: phương pháp điều trị bảo tốn nắn chỉnh bó bột,phương pháp phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít, phương pháp xuyênđinh nội tủy Phương pháp xuyên kim Kirschner qua da v.v.v… Mỗi phươngpháp đều có những ưu khuyết điểm riêng, phương pháp phẫu thuật khắc phụcđược di lệch thứ phát hay can lệch nhưng sẽ mất đi các điều kiện sinh cơ họctồn tại sẹo mổ dài, tăng nguy cơ nhiểm trùng, thời gian nằm viện kéo dài, chiphí điều trị cao khó chấp nhận trong điều kiện kinh tế của một bộ phận khôngnhỏ người dân Việt Nam

Trang 2

Phương pháp điều trị bảo tồn bằng kéo nắn bó bột có những ưu điểmnhư: kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, không gây thêm sang chấn lớn tới chithể, ít có khả năng nhiễm trùng, không để lại sẹo, thời gian nằm viện ngắn;chi phí điều trị thấp ít tốn kém… cho nên hiện nay vẫn được áp dụng rộng rãitại các bệnh viện trên toàn quốc Tại Bệnh viện đa khoa huyện Tân Yên trongnhững năm qua việc áp dụng phương pháp điều trị gãy đầu dưới xương quaybằng kéo nắn bó bột được thực hiện thường xuyên, nhưng chưa một nghiêncứu nào đánh giá một cách cụ thể về những thành công và những hạn chế củaphương pháp điều trị này tại bệnh viện, do đó chúng tôi tiến hành đề tàinghiên cứu:

“Nhận xét kết quả điều trị gãy đầu dưới xương quay bằng kéo nắn,

bó bột tại Bệnh viện Đa khoa Tân Yên năm 2018 ”

Mục tiêu của nghiên cứu:

1 Mô tả đặc điểm gãy đầu dưới xương quay được điều trị tại Bệnh viện

Đa khoa Tân Yên từ ngày 01 tháng 3 năm 2018 đến ngày 30 tháng 8 năm 2018.

2 Nhận xét kết quả gần trong điều trị kéo nắn bó bột gãy đầu dưới xương quay tại Bệnh viện Đa khoa huyện Tân từ ngày 01 tháng 3 năm 2018 đến ngày 30 tháng 8 năm 2018.

Chương 1

Trang 3

TỔNG QUAN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu gãy đầu dưới xương quay

Gãy đầu dưới xương quay được Pouteau và Abraham Colles đưa ranhững mô tả đầu tiên, là những gãy vùng hành xương của đầu dưới xươngquay, không phạm khớp và di lệch ra sau [7]

Năm 1838, Barton mô tả dạng gãy một phần bờ sau phạm khớp kèmtheo trật hay bán trật khớp

Năm 1854, Smith mô tả gãy ở ngang mức đầu dưới xương quay nhưgãy Colles nhưng di lệch ra trước [7]

Năm 1962, Sheck mô tả dạng gãy hình chêm phía trong (hố xươngnguyệt), là gãy thấu khớp đi qua góc quay trụ của đầu dưới xương quay [7]

Năm 1974, Cautilli mô tả dạng gãy tài xế: mỏm trâm quay bị gãy chẻ ratheo mặt phẳng dọc và di lệch lên trên [7]

1.2 Giải phẫu đầu dưới xương quay và liên quan

1.2.1 Đầu dưới xương quay

Đầu dưới xương quay là một vùng xương xốp, nằm trong giới hạn mộtđoạn 2-2,5cm tính từ mặt khớp cổ tay, gồm xương xốp với các bè xương xếptheo hướng vuông góc với mặt khớp Điều này có thể thấy rõ trên phim Xquang, đặc biệt là mặt lòng Các bè xương đặc này xếp thành hàng chạy từphần vỏ xương trước đến mặt khớp tạo nên các tam giác Vỏ xương đặc quanhống tủy chỉ có ở ba phần tư hành xương Lớp xương mỏng mặt lưng kéo dàihơn phía trước Điều này giải thích lý do đường gãy ở mặt lưng nhiều hơn.Sức mạnh của thân xương được tăng cường ở mặt lưng bởi những mào xươnglàm nên những rãnh gân duỗi dạng

Ở người lớn, đầu dưới xương quay có 5 mặt: trước, sau, trong, ngoài vàmặt khớp

Mặt trước liên tục với thân xương quay, cong lõm và nhẵn, có cơ sấpvuông bám tới 0,5cm phía trên bờ khớp trước Là nơi bám của 3 dây chằngmặt gan cổ tay: dây chằng bên cổ tay quay, dây chằng quay cả và dây chằngquay tháp

Trang 4

Hình 1.1 Giải phẫu mặt trước đầu dưới xương quay [2].

Mặt sau không đều, có những gờ và rãnh cho các gân duỗi dạng trượtqua Lồi củ Lister nhô cao nhất là điểm tựa cho gân duỗi dài ngón cái 6khoang gân riêng biệt che phủ mặt sau đầu dưới xương quay và đầu dướixương trụ

Hình 1.2 Giải phẫu mặt sau đầu dưới xương quay [2]

Mặt ngoài sờ ngay được dưới da, đỉnh là mỏm trâm quay, giới hạn phíasau là lồi củ Lister

Mặt trong có hình tam giác, ở đáy có hố sigma khớp với đầu dướixương trụ

Mặt khớp có 2 phần: hố thuyền và hố nguyệt Hố thuyền ở ngoài hìnhtam giác và hố nguyệt ở trong hình tứ giác Tất cả được phủ kín bởi sụn khớp

Trang 5

Hình 1.3 Giải phẫu mặt khớp đầu dưới xương quay [2]

1.2.2 Giải phẫu liên quan

 Dây chằng và bao khớp[6]

Đầu dưới xương quay có 2 khớp: khớp trụ dưới và khớp

quay-cổ tay

 Khớp quay - trụ dưới:

- Mặt khớp: tạo bởi chỏm xương trụ và hố sigma của xương quay

- Bao khớp: bám vào bờ trước, bờ sau của dây chằng tam giác và quanh cácmặt khớp quay trụ

- Dây chằng: khớp quay - trụ dưới được giữ vững trong mọi vị trí cử động củakhớp cổ tay nhờ hệ thống cơ sấp ngửa, gấp duỗi cổ tay và dây chằng quanhkhớp quay trụ dưới, quan trọng nhất là phức hợp sụn sợi tam giác Phức hợpnày là một đĩa sụn khớp dầy 1 - 2mm xuất phát từ bờ dưới khuyết sigma, dọctheo bờ trụ của đầu dưới xương quay nối vào nền mỏm trâm trụ kết vàoxương nguyệt (dây chằng nguyệt trụ), xương tháp (dây chằng trụ tháp), xươngmóc và cuối cùng là nền xương đốt bàn V

 Khớp quay - cổ tay:

- Mặt khớp: đầu dưới xương quay và xương thuyền, xương nguyệt

- Bao khớp: dày ở trước, mỏng ở sau và rất chắc ở 2 bên

- Dây chằng gồm: dây chằng bên cổ tay - quay, bên cổ tay trụ, quay cổ tay gantay, quay - cổ tay mu tay

Trang 6

Hình 1.4 Giải phẫu dây chằng cổ tay [2]

- Thần kinh trụ: nằm trong ống Guyon, chi phối cảm giác ngón V, ½ ngón IV

và vận động cho các cơ ô mu út, cơ gian cốt, cơ khép ngón cái, cơ giun 3 và 4

- Nhánh cảm giác thần kinh quay: ngay gần tận cùng đầu dưới xương quay,nhánh cảm giác thần kinh quay chia 3 nhánh tận: ngoài, giữa, trong Nó chạyngoài động mạch quay, trước gân cơ dạng ngón cái dài và duỗi ngắn ngón cái

1.3 Các chỉ số nghiên cứu trên X quang

Phim X quang thẳng, nghiêng chất lượng tốt đủ để đánh giá các chỉ sốđầu dưới xương quay Các chỉ số X quang dùng để đánh giá đầu dưới xươngquay:

1.3.1.Trên phim thẳng:

Trang 7

- Chiều cao mặt khớp (RL: Radial length): khoảng cách giữa 2 đường thẳng

vuông góc với trục xương: 1 đường đi qua mỏm trâm quay, 1 đường đi quamặt khớp đầu dưới xương trụ Giá trị trung bình 11 - 12m [5]

- Góc nghiêng trụ (UA: Ulnar tilt angle): góc tạo bởi đường thẳng qua đỉnh

mỏm trâm quay và góc trong của hố nguyệt với đường thẳng vuông góc vớitrục của xương quay, trung bình 22 - 23° [5]

- Độ chênh quay trụ (UV: Ulnar variance): là khoảng cách giữa 2 đường thẳng

vuông góc với trục dọc xương quay: một đường qua góc trong của hố nguyệt,đường còn lại qua mặt khớp đầu dưới xương trụ Trung bình -2 - 0mm [5].Chỉ số này dương chứng tỏ đầu dưới xương quay di lệch chồng ngắn Chỉ sốnày đánh giá sự ngắn của xương quay chính xác hơn là chiều cao mặt khớp

1.3.2.Phim nghiêng:

- Góc nghiêng lòng (VA: Volar tilt angle): là góc hợp bởi đường thẳng qua mặt

khớp xương quay với đường thẳng vuông góc với trục của xương quay Giá trịbình thường khoảng 11 - 12°, [5]

Hình 1.5 Các chỉ số trên XQ 1.4 Phân loại gãy đầu dưới xương quay và định nghĩa gãy Colles

1.4.1 Phân loại gãy đầu dưới xương quay: có rất nhiều phân loại gãy

đầu dưới xương quay dựa trên nhiều cơ sở khác nhau.

- Dựa trên hình ảnh X quang và sự di lệch: phân loại AO, Sarmiento,Lidstrom…

- Dựa trên cơ chế chấn thương: Castaing, Fermandez, Linscheid

- Dựa trên liên quan mặt khớp: McMurtry-Tupiler, Lidstrom, Melon

- Dựa trên mức độ gãy nát: Gartland-Werley, Tenkins, Older

Trang 8

1.4.2 Phân loại theo Sarmiento:

Nhóm I: Gãy không di lệch, không phạm khớp

Nhóm II: Gãy di lệch, không phạm khớp

Nhóm III: Gãy không di lệch, có phạm khớp

Nhóm IV: Gãy trật khớp cổ tay cơ chế giật

Nhóm V: Gãy kết hợp 4 nhóm trên do chấn thương tốc độ cao

Hình 1.6 Phân loại theo Fernandez

1.4.4 Phân loại theo AO:

- Chia gãy đầu dưới xương quay thành 3 loại và các phân nhóm

Loại A: Gãy không phạm khớp

Loại B: Gãy phạm khớp một phần

Loại C: Gãy phạm khớp phức tạp

Trang 9

Hình 1.7 Phân loại gãy đầu dưới xương quay theo AO

1.4.5 Định nghĩa và cơ sinh học liên quan gãy đầu dưới xương quay kiểu Colles.

4.5.1 Định nghĩa gãy đầu dưới xương quay kiểu Colles

Gãy đầu dưới xương quay kiểu Colles theo kinh điển được Pouteau vàAbraham Colles mô tả lần đầu tiên là những gãy vùng hành xương của đầudưới xương quay, không phạm khớp, di lệch gập góc ra sau và ra ngoài

Cơ chế thường gặp kiểu gãy này là ngã chống tay, cổ tay duỗi Vì vậy,gãy đầu dưới xương quay kiểu Colles còn được gọi là gãy đầu dưới xươngquay kiểu duỗi

4.5.2 Cơ sinh học liên quan: Biên độ vận động bình thường của khớp

cổ tay: + Gấp-duỗi 160° (90°- 0°-70°)

+ Nghiêng quay - trụ 50° (15° - 0° - 35°)

+ Sấp - ngửa 180° (90° - 0° - 90°)Trong điều trị gãy đầu dưới xương quay kiểu Colles bằng bó bột cánhcẳng bàn tay kinh điển có rất nhiều trường hợp di lệch thứ phát do vai trò củacác cơ vùng cẳng tay co kéo, nhất là cơ cánh tay quay- cơ duy nhất bám tậnvào mỏm trâm quay Bình thường cơ cánh tay quay co kéo mạnh nhất khicẳng tay sấp Khi cẳng tay ngửa, tác dụng gập khuỷu của cơ này là ít nhất.Nghiên cứu điện cơ, Sarmiento nhận thấy khi cẳng tay sấp cử động của cổ tay

Trang 10

và ngón tay cùng với co thắt của cơ cánh tay quay gây di lệch đoạn xa ở gãyđầu dưới xương quay Trên phim X quang động, ông cũng chứng minh đượcrằng: khi kích thích điện trực tiếp cơ cánh tay quay sẽ gây di lệch gập góc rasau và ra ngoài, cũng như chồng ngắn của đoạn xa đầu dưới xương quay saunắn Các cơ duỗi cổ tay và duỗi các ngón góp phần gây di lệch gập góc rangoài của đoạn gãy xa đầu dưới xương quay kiểu Colles.

1.5 Điều trị gãy đầu dưới xương quay

5.1 Nguyên tắc cơ bản trong điều trị gãy đầu dưới xương quay:

- Nắn chỉnh phục hồi giải phẫu của xương

- Bất động duy trì sự nắn chỉnh này

- Đạt được lành xương

- Phục hồi chức năng cổ bàn tay

Lựa chọn phương pháp điều trị dựa vào các yếu tố:

- Toàn thân: +Bệnh toàn thân

+ Tuổi+ Nghề nghiệp+ Tay thuận hay tay không thuận+ Sự bằng lòng của người bệnh

- Tại chỗ: + Loại gãy

+ Mức độ di lệch+ Chất lượng xương+ Mức độ tổn thương phần mềm

1.5.2 Các phương pháp điều trị

1.5.2.1 Nắn kín và bó bột

Phương pháp điều trị bảo tồn bằng kéo nắn bó bột có những ưu điểmnhất định như: kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, không gây thêm sang chấn lớntới chi thể, ít có khả năng nhiễm trùng, không để lại sẹo, thời gian nằm việnngắn; chi phí điều trị thấp ít tốn kém cho nên hiện nay vẫn được áp dụng rộngrãi tại các bệnh viện trên toàn quốc

Có nhiều phương pháp nắn và các tư thế bất động bột khác nhau.Phương pháp nắn được đề nghị bởi Jones với tư thế bàn tay và cổ tay quá gậpdẫn tới biến chứng chèn ép thần kinh giữa, cứng các khớp ngón tay Sau đó,

Trang 11

bất động với tư thế bàn tay ngửa của Sarmiento Vài nghiên cứu về vần đềnày, so sánh tư thế cố định khác nhau của cổ tay và bàn tay, bột chức năng vớicẳng tay ngửa, bó bột trên khuỷu và dưới khuỷu cho thấy sự phục hồi giảiphẫu không có sự khác biệt.

1.5.2.2 Xuyên kim qua da.

Kỹ thuật này được đề nghị đầu tiên bởi Lambotte năm 1908 bằngxuyên kim Kirschner qua mỏm trâm quay Một vài thay đổi về vị trí, hướngxuyên kim được nghiên cứu, nhưng mục đích vẫn là cố định mảnh gãy vào vỏxương đối diện của đoạn gãy gần

Ngày nay, xuyên kim thường được kết hợp với các phương pháp kháctrong điều trị các loại gãy phức tạp

1 5.2.5 Nắn chỉnh qua nội soi khớp.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy nội soi là phương pháp ít xâm lấn vàđạt được nắn chỉnh di lệch mặt khớp rất tốt Nội soi cho phép nắn chỉnh mặtkhớp đến từng milimet mà không cần mở rộng khớp Tuy nhiên nội soi tronggãy xương phức tạp hơn nội soi khớp cổ tay thông thường rất nhiều: quan sátkhó, các biến chứng do thoát dịch vào mạch máu có thẻ xảy ra, đòi hỏi cao vềtrang thiết bị và kĩ thuật

1 5.2.6 Xuyên kim qua ổ gãy theo kỹ thuật Kapandji

Đây là phẫu thuật phổ biến, đáng tin cậy để điều trị gãy đầu dưới xươngquay ngoại khớp Cách thức phẫu thuật đơn giản, dễ thực hiện, thời gian phẫuthuật ngắn (khoảng 10 - 15 phút), chi phí ít

Trang 12

Phẫu thuật này được Al.Kapandji mô tả lần đầu tiên năm 1976 Đầutiên nắn kín ổ gãy, sau đó xuyên 2 hoặc 3 kim Kirschner qua ổ gãy sau khi mởđường nhỏ bóc tách bảo vệ thần kinh và mạch máu Các kim Kirschner tạothành các chốt chặn ngăn di lệch thứ phát

1.6 Biến chứng

Biến chứng bao gồm: tổn thương thần kinh giữa, viêm khớp cổ tay vàquay trụ, cứng các khớp ngón tay, đứt gân, rối loạn dinh dưỡng, thậm chí hộichứng Wolkmann Một vài biến chứng là do điều trị hơn là tổn thương banđầu

1.6.1 Tổn thương thần kinh giữa.

Tổn thương thần kinh giữa tạm thời do đụng dập hoặc căng giãn quámức liên quan đến loại gãy, mức độ di lệch ban đầu, nắn xương ban đầu.Ngược lại, chèn ép thần kinh giữa lâu dài thường do can lệch, nhất là can lệchgập góc ra sau nhiều

1 6 2 Rối loạn dinh dưỡng

Là hiện tượng rối loạn vận mạch thần kinh gây rối loạn lưu thông máucục bộ ở chi xuất hiện sau chấn thương hoặc viêm tấy Nguyên nhân gây rốiloạn lưu thông máu qua ổ gãy như đau - gây co thắt mạch và ứ đọng máu dophù nề hay bột quá chặt Dự phòng bằng cách nắn nhẹ nhàng không gây đau,tập vận động chủ động sớm không gây đau giúp phục hồi lưu thông máu qua

ổ gãy

Hiệp hội nghiên cứu về đau (1994) đã thống nhất gọi hội chứng này làhội chứng đau vùng phức tạp Hội chứng này có hai loại: loại 1 xuất hiện sauchấn thương mà không có tổn thương thần kinh chuyên biệt nào; loại 2 xuấthiện sau tổn thương chuyên biệt Theo hiệp hội này, chẩn đoán hội chứng nàycần thỏa mãn 4 tiêu chuẩn sau:

- Sau 1 chấn thương đòi hỏi phải bất động

- Mức độ đau không tỷ lệ với kích thích gây đau

- Phù nề, thay đổi tưới máu chi, tiết mồ hôi bất thường ở vùng đau

Trang 13

- Loại trừ những trường hợp tiềm ẩn khác có thể cho những triệu chứng tươngtự.

Hội chứng này chia thành 3 giai đoạn, không tách biệt nhau mà có thểchồng lấp lên nhau Ban đầu có đau, tăng nhiệt độ da, phù nề, tím tái, tăngphát triển lông móng, tăng tiết mồ hôi và loãng xương có thể bắt đầu Giaiđoạn 2: phù nề, dày quanh khớp, da tím lạnh, tăng tiết mồ hôi, móng dễ gẫy,loãng xương đốm trên X quang Giai đoạn cuối: da khô, tái lạnh, teo cơ, mômềm, loãng xương lan rộng

1.6.3 Tổn thương gân

Gồm tổn thương: viêm dính gân gấp và gân duỗi, đứt gân Vận độngsớm các ngón tay phải được chú ý sau gãy đầu dưới xương quay giúp hạn chếdính gân và giảm phù nề mô mềm

Nguyên nhân thường là do thiếu máu nuôi dưỡng cục bộ hơn là do gaixương cọ mòn gân Điều trị bằng nối tận tận thường không thành công, cầnchuyển gân duỗi ngón II thay thế

1.6.5 Khớp giả

Là biến chứng hiếm gặp Nguyên nhân gồm bất động không tốt, kéo xacác mảnh gãy quá mức trong cố định ngoài Điều trị gồm ghép xương, kết hợpxương, cố định ngoài thích hợp

Trang 14

1.6.6 Thoái hóa khớp cổ tay

Biến chứng này được báo cáo khá nhiều trong gãy phạm khớp đầu dướixương quay, nhưng ít được báo cáo trong gãy kiểu Colles

1.7 Đánh giá kết quả

1.7.1 Phục hồi giải phẫu

Đánh giá phục hồi giải phẫu bằng các chỉ số trên Xquang, gồm: gócnghiêng lòng (VA), góc nghiêng trụ (UA), độ chênh quay trụ (VA) theo tiêuchuẩn của JL Haas và JY de la Caffinière [9]

Bảng 1.1 Đánh giá kết quả nắn gãy đầu dưới xương quay theo JL Haas

Xấu <0° hoặc > 30° >4mm <-10° hoặc > 20°

Để khảo sát mức độ di lệch thứ phát chúng tôi phân loại như sa:

* Với chỉ số UA và VA :

- Loại A: Thay đổi < 5°

- Loại B: Thay đổi 5 - 7°

- Loại C: Thay đổi > 7°

* Đối với UV:

- Loại A: UV thay đổi < 3mm

- Loại B: UV thay đổi 3 - 4mm

- Loại C: UV thay đổi > 4mm

Biến dạng giải phẫu trên Xquang

Trang 15

- Nhô mỏm trâm trụ (UV > 0)

- Góc nghiêng lòng (VA < 0°)

- Góc nghiêng trụ (UA < 0°)

Điểm số

12

2 - 3

0 - 6

Đánh giá chủ quan

- Rất tốt: Không đau, không giới hạn vận động bàn tay,

không mất khéo léo bàn tay

- Tốt: Thỉnh thoảng đau, giới hạn vận động nhẹ, không mất

khéo léo bàn tay

- Khá: Thỉnh thoảng có đau, giới hạn vận động, cảm giác

yếu bàn tay, ảnh hưởng nhẹ đến hoạt động hàng ngày

- Xấu: Đau, giới hạn vận động, mất khéo léo bàn tay, ảnh

hưởng hoạt động hàng ngày

0246

- Đau khớp quay trụ dưới

- Giảm lực nắm bàn tay dưới 60% so với tay lành

53221111

Trang 16

(*) Đánh giá chức năng ở đây dựa trên biên độ vận động tối thiểu cần cho chức năng bình thường (vận động hữu ích) theo Demecrit: gấp 30°, duỗi 45°, nghiêng quay 15°, nghiêng trụ 15°, sấp 50°, ngửa 50°.

* Đánh giá kết quả phục hồi chức năng

- Đánh giá chủ quan: Dựa theo bảng câu hỏi của Foster [8]

+ Đau: Không đau, đau nhẹ, đau vừa vẫn chịu được hay đau nhiều không chịuđược theo thang điểm VAS

+ Tầm vận động bàn tay: Giới hạn vận động nhiều hay ít

+ Trở lại nghề cũ, công việc bị giới hạn, đổi nghề, không làm việc được

+ Mức độ hài lòng

- Đánh giá khách quan:

+ Biên độ vận động đo bằng thước đo góc

+ Sức nắm bàn tay đo bằng dụng cụ đo sức nắm

Chương 2

Trang 17

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.

- Tất cả bệnh nhân gãy đầu dưới xương quay được điều trị bằng kéo nắn

bó bột tại bệnh viện đa khoa Tân Yên từ ngày 01/3/2018 đến30/8/2018

- Thông tin lâm sàng, cận lâm sàng, khám lại đầy đủ

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Gãy đầu dưới xương quay phạm khớp, gãy nát đầu dưới xương quay,gãy xương bệnh lý (k xương, u xương…)

- Bệnh nhân có dị tật cũ, đã mất một phần chức năng cổ bàn tay

- Bệnh nhân tâm thần, chấn thương sọ não có rối loạn tri giác, không hợptác điều trị

- Thông tin không đầy đủ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả;

- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, có tham khảo hồ sơ bệnh án và các sổsách ghi chép có liên quan

2.2.2 Cỡ mẫu:

Toàn thể bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ như trêntrong thời gian tiến hành nghiên cứu từ ngày 01/03/2018 đến 30/08/2018

2.3.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Các thông tin thu thập theo mẫu phiếu thống nhất

- Khám bệnh nhân trước khi kéo nắn

- Hẹn khám lại bệnh nhân sau thay bột theo mẫu phiếu nghiên cứu tuầnthứ 2, sau bó bột tròn kín và tuần thứ 4, trước khi tháo bột và sau 6 tuần

2.3.3.2 Công cụ nghiên cứu để xác định các chỉ số VA, UA, UV

- Thước đo góc

- Dụng cụ đo sức nắm bàn tay Oleayang

Trang 18

Hình 2.1 Thước đo góc

Hình 2.2 Dụng cụ đo sức nắm bàn tay 2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Các chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

Trang 19

- Đặc điểm phân bố tổn thương

- Tổn thương phối hợp

2.3.2 Các chỉ số XQ trước khi kéo nắn bó bột:

- Góc nghiêng lòng (VA)

- Góc nghiêng trụ (UA)

- Độ chênh quay - trụ (UV)

* Các chỉ số XQ sau khi kéo nắn bó bột:

- Góc nghiêng lòng (VA)

- Góc nghiêng trụ (UA)

- Độ chênh quay - trụ (UV)

2.3.3 Đánh giá sau kéo nắn bó bột 4 tuần

+ Đánh giá kết quả phục hồi giải phẫu

+ Dựa vào các chỉ số Xquang:

- Góc nghiêng trụ (UV)

- Góc nghiêng lòng (VA)

- Độ chênh quay trụ (UA)

2.3.4 Đánh giá khả năng phục hồi giải phẫu theo Hass JL và de la Caffinière Khảo sát mức độ di lệch thứ phát theo cách chia của Motier:

* Với chỉ số UA và VA :

- Loại A: Thay đổi ≤ 5°

- Loại B: Thay đổi 5 - 7°

- Loại C: Thay đổi > 7°

* Đối với UV:

- Loại A: UV thay đổi < 3mm

- Loại B: UV thay đổi 3 - 4mm

- Loại C: UV thay đổi > 4mm

2.3.5 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng

2.3.5.1.Đánh giá chủ quan:

- Đau: Không đau, đau nhẹ, đau vừa vẫn chịu được hay đau nhiều không chịuđược theo thang điểm VAS

- Tầm vận động bàn tay: Giới hạn vận động nhiều hay ít

- Trở lại nghề cũ, công việc bị giới hạn, đổi nghề, không làm việc được

- Mức độ hài lòng

2.3.5.2.Đánh giá khách quan

- Biên độ vận động đo bằng thước đo góc

- Sức nắm bàn tay đo bằng dụng cụ đo sức nắm

Trang 20

2.3.5.3 Đánh giá khả năng phục hồi chức năng theo hệ thống đánh giá của Gartland và Werley.

2.4 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tiến hành tại Ngoại - Bệnh viện Đa khoahuyện Tân Yên

2.5 Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm spss 20.0

2.6 Đạo đức nghiên cứu

Đây là nghiên mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang, có tham khảo hồ sơbệnh án Mọi thông tin nghiên cứu đều được đảm bảo giữ bí mật nên không cóvấn đề vi phạm đạo đức trong nghiên cứu này

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:

3.1.1 Tuổi:

Biểu đồ 3.1 phân bố bệnh nhân theo tuổi

Nhận xét: Nhóm tuổi từ 7 đến 18 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất

Trang 21

Nhóm dưới 6 tuổi và nhóm tuổi từ 31 đến 45 chiếm tỉ lệ thấp nhất.

3.1.2 Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới tính

Bảng 3.1 Bảng phân bố bệnh nhân theo giới tính

Nhận xét: Nhóm tuổi từ 7 đến 18 tuổi chiểm tỉ lệ cao nhất 29/58 ca;

trong nhóm này tỉ lệ nam chiếm đa số(tỉ lệ nam/nữ là 23/6)

3.1.2.1 Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới tính

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân nam chiếm 59% ; tỉ lệ bệnh nhân nữ chiếm 41%;

Trang 22

3.1.2.2 Phân bố theo giới tính theo nhóm tuổi

Biểu đồ 3.3 Mối tương quan giữa tuổi và giới

Nhận xét: Nhóm từ 7 đến ≤18 tuổi đa số là bệnh nh ân nam, cụ thể

nam/ nữ là 23/6, nhóm từ 46 đến dưới 60 và trên 60 tuổi đa số là nữ

3.1.3 Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp

Biểu đồ 3.4 Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp

Nhận xét: Nhóm học sinh, sinh viên chiếm tỉ lệ 60% tổng số ca bệnh 3.1.4 Nguyên nhân chấn thương

Bảng 3.2 Nguyên nhân chấn thương

Nguyên nhân chấn thương Tổng số BN Tỷ lệ %

Ngày đăng: 26/04/2023, 22:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Học viện Quân y 2006 “Bệnh học chấn thương chỉnh hình” (trang 55-60) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học chấn thương chỉnh hình
Tác giả: Học viện Quân y
Năm: 2006
3. Nguyễn Trọng Tín (1993), “Nhận xét bước đầu phương pháp găm kim qua khe gãy trong điều trị gãy đầu dưới xương quay theo Kapandji”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú chuyên nghành CTCH. Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét bước đầu phương pháp găm kim qua khe gãy trong điều trị gãy đầu dưới xương quay theo Kapandji
Tác giả: Nguyễn Trọng Tín
Nhà XB: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
4. Vũ Xuân Thành (2007), “Điều trị gãy đầu dưới xương quay bằng nẹp ốc”, Luận vănThạc Sỹ. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị gãy đầu dưới xương quay bằng nẹp ốc
Tác giả: Vũ Xuân Thành
Nhà XB: Luận văn Thạc Sỹ
Năm: 2007
5. Lê Ngọc Quyên, Huỳnh Chí Hùng, Vũ Tam Trực (2011). Khảo sát các chỉ số của đầu dưới xương quay và khớp quay trụ dưới trên X quang. Kỷ yếu HNKH lần X Hội Phẫu thuật bàn tay TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các chỉ số của đầu dưới xương quay và khớp quay trụ dưới trên X quang
Tác giả: Lê Ngọc Quyên, Huỳnh Chí Hùng, Vũ Tam Trực
Nhà XB: Kỷ yếu HNKH lần X Hội Phẫu thuật bàn tay TPHCM
Năm: 2011
6. Nguyễn Quang Quyền (1997). Chi trên. Bài giảng giải phẫu học, NXB Y Học, 24-103.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi trên
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 1997
7. Cooney W.P. (1996). Fractures of the distal radius. Fractures in Alults, Lippincott-Raven, 796 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fractures of the distal radius
Tác giả: Cooney W.P
Nhà XB: Lippincott-Raven
Năm: 1996
8. Foster D.E., Kopta J.A. (1986). Update on external fixators in the treatment of wrist fractures. Clin Orthop Relat Res. (204), 177-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Update on external fixators in the treatment of wrist fractures
Tác giả: Foster D.E., Kopta J.A
Nhà XB: Clin Orthop Relat Res
Năm: 1986
9. Haas J., de la Caffinière J. (1995). Fixation of distal radial fractures:intramedullary pinning versus external fixation. Fractures of distal radius, Lippincott Company: Philadelphia, 229-239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fractures of distal radius
Tác giả: Haas J., de la Caffinière J
Nhà XB: Lippincott Company
Năm: 1995
10. Nellans K.W., Kowalski E., Chung K.C. (2012). The epidemiology of distal radius fractures. Hand Clin. 28 (2), 113-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The epidemiology of distal radius fractures
Tác giả: Nellans K.W., Kowalski E., Chung K.C
Nhà XB: Hand Clin.
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w