Các công ty cung cấp xăng dầu lớn ở Việt Nam - Tổng công ty xăng dầu Việt Nam – Petrolimex Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Petrolimex là công ty kinh doanh các sản phẩm xăng dầu lớn nhất ở Vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - -
TIỂU LUẬN Môn học: Kinh Tế Vĩ Mô
CPI và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2019-2022
Giảng viên: ThS Nguyễn Thanh Triều
Mã lớp học phần: 23D1ECO50100249
Sinh viên thực hiện: Phạm Thế Quân (31221026850)
Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh (31221020208)
Lê Uyển Linh (31221020116) Trần Gia Đức (31221022124)
Lê Xuân Tùng (31221024801)
TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 3 năm 2023
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG
Phạm Thế Quân Chương mở đầu +
Chương kết luận + Tổng kết
100%
Trần Gia Đức Phần 1 Khái quát 100%
Lê Xuân Tùng 2.1 Giai đoạn 1: Dịch
COVID-19 bùng phát
100%
Lê Uyển Linh 2.2 Giai đoạn 2: Năm
2022- Năm nhiều biến động của thị trường xăng dầu
100%
Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh Phần 3 Chính sách và
giải pháp
100%
Trang 3MỤC LỤC
BẢNG PHÂN CÔNG 2
CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ ĐẶT RA LÀ GÌ - VÌ SAO ĐÁNG ĐƯỢC QUAN TÂM 4
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 4
2.1 Khái quát 4
2.1.1 Lịch sử phát triển ngành xăng dầu ở Việt Nam 4
2.1.2 Các công ty cung cấp xăng dầu lớn ở Việt Nam 5
2.1.3 Ảnh hưởng của ngành xăng dầu đến nền kinh tế Việt Nam 7
2.1.4 Cơ sở lý thuyết của chỉ số tiêu dùng CPI và lạm phát 8
2.2 Giai đoạn 1: Năm 2019- Dịch COVID-19 bùng phát 9
2.2.1 Diễn biến thị trường 9
2.2.2 Tác động đến chỉ số CPI và lạm phát 10
2.3 Giai đoạn 2: Năm 2022 - năm nhiều biến động của thị trường xăng dầu 11
2.3.1 Diễn biến thị trường 11
2.3.2 Nguyên nhân: 14
2.3.3 Tác động đến chỉ số CPI và lạm phát 15
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH 19
3.1 Đánh giá chung về cơ chế quản lý nhà nước 19
3.1.1 Những mặt đã đặt được 19
3.1.2 Những mặt còn hạn chế 19
3.2 Định hướng phát triển thị trường xăng dầu và giải pháp thực hiện 19
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ ĐẶT RA LÀ GÌ - VÌ SAO ĐÁNG ĐƯỢC QUAN TÂM
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG
2.1 Khái quát
2.1.1 Lịch sử phát triển ngành xăng dầu ở Việt Nam
Năm 1858, quân đội Pháp đánh phá Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến xâm lược Việt Nam, cùng với đó là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I (1897-1914) của thực dân Pháp ở nước ta; xăng dầu và những mặt hàng kỹ thuật tinh xảo khác của văn minh phương Tây đã có mặt ở Việt Nam Kể từ đó đã xuất hiện đội ngũ những người làm nghề khai mỏ, xi măng, trồng cao su, dệt vải, hỏa xa và xăng dầu trên đất nước Việt Nam
Từ năm 1898, tư bản xăng dầu phương Tây đã đến Cảng Nhà Bè, Cảng Hải Phòng và lựa chọn địa điểm Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè và Tổng kho Xăng dầu Thượng Lý (ngày nay thuộc PETROLIMEX) làm lãnh địa để hoạt động kinh doanh xăng dầu
Hơn nửa thế kỷ dưới thời Pháp thuộc, sự có mặt của các hãng dầu trước hết nhằm cung cấp xăng dầu cho cuộc chiến xâm lược, phục vụ cho quân đội viễn chinh Pháp và đời sống của bọn thực dân Một phần nhỏ tuy có phục vụ cho sự phát triển của nền công nghiệp thuộc địa và sinh hoạt của nhân dân, nhưng cơ bản vẫn là một ngành kinh doanh của giới tư bản, kiếm lợi nhuận tối đa bằng cách bóc lột sức lao động của người bản địa Công nhân xăng dầu phải làm việc trong điều kiện lao động hết sức vất vả, khắc nghiệt
và nguy hiểm; họ thường xuyên bị đánh đập, cúp phạt tiền lương và đe dọa sa thải Ngày 12.01.1956, Tổng công ty Xăng dầu mỡ được thành lập, đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành xăng dầu cách mạng Việt Nam, do người Việt Nam quản lý và điều hành Cùng với tiếp quản, khôi phục Sở dầu Thượng Lý và các cơ sở xăng dầu cũ, Tổng công ty đã khẩn trương xây dựng các kho, phục vụ kịp thời nhu cầu xăng dầu của các khu công nghiệp và các vùng kinh tế quan trọng, mở rộng hoạt động cung cấp xăng dầu trong phạm vi toàn miền Bắc
Sau chiến thắng 30.4.1975 thống nhất đất nước, chúng ta lại gặp phải nhiều khó khăn trong giai đoạn khôi phục kinh tế Vượt lên mọi khó khăn, Tổng công ty Xăng dầu cùng nhân dân cả nước bước vào giai đoạn mới, với nhiệm vụ khôi phục các cơ sở xăng dầu
ở miền Bắc bị chiến tranh tàn phá, tiếp quản và tổ chức mạng lưới cung ứng xăng dầu
ở các tỉnh phía Nam
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước
ta là đổi mới tư duy, đặc biệt tư duy về kinh tế Tổng công ty Xăng dầu đã kịp thời có những biện pháp đổi mới về cơ cấu tổ chức để hình thành hệ thống cung ứng xăng dầu trong điều kiện chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN
Giai đoạn 1996-2005, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đẩy mạnh sắp xếp tổ chức, tăng tốc đầu tư, hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách kinh doanh hướng tới mục tiêu chiến lược trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế
Có thể nói, trải qua hơn 124 năm có mặt ở Việt Nam (kể từ năm 1898), dấu ấn lịch sử hoạt động ngành hàng Xăng dầu Việt Nam mà điểm nhấn đậm nét là Cuộc bãi công của công nhân Sở dầu Thượng Lý (Hải Phòng) ngày 13.3.1928 và là sự kiện có ý nghĩa lịch
sử, chính trị tiêu biểu của các thế hệ công nhân xăng dầu
Trang 52.1.2 Các công ty cung cấp xăng dầu lớn ở Việt Nam
- Tổng công ty xăng dầu Việt Nam – Petrolimex
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) là công ty kinh doanh các sản phẩm xăng dầu lớn nhất ở Việt Nam trong đó
có hoạt động cung cấp nhiên liệu cho tàu biển Lĩnh vực kinh doanh chính của Petrolimex là xuất nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu, lọc - hóa dầu, đầu tư vốn vào các doanh nghiệp khác để kinh doanh các ngành nghề mà Petrolimex đang kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của pháp luật
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Petrolimex cung cấp các chủng loại xăng dầu phù hợp với quy chuẩn quốc gia và quốc tế trên 63 tỉnh, thành Việt Nam Các sản phẩm năng lượng sạch, chất lượng cao cấp, bao gồm cả năng lượng truyền thống và năng lượng thay thế bền vững, được Tập đoàn lựa chọn và tiên phong cung cấp cho thị trường thông qua các nguồn trong nước và nhập khẩu bao gồm: E5 RON 92-II, Xăng RON 95-IV, Xăng RON 95-III, DO 0,001S-V,
- Công ty xăng dầu khu vực 2
Công ty Xăng dầu Khu vực II - TNHH Một thành viên
(Petrolimex Sài Gòn) được thành lập ngày 17.9.1975,
là công ty đầu nguồn - đơn vị thành viên của Tập đoàn
Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) - Bộ Công Thương
Trụ sở tại số 15 Đại lộ Lê Duẩn, Quận 1, TP Hồ Chí
Minh
Tổng kho Xăng dầu có tổng diện tích 196 hecta trải
dài hơn 03 km dọc Sông Sài Gòn với tổng sức chứa
hơn 730.000 m3, năng lực nhập/xuất đạt trên 7.000.000 m3-tấn/năm Tổng kho là trung tâm tồn chứa, pha chế và phân phối các sản phẩm xăng dầu cho khu vực miền Nam, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Petrolimex Sài Gòn sở hữu 70 điểm bán trên địa bàn, không ngừng đầu tư/nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị hiện đại với tiêu chuẩn Quốc tế, liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ
để tạo lập sự khác biệt và giữ vững niềm tin của khách hàng Sản lượng xuất bán hàng năm đạt trên 550.000 m3-tấn - chiếm 37% thị phần bán lẻ xăng dầu tại TP Hồ Chí Minh
- Công ty xăng dầu Quân đội
Công ty Xăng dầu Quân đội tiền thân là xưởng MX315 được thành lập ngày 30/9/1965 Năm
2008 được Chính phủ, Bộ Quốc phòng quyết định chuyển đổi thành Tổng công ty Xăng dầu Quân đội theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con Tổng công ty xăng dầu Quân đội hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành, đa nghề với cơ cấu tổ chức
đa loại hình doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc
và trên nước bạn quốc tế
Trang 6Trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội là một trong những doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo trên thị trường xăng dầu nội địa, cung ứng bảo đảm đầy đủ và kịp thời các chủng loại xăng dầu, mỡ nhờn cho quốc phòng và kinh tế Các đơn vị thành viên Mipecorp trực tiếp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn 58 tỉnh, thành phố với gần 100 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trực thuộc Tổng công ty và hàng trăm cửa hàng đại lý xăng dầu hiện diện trên khắp cả nước Bên cạnh đó, Mipecorp phát triển kinh doanh quốc tế và khu vực dưới các hình thức kinh doanh chuyển khẩu và xuất khẩu
- Công ty xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu
Công ty xăng dầu Bà rịa – Vũng tàu (Petrolimex Bariavungtau) được thành lập từ năm 1992, là doanh nghiệp TNHH MTV thuộc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Cùng với truyền thống chung của Petrolimex Việt Nam, sự tín nhiệm của khách hàng, Petrolimex Bariavungtau luôn khẳng định sự phát triển ổn định, bền vững và góp phần vào sự phát triển chung của xã hội
Công ty xăng dầu Bà rịa – Vũng tàu có các đơn vị trực thuộc như: Chi nhánh xăng dầu Bình Thuận, Xí nghiệp dịch vụ & thương mại Petrolimex, Kho cảng xăng dầu K2 và hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu, gas và dầu mỡ nhờn phân bố rộng khắp ở tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu và tỉnh Bình Thuận Hàng năm, Công ty cung cấp khoảng 250.000 m3-tấn xăng dầu, chiếm hơn 40% thị phần kinh doanh, doanh thu đạt xấp xỉ 5000 tỷ đồng, đảm bảo thu nhập ổn định và ngày càng tăng cho người lao động Đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Công ty trên 350 người với trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt huyết trong công việc và luôn thể hiện phong cách làm việc chuyên nghiệp
Công ty luôn khẳng định đảm bảo đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, số lượng, thời gian, an toàn phòng chống cháy nổ, an toàn lao động trong giao nhận hàng hóa, luôn được các khách hàng lớn tín nhiệm như: Công ty nhiệt điện Phú Mỹ và Công
ty CP điện Bà rịa, Nhà máy thép Vina Kyoei, Công ty TNHH Công nghiệp kính Việt nam (VGI), Công ty nhựa & hóa chất Phú Mỹ…và các nhà thầu dầu khí: Công ty dầu khí Việt - Nhật (JVPC), Công ty dầu khí Việt - Nga - Nhật (VRJ), Công ty TNHH Petronas Việt nam (PCVL)…
- Tổng công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PVOIL)
Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP (PVOIL) là đơn vị
thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN),
được thành lập theo Quyết định số 1250/QĐ-DKVN
ngày 06/06/2008 của Hội đồng Quản trị Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty Thương
mại dầu khí (Petechim), Công ty Chế biến và Kinh
doanh phân phối sản phẩm dầu mỏ (PDC)
PVOIL là doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam tổ chức tiếp thị và thực hiện dịch vụ ủy thác xuất bán dầu thô Việt Nam khai thác tại các mỏ ở trong nước và dầu thô của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam/ các công ty con của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khai thác tại
Trang 7nước ngoài; cung cấp dầu thô Việt Nam và nhập khẩu dầu thô cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất
Với bề dày hơn 30 năm kinh nghiệm, PVOIL đã tiếp thị, xuất bán an toàn và hiệu quả trên 350 triệu tấn dầu thô các loại khai thác từ 18 mỏ dầu trong và ngoài nước; cung cấp dầu thô Việt Nam và nhập khẩu dầu thô cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất 07 triệu tấn/năm Đây là hoạt động kinh doanh truyền thống, ổn định và hiệu quả của PVOIL
2.1.3 Ảnh hưởng của ngành xăng dầu đến nền kinh tế Việt Nam
Kinh tế nước ta phụ thuộc nhiều vào nguyên, nhiên liệu nhập khẩu nên khi giá xăng dầu thế giới tăng sẽ làm tăng giá nguyên, nhiên liệu trong nước Trong hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ, tùy theo quy trình sản xuất của mỗi ngành, nhưng hầu hết các ngành đều sử dụng xăng dầu Chi phí xăng dầu chiếm khoảng 3,52% trong tổng chi phí sản xuất của toàn nền kinh tế Điều này cho thấy xăng dầu chiếm tỷ trọng khá cao và tác động mạnh vào giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Đặc biệt, giá xăng dầu tăng tác động rất mạnh tới các ngành như: Đánh bắt thủy sản, vận tải Vì vậy, bên cạnh tác động trực tiếp làm tăng giá thành sản phẩm, giá xăng dầu tăng còn làm tăng giá hàng hóa trong khâu lưu thông, tạo áp lực lên lạm phát, giảm sức cạnh tranh của dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước, tác động xấu trên diện rộng
Đối với nền kinh tế nước ta, khi giá xăng dầu tăng 10% sẽ làm tổng sản phẩm nội địa (GDP) giảm khoảng 0,5% - mức giảm khá lớn, phản ánh tác động rất mạnh của biến động giá xăng dầu tới tăng trưởng kinh tế
Theo TS Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, phân tích:
“Xăng dầu cứ tăng 10% thì làm cho lạm phát tăng 0,36 điểm phần trăm và kịch bản tăng trưởng kinh tế giảm 0,5 điểm phần trăm Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến giá các nguyên liệu đầu vào khác như phân bón, thức ăn chăn nuôi, vật liệu xây dựng…Từ đó ảnh hưởng dây chuyền đến cả nền kinh tế” Năm 2021, giá xăng, dầu trong nước tăng 31,74%, là nguyên nhân chính làm giá của nhóm hàng giao thông tăng cao (10,52%), đóng góp đến 53,6% mức tăng CPI chung (tương đương 1,14 điểm phần trăm) Tương
tự, trong 6 tháng đầu năm 2022, giá xăng dầu trong nước tăng 51,83%, cũng là nguyên nhân chính làm nhóm hàng giao thông tăng 17,43% so với cùng kỳ và tác động làm CPI chung tăng 1,87 điểm phần trăm (chiếm tỷ trọng 76,64% mức tăng CPI bình quân chung) Ngoài ra, do ảnh hưởng của tăng giá xăng, dầu, giá nhập khẩu và giá nhiều loại hàng hóa liên quan cũng tăng mạnh, chẳng hạn 6 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá nhập khẩu khí đốt hóa lỏng tăng 53,39%; xăng, dầu các loại tăng 49,51% (quý I/2022 tăng tương ứng là 4,03% và 27,2%, quý II/2022 tăng tương ứng là 62,32% và 59,16%) Ước tính, nếu giá xăng dầu tăng 10% thì lạm phát toàn nền kinh tế tăng thêm 0,36 điểm phần trăm
Bên cạnh tác động trực tiếp làm tăng giá thành sản phẩm, giá xăng dầu tăng còn đẩy giá hàng hóa trong khâu lưu thông, tạo áp lực lên lạm phát, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế Các mặt hàng sẽ tăng giá kiểu "tát nước theo mưa", ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp ngành khai khoáng, nhất là khai thác dầu khí, đang đóng góp khoảng 8% GDP, cũng được hưởng lợi từ giá dầu Giá dầu diễn biến tích cực sẽ giúp đẩy mạnh các hoạt động khai thác thăm dò dầu khí, khối lượng công việc trong dài hạn của các doanh nghiệp ngành dầu khí Nhờ đó, doanh thu
Trang 8nhóm ngành này sẽ khả quan, kéo theo khoản thuế thu nhập doanh nghiệp nộp vào ngân sách của các đơn vị này tăng theo
Giá xăng, dầu tăng có ảnh hưởng mạnh tới xuất - nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam Trong đó, cán cân thương mại có thể chuyển từ thặng dư sang thâm hụt do giá dầu tăng cao
Cụ thể, trong giai đoạn giá dầu tăng hoặc ở mức cao, nhập khẩu dầu thô và các mặt hàng xăng, dầu của Việt Nam cũng tăng hoặc ở mức cao, trong khi kim ngạch xuất khẩu dầu thô và các mặt hàng xăng dầu đều tăng không đáng kể hoặc ở mức khá thấp, dẫn đến cán cân thương mại xăng dầu luôn bị thâm hụt ở mức cao
Năm 2021, giá xăng, dầu thế giới có xu hướng phục hồi trở lại, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam cũng ở mức rất cao, khoảng 9,3 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu chỉ khoảng 3,2 tỷ USD, dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại xăng dầu tăng lên mức 6,1 tỷ USD, tương đương 1,81% kim ngạch xuất khẩu và gấp 1,5 lần mức xuất siêu năm
2021
Trong 6 tháng đầu năm 2022, giá xăng, dầu thế giới tiếp tục tăng cao, giá dầu Brent bình quân khoảng 106,92 USD/thùng Trong đó, tổng kim ngạch nhập khẩu xăng, dầu của Việt Nam đạt gần 8,3 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất khẩu xăng, dầu gần 2,1 tỷ USD, Việt Nam nhập siêu xăng, dầu gần 6,2 tỷ USD, tương đương 3,33% kim ngạch xuất khẩu và gấp 8,3 lần mức xuất siêu của Việt Nam trong nửa đầu năm 2022
2.1.4 Cơ sở lý thuyết của chỉ số tiêu dùng CPI và lạm phát
CPI là cụm từ viết tắt từ thuật ngữ tiếng Anh “Consumer Price Index”, nghĩa là chỉ số giá tiêu dùng CPI được dùng để đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch
vụ mà một người tiêu dùng điển hình Đây là chỉ số phản ánh mức thay đổi tương đối của giá cả sản phẩm tiêu dùng theo thời gian Chỉ số giá tiêu dùng được tính theo đơn
vị phần trăm (%)
Chỉ số giá tiêu dùng CPI có tác dụng phản ánh mức thay đổi giá cả hàng hóa và dịch vụ theo một đơn vị thời gian Nó giúp thể hiện mức độ biến động của giá hàng hoá bán lẻ, cảnh báo hiện tượng lạm phát (giảm phát)
CPI gióng lên hồi chuông cảnh báo về xu thế và mức độ biến động của giá bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ Từ đó CPI được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian Khi chỉ số này tăng lên cũng đồng nghĩa với việc mức giá tiêu thụ trung bình tăng và ngược lại
Trên thực tế, chỉ số giá tiêu dùng được xác định thông qua nghiên cứu thị trường Theo
đó các chuyên viên thống kê sẽ tiến hành thu thập thông thông tin tiêu dùng tại các hộ gia đình (cá nhân) về những sản phẩm họ đã mua Các mặt hàng tiêu dùng và dịch vụ
sẽ được phân loại cụ thể theo từng thời điểm, theo tính chất sản phẩm và theo khu vực địa lý Việc tính toán các thông tin liên quan đến CPI sau đó được thực hiện khá nghiêm ngặt Các số liệu thống kê được ghi nhận sẽ do cơ quan chức trách thực hiện tính toán
ra chỉ số giá tiêu dùng trên một đơn vị thời gian nhất định Công thức tính chỉ số CPI như sau:
CPIt = Chính vì cần khảo sát trong một thời gian dài nên quá trình nghiên cứu, tính toán
và đánh giá chỉ số CPI có thể diễn ra chậm trễ Ví dụ như chỉ số CPI năm 2019 và 2020 được thu thập từ các cuộc khảo sát thông tin tiêu dùng từ những năm 2017 và 2018
Trang 9Một cách chung nhất có thể coi lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung, hoặc lạm phát là sự giảm liên tục của giá trị đồng tiền Mức giá chung được hiểu là mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ Khi mức giá chung tăng, người ta phải trả nhiều tiền hơn cho cùng một lượng hàng hóa, nói cách khác giá trị hay sức mua của đồng tiền
bị giảm
Lạm phát thể hiện những mức độ nghiêm trọng khác nhau Chúng được phân thành ba cấp:
+ Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán được
Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền, họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trong vòng một tháng hay một năm Mọi người sẳn sàng làm những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị và chi phí của họ mua và bán sẽ không chệch đi quá xa + Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi là lạm phát 2 hoặc 3 con số Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữ tiền mặt mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanh toán hằng ngày Mọi người thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ Thị trường tài chính không ổn định (
do vốn chạy ra nước ngoài)
+ Siêu lạm phát : tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn làm được chức năng trao đổi Nền tài chính khủng hoảng (siêu lạm phát đã từng xảy ra ở Đức 1923 với
tỷ lệ 10.000.000.000% và xảy ra ở Bolivia 1985 với 50.000%/năm)
2.2 Giai đoạn 1: Năm 2019- Dịch COVID-19 bùng phát
2.2.1 Diễn biến thị trường
Trong đại dịch Covid-19, thị trường xăng dầu tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động với các yếu tố cụ thể đã gây nên Dưới đây là một bài tóm tắt về diễn biến thị trường xăng dầu tại Việt Nam trong đại dịch Covid-19 và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường này
Trong nửa đầu năm 2020, giá xăng dầu giảm mạnh do giá dầu thô trên thị trường thế giới giảm mạnh trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19 Tuy nhiên, trong quý 3/2020, giá xăng dầu tăng trở lại khi thị trường dầu thô phục hồi và OPEC+ quyết định cắt giảm sản lượng dầu Trong quý 4/2020, giá xăng dầu tiếp tục tăng do nhu cầu dầu mỏ tăng trở lại và giá dầu thô tăng
Trong năm 2021, giá xăng dầu tiếp tục tăng trưởng trong giai đoạn đầu năm, tuy nhiên, giá xăng dầu đã giảm trở lại từ đầu tháng 5/2021 do sự can thiệp của Chính phủ và giá dầu thô giảm Từ tháng 7/2021 đến nay, giá xăng dầu tiếp tục tăng mạnh do giá dầu thô tăng và giá cước vận tải tăng cao
Các yếu tố cụ thể đã gây nên biến động trên thị trường xăng dầu tại Việt Nam trong đại dịch Covid-19 bao gồm:
1 Giá dầu thô trên thị trường thế giới: Giá dầu thô trên thị trường thế giới đã giảm mạnh trong giai đoạn đầu của đại dịch Covid-19 do sự suy giảm nhu cầu của các nước trong thời gian phong tỏa và giãn cách xã hội Tuy nhiên, giá dầu thô đã phục hồi mạnh mẽ
kể từ tháng 11/2020 do nhu cầu dầu mỏ tăng trở lại và kỳ vọng về phục hồi kinh tế toàn cầu
Trang 102 Chiến tranh giá giữa các nhà sản xuất dầu: Chiến tranh giá giữa các nhà sản xuất dầu trên thị trường thế giới đã ảnh hưởng đến giá dầu thô và giá xăng dầu trên thị trường Việt Nam
3 Sự can thiệp của Chính phủ: Chính phủ Việt Nam đã can thiệp vào thị trường xăng dầu để hạn chế tác động của biến động giá trên người tiêu dùng Cụ thể, từ đầu tháng 5/2021, Chính phủ đã quyết định giảm thuế môi trường đối với xăng dầu và diesel từ 4.000 đồng/lít xuống còn 3.000 đồng/lít Đây là biện pháp giúp giảm giá xăng dầu trên thị trường và tạo thuận lợi cho người tiêu dùng
4 Tình hình kinh tế toàn cầu: Tình hình kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng đến giá xăng dầu tại Việt Nam Trong nửa đầu năm 2020, sự suy giảm nhu cầu và sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã làm giảm giá dầu thô trên thị trường thế giới và giá xăng dầu tại Việt Nam Tuy nhiên, trong quý 4/2020, giá dầu thô phục hồi mạnh mẽ do kỳ vọng về phục hồi kinh tế toàn cầu
5 Nhu cầu dầu mỏ: Nhu cầu dầu mỏ của các nước đã ảnh hưởng đến giá xăng dầu tại Việt Nam Trong quý 4/2020, nhu cầu dầu mỏ đã tăng trở lại và giá dầu thô tăng, dẫn đến sự tăng giá xăng dầu tại Việt Nam
6 Tình hình sản xuất và nhập khẩu: Tình hình sản xuất và nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến giá xăng dầu tại Việt Nam Trong năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, sản xuất và nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam đều giảm mạnh Điều này đã dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn cung và giá xăng dầu tăng cao
7 Thị trường xăng dầu thế giới: Thị trường xăng dầu thế giới cũng ảnh hưởng đến giá xăng dầu tại Việt Nam Trong nửa đầu năm 2021, giá xăng dầu trên thế giới đã tăng mạnh do nhu cầu tăng trở lại và ảnh hưởng của các yếu tố khác như trục lợi lên tình hình chính trị, các vấn đề an ninh lương thực và đói mồi
8 Tăng giá xăng dầu gây ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề khác: Tăng giá xăng dầu đã gây ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề khác như vận tải, du lịch, nông nghiệp Với các ngành nghề sử dụng nhiên liệu làm nguyên liệu sản xuất như nông nghiệp, giá thành sản phẩm cũng tăng lên, ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này
Tóm lại, giá xăng dầu tại Việt Nam trong đại dịch Covid-19 đã gặp nhiều khó khăn và biến động do nhiều yếu tố ảnh hưởng Việc can thiệp của Chính phủ, tình hình kinh tế toàn cầu, nhu cầu dầu mỏ, tình hình sản xuất và nhập khẩu, thị trường xăng dầu thế giới
và tác động đến nhiều ngành nghề khác là những yếu tố chính đã gây ra biến động giá xăng dầu tại Việt Nam trong đại dịch Covid-19
2.2.2 Tác động đến chỉ số CPI và lạm phát
Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có thị trường xăng dầu Việt Nam Chỉ số CPI và lạm phát trong lĩnh vực này cũng đã bị ảnh hưởng đáng kể trong năm 2019-2021
Trong năm 2020, giá xăng dầu tại Việt Nam đã giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Trong giai đoạn đầu năm, khi dịch bùng phát và các biện pháp phong tỏa được áp dụng, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu giảm mạnh khiến giá xuất khẩu giảm sút Đồng thời, việc giảm sản lượng của các nhà máy dầu mỏ và giảm nhu cầu nhập khẩu cũng là nguyên nhân dẫn đến giảm giá xăng dầu