HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNGBÀI TẬP LỚN ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ TRẠNG THÁI THANH KHOẢN CỦA 1 NHTM VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN GẦN ĐÂY YÊU CẦU 2 MÔN HỌC: QUẢN
Quy trình quản trị thanh khoản tại BIDV
Tổ chức quản lý thanh khoản tại BIDV
Hội Sở Chính chịu trách nhiệm quản lý thanh khoản toàn hệ thống theo nguyên tắc quản lý vốn tập trung Quá trình này diễn ra hàng ngày dựa trên chiến lược của ban quản trị và các chính sách, quy định về giới hạn do hội đồng quản lý rủi ro quyết định Mỗi chi nhánh sẽ có quy định riêng về quản lý thanh khoản Ngân hàng áp dụng kết hợp hai phương pháp quản lý thanh khoản: phương pháp tĩnh và phương pháp động.
Hội đồng ALCO và ban điều hành ngân quỹ có trách nhiệm đánh giá định tính và định lượng thanh khoản, xây dựng khung quản lý rủi ro thanh khoản, cũng như giám sát các rủi ro liên quan đến thanh khoản.
Nguyên tắc quản lý thanh khoản
- BIDV quản lý thanh khoản hàng ngày nhằmđảm bảo khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán của BIDV tại mọi thời điểm
- BIDV quản lý rủi ro thanh khoản riêng theo Việt Nam Đồng và Đô là
Mỹ, đáp ứng đồng thời các yêu cầu quản lý tỷ lệ khả năng chi trả đối với các loại tiền theo quy định của NHNN
- Đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro tổng thể của Ngân hàng
Quy trình quản lý thanh khoản tại BIDV
1.3.1 Quy trình quản lý thanh khoản theo định kì Để dự báo cung cầu thanh khoản cho một khoảng thời gian trong tương lại định kỳ (thường là tháng, quý), ngân hàng thống kê số liệu và dự báo theo các bước sau:
Bộ phận giao dịch và các phòng nghiệp vụ cần báo cáo tình hình huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ để phòng quản trị có thể tính toán cung cầu thanh khoản Đồng thời, bộ phận quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp phải nắm bắt thông tin thị trường và báo cáo để dự đoán sự thay đổi của lãi suất, tỉ giá và xu hướng kinh tế.
- Bước 2: Lập báo cáo và phân tích rủi ro thanh khoản
- Bước 3: Kiến nghị với hội đồng ALCO về thanh khoản.
- Bước 4: Ra quyết định và thực hiện quyết định thanh khoản.
1.3.2 Quy trình quản lý thanh khoản hàng ngày Đối với việc quản lý thanh khoản hàng ngày, thì ngay đầu tuần làm việc bộ phận quản lý thanh khoản của ngân hàng sẽ lập báo cáo cung cầu thanh khoản, lập các chỉ số thanh khoản và đánh giá tình hình thanh khoản trong tuần Sau đó xem xét xác định mức dư thừa hay thiếu hụt thanh khoản
Bộ phận giao dịch luôn kiểm tra và đảm bảo thực hiện đầy đủ dự trữ bắt buộc, đồng thời tuân thủ các tỷ lệ an toàn thanh toán theo quy định của ngân hàng nhà nước Ngân hàng thường xuyên kiểm tra số dư tài khoản NOSTRO của từng loại tiền tệ để đảm bảo rằng số dư không bị âm.
1.3.3 Thông báo lượng tiền thanh toán lớn Để thực hiện chiến lực thanh khoản định kỳ khi thực hiện quản lý thanh khoản hàng ngày, trước hết bộ phận giao dịch của ngân hàng phải thông báo lệnh thanh toán đối với những khoản tiền lớn của chi nhánh về hội sở chính cụ thế như sau :
- Đối với những khoản thanh toán tiền nhỏ hơn 50 tỉ VND, 500.000USD,200.000EUR: Chi nhánh không cần thông báo về Hội sở chính.
- Đối với những khoản thanh toán tiền lớn hơn 50 tỉ VND, 500000USD, 200.000EUR: phải báo cho hội sở chính trước 10h sáng trong ngày hiệu lực.
Các khoản tiền từ 200 tỉ VND đến 300 tỉ VND, từ 1 triệu USD đến 2 triệu USD, và từ 1 triệu EUR đến 2 triệu EUR cần phải được thông báo trước ít nhất 1 ngày làm việc trước ngày thanh toán.
- Những khoản tiền trên 300 tỉ VND, trên 2 triệu USD, trên 1 triệu EUR: Phải thông báo trước ngày thanh toán ít nhất 2 ngày làm việc.
- Đối với ngoại tệ khác: Chi nhánh thông báo lệnh thanh toán trước ít nhất 1 ngày làm việc.
- Chi nhánh phải báo về hội sở chính đối với khoản tiền về từ 200tỉ, 1 triệu USD, 500.000 EUR: trở lên hoặc các loại ngoại tệ khác tương ứng.
1.3.4 Xử lý khi dư thừa thanh khoản Đối với dư thừa thanh khoản ngắn hạn (ít hơn 6 tháng): Ngân hàng có thể thực hiện đầu tư tiền gửi liên ngân hàng, cho vay các TC tín dụng, mua Giấy Tờ
Ngân hàng có thể tăng cường cho vay và mua giấy tờ có giá dài hạn khi có dư thừa thanh khoản dài hạn (trên 6 tháng) Nếu tình trạng dư thừa này vẫn tiếp diễn sau khi thực hiện các biện pháp trên, ngân hàng sẽ xem xét kế hoạch giảm nguồn vốn huy động và vốn đi vay.
1.3.5 Xử lý khi thiếu hụt thanh khoản
BIDV xây dựng chính sách huy động vốn nhằm khai thác hiệu quả các nguồn vốn trong điều kiện kinh doanh bình thường và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn trong tình huống khó khăn về thanh khoản Chính sách này đảm bảo nguyên tắc đa dạng hóa nguồn vốn, duy trì ổn định và khả năng tiếp cận nguồn vốn nhanh chóng khi gặp khó khăn về thanh khoản.
Ngân hàng thiết lập các giới hạn và mức độ thiếu hụt thanh khoản để có biện pháp xử lý phù hợp Cụ thể, giới hạn về khe hở thanh khoản tích lũy so với tổng tài sản được phân chia thành ba mức: thiếu hụt cao, thiếu hụt thấp và không thiếu hụt, nhằm phản ánh mức độ thiếu hụt thanh khoản.
Khi thanh khoản thiếu hụt ở mức thấp, ngân hàng thực hiện các biện pháp sau:
Trong trường hợp thiếu hụt trong vài ngày tới (từ 1-7 ngày), ngân hàng cần theo dõi và kiểm soát số dư tài khoản NOSTRO một cách thường xuyên Ngân hàng cũng phải thận trọng khi thực hiện các nghiệp vụ đầu tư vào giấy tờ có giá, mua ngoại tệ, hoặc đầu tư tiền gửi liên ngân hàng, đồng thời tiếp tục nhận tiền gửi từ các tổ chức tín dụng.
Trong khoảng thời gian từ 7 ngày đến 1 tháng tới, ngân hàng sẽ hạn chế các hoạt động đầu tư vào tiền gửi liên ngân hàng có kỳ hạn trên 7 ngày, đầu tư vào giấy tờ có giá dài hạn và mua ngoại tệ kỳ hạn Đồng thời, ngân hàng cũng sẽ tăng cường huy động vốn ngắn hạn từ khách hàng.
Trong 1 đến 6 tháng tới, sẽ có sự thiếu hụt, dẫn đến việc hạn chế đầu tư vào tiền gửi liên ngân hàng có kỳ hạn trên 1 tháng, cũng như hạn chế đầu tư vào giấy tờ có giá và mua ngoại tệ có kỳ hạn trên 1 tháng.
Khi thiếu hụt ở mức cao:
Trong vài ngày tới, ngân hàng sẽ ngừng đầu tư vào tiền gửi liên ngân hàng, giấy tờ có giá và mua ngoại tệ Họ sẽ thực hiện vay ngắn hạn từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, đồng thời bán bớt giấy tờ có giá và ngoại tệ, tạm thời ngưng giải ngân tín dụng.
Trong 7 ngày đến 1 tháng tới, ngân hàng sẽ không đầu tư vào tiền gửi liên ngân hàng, giấy tờ có giá và ngoại tệ Thay vào đó, họ sẽ vay ngắn hạn từ NHNN và TCTD, cũng như bán tài sản thanh khoản Đồng thời, ngân hàng sẽ tích cực huy động vốn ngắn hạn từ khách hàng.
Thực trạng hoạt động quản trị thanh khoản của BIDV giai đoạn 2013 - 2015
Chỉ số trạng thái tiền mặt
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Tiền mặt + tiền gửi tại các TCTD 37.872.566 41.732.614 28.307.566
Chỉ số trạng thái tiền mặt 6,90% 6,41% 3,32%
Tỉ lệ tiền mặt và tiền gửi cao giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời, điều này trở nên quan trọng khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Trước đây, các ngân hàng thương mại thường không chú trọng đến thanh khoản, thậm chí có thời điểm cho rằng vốn dư thừa Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút tiền gửi, một số ngân hàng đã phải vay qua đêm với lãi suất cao để duy trì khả năng thanh khoản Nếu tỉ lệ tiền mặt quá cao, lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng do tiền mặt không sinh lời Chỉ số trạng thái tiền mặt của BIDV dao động từ 3% đến 6%, trong khi quy chuẩn là 2-3% Trong giai đoạn 2013-2014, chỉ số này của BIDV cao hơn mức trung bình, gần 7%, dẫn đến việc ngân hàng đã giảm xuống còn 3,3% vào năm 2015 do tiền mặt và tiền gửi giảm trong khi tổng tài sản tăng.
BIDV đã chuyển sang nắm giữ các công cụ có tính sinh lời cao hơn góp phần tăng lợi nhuận.
Chỉ số năng lực cho vay
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Chỉ số năng lực cho vay 70,0% 67,5% 69,41%
Chỉ số này phản ánh năng lực cho vay của ngân hàng Năng lực cho vay của BIDV năm 2013 là 70%, giảm nhẹ vào năm 2014 còn 67,5% và đến năm
Chỉ số cho vay của BIDV hiện ở mức cao khoảng 70%, vượt trội so với Viettinbank (49%) và MB (42%) Tuy nhiên, tín dụng và cho thuê tài chính là tài sản ít thanh khoản, do đó, mức 70% của BIDV không đảm bảo an toàn cho thanh khoản Để tăng cường an toàn, ngân hàng nên duy trì chỉ số cho vay dưới 50% trong thời gian tới.
Chỉ số năng lực cho vay cao của BIDV phản ánh sự gia tăng dư nợ qua các năm, điều này có thể liên quan đến chính sách cho vay của ngân hàng Tuy nhiên, cần theo dõi chặt chẽ để đảm bảo khả năng sinh lợi và an toàn cho hoạt động của ngân hàng.
Chỉ số tiền gửi thường xuyên
2013 2014 2015 Tiền gửi thường xuyên 338.902.132 440.471.589 564.583.061 Tổng tài sản 548.386.083 650.340.373 850.669.649 Chỉ số tiền gửi thường xuyên 61,6% 67,6% 66,3%
Trong giai đoạn 2013-2015, tổng tài sản của BIDV đã tăng trưởng mạnh mẽ, với mức tăng 18% trong năm 2014 so với năm 2013 và 30% trong năm 2015 so với năm 2014 Mặc dù chỉ số tiền gửi thường xuyên giảm gần 4% vào năm 2015, nhưng sự tăng trưởng của tiền gửi thường xuyên trong ba năm cho thấy niềm tin của người dân vào BIDV Sau những biến động lãi suất năm 2011, NHNN đã can thiệp để hạ lãi suất huy động, nhưng BIDV vẫn duy trì tỷ lệ tiền gửi trên 60% vào năm 2013 và tiếp tục tăng trong năm 2014, điều này thể hiện thành công của ngân hàng Tuy nhiên, ngân hàng cần cân nhắc chi phí huy động vốn và thu nhập lãi để đảm bảo lợi nhuận.
Trong thời gian tới, BIDV nên tiếp tục duy trì chỉ số này cũng là để đảm bảo an toàn cho hoạt động toàn hệ thống.
Chỉ số Cấu trúc Tiền gửi
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Tiền gửi không kỳ hạn 99.260.312 117.626.175 150.547.274
Tiền gửi có kỳ hạn 184.112.455 300.646.176 294.911.175
Chỉ số cấu trúc tiền gửi 53,6% 38,9% 52,9%
Chỉ số cấu trúc tiền gửi của BIDV cho thấy sự biến động trong giai đoạn 2013 đến 2015, với mức cao nhất là 53,6% vào năm 2013, giảm xuống 38,9% vào năm 2014, nhưng lại tăng lên 52,9% vào năm 2015 Điều này phản ánh nhu cầu thanh khoản luôn ở mức cao, do tỷ trọng lớn của các khoản tiền gửi không kỳ hạn, mà khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào Ngân hàng cần chuẩn bị sẵn thanh khoản để đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng trong từng giai đoạn.
Tiền gửi có kỳ hạn của ngân hàng ngày càng tăng, thể hiện niềm tin của khách hàng và các chính sách hợp lý của ngân hàng Mặc dù chỉ số này cao cho thấy chi phí vốn huy động của ngân hàng thấp, nhưng tỷ lệ cơ cấu tiền gửi của BIDV đang giảm, giúp giảm gánh nặng thanh khoản, trong khi chi phí huy động trung bình lại tăng lên.
Chỉ số Tín dụng/Tiền gửi
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Chỉ số tín dụng/tiền gửi của BIDV đạt 110,02%, cho thấy ngân hàng có khả năng tự huy động và cho vay cao Năm 2013, chỉ số này đạt đỉnh 110,2%, cho thấy dư nợ vượt quá nguồn huy động Đến năm 2015, chỉ số này vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh sự tự chủ trong hoạt động tài chính của ngân hàng.
Chỉ số 100,8% cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng đang thấp, nhưng lại hứa hẹn lợi nhuận cao Theo tiêu chuẩn quốc tế, chỉ số này nên duy trì ở mức 80% Do đó, BIDV cần giảm chỉ số này bằng cách giảm dư nợ tín dụng trong thời gian tới.
Chỉ số cao cho thấy ngân hàng thiếu năng động trong phát triển sản phẩm và nguồn thu nhập, dẫn đến rủi ro thanh khoản Để cải thiện tình hình, ngân hàng cần đa dạng hóa dịch vụ và tìm kiếm các nguồn đầu tư ngoài tín dụng, nhằm tăng doanh thu và giảm áp lực thanh khoản từ hoạt động tín dụng.
Chỉ số Cam kết Tín Dụng/Tổng Tài Sản
Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Chỉ số cam kết tín dụng/ tổng TS 31.8% 54% 41,7%
Tỷ lệ cam kết tín dụng tăng cao qua các năm yêu cầu ngân hàng phải luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của người vay Việc duy trì chỉ số này ở mức cao làm gia tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng Do đó, trong thời gian tới, ngân hàng nên xem xét giảm tỷ lệ này xuống mức hợp lý để giảm thiểu các rủi ro thanh khoản có thể xảy ra.
Đánh giá tình hình thanh khoản của BIDV qua các năm
Thành tựu
BIDV đã triển khai cơ chế quản lý vốn tập trung, giúp nâng cao năng lực và vị thế của ngân hàng Điều này cũng tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát và quản lý các rủi ro liên quan đến quản trị vốn, đặc biệt là trong công tác quản lý thanh khoản.
BIDV đã chuyển sang mô hình quản lý vốn tập trung, khác với mô hình phân tán và bán tập trung trước đây, cho phép các chi nhánh hoạt động độc lập trong việc huy động và cho vay Trong trường hợp chi nhánh thừa vốn, họ sẽ gửi phần vốn dư thừa về Hội sở chính, trong khi chi nhánh thiếu vốn sẽ vay từ Hội sở Mô hình này đi kèm với cơ chế “vay – gửi”, trong đó mỗi chi nhánh được xác định một hạn mức “vay” theo mục đích sử dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đồng thời hỗ trợ lãi suất.
Việc quản trị vốn toàn ngành tập trung tỏ rõ ưu điểm tại BIDV như:
Vốn của toàn ngành được quản lý tập trung tại Hội sở chính, đảm bảo tính nhất quán và công bằng cho các chi nhánh Chỉ số cho vay/tiền gửi của BIDV luôn duy trì ở mức cao nhờ vào khả năng huy động vốn hiệu quả và hoạt động cho vay thành công Điều này phản ánh sự nhất quán trong quản trị toàn hệ thống, góp phần đạt được những kết quả ấn tượng.
Vốn được quản lý tập trung nhằm cân đối một cách hiệu quả nhất cho các mục tiêu sử dụng vốn theo định hướng.
Hạn chế
Công tác thanh khoản tại các ngân hàng, đặc biệt là BIDV, luôn được ưu tiên hàng đầu để ứng phó với biến động kinh tế Xu hướng quản trị thanh khoản hiện nay đang hướng tới quốc tế hóa, tuy nhiên cần thêm thời gian để hoàn thiện quy trình và bộ máy BIDV đã gặp phải một số vấn đề tồn tại trong quản lý thanh khoản trong những năm qua.
Sự phối hợp giữa các đơn vị trong quản trị thanh khoản chưa đạt hiệu quả mong muốn, mặc dù thanh khoản là vấn đề quan trọng của toàn hệ thống, không chỉ riêng từng chi nhánh Các chi nhánh cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thanh khoản, nhưng thực tế cho thấy sự phối hợp giữa các chi nhánh vẫn còn hạn chế, có thể do áp lực về lợi nhuận và thành tích của từng chi nhánh.
BIDV chưa xây dựng được một chiến lược thanh khoản hiệu quả và bền vững, chủ yếu tập trung vào các mục tiêu thanh khoản ngắn hạn Việc thiếu báo cáo phân tích rõ ràng về tình hình kinh tế vĩ mô đã dẫn đến việc chưa có chiến lược huy động và cho vay hiệu quả cho tương lai.
Vai trò của ALCO còn mờ nhạt, chưa thực sự hiệu quả
BIDV chưa áp dụng các phân tích định lượng dựa trên giả định thanh khoản như các ngân hàng nước ngoài, dẫn đến việc thiếu các mô hình dự báo kịch bản và chiến lược thanh khoản hiệu quả Hiện tại, ngân hàng chủ yếu tập trung vào thanh khoản ngắn hạn, trong khi các báo cáo thanh khoản thường có độ trễ lớn, gây cản trở cho công tác điều hành.
Giải pháp
Đảm bảo vốn tự có và nâng cao chất lượng nguồn vốn từ nguồn ngân sách nhà nước
Ngân hàng thương mại cần duy trì mức vốn tự có hợp lý, phù hợp với quy mô và phạm vi hoạt động Để đạt được mức vốn cần thiết, các ngân hàng nên xây dựng phương án tăng vốn và thực hiện phát hành giấy tờ có giá, đồng thời điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực rủi ro như chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng Ngân hàng cũng cần duy trì tỷ lệ dự trữ hợp lý, bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và các tài sản lỏng cao, nhằm đảm bảo tuân thủ quy định về dự trữ bắt buộc và ứng phó với dòng tiền ra Sự kết hợp giữa dự trữ sơ cấp và thứ cấp sẽ giúp ngân hàng chủ động quản lý rủi ro thanh khoản và tạo ra thu nhập hợp lý.
Hệ số an toàn vốn CAR của BIDV trong nửa cuối năm 2015 và đầu năm
Năm 2016, tỷ lệ vốn tự có của BIDV được công bố là 9,5%, cao hơn mức tối thiểu 9%, nhờ vào tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ trong các năm 2013, 2014 và 2015 Để ngăn ngừa rủi ro thanh khoản, việc tăng vốn tự có trở thành một giải pháp cấp thiết Tuy nhiên, việc phát hành thêm cổ phần để tăng vốn tự có trong ngắn hạn gặp khó khăn do tâm lý dè dặt của nhà đầu tư và tình hình thị trường ảm đạm Do đó, giải pháp khả thi nhất hiện nay là tăng vốn tự có thông qua ngân sách nhà nước, mặc dù điều này còn phụ thuộc vào ngân sách của Ngân hàng Nhà nước, nhưng vẫn là lựa chọn tốt nhất trong bối cảnh hiện tại.
Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ
Việc cơ cấu lại tài sản nợ và tài sản có là rất quan trọng để quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) Các ngân hàng cần xem xét lại cơ cấu danh mục tài sản nợ và tài sản có nhằm hạn chế rủi ro, bao gồm việc điều chỉnh nguồn vốn huy động và cho vay trên thị trường, cũng như cân đối giữa cho vay ngắn hạn và trung hạn Rủi ro thanh khoản cần được gắn liền với rủi ro thị trường trong quản trị Tình trạng mất cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ của BIDV thể hiện qua chênh lệch thanh khoản ròng lớn, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn, khi mà phần lớn nguồn vốn huy động có thời hạn ngắn trong khi tỷ trọng cho vay trên 1 năm lại cao Tuy nhiên, việc cơ cấu tỷ lệ tài sản có và tài sản nợ còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô và chính sách của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Hướng đi phát triển bán lẻ của BIDV đã chứng minh tính đúng đắn khi dư nợ cho vay dài hạn của ngân hàng này đạt mức cao, trong bối cảnh các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả BIDV đang tìm kiếm lợi nhuận từ các dịch vụ bán lẻ để bù đắp cho phần lợi nhuận, đồng thời tăng cường thanh khoản và giảm sự phụ thuộc vào tín dụng.
Tăng cường công tác dự báo
Sự thay đổi trong điều kiện kinh tế vĩ mô có thể tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) Khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, như tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất cơ bản, khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam gặp khó khăn Trước đó, một số ngân hàng đã trải qua tình trạng dư thừa vốn và giảm lãi suất huy động, nhưng khi điều kiện kinh tế thay đổi, họ trở nên lúng túng Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác dự báo kinh tế tại các ngân hàng.
Nâng cao chất lượng dự báo các biến động dài hạn là cần thiết để ứng phó hiệu quả với những cú sốc bất ngờ trong nền kinh tế Hiện tại, dự báo và chuẩn bị cho các kịch bản thanh khoản chủ yếu tập trung vào ngắn hạn, do đó cần phát triển các dự báo dài hạn dựa trên mô hình định lượng.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá nội bộ
Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ là cần thiết để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các rủi ro tiềm ẩn Tuy nhiên, cần tránh việc quá chú trọng vào kiểm tra, kiểm soát, vì điều này có thể làm giảm tính sáng tạo trong công việc Việc xây dựng hệ thống khuyến khích hiệu quả thông qua mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, cùng với cơ chế khen thưởng và xử phạt nội bộ, sẽ thúc đẩy người lao động làm việc năng động, sáng tạo và đạt năng suất, chất lượng cao.
Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm toán nội bộ bằng cách định kỳ đánh giá hoạt động kinh doanh, tập trung vào các rủi ro chiến lược và rủi ro hoạt động Qua đó, bộ phận kiểm toán nội bộ sẽ đưa ra các khuyến nghị cho cấp quản lý để rà soát, xác định và giải quyết các vấn đề Để thực hiện điều này, yêu cầu bộ phận kiểm toán nội bộ phải có hiểu biết toàn diện về hoạt động ngân hàng cũng như các vấn đề pháp lý và quy định liên quan.
Để nâng cao năng lực lãnh đạo của các chi nhánh trong toàn hệ thống, cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện mục tiêu thanh khoản, thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận.
Hoàn thiện và đổi mới công tác quản trị rủi ro thanh khoản
Cải thiện hệ thống báo cáo giúp Ban lãnh đạo nắm bắt chi tiết tình trạng vốn tại ngân hàng, đặc biệt là thời gian của các nguồn cung cầu thanh khoản Việc áp dụng mô hình quản lý theo kỳ hạn cho các dòng tiền vào và ra sẽ nâng cao hiệu quả trong việc cập nhật thông tin.
Cần hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro thanh khoản để đảm bảo bộ phận quản trị rủi ro luôn nhận được thông tin kịp thời và chính xác Đồng thời, cần tổ chức bộ máy giám sát nhằm đảm bảo bộ phận quản trị thanh khoản hoạt động hiệu quả.
Để quản lý rủi ro lãi suất khe hở lãi suất hiệu quả, cần hoàn thiện các quy định về huy động và cho vay, đặc biệt là huy động và cho vay trung dài hạn theo lãi suất thị trường Cần có giải pháp khoa học để ngăn chặn tình trạng khách hàng rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có đối thủ đưa ra lãi suất hấp dẫn hơn Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vay vốn ngân hàng không trả nợ đúng hạn vì lo ngại khó vay lại sau khi trả nợ, dẫn đến việc họ chấp nhận chịu phạt lãi suất quá hạn, điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Ngoài ra, có thể áp dụng phương pháp rủi ro thanh khoản của SMBC là
“công khai thông tin nhằm tăng khả năng thanh khoản”.
Xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp
Nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngành ngân hàng (NH) phụ thuộc vào việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay, nhiều NH tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong quản lý và ứng dụng công nghệ Để khắc phục vấn đề này, các NH cần đầu tư vào công nghệ đồng thời tạo môi trường học tập cho nhân viên, tổ chức đào tạo chuyên sâu và có cơ chế thưởng phạt hợp lý Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giáo dục đạo đức nghề nghiệp là điều cấp thiết để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững cho ngành NH.
Về công nghệ
- Tăng năng lực cung ứng sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao
- Hỗ trợ thông tin quản lý liên tục, kịp thời cho các cấp
- Đảm bảo an toàn cho hệ thống khi vận hành
Nâng cao công tác quảng cáo hình ảnh, thương hiệu Ngân hàng
Ngân hàng nên tập trung vào việc đổi mới hình ảnh thương hiệu để tạo ấn tượng và xây dựng lòng tin với khách hàng Bên cạnh đó, ngân hàng cũng nên tham gia các cuộc thi về thương hiệu doanh nghiệp để cung cấp thông tin hữu ích về dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
Việc triển khai thành công sản phẩm dịch vụ thẻ không chỉ khẳng định sự tiên tiến về công nghệ của ngân hàng mà còn giúp định vị thương hiệu của ngân hàng đó.
Trong hệ thống ngân hàng, rủi ro từ một hoặc hai ngân hàng có thể lây lan sang các ngân hàng khác, do đó, các ngân hàng thương mại (NHTM) cần chú trọng đến quản trị thanh khoản Để đối phó với rủi ro hệ thống, việc xây dựng chiến lược quản trị thanh khoản là rất quan trọng Các NHTM cần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh và tạo sự liên kết thống nhất giữa các ngân hàng để đảm bảo an toàn thanh toán, đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Phân tích hoạt động quản trị danh mục đầu tư của BIDV 1 Quy trình quản trị danh mục đầu tư
Thực trạng quản trị danh mục đầu tư tại BIDV giai đoạn 2013 -2015
Danh mục đầu tư của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV chủ yếu gồm : chứng khoán và các công cụ đầu tư khác
- Chứng khoán gồm chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư
- Các công cụ đầu tư khác gồm : kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi
CDs được thể hiện ở khoản mục “ Phát hành giấy tờ có giá” của thuyết minh BCTC
Chứng khoán kinh doanh là loại chứng khoán mà ngân hàng mua vào với kế hoạch bán ra trong thời gian ngắn, nhằm mục đích thu lợi từ sự chênh lệch giá Đơn vị tính là triệu VND.
Chứng khoán do các TCTD khác phát hành
Chứng khoán vốn do các
Chứng khoán vốn do các
Ngân hàng BIDV chủ yếu đầu tư vào chứng khoán nợ, với khoản mục này luôn chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục chứng khoán kinh doanh Chứng khoán kinh doanh bao gồm nhiều loại hình khác nhau.
- Chứng khoán nợ: chiếm tỷ trọng chủ yếu
Chứng khoán do các TCTD phát hành
Chứng khoán do các TCTD phát hành
Chứng khoán do các TCKT khác phát hành
Khoản mục chứng khoán nợ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chứng khoán kinh doanh, với giá trị tăng vọt vào năm 2014 gần gấp 7 lần so với năm 2013 Tỷ trọng của khoản mục này năm 2014 đạt 97,25%, tăng so với 90,53% của năm 2013, nhưng giảm nhẹ xuống 96,81% vào năm 2015, mặc dù giá trị vẫn tăng Biên độ kỳ hạn và biên độ dao động lãi suất của các chứng khoán này cũng được nới rộng, nhờ vào sự tăng mạnh về khối lượng của khoản mục chứng khoán nợ.
Vào năm 2014, khoản mục chứng khoán vốn do các TCTD phát hành đã giảm mạnh từ 3.479 triệu đồng xuống còn 96 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 97,24% Tuy nhiên, vào năm 2015, chứng khoán vốn đã tăng trở lại, gấp 12 lần so với năm 2013 và 431 lần so với năm 2014 Sự biến động này không ảnh hưởng nhiều đến quyết định đầu tư vào chứng khoán kinh doanh của BIDV, do tỷ lệ chứng khoán nợ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Nguyên nhân của việc đầu tư của BIDV vào các chứng khoán kinh doanh ( cụ thể là chứng khoán nợ ) tăng là do:
Năm 2014, thị trường chứng khoán trải qua nhiều biến động, dẫn đến sự ưa chuộng ngày càng tăng đối với chứng khoán Chính phủ Điều này chủ yếu do tính thanh khoản cao của chúng, giúp ngân hàng vừa đầu tư kiếm lời vừa đảm bảo khả năng thanh khoản.
Khi ngân hàng đầu tư và nắm giữ chứng khoán, họ phải xem xét nhiều yếu tố khác nhau để quyết định mua hay bán Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự lựa chọn của ngân hàng bao gồm: tình hình thị trường, tiềm năng sinh lời, rủi ro liên quan và các yếu tố kinh tế vĩ mô.
Tỷ suất thu lợi kỳ vọng
BIDV chủ yếu đầu tư vào hai loại chứng khoán: chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Các chứng khoán này được phân loại thành hai nhóm theo thời gian: chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán và chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn.
2.2.1 Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán Đơn vị: Triệu VND
31/12/2013 31/12/2014 31/12/2015 Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán
Chứng khoán Chính phủ 43.841.783 61.256.427 66.504.161 Chứng khoán Nợ do các TCTD khác trong nước phát hành
Chứng khoán Nợ do các TCKT trong nước phát hành
Chứng khoán vốn do các
TCTD khác trong nước phát hành
Chứng khoán vốn do các
TCKT trong nước phát hành
Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán bao gồm các chứng khoán nợ, chứng khoán vốn và các loại chứng khoán khác, được giữ mà không có thời gian ấn định và có thể được bán bất cứ lúc nào Chúng có tính chất tương tự như chứng khoán kinh doanh, nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng.
Chứng khoán Nợ do các TCTD khác trong nước phát hành
Chứng khoán Nợ do các TCKT trong nước phát hành
Chứng khoán vốn do các TCTD khác trong nước phát hành
Chứng khoán vốn do các TCKT trong nước phát hành
Khoản mục chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán đã tăng mạnh qua các năm, đặc biệt là năm 2014 với mức tăng 17.151.023 triệu đồng (30,17%), trong khi năm 2015 chỉ tăng nhẹ so với năm 2014 Sự gia tăng này chủ yếu đến từ khoản mục chứng khoán nợ, mặc dù chứng khoán vốn giảm đáng kể, nhưng do tỷ trọng của chứng khoán vốn trong tổng số chứng khoán đầu tư là nhỏ Các khoản mục chứng khoán Chính phủ, chứng khoán nợ do các TCTD khác trong nước phát hành, và chứng khoán nợ do các TCKT khác phát hành đều có xu hướng tăng đều qua các năm.
Sự tăng lên này cho thấy ngân hàng đang dùng tập trung vào đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng, chấp nhận khả năng sinh lời thấp
Vào năm 2014 và 2015, BIDV đã trải qua những sự kiện quan trọng, đặc biệt là sự kiện MHB sáp nhập vào BIDV vào tháng 5/2015 Sự kiện này yêu cầu BIDV chuẩn bị một lượng lớn thanh khoản để đảm bảo hoạt động ổn định của toàn hệ thống.
2.2.2 Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn
31/12/2013 31/12/2014 31/12/2015 Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn
Chứng khoán nợ do các TCKT trong nước phát hành
Chứng khoán Nợ do các TCTD khác trong nước phát hành
Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn là loại chứng khoán nợ có kỳ hạn cố định với các khoản thanh toán xác định, mà ngân hàng có ý định và khả năng nắm giữ cho đến ngày đáo hạn Loại chứng khoán này có tính thanh khoản thấp nhưng mang lại khả năng sinh lời cao, giúp tạo thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
- Chứng khoán nợ do các TCKT trong nước phát hành
- Chứng khoán Nợ do các TCTD khác trong nước phát hành
Ta thấy khoản mục chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn có sự biến động mạnh qua các năm Năm 2014 tăng 7.962.693 triệu đồng ( 68,84% ) so với năm
2013, năm 2015 giảm 3.515.645 triệu đồng ( 18% ) so với năm 2014 và tăng
Chứng khoán Chính Phủ chiếm 4.447.048 triệu đồng (38,45%) trong danh mục đầu tư của BIDV, giữ mức ổn định do khả năng sinh lời thấp hơn so với các loại chứng khoán khác Mặc dù vậy, BIDV duy trì khoản mục này để đảm bảo khả năng sinh lời và phân tán rủi ro, giúp đầu tư vào chứng khoán không quá nguy hiểm Trong số các chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn, chứng khoán nợ do các TCKT trong nước phát hành chiếm tỷ trọng lớn nhất, vì đây là nguồn tìm kiếm lợi nhuận lớn nhất với giá cả biến động theo thị trường Tuy nhiên, điều này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy ngân hàng luôn đầu tư một khoản nhất định vào chứng khoán Chính phủ Khoản mục chứng khoán do các TCTD khác phát hành không có trong năm 2013 và 2015, nhưng đã tăng lên 81.298 triệu đồng vào năm 2015, do khả năng sinh lời ở mức vừa phải.
Nguyên nhân khiến cho việc đầu tư vào chứng khoán đầu tư của BIDV trong những năm vừa qua biến động là do:
Khi đầu tư vào chứng khoán đầu tư, ngân hàng MB sẽ chú trọng đến các yếu tố cơ bản liên quan đến lĩnh vực này, tương tự như trong chứng khoán kinh doanh.
BIDV đầu tư vào chứng khoán nhằm đạt được lợi nhuận bền vững và kỳ vọng thu về lợi nhuận cao Trong các năm 2014 và 2015, ngân hàng tập trung vào mục tiêu tăng trưởng.
BIDV tích cực đầu tư vào những chứng khoán có khả năng sinh lời cao nhằm mục đích lợi nhuận
Từ 12 tháng đến dưới 5 năm 5.791.268 671 16.278.861
Từ 12 tháng đến dưới 05 năm 635 377 382
Từ 12 tháng đến dưới 05 năm 3.030.068 1.730.060 1.000.060
BIDV không chỉ tập trung vào chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư, mà còn mở rộng danh mục đầu tư của mình với các công cụ tài chính khác, bao gồm giấy tờ có giá.
Ta thấy ngân hàng đầu tư vào GTCG với độ chênh lệch và biến động khá mạnh giữa các năm Năm 2014 giảm đột ngột 19.165.468 triệu đồng so với
Đánh giá
BIDV đã duy trì doanh thu và thu nhập ổn định qua các năm, cho thấy khả năng quản lý linh hoạt và hiệu quả danh mục đầu tư Điều này không chỉ giúp đa dạng hóa tài sản mà còn phân tán rủi ro một cách hiệu quả.
BIDV giảm thiểu rủi ro lãi suất nhờ vào việc đầu tư chủ yếu vào trái phiếu Chính phủ, vốn có mức độ an toàn cao và ít bị ảnh hưởng bởi biến động lãi suất.
Danh mục đầu tư đa dạng của BIDV giúp phân tán và bù trừ rủi ro hiệu quả, đồng thời nâng cao khả năng thanh khoản nhờ vào việc chứng khoán dễ dàng chuyển đổi thành tiền hoặc làm tài sản đảm bảo khi vay.
Mặc dù đầu tư vào các chứng khoán có mức độ rủi ro thấp giúp đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư, tốc độ tăng doanh thu từ các danh mục đầu tư vẫn chưa cao, cho thấy rằng chưa tận dụng hết cơ hội để gia tăng lợi nhuận.
- Đôi khi thông tin thu thập được không chuẩn xác gây ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
Chiến lược đầu tư hiện tại chưa đủ linh hoạt, điều này khiến cho việc tận dụng lợi thế và thời cơ trong quyết định đầu tư trở nên khó khăn, dẫn đến khả năng mang lại lợi nhuận tối ưu và hạn chế rủi ro chưa được phát huy.
4.1 Kết hợp giữa chiến lược đa dạng hóa đầu tư và chiến lược đầu tư tập trung
Trong chiến lược quản trị danh mục đầu tư, BIDV cần kết hợp hài hòa giữa việc dự báo chính xác khả năng sinh lợi suất trung bình dài hạn và đầu tư vào một số loại chứng khoán cụ thể Đồng thời, việc đa dạng hóa đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau cũng rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro.
4.2 Sử dụng đan xen, kết hợp chiến lược đầu tư dài hạn và chiến lược đầu tư ngắn hạn Để vừa có thể đáp ứng mục tiêu về khả năng sinh lời và nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn, ngân hàng nên nghiên cứu, xem xét đầu tư vào những loại chứng khoán nào với khối lượng, kỳ hạn và mức lãi suất như thế nào để vừa đạt được mục tiêu của ngân hàng, vừa đảm bảo an toàn và có thể tận dụng được các cơ hội trên thị trường.
4.3 Chiến lược đầu tư chủ động và chiến lược đầu tư thụ động được phối hợp trong việc ra quyết định quản trị
BIDV cần áp dụng một cách hài hòa hai chiến lược đầu tư chủ động và thụ động trong quản trị danh mục đầu tư Việc điều chỉnh thường xuyên danh mục để lựa chọn các cổ phiếu có chỉ số cơ bản tốt hơn trung bình là cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận dài hạn Để đạt được mục tiêu này, BIDV có thể tái cấu trúc danh mục bằng cách thay đổi cổ phiếu hoặc tỷ trọng cổ phiếu Đồng thời, việc xây dựng và tính toán các chỉ số danh mục đầu tư sẽ giúp tận dụng tối đa cơ hội từ thị trường.
BIDV cần hoàn thiện bộ phận dự báo và tính toán khả năng sinh lời cũng như rủi ro của các chứng khoán, nhằm đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả và phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng.