1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tai 1ieu (tính khoa học và cách mạng trong học thuyết của c)

36 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Khoa Học Và Cách Mạng Trong Học Thuyết Của C. Mác
Trường học Đại học Chính trị Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính khoa học và cách mạng trong học thuyết của C Tính khoa học và cách mạng trong học thuyết của C Mác về hình thái kinh tế xã hội Cần khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết hình th.

Trang 1

Tính khoa học và cách mạng trong học thuyết của C Mác về hình thái kinh

tế - xã hội

Cần khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Mác – Lê-nin

Trước sự thoái trào tạm thời của CNXH, hiện nay, các thế lực thù địch

và những kẻ cơ hội chính trị cho rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong đó có học thuyết hình thái kinh tế - xã hội không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội Điều đó liệu có đúng không?

Lịch sử xã hội loài người cho đến nay đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xãhội (KT-XH) và đang quá độ tiến vào hình thái KT-XH CSCN theo đúng quyluật vốn có của nó mà học thuyết hình thái KT-XH của chủ nghĩa Mác – Lê-nin

đã chỉ ra Thế nhưng, trong những thập kỷ qua và hiện nay, có người vẫn rêu raorằng, học thuyết này thiên về giai cấp và đấu tranh giai cấp, không đúng với sựphát triển tự nhiên của xã hội; rằng, cần phải xem xét sự phát triển của lịch sửbằng cách tiếp cận khác Những cách tiếp cận theo hướng tuyệt đối hóa yếu tốkinh tế - kỹ thuật, sự phát triển của các nền “văn minh”,… được họ tung ranhằm thay thế cách tiếp cận duy vật lịch sử mác-xít Họ cho rằng, loài người đãtrải qua các làn sóng văn minh: văn minh nông nghiệp mấy nghìn năm, vănminh công nghiệp mấy trăm năm và làn sóng thứ ba đang diễn ra là văn minh

“hậu công nghiệp”, “văn minh trí tuệ” Theo họ, cách tiếp cận dựa trên nền vănminh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp “phản ánh đúng sự phát triển của

xã hội loài người” và “ở đỉnh cao hơn” cách tiếp cận hình thái KT-XH Họ cònlập luận rằng, cách tiếp cận hình thái KT-XH “xem xét thế giới theo cách lưỡngphân, chỉ dẫn đến xung đột đối kháng Cách tiếp cận văn minh tránh được nhữngsai lầm đó, vì nó lấy sự thống nhất, hòa hợp làm nguyên lý căn bản”1, v v

Những luận điệu nêu trên thực sự thâm độc, nguy hiểm Nó không nhữngcông kích vào một vấn đề cơ bản, then chốt của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà còntrực tiếp phủ định CNXH hiện thực, cũng tức là phủ định mục tiêu, con đườngXHCN mà nhân dân ta đã lựa chọn

Trang 2

Trước hết, cần khẳng định rằng, học thuyết hình thái KT-XH là học thuyếtxem xét sự phát triển xã hội một cách toàn diện trên tất cả các yếu tố quy định,cấu thành “cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại” trong chỉnh thể thống nhất

quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Đó là cách tiếp cận khoa học và cách mạng, phản ánh đúng bản chất, động lực và các yếu tố cấu thành của lịch sử xã

hội Nó hàm chứa cả sự phát triển lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sảnxuất (QHSX); cả phương thức sản xuất và cơ cấu xã hội; cả cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng, chứ không thoát ly, bỏ qua một yếu tố nào Có nghĩa là xãhội loài người như thế nào thì nó “bóc ra” như thế ấy, chỉ rõ bản chất của lịch sử

và đó không phải là cách tiếp cận phiến diện, một chiều như họ cố tình xuyêntạc, bóp méo Ph Ăng-ghen đã chỉ rõ: “…trong mỗi thời đại lịch sử, phươngthức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phươngthức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch

sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mớicắt nghĩa được lịch sử đó, ”2

Bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết hình thái KT-XH mác-xítthể hiện ở chỗ, chỉ có bằng cách tiếp cận này, lịch sử xã hội loài người mới đượcnhìn nhận một cách đúng đắn và toàn diện, mới thấy rõ vai trò của các quy luật,của tất cả các quan hệ kinh tế, chính trị, giai cấp,… trong sự phát triển của lịchsử; mới có thể thấy rõ và phân tích đúng đắn các động lực và bức tranh chungcủa sự phát triển xã hội loài người, cũng như những đặc điểm, đặc thù cụ thểtrong lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc

Cách tiếp cận nền văn minh mà nhiều người đã lớn tiếng tuyên bố có thểthay thế cách tiếp cận hình thái của C Mác, với đại biểu tiêu biểu là AvinTôphlơ, thể hiện trong tác phẩm bộ ba: “Cú sốc tương lai”, “Làn sóng thứ ba” và

“Thăng trầm quyền lực” hay không? Không phủ nhận rằng, cách tiếp cận này cónhững yếu tố giá trị nhất định Nhưng nếu chỉ coi lịch sử loài người là “sự kếtiếp của các nền văn minh” (cũng đồng thời với việc nhấn mạnh yếu tố LLSX,yếu tố văn minh kỹ thuật), thì người ta đã không chú ý đến, bỏ qua bản chất,nguồn gốc động lực của sự vận động phát triển xã hội; bỏ qua vai trò của

Trang 3

QHSX, mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX; không tính đến các quan

hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, những quan hệ vốn có và quyết định sự pháttriển của xã hội trong xã hội có giai cấp Vì thế, cách tiếp cận nền văn minh về

sự phát triển xã hội là cách tiếp cận phiến diện, phản khoa học và phản động vềchính trị; bởi, thực chất nó xóa nhòa vấn đề giai cấp, thủ tiêu đấu tranh giai cấptrong thế giới hiện đại, nhằm tạo cơ sở lý luận biện hộ cho sự tồn tại “vĩnhhằng” của CNTB Điều nguy hại của cách tiếp cận này chính là ở đó

Nếu nói rằng, cách tiếp cận hình thái KT-XH “xem xét thế giới theo cáchlưỡng phân chỉ dẫn đến xung đột đối kháng”, thiên về giai cấp và đấu tranh giaicấp, thì đó là sự xuyên tạc trắng trợn Thế giới có lưỡng phân, xung đột haykhông thì đó là tồn tại khách quan, chứ không phải do cách xem xét hình tháiKT-XH mà dẫn đến xung đột đối kháng Sự tồn tại các giai cấp và đấu tranh giaicấp từ khi xã hội phân chia giai cấp đến nay cũng là thực tế khách quan; có điều

là cách tiếp cận hình thái KT-XH cho thấy rõ bản chất và động lực phát triểnthực sự của sự tồn tại khách quan ấy, nó vũ trang cơ sở nhận thức và vũ khí lýluận cho các giai cấp cần lao để thúc đẩy sự phát triển của lịch sử theo đúng quyluật khách quan vốn có Thế giới đương đại vẫn còn đó những mâu thuẫn, đặcbiệt là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản; giữa CNTB và CNXH; giữa các nướcphát triển và các nước chậm phát triển, đang phát triển, Trong tình hình mới,các mâu thuẫn không mất đi mà có mặt trở nên sâu sắc hơn với những hình thứcbiểu hiện mới; đấu tranh giai cấp vẫn còn đó và trở nên sâu sắc, quyết liệt hơnvới những nội dung, hình thức đấu tranh mới và sắc thái biểu hiện mới

Cách tiếp cận hình thái KT-XH không hề giới hạn trong một nền văn minh

cụ thể nào Đó là cách nhìn nhận, xem xét xuyên suốt lịch sử xã hội loài người;đánh giá cao vai trò cách mạng của LLSX, của trình độ văn minh vật chất,nhưng không coi đó là “duy nhất quyết định” Nó không chỉ xác định các yếu tốcấu thành hình thái KT-XH, mà còn xem xét xã hội trong quá trình biến đổi vàphát triển không ngừng, coi sự phát triển của những hình thái KT-XH là một quátrình lịch sử - tự nhiên3 Sự thể hiện sâu sắc bản chất khoa học và cách mạng của

Trang 4

học thuyết hình thái KT-XH Mác – Lê-nin là ở chỗ này Điều đó toát lên những

tư tưởng chủ yếu sau:

Một là, xã hội bao giờ cũng vận động theo những quy luật khách quan nhất

định, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người; không những thế nócòn quyết định cả ý chí, ý thức của con người Những quy luật về sự phù hợpgiữa QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX; giữa kiến trúc thượngtầng và cơ sở hạ tầng; những quy luật về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hộitrong xã hội có giai cấp,… là những quy luật cơ bản chi phối, quyết định sự pháttriển của lịch sử Những quy luật chung, tổng quát quyết định chiều hướngchung của sự phát triển xã hội loài người, biểu hiện cụ thể trong những điều kiệnkhác nhau, trong các chế độ xã hội khác nhau, trong các nước khác nhau thì có

sự khác nhau, đó cũng là khách quan, là quy luật Hoạt động của con người phảituân theo những quy luật ấy Không nhận thức đúng quy luật, hành động xemthường, bất chấp và trái quy luật thì chính con người sẽ nhận hậu quả khó lường

Hai là, xã hội loài người phải trải qua các hình thái KT-XH từ thấp đến cao:

cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và CSCN Xét mộtcách tổng quát, không thể bỏ qua một hình thái KT-XH nào; sự ra đời, tồn tại,phát triển và cả diệt vong của hình thái KT-XH cụ thể nào đó cũng là tất yếukhách quan Điều đó được quy định bởi những quy luật phát triển chung của xãhội loài người và đặc biệt bởi chính ngay những quy luật đặc thù của mỗi hìnhthái KT-XH cụ thể

Từ phân tích trên, có thể thấy, CNTB chỉ là một nấc thang trong lịch sửphát triển xã hội, không phải là nấc thang cuối cùng và cao nhất, như các học giả

tư sản cố tình biện hộ và níu kéo Sự ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong củaCNTB do chính quy luật cơ bản vốn có của nó quy định, chứ không phải do ýmuốn chủ quan của giai cấp tư sản, cũng không phải do mong ước của giai cấpcông nhân Giai cấp công nhân, chỉ có thể trên cơ sở nhận thức đúng quy luậtkhách quan, tác động, thúc đẩy sự vận động của quy luật, tiến hành cách mạng

xã hội mới có thể thủ tiêu CNTB

Trang 5

CNTB hiện nay đang chiếm ưu thế, vẫn “còn tiềm năng phát triển”4, nhưng

nó đã lạc hậu, lỗi thời về mặt lịch sử Đi từ kinh tế thị trường tự do đến chủnghĩa tự do mới, CNTB vẫn không thể tìm ra lối thoát bởi tính chất ăn bám, bóclột của nó Cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008,tình hình suy thoái, khủng hoảng, nợ công ở các quốc gia tư bản, phong tràochiếm phố Uôn ở Mỹ, các cuộc biểu tình ở các nước châu Âu tư bản diễn ra gầnđây đã chứng minh cho nhận định trên Những chính quyền và cơ chế “của 1%,

do 1% và vì 1%” là thể hiện sự tập trung cao độ quyền lực và lợi ích kinh tế,chính trị vào thiểu số rất ít người, dẫn đến sự bất bình đẳng, mâu thuẫn xã hộisâu sắc không thể điều hòa của CNTB “Chính sự vận động của những mâuthuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vậnmệnh của CNTB”5 Mọi sự biện hộ cho sự tồn tại “vĩnh hằng” của CNTB đềukhông có cơ sở lý luận, xét từ góc độ kinh tế, lẫn xã hội Những luận thuyếtrằng, CNTB có thể “hội tụ” với CNXH; rằng, “CNXH đã cáo chung” là vô căn

cứ, trái với sự vận động khách quan của lịch sử

CNXH tuy đang thoái trào, song, đó chỉ là sự thoái trào nhất thời củanhững sai lầm, khuyết điểm tạm thời, không thuộc về bản chất của CNXH.CNXH hiện thực vẫn đang tồn tại, đang tự khắc phục khuyết điểm để phát triểnlên một trình độ mới Đó là hiện thực XHCN ở Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba,

là phong trào CNXH ở các nước thuộc châu Mỹ - La-tinh; đó là, hiện thực của

lý tưởng về CNXH vẫn đang sống trong lòng của hàng tỷ người trên hành tinh

và những người sống ngay trong lòng các nước TBCN Và, không nghi ngờ gìnữa, thế giới đang thừa nhận điều đó Thực tế ấy đã chứng minh rằng, CNTBkhông phải là “nấc thang cao nhất” của lịch sử như ai đó vẫn ca tụng!

Ba là, phát triển tuần tự hay bỏ qua một hình thái KT-XH cụ thể cũng là

quá trình lịch sử - tự nhiên, do những điều kiện lịch sử cụ thể khách quan quyđịnh Điều cần chú ý là dù có bỏ qua một hình thái nào đó để tiến lên hình tháikhác cao hơn cũng không thể đốt cháy các giai đoạn phát triển của LLSX, khôngthể bỏ qua các nấc thang của sự phát triển, mà chỉ có thể rút ngắn các giai đoạn,nấc thang phát triển đó mà thôi Bản chất khoa học và cách mạng của luận điểm

Trang 6

mác-xít về sự phát triển của các hình thái KT-XH là quá trình lịch sử - tự nhiênthể hiện rất rõ ở đây Đúng như C.Mác chỉ rõ: “Một xã hội, ngay cả khi đã pháthiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó,… cũng không thể nào nhảyqua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giaiđoạn đó Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những cơn đau đẻ”6.Nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết hình thái KT-

XH, chúng ta càng vững tin về con ðýờng ði lên CNXH của dân tộc mình, càngthêm bình tĩnh và tỉnh táo đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước theo địnhhướng XHCN Hình thái KT-XH XHCN ra đời và phát triển; CNTB thế giới đãlạc hậu, lỗi thời; loài người ngày nay đang quá độ lên CNXH, đó là những cơ sởkhách quan cơ bản trực tiếp cho các dân tộc trên hành tinh lựa chọn con đường

đi lên CNXH

Những luận điệu cho rằng, con đường XHCN mà nước ta đã lựa chọn là

“trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”7; rằng, con đường đó là “một khúc congcủa lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên CNTB”, rồi “khuyên” chúng tahãy đi theo con đường TBCN đều là những luận điệu và “lời khuyên” không cógiá trị Sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng xã hội mới của nhân dân ta đanxen cả thuận lợi và khó khăn sẽ còn lâu dài, nhưng con đường đi lên CNXH ởnước ta là phù hợp với xu thế vận động khách quan của lịch sử mà học thuyếthình thái KT-XH của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã chỉ ra

Trang 7

Tài liệu

1.Quan niệm của các nhà xã hội học,triết học trước Mác, các nhà xã hộihọc, triết học đã không thể giải thích một cách khoa học sự vận động theo quyluật khách quan của lịch sử hay vấn đề phân kỳ lịch sử xã hội v.v… Chẳng hạn:Nhà xã hội học Italia là Vicô (1668-1744) đã phân chia các thời kỳ lịch sử nhưphân chia các giai đoạn của một vòng đời: thơ ấu, thanh niên và tuổi già Nhàtriết học duy tâm Đức Hêghen(1770-1831)lại phân chia lịch sử loài người thành

ba thời kỳ chủ yếu là thời kỳ phương đông, thời kỳ cổ đại và thời kỳGiecmani.Nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp Phuriê(1772-1831)đã chiatiến trình lịch sử thành bốn thời kỳ:thời kỳ mông muội, thời kỳ dã man, thời kỳgiả tưởngvà thời kỳ văn minh.Nhà dân chung học Mỹ Herry Mooc-Gan(1818-1881)lại phân chia lịch sử thành ba thời kỳ chính:thời kỳ mông muội , thời kỳ dãman và thời kỳ văn minh Những cách phân kỳ như vậy, không đem lại cáchnhìn khoa học về một xã hội cụ thể

2 Quan điểm của Mác Đến Mác,dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận

và tổng kết quá trình lịch sử,Mác đã nêu ra quan đIểm duy vật về lịch sử và hìnhthành học thuyết về hình tháI kinh tế xã hội với những nội dung chính sau đây: + Thật vậy, sự sản xuất xã hội là hoạt động đặc trưng riêng có của conngười và xã hội loài người,đó là cái phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa xã hộiloài người và loài súc vật Sản xuất xã hội bao gồm sản xuất vật chất, sản xuấttinh thần và sản xuất ra bản thân con người.Trong hiện thực,ba quá trình này củasản xuất không tách biệt với nhau,trong đó sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng,

là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội.Và xét đến cùng thì sản xuất vật chấtquy đình và quyết định toàn bộ đời sống xã hội

+ Quan đIểm về mối quan hệ biện chứng giưa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất.Mác viết:”Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với nhữnglực lượng sản xuất.Do có được những lực lượng sản xuất mới,loài người thayđổi phương thức sản xuất,cách kiếm sống của mình ,loài người thay đổi tất cảnhững quan hệ xã hội của mình.Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnhchúa,cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công

Trang 8

nghiệp”.Như vậy theo Mác,lực lượng sản xuất xét đến cùng đóng vai trò quyếtđịnh trong việc thay đổi toàn bộ các quan hệ xã hội

+ Quan đIểm về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng.Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thểhiện ở chỗ, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng,mặc dù kiến trúcthượng tầng có khả năng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng.Mác viết:”khôngthể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như các hình thái nhà nước,hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người,để giải thíchcác quan hệ và hình thái đó,mà trái lại,phải thấy rằng những quan hệ và hình thái

đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất…Nếu ta không thể nhận địnhđược về một con người mà chỉ căn cứ vào chính ý liến của người đó đối với bảnthân,thì ta cũng có thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế mà chỉcăn cứ vào ý thức của thời đại ấy.Trái lại,phải giải thích ý thức ấy bằng nhữngmâu thuẫn của đời sống vật chất,bằng sự sung đột hiện có giữa các lực lượngsản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” Từ những quan đIểm cơ bảntrên,Mác đi đến kết luận hết sức khái quát: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sốngcủa mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ýmuốn của họ-tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với mộtchỉnh độ nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ nhữngquan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội, tức là cái cơ sở hiện thựctrên đó dựng lên một kiến thức thượng tầng pháp lý và chính trị và những hìnhthái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó ”

Như vậy, hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vậtlịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan

hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lựclượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trênnhững quan hệ sản xuất ấy C.Mác và Ph.Ăng ghen đã nhìn thấy động lực củalịch sử nằm ngay trong hoạt động thực tiễn vật chất của con người Học thuyếthình thái kinh tế xã hội là quan niệm duy vật biện chứng được cụ thể hoá trongviệc xem xét đời sống xã hội Động lực của lịch sử không phải do một lực lượng

Trang 9

thần bắ nào, mà chắnh là hoạt động thực tiễn của con người dưới tác động củacác quy luật khách quan Hoạt động thực tiễn đó lại xuất phát từ cái sự thật hiểnnhiên: ỘTrước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải laođộng, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạtđộng chắnh trị, tôn giáo, triết họcẦỢ Học thuyết Mác về kinh tế- xã hội khôngchỉ xác định các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế xã hội, mà còn xem xét xã hộitrong quá trình biến đổi và phát triển không ngừng C.Mác viết: Ộtôi coi sự pháttriển của những hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiênỢ.Điều này

đã được V.I.Lênin giải thắch:chỉ có đem qui những quan hệ xã hội vào nhữngquan hệ sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sựphát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên II Tắnhkhoa học và cách mạng của học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội Khi phântắch quy luật vận động của một hình thái nhất định,học thuyết đã chỉ ra nhữngmâu thuẫn bên trong và sự vận động của mâu thuẫn này cuối cùng dẫn đến sựchuyển hoá từ một hình thái kinh tế-xã hội này sang một hình thái kinh tế-xã hộikhác.Do đó,một mặt khẳng định tất yếu của trật tự hiện thời(trật tự của chế độ tưbản chủ nghĩa),mặt khácMác cũng chứng minh luôn cả tắnh tất yếu của một chật

tự cao hơn mà hình thái kinh tế Ờxã hội tư bản chủ nghĩa nhất thiết phải chuyểnsang:Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa

xã hội.Đây chắnh là vấn đề mà các nhà lý luận của giai cấp tư sản luôn luôn tìmcách tấn công, phản bác hoặc lôi kéo, làm ngơ sang một hướng khác Nhữngngười muốn phủ định học thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội nêu ra mộtnhận định là cách tiếp cận hình thái đã lạc hậu so với thời cuộc và họ muốn thayvào đó cách tiếp cân bằng các nền văn minh.Họ cho rằng cách tiếp cận hình tháichỉ nhấn mạnh yếu tố quan hệ sản xuất và vấn đề giai cấp, mà không thấy biểuhiện phổ biến hơn, khái quát hơn là nền văn minh Theo họ,lịch phát triển của xãhội loài người không phải do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới , tiến bộ vàquan hệ sản xuất lỗi thời thể hiên ra bằng đấu tranh giai cấp dẫn đến cách Mạng

xã hội như Mác và Angghen nói, mà được quyết định bởi các nền văn minh.Đó

là văn minh công nghiệp, văn minh nông nghiệp và văn minh hậu công nghiệp

Trang 10

Bản thân Alvin Toffler đã nói rằng:làn sóng văn minh mới sẽ trực tiếp cải tạo lạitoàn bộ xã hội,không còn phải thông qua đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc,không còn đấu tranh giữa những người bị áp bức bóc lột và kẻ bị áp bức bóc lộtnữa, loài người không cần đến cách mạng xã hội để tiến lên nữa,cách mạng khoahọc và công nghệ sẽ thay thế cho chức năng của cách mạng xã hội để thay đổi

bộ mặt xã hội.Ông quy mọi cuộc đấu tranh xã hội vào cuộc đấu tranh giữa cáclàn sóng văn minh.Ông khái quoát rằng : “Từ nước này sang nước khác, sự xungđột giữa các quyền lợi của làn sống thứ nhất và làn sóng thứ hai nổ ra khắpnơi,dẫn dến khủng hoảng và biến động chính trị , đình công ,nổi loạn đảo chính

và chiến tranh…”, “các xã hội lán sóng thứ hai, tư sản hay cộng sản, Bắc hoặcNam tất cả đều giống nhau”, hoặc ông cho rằng: “những gì đang xảy ra hiện naykhông phải là cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, nhưng là của chính xãhội công nghiệp dù hình thức chính trị của nó là gì đi nữa.Chúng ta đang chịuđồng thời cùng một lúc cách mạng tuổi trẻ,cách mạng tình dục , cách mạngchủng tộc , cách mạng thuộc địa, cách mạng kinh tế và cuộc cách mạng côngnghiệp nhanh chóng nhất, sâu đậm nhất trong lịch sử.Chúng ta đang sống trongcuộc đại khủng hoảng của chế độ công nghiệp.Nói tóm lai ,chúng ta đang ở giữacuộc cách mạng siêu công nghiệp”.Như vậy ôngAlvin Toffler đã tuyệt đối hoácách tiếp cận theo nền văn minh nhằm hạ thấp, đi đến loại bỏ cách tiếp cận hìnhthái kinh tế –xã hội của Mác.Nhưng thực chất ông muốn chứng minh sự tồn tạivĩnh viễn của chế độ tư bản và lảng tránh vấn đề cơ bản nhất :cuộc cách mạng

xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản lãng đạo nhằm lật đổ giai cấp tư sản ,chế độ

tư bản chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tốt đẹpkhông có áp bức và bóc lột Song chúng ta có thể nói một cách khác quanrằng :Phương pháp tiếp cận bằng các nền văn minh(văn minh nông nghiệp ,vănminh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp) cũng có những giá trị nhất định,nhưng cách tiếp cận này đã phạm sai lầm căn bản là chỉ coi trình độ phát triểnkhoa học –công nghệ, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định duy nhất ,bỏ quavai trò của quan hệ sản xuất, các mối quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp và

do đó không thấy được một cách đầy đủ, nhất quán các mặt phức tạp của mỗi xã

Trang 11

hội , từ các vấn đề của hạ tầng đến thượng tậng, từ vấn đề kinh tế đến vấn đềtinh thần, chính trị , tôn giáo v.v:vì vậy ,xét theo góc độ khoa học không thể đemphương pháp tiếp cận theo các nền văn minh thay thế học thuyết Mác về hìnhthái kinh tế-xã hội để phân tích lịch sử và nhận thứ các vấn đề xã hội.Thậtvậy:Trong các tác phẩm cuả mình ,ông Alvin Toffler luôn đề cao đến quá trìnhphát triển của khoa học và công nghệ , đặc biệt là ông đã có dự báo về lĩnh vựcnày.Ông dự báo về những ngành khoa học mũi nhọn của thế kỉ 21:điện tử ,tinhọc,sinh học phân tử,đại dương học,kỹ thuật hạt nhân và khoa học vũ trụ.Ôngchỉ ra những ngành công nghiệp xương sống của nền văn minh thứ ba : điện

tử ,máy tính,hoá dầu ,vật lý chất rắn …Đặc biệt ông chỉ ra vai trò của trí tuệ ,củatrí thức trong tiến bộ kỹ thuật ,trong quản lý kinh tế trở thành đặc trưng của nềnvăn minh mới.Từ những dự báo về lĩnh vực khoa học công nghệ ,ông đã dự báo

về lĩnh vực tổ chứ sản xuất, lưu thông phân phối và tiêu dùng của xã hội tươnglai Nhưng cách tiếp cận của ông,không thể cho phép giải thích được một thực tế

là :hiện nảy trên thế giới có khoảng 30 nước phát triển, còn lại trên 100 nướcchậm phát triển thuộc thế giới thứ ba, thậm chí có khoảng30 nước rất nghèo khổ.Ngay ở trong một nước được ông coi là xã hội chưa những thành tựu văn minhnhất của tiến bộ xã hội là nước Mỹ cũng có sự phân cực sâu sắc.Theo thống kêcủa Cục Liên Bang Mỹ năm 1995 ,thì có 1% số người giầu nhất giữa thập kỷ 70chiếm giữ 20% của cải xã hội , nhưng đến năm 1992 đã chiếm giữ đến 42% Sốngười sống dưới mức nghèo khổ từ 24,5 triệu năm 1978, đến năm 1995 đã lêntới 39,3 triệu người.Sự phân hoá giàu nghèo, cảnh người lao động sống trongcác ổ chuột, sống bằng nhờ trợ cấp thất nghiệp , mà trợ cấp này ngày càng giảm

đi ở Mỹ đã là những phản biện sống động cho những lập luận của ông AlvinToffler về cách tiếp cận theo “nền văn minh”.Và cách tiếp cận như vậy thì làmsao mà giải thích được một thực tế là giai cấp công nhân trong các nước tư bảnchủ nghĩa phát triển, hiện đang bị bóc lột sức lao động ngày càng tinh vihơn.Thự tế là tỷ suất giá tri thặng dư(m/v) ngày càng tăng lên.ở Mỹ năm 1977 tỷsuất giá tri thặng dư là 236,7% , thì năm 1990 tăng lên 320%; ở Nhật Bản năm

1978 là 205%, thì năm1993 tăng lên 312% Chúng ta biết rằng,, trước sự phát

Trang 12

triển của lực lượng sản xuất xã hội, của nên văn minh nhân loại , thì thế kỷ 21 xãhội có nhiêù sản phẩm hơn, khả năng thoả mãn nhu cầu con người ngày cànglớn hơn.Nhưng trong xã hội tư bản chủ nghĩa vẫn không ít nghèo khổ, đói rétkhông được tiêu dùng các sản phẩm Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ dù

kì diệu đến đâu, chỉ riêng nó, không thể xoá bỏ được sự bất công đó.Muốn xoá

bỏ sự bất công trong phân phối giưã người giàu và người nghèo ở bất kỳ quốcgia nào dù giàu hay nghèo, thì không thể tránh khỏi những cuộc đấu tranh xãhội, những cuộc cách mạng xã hội.Dĩ nhiên, ở thế kỉ 21 các cuộc cách mạng xãhội có thể có nội dung và hình thức mới, phù hợp với điều kiện lịch sử lúcđó.Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thì cuộc cách mạng xã hội, đấu tranh giaicấp và đấu tranh dân tộc vẫn là tất yếu lịch sử và bạo lực với nội dung đổi mớivẫn đóng vai trò là bà đỡ cho sự ra đời của một xã hội mới:xã hội xã hội chủnghĩa, xã hội cộng sản chủ nghĩa III Việt Nam quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã kêt luận:hình thái kinh tế xã hộiTBCN nhất định sẽ được thay đổi bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủnghĩa và sự thay thế này là một quá trình lịch sử tự nhiên, sự thay thế đó đượcthực hiện thông qua cách mạng XHCN mà hai tiền đề quan trọng nhất là:sự pháttriển của LLSX và sự trưởng thành của giai cấp vô sản Quá trình lịch sử tựnhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con ðýờng phát triểntuần tự mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một hoặc một vài hình thái kinh tế xã hộinhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định Đảng ta lựa chọn CNXH làmcon đường phát triển của đất nước là hoàn toàn đúng đó là cuộc hình thái kinh tế

xã hội tốt đẹp, đưa lại độc lập thực sự cho đất nước, giải phóng thực sự conngười đem lại cho nhân dân lao động quyền làm chủ xă hội , làm chủ đất nước,mang lại ấm lo hạnh phúc +Con đưòng cách mạng XHCN mà đảng ta đã lựachọn phù hợp với những gì đã có trong lịch sử, phù hợp với thực tiễn của cáchmạng nước ta và không hề trái với quy luật phát triển của xã hội loài người +Nhìn vào lịch sử phát triển của xã hội loài người, chúng ta thấy không phải mọinước đều phải tuần tự trải qua các chế độ cộng sản nguyên thuỷ,nô lệ, phongkiến, tư bản Trong thời đai phong kiến có nước còn ở trình độ bộ tộc, nhưng do

Trang 13

nhiều nhuyên nhân đã phát triển thành chế độ phong kiến Trong thời đại TBCN,

có nước còn ở trình độ thấp cũng đã đi vào quỹ đạo phát triển TBCN Cho nên,trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, chúng tahoàn toàn có thể đưa đất nước tiến lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN + Đất nướctiến lên CNXH là con đường phù hợp với tực tiễn của cách mạng nước ta.Chúng ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Giữa cách mạng dântộc dân chủ nhân dân với cách mạng XHCN không hề có bức tường ngăn cách.Ngay trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng ta lãnh đạo đã chứađựng nhiều nhân tố XHCN Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân tố dân tộc vàgiai cấp gắn bó chặt chẽ với nhau Lòng yêu nước của nhân dân là yêu nướcXHCN, mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân đều dựa trênnền tảng liên minh công nông; quân đội nhân dân mang bản chất giai cấp côngnhân, tính dân tộc sâu sắc… + Lẽ nào lịch sử lại chấp nhận một sự ngược đời làsau cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã thành công lại xoá bỏ chính quyềndân chủ nhân dân, thiết lập nên chính quyền giai cấp tư sản, chuyển toàn bộTLSX và tài nguyên của đất nước vào tay các ông chủ tư bản, biến chế độ tathành chế độ TBCN và nhân dân ta thành kẻ nô lệ làm thuê + Trước sau nhưmột, Đảng ta nhân dân ta, quyết tâm phấn đấu tiến lên phía trước, xây dựng mộtchế độ xã hội thực sự có tự do, ấm no hạnh phúc và hoà bình, nhất quyết không

đi vào CNTB, một chế độ mà lịch sử đã lên án Quá trình phát triển của xã hộiloài người là một quá trình lịch sử tự nhiên, phụ thuộc vào quy luật khách quanđộc lập với ý muốn của con người Nhưng, con người lại hoàn toàn không bấtlực trước quy luật Con người có thể nhận thức được quy luật khách quan và tạo

ra đIều kiện để quy luật phát huy tác dụng có lợi cho mình Đó là tính năng độngchủ quan của ý thức xã hội của con người C.Kết LUận Trong những năm qua,các nhà khoa học Việt Nam đã tích cực nghiên cứu toàn diện chủ nghĩa Mác –Lênin và tiếp tục khẳng định những giá tri bền vững của học thuyết hình tháikinh tế -xã hội , học thuyết giá tri thặng dư, học thuyết sứ mệnh lịch sử của giaicấp công nhân và nội dung thời đai ngày nay.Đối với học thuyết về hình tháikinh tế- xã hội, các nhà khoa học Việt Nam thống nhất khẳng định: “Học thuyết

Trang 14

về hình thái kinh tế-xã hội của Màc ra đời là một cuộc cách mạng trong toàn bộquan niệm về lịch sử loài người, cung cấp phương pháp luận khoa học để phântích quá trình hình thành, vân động và phát triển của phương thức sản xuất.Ngày nay các kiến thức khoa học và thực tiễn phát triển xã hội phong phú, đadạng cần được nghiên cứu để “thêm da, thêm thịt” cho học thuyết đó Cơ sởkhoa học về những quy luật chung nhất của sự vân động và phát triển xã hội màhọc thuyết hình thái kinh tế xã hội chỉ ra thì vẫn giữ nguyên giá trị”

II Nội dung

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một trong những nội dung quantrọng nhất của chủ nghĩa duy vật về lịch sử; trong đó các nhà sáng lập chủ nghĩaMác đã chỉ ra những quy luật vận động chung nhất của xã hội loài người Vìvậy, đã có nhiều nước chọn học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận

để xây dựng CNXH Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cũngnhư trước những biến đổi không ngừng của thế giới trong bối cảnh của cuộcCách mạng công nghiệp 4.0, nhiều người đã hoài nghi về tính đúng đắn và khoahọc của học thuyết này Do vậy, cần phải có những luận cứ để đấu tranh phảnbác những quan điểm sai trái nhằm bảo vệ tính khoa học và tính cách mạng của

học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong bối cảnh hiện nay.

1 Những quan điểm sai trái phủ nhận tính khoa học và tính cách mạng của lý luận về hình thái kinh tế - xã hội

Những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nướcXHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ.Trong Thông điệp Liên bang năm 2005, Tổng thống Nga V.Putin gọi đó là “mộtchấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX” Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tạiLiên Xô - quê hương của Cách mạng Tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vôsản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của CNXH hiện thực - khiếncho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác nóichung và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội nói riêng

Từ đó, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm mọi cách lợi dụng xuyêntạc, công kích và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin Họ cho rằng sự sụp đổ của

Trang 15

CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạchậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội màMác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không baogiờ thực hiện được”(1) Họ cũng cho rằng CNXH khoa học mà các nhà sáng lậpchủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên

áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”(2) Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễnđàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩaMác - Lênin Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay “Việt Nam đang bếtắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần Không ai còn tin vào chủ nghĩaMác nữa”(3); rằng, “con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là tráivới quá trình lịch sử - tự nhiên”(4) Đó chính là “một khúc cong của lịch sử, làđoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”(5) Do đó, theo họ, ViệtNam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một sốnước đã đi qua để đi theo con đường TBCN

Cũng từ đây, ở một số nước phương Tây đã hình thành những trào lưuchống Mác Từ thập niên 90 của thế kỷ XX đã bùng nổ các bài viết, các côngtrình phê phán chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin, bác bỏ từng phần hay toàn bộhọc thuyết này Sự chống phá chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết hình tháikinh tế - xã hội nói riêng được chia thành các xu hướng chính như sau:

Thứ nhất, xu hướng của các học giả tư sản phương Tây luôn đối lập với C.Mác về lập trường tư tưởng.

Có thể nói, ngay từ khi ra đời ở những năm 40 của thế kỷ XIX, triết họcMác đã luôn phải đối diện với sự chống phá của các học giả phương Tây do mâuthuẫn đối kháng về lập trường tư tưởng Trong khi họ luôn bảo vệ lợi ích củagiai cấp tư sản và tìm mọi cách để luận chứng cho sự “tồn tại hợp lý” của chế độTBCN thì các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác lại khẳng định loài người nhất định sẽtiến lên chủ nghĩa cộng sản Do đó, khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ,nhiều học giả phương Tây, cả cánh tả và cánh hữu, từ tân bảo thủ đến tân tự do,tin rằng đây là một dấu chấm hết đối với chủ nghĩa Mác - Lênin sau hơn 150

Trang 16

năm tồn tại Đại diện cho quan điểm này là triết gia phái tân bảo thủ FrancisFukuyama với công trình nổi tiếng “Sự cáo chung của lịch sử và người cuốicùng” xuất bản năm 1992 Trong công trình này, tác giả cho rằng cùng với sự kếtthúc của “Chiến tranh Lạnh” và sự sụp đổ của bức tường Berlin, “cuộc đấu tranhgiữa các hệ tư tưởng như là động lực của sự tiến bộ nhân loại đã đến hồi kết vớithắng lợi cuối cùng thuộc về nền dân chủ tự do và chủ nghĩa tư bản thịtrường”(6) Mặt khác, các học giả này đã vin vào sự phát triển hiện thời củaCNTB mà cho rằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chỉ thấy được khía cạnh

“phá hủy” của CNTB, mà không thấy được khả năng “sáng tạo” của nó trongṿng chuyển động không ngừng Một số học giả của xu hướng này cho rằng,C.Mác và V.I.Lênin đã không lường trước được khả năng thích nghi, tiến hóacủa CNTB, chẳng hạn trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa chủ và thợ, giữa tưbản và lao động Mặt khác, họ cho rằng, khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hộichỉ ra con đường sai lầm để thoát khỏi CNTB, chẳng những không dẫn đến chủnghĩa xã hội, mà còn đưa tới một chế độ “toàn trị độc đoán”, hay nói như họcgiả tân tự do hàng đầu Friedrich F.Hayek là dẫn tới “chủ nghĩa nô lệ”(7)

Thứ hai, xu hướng của những kẻ cơ hội nhân danh bảo vệ chủ nghĩa Mác nhưng thực chất là xuyên tạc, hạ bệ chủ nghĩa Mác.

Không chỉ phải đối mặt với sự chống phá của các học giả tư sản phươngTây mà ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết hình tháikinh tế - xã hội nói riêng còn luôn bị những kẻ cơ hội công kích, tấn công Sau

sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, các phần tử cơ hội thuộc các đảngcộng sản đã mạo danh là những người mácxít - mặc dù lên tiếng ủng hộ họcthuyết hình thái kinh tế - xã hội nhưng thực chất là vin vào sự thoái trào của hệthống các nước XHCN để đòi xét lại chủ nghĩa Mác Tiêu biểu cho xu hướngnày là trường phái trotskyist mới(8) Theo quan điểm của trường phái này,CNXH hiện thực ở Liên Xô hơn 70 năm qua và các nước Đông Âu từ sau Chiếntranh thế giới thứ II, cũng như ở Trung Quốc và Việt Nam trước cải cách đổimới là hoàn toàn xa lạ với các nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Họ gọi đó là các “phiên bản khác nhau của chủ nghĩa toàn trị của Stalin” Có

Trang 17

người theo xu hướng này còn cố gắng tìm mọi cách để đối lập quan điểm củaV.I.Lênin với quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen về CNXH và thời kỳ quá độ.

Họ cho rằng mô hình xây dựng CNXH ở một nước riêng lẻ có trình độ phát triểnlạc hậu bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà V.I.Lênin đặt nền móng

ở nước Nga là một biểu hiện của sự “chệnh hướng khỏi các nguyên lý mácxít cơbản”(9)

Chính sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quanđiểm của những người theo chủ nghĩa Mác Biểu hiện rõ ràng nhất là sự giảmsút lớn số lượng những người trung thành với học thuyết này trên toàn thế giới

Xu hướng “phi mácxit hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác Lênin trỗi dậy mạnh mẽ tại hàng loạt nước từng đi theo con đường XHCN, cũngnhư trong nội bộ các đảng cộng sản, các đảng XHCN và phong trào công nhânquốc tế Hiện nay, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra gần 30năm nhưng các phần tử cơ hội, phản động, xét lại vẫn coi đây là một cái cớkhông gì thuyết phục hơn để tiếp tục phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xãhội cũng như phủ nhận chủ nghĩa Mác

-Thứ ba, xu hướng của những người theo thuyết kỹ trị hiện đại muốn phủ nhận những luận điểm cơ bản của lý luận về hình thái kinh tế - xã hội trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Thuyết kỹ trị là một học thuyết tuyệt đối hóa vai trò của khoa học - kỹ thuậtđối với sự phát triển của xã hội loài người Ngay khi C.Mác đưa ra tư tưởngphân chia lịch sử xã loài người thành các hình thái kinh tế - xã hội thì các nhà kỹtrị cũng có cách phân chia xã hội loài người thành các nền văn minh Tiêu biểucho xu hướng này là nhà tương lai học người Mỹ - Alvin Toffler Ông đã phânchia lịch sử phát triển của loài người dựa trên cơ sở 3 nền văn minh: văn minhnông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp Đây là nhữngnghiên cứu và phát hiện có tính duy vật về sự phát triển xã hội, trong đó có cảnhững dự báo khá rõ ràng về những biến đổi trong xã hội tương lai Tuy nhiên,cũng phải thấy rằng, xét về tổng thể, nghiên cứu của Alvin Toffler còn nhiềuđiểm chưa vượt qua được học thuyết của C.Mác Do tuyệt đối hóa vai trò của

Trang 18

khoa học nên ông chỉ coi đây là tiêu chí để phân định sự khác nhau của các giaiđoạn phát triển trong lịch sử mà ông gọi đó là các nền văn minh.

Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi màkhoa học - công nghệ đang ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển của

xã hội loài người, các nhà kỹ trị mới lại đang tìm cách vin vào những thành tựucủa khoa học - công nghệ hiện đại để phủ nhận những quan điểm được coi làsống còn của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Một trong những quan điểm

đó là việc C.Mác đã khẳng định con người là chủ thể của lịch sử, người lao động

là nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Tuynhiên, các học giả của thuyết kỹ trị hiện đại cho rằng, ngày nay, với sự xuất hiệnngày càng nhiều “robot thông minh”, “trí tuệ nhân tạo” khiến người máy đangdần thay thế con người Điều đó khiến người lao động vốn từ chỗ là chủ thể củaquá trình sản xuất đang bị gạt ra bên lề quá trình sản xuất ấy, trở thành nhân tốđóng vai trò thứ yếu Biểu hiện của sự thay đổi này là thay vì cần đến nhiềunhân công để lao động, sản xuất thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp chỉ cần ítnhân công Thay vì trả lương cho nhân công, các doanh nghiệp đầu tư vào máymóc, công nghệ Do đó, các nhà kỹ trị hiện đại cho rằng đã đến lúc cần xem xétlại quan điểm của C.Mác về vai trò, vị trí trung tâm, có ý nghĩa quyết định củangười lao động trong sản xuất vật chất

Như vậy, có thể nhận thấy, ngay từ khi chủ nghĩa Mác ra đời đã trở thànhmục tiêu tấn công của các học giả tư sản, các phần tử cơ hội, phản động Đặcbiệt, sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đãtìm mọi cách để phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, nhất là quanđiểm về tương lai của xã hội loài người là CNXH, chủ nghĩa cộng sản Ngàynay, trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các học giả tư sản,nhất là những người theo thuyết kỹ trị hiện đại lại đang tìm mọi cách phủ nhậnhọc thuyết hình thái kinh tế - xã hội, nhất là quan điểm coi con người là chủ thểcủa lịch sử, là nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sảnxuất Điều đó đặt ra thử thách lớn đối với những mácxít chân chính là cần phải

Ngày đăng: 26/04/2023, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w