1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn học phần tâm lí học đại CƯƠNG tại sao nói tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp hãy liên hệ với bản thân

25 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tại sao nói tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp hãy liên hệ với bản thân
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Tâm lí học đại cương
Thể loại Bài tập lớn học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 12,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người,thông qua đó mà con người có thể bộc lộ, bày tỏ những quan điểm, trao đổi vớinhau về các thông tin, tư tưởng, cảm

Trang 1

, ,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG KHOA NGOẠI NGỮ

Sinh viên: 1 Đào Quang Thắng Mã SV: 213114231017 Lớp: Sư phạm Anh-Nhật Khóa: K22

BÀI TẬP LỚN Học phần: TÂM LÍ HỌC ĐẠI CƯƠNG

HẢI PHÒNG - 2022

Trang 2

Đề 2

Câu 1: Tại sao nói tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp? Hãy liên hệ với bản thân.

Theo quan niệm của duy vật biện chứng : tâm lí là thuộc tính của thứ vật chất

có tổ chức cao (hệ thần kinh người, não người), là hình thức phản ánh đặc biệtcủa chủ thể đối với hiện thực khách quan Trong đó quan hệ xã hội, nền văn hóa

xã hội quyết định gián tiếp tâm lí con người

- Tâm lí của con người là quá trình chuyển những kinh nghiệm xã hội lịch sửthành kinh nghiệm của bản thân mỗi người thông qua hoạt động và giao tiếp

*Về hoạt động:

1 Định nghĩa: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và

thế giới để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía chủ thể (con người) Điều đó có nghĩa là hoạt động giữ một vai trò thiết yếu việc hình thành pháttriển tâm lí con người

Trang 3

hay nói cách khác là tâm lí của con người( chủ thể ) sẽ được bộc lộ, được kháchquan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm

+) Thứ hai là quá trình chủ thể hóa( quá trình nhập tâm): Là quá trình khicon người hoạt động chuyển từ phía khách thể vào bản thân những quy luật, bảnchất của thế giới để tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cáchchiếm lĩnh hay còn gọi là lĩnh hội thế giới

Từ đó, chúng ta có thể thấy trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm

về phía thế giới lại vừa tạo ra tâm lí của minh Nói ngắn gọn lại, tâm lí được bộc

lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động

- Về nguồn gốc, tâm lí của con người là sản phẩm của hoạt động

- Mỗi hoạt động có những yêu cầu nhất định( nội dung, công cụ lao động…)đòi hỏi con người phải biến đổi bẩn thân sao cho phù hợp với những yêu cầu đó Hoạt động là phương thức hình thành tâm lí người 

Ví dụ đặc trưng vai trò của hoạt động trong sự hình thành phát triển tâm lí conngười :

+ Trong thời kì từ 7-12 tuổi, hoạt động chủ đạo: học tập và phát triển trí tuệ Đặc trưng tâm lí: lĩnh hội nển tảng của tri thức, phương pháp nhận thức,chuẩn mực hành vi Sẽ ham mê, say sưa mày mò, tìm hiểu khám phá, năng động

* Về giao tiếp:

Trang 4

1 Định nghĩa: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người,

thông qua đó mà con người có thể bộc lộ, bày tỏ những quan điểm, trao đổi vớinhau về các thông tin, tư tưởng, cảm xúc tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác độngqua lại với nhau

* Nói ngắn gọn hơn, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ giữa người vớingười, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác  Cũng giống như hoạt động, giao tiếp cũng là yếu tố , là điều kiện cơ bảntrong việc hình thành nên và phát triển tâm lí con người theo từng giai đoạn khácnhau

2 Vai trò:

- Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người Nhu cầu giaotiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở loài người + Bằng giao tiếp, con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền vănhóa xã hội, quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội và tổng hòa các mối quan hệ xãhội thành bản chất con người, đồng thời con người đóng góp tài lực của mìnhvào kho tàng tri thức của nhân loại, xã hội

+ Con người không chỉ nhận thức được người khác, nhận thức được các quan

hệ xã hội mà còn nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu, so sánhmình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình  Nói tóm lại, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ người- người,

là yếu tố cơ bản của sự hỉnh thành và phá triển tâm lí

Ví dụ về vai trò của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển tâm lí:

Trang 5

+ Nhờ có ngôn ngữ, giao tiếp mà học sinh có thể hiểu, tiếp thu, được giải đáp

sự thắc mắc bởi những người lớn hơn

* Mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động:

+ Giao tiếp là điều kiện của một hoạt động khi con người trao đổi những ýkiến, góp ý lẫn nhau để tạo ra một sản phẩm chung

+ Hoạt động cũng là điều kiện để thực hiện mối quan hệ giao tiếp ví dụ nhưnháy mắt để ám chỉ một điều gì đó hay vẫy tay, bắt tay để thay lời chào hỏi

Vì thế mà ta có thể khẳng định một điều cả giao tiếp và hoạt động đều là 2mặt không thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển tâm lí người

Từ tất cả các ý trên, tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp.

* Liên hệ với bản thân:

- Là một sinh viên năm nhất của trường Đại Học Hải Phòng, em sẽ cố gắng

tích cực tham gia các hoạt động: Học tập, nghiên cứu khoa học và các hoạt độngđoàn thể trong lớp, khoa và nhà trường Cố gắng xây dựng bài, tự tin giao tiếplàm quen với các bạn, thầy cô trong trường để có thể hoàn thiện bản thân, mởrộng vốn giao tiếp và kinh nghiệm trong các hoạt động Tham gia các hoạt động

và rèn luyện giao tiếp sẽ là nhiệm vụ quan trọng của em trong suốt quá trình rènluyện và học tập trong trường đại học, la cơ hội giúp em rèn luyện kỹ năng sưphạm, trau dồi kiến thức chuyên ngành và mở rộng các mối quan hệ giao tiếp

Câu 2 Tìm hiểu, mô tả và giải thích về tri giác, tư duy và hứng thú của con người (SV tự lựa chọn độ tuổi)

* Về tri giác

- Định nghĩa:

Trang 6

+ Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh rõ một cách trọn vẹn các thuộc tínhbên ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quancủa chúng ta.

+ Tri giác nằm trong hoạt động nhận thức cảm tính, tri giác phản ánh sự vật,hiện tượng theo những cấu trúc nhất định

+ Tri giác là một quá trình tích cực, gắn liền với hoạt động của con người

lí tưởng đã được hoạch định của nó

- Các qui luật cơ bản của tri giác:

1) Qui luật về tính đối tượng của tri giác

+ Tính đối tượng của tri giác được hình thành bằng sự tác động của những sự

vật, hiện tượng nhất định của thế giới xung quanh vào giác quan ta

+ Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật,hiện tượng của thế giới bên ngoài Hình ảnh ấy một mặt phản ánh đặc điểm củađối tượng mà ta tri giác, mặt khác nó là hình ảnh chủ quan về thế giới kháchquan

 Vì thế, tính đối tượng của tri giác có vai trò hết sức quan trọng, nó chính là

cơ sở của chức năng định hướng cho hành vi và hoạt động của con người

Trang 7

* Dưới đây là một bức ảnh, ví dụ giúp chúng ta hiểu rõ hơn qui luật về tínhđối tượng của tri giác:

- Như bức ảnh trên , chúng ta có thể dễ dàng nhận ra người phụ nữ đã sử dụngcác giác quan của mình như nghe tiếng động cơ, chạm vào sự vật để từ đó hìnhthành lên tính đối tượng của tri giác

Trang 8

- Nhờ vốn hiểu biết trước đó của mình thông qua học hỏi hay là tìm hiểu, hìnhảnh trực quan mà tri giác đem lại đã cho người phụ nữ thấy đó là một chiếc xemáy màu đỏ Đó là sự vật nhất định của thế giới bên ngoài.

- Nghĩa là con người muốn tạo ra một hình ảnh tri giác thì sẽ phải sử dụng vàbao hàm các hoạt động của cơ quan phân tích, đồng thời cũng phải có sự hiểubiết rõ về sự vật, hiện tượng mà mình đang tri giác để có thể lấy nó ra thông quacác đặc điểm đặc trưng của sự vật, và đưa nó vào hình ảnh của sự vật, hiện tượng

Từ đó, ta có thể thấy rằng nếu chỉ dựa trên những hình ảnh về đặc điểm mà

sự vật hiện tượng đem lại thông qua các giác quan khó có thể đem lại tri giácmột cách đầy đủ, trọn vẹn

2) Qui luật về tính lựa chọn của tri giác

+ Trong tính lựa chọn chứa đựng tính tích cực của tri giác: tri giác là quá trình

tách đối tượng ra khỏi bối cảnh Vì vậy những sự vật (hay thuộc tính của sự vật)nào càng được phân biệt với bối cảnh thì càng được ta tri giác dễ dàng, đầy đủhơn

+ Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan như là sự hứng

thú, nhu cầu, xu hướng… của mỗi cá nhân và yếu tố khách quan ví dụ như đặcđiểm của vật kích thích, đặc điểm hoàn cảnh tri giác, ngôn ngữ của người khác… + Vai trò của đối tượng và bối cảnh cũng có thể hoán đổi cho nhau theo từnghoàn cảnh nhất định

* Dưới đây là một bức ảnh, ví dụ giúp chúng ta hiểu thêm qui luật về tính lựachọn của tri giác

Trang 9

- Như bức ảnh trên, ta có thể nhìn thấy một người phụ nữ đang ngồi chăm chú

xem ti vi Người phụ nữ đã tri giác một sự vật đó là chiếc ti vi đối diện, mặc dùxung quanh phòng có rất nhiều sự vật khác nhau nhưng người phụ nữ chỉ chú ývào chiếc ti vi, tức là người đó đã tách chiếc ti vi ra khỏi các bối cảnh xungquanh trong căn phòng, lấy chiếc ti vi đó làm đối tượng phản ánh của mình

- Khi người phụ nữ tri giác vào chiếc ti đó, thì chiếc ti vi trở thành đối tượng trigiác của người phụ nữ, tất cả các sự vật, hiện tượng xung quanh như cái két sắt,cái quạt,… đều trở thành bối cảnh( cái nền) của sự tri giác

- Cũng có thể trong một hoàn cảnh nào đó, đối tượng người phụ nữ chọn khôngcòn là ti vi nữa mà là cái quạt do nhu cầu được làm mát của người phụ nữ đó Vìthế, đối tượng sẽ là cái quạt và bối cảnh là cái ti vi

Thể hiện được vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau.

3) Qui luật về tính có ý nghĩa của tri giác

Trang 10

- Những hình ảnh chúng ta tri giác, thu nhận được luôn luôn có một ý nghĩa

xác định Điều đó phụ thuộc vào khả năng tri giác trọn vẹn sự vật, hiện tượng, vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, khả năng ngôn ngữ của mỗi người

 Điều đó sẽ giúp con người gọi được tên của sự vật, hiện tượng và sắp xếpđược sự vật đang tri giác vào một nhóm, một lớp các sự vật xác định và kháiquát, gọi nó trong một từ nhất đinh Trong tri giác, việc tách đối tượng ra khỏibối cảnh được gắn liền với việc hiểu ý nghĩa và tên gọi của nó

- Vai trò của qui luật này cũng sẽ giúp chúng ta gọi tên ra được đó là sự vậthiện tượng gì và biết được công dụng chính của nó

* Sau đây là hình ảnh ví dụ để giúp ta hiểu rõ hơn qui luật tính có ý nghĩa củatri giác:

- Như bức ảnh trên, chúng ta có thể thấy người phụ nữ đang tri giác vào một sựvật mà cô đang cầm ở trên tay Cô đã tách đối tượng đó ra khỏi các bối cảnh

Trang 11

xung quanh thì việc hiểu ý nghĩa và tên gọi của sự vật đó sẽ khá dễ dàng Nhờviệc có vốn hiểu biết, kinh nghiệm từ trước đó nên người phụ nữ đã biết rằng thứmình cầm trên tay được gọi là cái cốc thủy tinh.

- Ngoài biết được tên gọi, nguời phụ nữ còn hiểu rõ được công dụng mà mụcđích sử dụng của sự vật đó là để đựng nước và uống Không chỉ vậy, do cái cốcđược làm bằng vật liệu thủy tinh nên rất dẽ bị vỡ, người phụ nữ đã hiểu ra ýnghĩa đó và thực hiện hành động cầm sự vật đó tương đối nhẹ nhàng

 Từ đó, qui luật này có thể thấy rõ vì sao phải đảm bảo việc tri giác nhữngtài liệu cảm tính và dùng ngôn ngữ để truyền đạt đầy đủ, chính xác trong việcdạy học

4) Qui luật về tính ổn định của tri giác

- Tính ổn định của tri giác là khẳ năng phản ánh sự vật, hiện tượng một cáchkhông thay đổi khi điều kiện tri giác bị thay đổi

- Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do cấu trúc của sự vậthiện tượng tương đối ổn định trong một thời gian, thời điểm nhất định, mặt khác

do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh cũng như vốn kinh nghiệm về đốitượng Là điều kiện cần thiết của hoạt động thực tiễn của con người

* Sau đây là hình ảnh, ví dụ để ta hiểu rõ hơn qui luật về tính ổn định của trigiác:

Trang 12

- Như bức ảnh trên, chúng ta có thể táy một anh chàng đang viết bài vào mộttrang giấy trắng dưới ánh đèn học màu cam.

- Khi ánh đèn học chiếu vào tờ giấy trong một không gian tối, thì võng mạccủa anh chàng sẽ hiện lên tờ giấy đó có màu cam thay vì là màu trắng Nhưngnhờ tính ổn định khi tri giác và sự kinh nghiệm hiểu biết về tờ giấy từ trước đó,anh chàng vẫn tri giác được tờ giấy có màu trắng thay vì là màu cam như võngmạc anh phản chiếu

Từ đó, tính ổn định của tri giác được hình thành trong hoạt động và đốitượng là một điều kiện cần thiết để định hường trong môi trường, trong cuộcsống hàng ngày và trong mọi hoạt động trong thế giới đa dạng và biến đổi vô tậnnày

5) Quy luật tổng giác

Trang 13

- Hiện tượng tổng giác là sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung đời sống tâm

lí con người, vào đặc điểm nhân cách của họ

- Trong khi tri giác thế giới, con người không chỉ phản ánh thế giới bằngnhững giác quan cụ thể mà toàn bộ những đặc điểm nhân cách, đặc điểm tâm lýcủa con người cũng tham gia tích cực vào quá trình tri giác, làm cho khả năng trigiác của con người sâu sắc, tinh vi và chính xác hơn

Quy luật tổng giác sẽ chịu ảnh hưởng từ sinh lí, tâm lí của con người.

- Nguyễn Du đã viết lên một câu thơ bất hủ để làm rõ qui luật này: “Ngườibuồn cảnh có vui bao giờ” Từ đó, ca có thể tháy tri giác là một quá trình tíchcực, ta có thể điều khiển được nó

* Dưới đây là bức ảnh, ví dụ để ta có thể hiểu rõ hơn về qui luật tổng giác:

- Như chúng ta thấy, trong ảnh đang là một người phụ nữ với sắc mặt buồn bãđang ngắm nhìn những chú cây nhỏ xinh xinh đựng trong các cốc thủy tinh

Trang 14

- Do tâm trạng của người phụ nữ đang không vui, cho nên khi nhìn vào nhữngchú cây xanh mát được đặt cạnh cửa sổ cùng với khung cảnh hữu tình, làn giómát nhẹ của mùa xuân cô cũng thấy khung cảnh nơi đây không được đẹp  Có nghĩa rằng khi tâm trạng ta không vui, dù trước mắt là khung cảnh cóđẹp đến đâu đi chăng nữa thì ta cũng thấy nó rất là tẻ nhạt.

- Điều này cũng đúng khi ngược lại Nếu tâm trạng ta đang phấn khởi, vui tươithì đi đến đâu ngắm nhìn khung cảnh gì ta cũng sẽ thấy sự vật hiện tượng đó rấtđẹp và tràn đầy sức sống

* Về tư duy

Trang 15

- Định nghĩa: Tư duy là là một quá trình tâm lý phản ảnh những thuộc tính bảnchất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiệntượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

- Vai trò: Tư duy có vai trò to lớn đối với đời sống và hoạt động nhận thức củacon người

+ Tư duy giúp ta mở rộng vốn hiểu biết cho bản thân, tạo ra khả năng để ta phá

bỏ rào cản của riêng mình do cảm giác, tri giác mang lại để đi sâu về bản chấtcủa sự vật hiện tượng và tìm ra mối quan hệ có tính qui luật giữa chúng vớinhau

+ Tư duy cải tạo lại thông tin của nhận thức cảm tính, làm cho chúng có ýnghĩa hơn cho hoạt động của con người

+ Tuy duy không chỉ xử lí hay giải quyết những vấn đề trước mắt cần đối mặt

mà còn có khả năng giải quyết những nhiệm vụ cần thực hiện trong tương lai donắm được các bản chất, quy luật vạn động tự nhiên, xã hội và con người

- Các đặc điểm của tư duy:

1) Tính “có vấn đề” của tư duy

Không phải hoàn cảnh nào cũng gây được tư duy của con người Muốn kích

thích được tư duy, phải gặp tình huống có vấn đề

- Tình huống có vấn đề là các tình huống, hoàn cảnh chứa đựng một mụcđích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, những phương pháp hành đông cũtuy còn cần thiết nhưng không đủ sức để giải quyết

- Muốn kích thích được tư duy thì sẽ phải đồng thời có hai điều kiện sau: + Đầu tiên là phải gặp tình huống có vấn đề

Trang 16

+ Thứ hai là phải nhận thức được đầy đủ hoàn cảnh có vấn đề, có nhu cầu xử lí

và có đầy đủ kinh nghiệm, tri thức để giải quyết nó

* Sau đây là bức ảnh để chúng ta hình dung rõ hơn về tính “có vấn đề” của tưduy

- Chỗ nàyem nên thay bằng hình ảnh em đang đọc bài toán Trước bài toán emđang đăm chiêu suy nghĩ để tìm ra cách giải em phải vận dụng tất cả các kiếnthức về đại số : Căn bậc 2, …mới giải được bài toán bằn cách áp dụngtheocachs…

Từ đó, trong đời sống hàng ngày cũng như trong việc học, cần có thêmnhiều tình huống có vấn đề cho mỗi người giúp người đó có nhu cầu để nhậnthức thì mới có thể kích thích được sự tư duy của chủ thể

2) Tính gián tiếp của tư duy

Ngày đăng: 26/04/2023, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w