Văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học với các truyện đọc,truyện kể và những bài học trong sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 đã đem đếncho học sinh những cốt truyện hay, những h
Trang 1-Ở trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí vô cùng quan trọng,chiếm số tiết nhiều nhất trong tất cả các môn học Tổng số tiết Tiếng Việt trong
5 năm là 1.610 tiết, so với môn Toán có 864 tiết Dạy Tiếng Việt ở Tiểu họcnhằm giúp HS sử dụng tiếng Việt vào hoạt động giao tiếp và học tập Học TiếngViệt, học sinh được phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trên cơ sở nhữngtri thức cơ bản Đồng thời môn Tiếng Việt còn góp phần bồi dưỡng cho các emtình yêu cái đẹp, yêu quê hương đất nước, hình thành và phát triển nhân cách tốtđẹp của con người trong thế kỉ mới
Văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học với các truyện đọc,truyện kể và những bài học trong sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 đã đem đếncho học sinh những cốt truyện hay, những hình tượng đẹp, làm giàu cho trítưởng tượng của các em Văn học nước ngoài trong chương trình Tiểu học cũngđem lại cho các em những hiểu biết về đất nước và con người của nhiều quốcgia trên thế giới như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, Nga, Đức, Anh, Pháp Đó
là những tri thức vô cùng phong phú và đa dạng cho lứa tuổi của các em Dạyhọc các tri thức nước ngoài và các tác phẩm văn học nước ngoài nói chungtrong chương trình Tiểu học là đem lại cho các em những hiểu biết về đất nước
và con người của nhiều quốc gia trên thế giới, bồi đắp cho HS những tình cảm,những ước mơ mới mẻ, giàu tính nhân văn
Dạy học kiến thức nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu họcnói riêng là công việc không đơn giản Để có thể khai thác được cái hay, cái đẹp
và chiều sâu tư tưởng, tâm hồn của dân tộc khác ẩn chứa trong các văn bản
ngôn từ, người dạy (và cả người học) phải có sự hiểu biết rộng rãi về văn hóa,
văn học của chính các dân tộc ấy Bởi thế, người dạy văn học nước ngoài, ngoàinhiệm vụ nghiên cứu văn bản, tác phẩm cần giảng dạy, còn cần đọc nhiều tưliệu tham khảo xung quanh nó Trong khi đó, ở nước ta hiện nay, điều kiện tựtìm hiểu, tra cứu các tư liệu tham khảo về tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài
Trang 2còn nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với HS.
Tuy nhiên, giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậcTiểu học nói riêng không chỉ hướng tới việc tìm hiểu những đặc sắc của mộtnền văn hóa, văn học khác mà còn góp phần hiểu thêm về văn hóa, văn học củadân tộc mình Bởi vậy, trong bối cảnh thế giới đang tăng cường các hoạt độnggiao lưu, hội nhập như hiện nay, dạy - học kiến thức nước ngoài trong chươngtrình Tiểu học dù còn hạn chế về điều kiện song có nhiều có ý nghĩa nên rất cầnđược nghiên cứu để hoạt động này có hiệu quả tốt hơn
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1).
2 Lịch sử vấn đề
2.1 về một số tác giả, tác phẩm Văn học nước ngoài
Các tác phẩm văn học nước ngoài được dịch và nghiên cứu khá nhiều tạiViệt Nam Tuy nhiên, số lượng công trình đặt vấn đề nghiên cứu và giảng dạyvăn học nước ngoài trong các nhà trường, nhất là ở bậc Tiểu học khá hạn chế.Hầu hết các công trình, luận án, luận văn nghiên cứu về văn học nói chung, vănhọc nước ngoài nói riêng đều là các nghiên cứu chuyên sâu, thiên về lý luận,hoặc khái quát hoặc phân tích các phương diện giá trị nội dung và nghệ thuậtcủa các tác phẩm cụ thể Phổ biến hơn cả là các bài viết, bài nghiên cứu về đổimới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn họcnhư Toán, Mỹ thuật, Âm nhạc ở trường Tiểu học được trình bày tại các hộithảo, hội nghị khoa học Tuy không liên quan đến đề tài, nhưng các nghiên cứunày cũng thực sự là những tư liệu bổ ích vì nguồn tư liệu tham khảo để thựchiện đề tài khá hạn hẹp
Hiện chỗ dựa chủ yếu của việc thực hiện luận văn chỉ là cuốn sách Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài của GS.Phùng Văn Tửu (xuất bản năm
2007, Nhà xuất bản Giáo dục) Đúng như tác giả cuốn sách đã viết: “.đây khôngphải là hướng dẫn giảng dạy men theo từng bài trong SGK như kiểu “sách giáoviên”, nhưng vấn đề cảm thụ và giảng dạy bộ phận văn học này về mặt lý thuyết
và ứng dụng vẫn luôn luôn khiến nhiều người quan tâm, không chỉ ở Trung họcphổ thông, Trung học cơ sở và hệ thống các trường Đại học Sư phạm và Caođẳng Sư phạm nữa” (Lời nói đầu) Không đề cập trực tiếp đến việc giảng dạycác tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình bậc Tiểu học, công trìnhnày đã cung cấp các nguyên tắc tiếp cận và những điểm đáng lưu ý khi giảngdạy chương trình nói chung và qua các tác phẩm cụ thể nói riêng
Đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục Tiếp cận và giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài ở trường Tiểu học, tác giả Đỗ Việt Nga đã cung cấp
một cái nhìn khái quát và cụ thể về thực trạng giảng dạy các tác phẩm văn họcnước ngoài trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học, đề xuất các giải phápnâng cao chất lượng, hiệu quả của việc giảng dạy bộ phận văn học này từ cácphương diện lý thuyết và đặc thù Qua đó, góp phần vào việc nâng cao năng lực
Trang 3cảm thụ và giảng dạy các tác phẩm văn học nói chung, văn học nước ngoài nóiriêng trong nhà trường Tiểu học hiện nay.
Tuy nhiên, công trình này cũng mới dừng lại ở việc dạy và học các tácphẩm văn học, tức là phân môn Tập đọc, chưa đề cập đến các phân môn khácnhư Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả
2.2 về danh từ riêng nước ngoài
Giáo trình Từ loại tiếng Việt hiện đại của tác giả Lê Biên (1999), Nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội, là tài liệu được viết theo tinh thần chương trình mới của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng những yêu cầu của cải cách giáo dục Giáotrình cung cấp một cách hệ thống những kiến thức cơ bản, cần yếu nhất về Từloại tiếng Việt - một nội dung quan trọng của ngữ pháp tiếng Việt
Giáo trình nhấn mạnh danh từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếngViệt: danh từ, động từ, tính từ Bộ phận tên riêng nước ngoài được đề cập khôngnhiều nhưng người học, người đọc cũng có thể hình dung ra nó nằm trong tiểuloại danh từ riêng, cách cấu tạo và sử dụng cơ bản của nó Cách viết tên riêngnước ngoài này cho đến nay vẫn còn là vấn đề thời sự nên trong quá trình chuẩnhóa tiếng Việt, người học và người dạy cần tìm hiểu, học tập để sử dụng vàgiảng dạy cho đúng quy tắc và đúng chuẩn của tiếng Việt
Hoàng Văn Thung - Đỗ Xuân Thảo (2007) trong cuốn Dạy học Chính tả ở
Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục đã bàn về việc kĩ năng chính tả thực sự cần
thiết đối với mọi người, không chỉ với học sinh Tiểu học Cuốn sách này là mộttài liệu tham khảo cho các thầy giáo, cô giáo dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học,các thầy giáo, cô giáo dạy môn Tiếng Việt - Văn ở Trung học cơ sở và Trunghọc phổ thông, sinh viên ngành ngữ văn các trường Sư phạm Cuốn sách đã đề
cập đến vấn đề Chính tả các từ phiên âm như sau: Phiên âm, chuyển tự theo nguyên dạng tiếng nước ngoài và Chính tả tên riêng và thuật ngữ theo các quy định về cách viết phiên âm và chuyển tự.
Hiện nay vẫn tồn tại hai cách xử lý chính tả khi viết các tên riêng và thuậtngữ tiếng nước ngoài Đó là: cách viết liền các âm tiết trong từ nguyên ngữ vàcách viết rời từng âm tiết trong từ nguyên ngữ (cách viết tiếng Việt)
2.3 về chương trình SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học
Về SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu
và thể hiện rõ quan điểm của mình qua những công trình nghiên cứu
Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học của tác giả Lê A Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến (1998), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội cũng như giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học của Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Nhà xuất bản Đại học
-Quốc gia Hà Nội viết cho sinh viên các trường Sư phạm dành trọn một chương
3 để nghiên cứu về chương trình và SGK Tiếng Việt Tiểu học Giáo trình cungcấp những kiến thức về mục tiêu môn học Tiếng Việt, cơ sở xây dựng chươngtrình, các nguyên tắc xây dựng chương trình và các nguyên tắc biên soạn SGK
Trang 4Tiếng Việt, chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học.
Đề cập riêng đến phương pháp dạy học các môn học lớp 4 nói chung, môn
Tiếng Việt nói riêng, cuốn Phương pháp dạy học các môn học lớp 1,2,3,4,5 tập
hợp, bổ sung, hoàn thiện bộ tài liệu đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng đểbồi dưỡng giáo viên (GV) Tiểu học trên toàn quốc nhằm thực hiện tốt yêu cầuđổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện ở cấp Tiểu học
Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn sách Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới viết năm 2008, Nhà xuất bản Giáo dục đã nhấn mạnh vào hoạt
động dạy và học của thầy và trò trong trường Tiểu học khi áp dụng chương trìnhmới có những thay đổi tích cực về nội dung lẫn phương pháp đem lại hiệu quảgiáo dục cao
Chương trình Tiểu học (2008, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội) do Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành thống nhất chương trình các môn học ở cấp Tiểu họcnói chung, môn Tiếng Việt nói riêng Qua đó, giúp người GV Tiểu học có cáinhìn khái quát cũng như cụ thể về nội dung, cách phân bố chương trình Tiểuhọc Từ đó, họ có định hướng đúng đắn hơn trong quá trình dạy học các lớp ởTiểu học
Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho GV vàcán bộ quản lý, chỉ đạo chuyên môn, năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ
chức biên soạn Bộ tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội) Chuẩn kiến thức, kĩ năng
được cụ thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực học tậpcho từng lớp và cho cả cấp học Chuẩn kiến thức, kĩ năng là cơ sở để biên soạnSGK, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học và hoạt động giáo dục bảo đảmtính thống nhất, tính khả thi của Chương trình Tiểu học, đảm bảo chất lượng vàhiệu quả của quá trình giáo dục ở Tiểu học
Riêng đối với cuốn Tiếng Việt và phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học (Đinh Thị Oanh - Vũ Thị Kim Dung - Phạm Thị Thanh, Dự án phát triển
giáo viên Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006), ngoài việc cung cấp cho bạnđọc những phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình vàphương pháp mới còn cung cấp cho bạn đọc những vấn đề về lý thuyết hộithoại, về từ Hán Việt, về câu trong văn bản Mặc dù được biên soạn bởi cácnhóm tác giả khác nhau nhưng cả hai cuốn sách này đều hướng đến việc nângcao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; cập nhật những đổi mới về nội dung,phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theochương trình, SGK Tiểu học mới Cả hai cung cấp cho bạn đọc những kiến thức
và kĩ năng để dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học theo hướng đổi mới như: phươngpháp dạy học học vần, tập viết, chính tả, tập đọc, Sách được biên soạn nhằmgóp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học theo chương trình và SGKmới, theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học Cả hai cuốn sách đều rất
Trang 5có ích đối với bạn đọc, đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tậpcủa cán bộ quản lý giáo dục Tiểu học, giảng viên, sinh viên.
Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên phó Chủ nhiệm Ủy ban Vănhóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, người tham gia viếtSGK và nghiên cứu về việc làm SGK của nhiều quốc gia: “So với 3 lần cải cáchgiáo dục trước đây, thì lần đổi mới SGK năm 2002 là bài bản nhất Năm 2002,chúng ta xây dựng chương trình trước, biên soạn trong tài liệu dạy thử nghiệnbốn năm mới hoàn thành chương trình, rồi mới làm SGK chính thức Chúng tacũng có điều kiện tiếp thu được nhiều kinh nghiệm biên soạn SGK của nướcngoài ”[35]
Những công trình nghiên cứu trên tuy chưa bàn đến một cách cụ thể nhữngvấn đề mà luận văn quan tâm song đó là gợi ý cần thiết định hướng cho việc
nghiên cứu luận văn Dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1).
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra phương pháp phù hợp để nâng cao chất lượng dạy - học các bài học
có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4,tập 1)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài
- Khảo sát chương trình, SGK Tiếng Việt lớp 4 và thực trạng dạy họcnhững bài có liên quan đến đề tài
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học các bài học
có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4,tập 1)
- Thực nghiệm sư phạm
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc dạy - học các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trênđôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ướcmơ” (Tiếng Việt 4, tập 1) Cụ thể:
Tập đọc: Ở Vương quốc Tương Lai (Theo Mát-téc-lích)
Điều ước của vua Mi-đát (Theo thần thoại Hy Lạp)
Kể chuyện: Kể chuyện đã nghe, đã đọc
Luyện từ và câu: Cách viết tên người, tên địa lỷ nước ngoài
Động từ (Bài tập 2)
Tập làm văn: Luyện tập phát triển câu chuyện (tiết 2)
Chính tả: Nghe - viết Gà Trống và Cáo (theo La-phông-ten)
Trang 6Chú dế sau lò sưởi (Theo Xư-phe-rốp, Bài tập 2b) Phạm vi TN tại hai trường: Tiểu học Việt Nam - Cu Ba, quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và Tiểu học Đại Mỗ, huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội)
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Luận văn sử dụng phương pháp này nhằm thống kê cụ thể các bài học cókiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập1), phân loại theo phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện,Chính tả Nhờ đó nắm được nội dung, cấu trúc phân môn và có cơ sở nêu lênnhững nhận xét khái quát về nội dung, cấu trúc, những ưu, nhược điểm để đề raphương pháp giảng dạy có hiệu quả
Phương pháp này còn được sử dụng để thống kê, phân loại các phiếu khảosát của HS để rút ra những kết luận cần thiết của luận văn
Việc phân loại dựa trên cơ sở đặc điểm về nội dung và cấu trúc củachương trình Tiếng Việt lớp 4
6.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sau khi phân loại, cần tiến hành so sánh, đối chiếu các bài học có kiếnthức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” và các bài học trongchương trình Tiếng Việt 4 để tìm ra điểm giống và khác nhau, phần kiến thứcnào hay, mở rộng, có ích cho việc thu nhận kiến thức của HS
6.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này được vận dụng để tìm hiểu những kiến thức về ngôn ngữnước ngoài, cụ thể là bộ phận tên riêng nước ngoài và việc tiếp cận, giảng dạymột số tác phẩm văn học nước ngoài trong SGK Tiếng Việt lớp 4 Chỉ ra mốiquan hệ giữa ngôn ngữ và văn học nước ngoài (giống mối quan hệ giữa tiếngViệt và văn học Việt Nam) Từ đó, tác giả luận văn đề xuất một số giải phápnâng cao hiệu quả việc dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôicánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
6.4 Phương pháp điều tra - thực nghiệm
Bằng TN quan sát, phân loại, nêu và tìm hiểu việc dạy học các bài có kiếnthức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1) ởcác trường Tiểu học để từ đó tìm ra phương pháp dạy học có hiệu quả, gây hứngthú cho HS
Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả (bằng phiếu khảo sát) của HS cả trong
và sau quá trình học tập có so sánh với lớp đối chứng (ĐC) Công cụ kiểm trađánh giá phải cụ thể và có thể đo được Công cụ đánh giá dùng cho cả bài họcthực nghiệm (TN) và bài học ĐC
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận., luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy- học kiến thức nước
Trang 7ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
8 Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ tìm ra các biện pháp nâng cao hiệuquả việc dạy - học các bài học có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trênđôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1)
NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. về văn học nước ngoài
1.1.1.1 Tác giả Mát-téc-lích và tác phẩm kịch “Con chim xanh ”
a Tác giả Mát-téc-lích
Maurince Polydore Marie Bernard Maeterlinck (1862-1949) - nhà thơ, nhàvăn Bỉ, nói và viết bằng tiếng Pháp, sinh ở Găng (Gand) Theo mong muốn củagia đình, ông học và hành nghề luật sư nhưng vẫn rất thích thơ ca
Năm 1887, ông đi Paris sáu tháng và quen biết một số nhà thơ của trườngphái tượng trưng chủ nghĩa Trở về Bỉ, ông làm luật sư ít lâu nữa rồi bỏ hẳn để
chuyển sang sáng tác Tập thơ đầu tay Những nhà kính ấm nóng (Serres chaudes, 1889) được dư luận chú ý Tiếp đó là các vở kịch Công chúa Malen (La Princesse Maleine, 1889), Bảy nàng công chúa (Les Sept Princesse, 1891), Pelêax và Mêlizăng (Pelléas et Mélisande,1982) và tập thơ trữ tình Mười hai bài ca (Dauze chansons, 1894) Các vở kịch thuộc giai đoạn này của ông mang
đậm dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng với các màu sắc bi quan khá rõ Tiêu
biểu hơn cả là vở Pelêax và Mêlizăng, kịch 5 hồi bằng văn xuôi, dựng lên mối
tình của Trixtăng (Tristan) và Yzơ (Yseult)
Năm 1896, Mát-téc-lích sang sống ở Pháp, tiếp tục sáng tác nhiều thơ và
kịch Mở đầu cho giai đoạn kịch thứ hai này là vở Monna Vanna (Monna Vanna,
1902) một vở kịch bằng văn xuôi, chất kịch thì ít mà chất thơ thì nhiều Màu sắc
bi quan ngày càng mờ dần đi và ngày càng ánh lên âm điệu tin yêu vào cuộc
sống và con người Vở kịch Con chim xanh là tác phẩm tiêu biểu cho thời kì
này
Thời kì Đại chiến I, ông dùng ngòi bút để phục vụ đất nước, viết nhiều bài
được tập hợp trong Những tàn tích của chiến tranh (Lé Débrí de la guerre, 1916) và vở kịch Viên Thị trưởng Xtilơmông (Le Bourgmestre de Stilmonde, 1918) về đề tài quân Đức chiếm đóng nước Bỉ Vở Lễ đính hôn (Lé Fiancailles,
1922) mở đầu cho giai đoạn kịch thứ ba, đặc biệt chú trọng đến kỹ thuật xây
dựng kịch Có thể kể các vở Nỗi bất hạnh đi qua (Le Malheur passe, 1925),
Trang 8Quyền lực của những người chết (La Puissance des morts, 1926), Mari-Victoa (Marie-Victoire, 1927), Công chúa Izaben (La Princese Íabelle, 1935) Trong
đại chiến II, Mát-téc-lích lánh sang Mỹ Ông còn là người yêu thích thiên nhiên
và nhất là các loài vật, viết một số sách về loài ong, loài kiến, được giải thưởngNôben về văn học năm 1911
Mát-téc-lích được trao giải nhờ những tác phẩm kịch mang nội dung
phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị Ông thường sử dụng thể loại cổ tích bởi
vì cổ tích là biểu hiện sâu nhất và giản dị nhất của nhận thức tập thể, khơi dậynhững cảm xúc con người
b Tác phẩm “Con chim xanh”
Con chim xanh (L’Oiseau bleu) của Mát-téc-lích được sáng tác năm 1906,
diễn lần đầu ở Mat-xcơ-va năm 1908 và in năm 1909, không những tiêu biểucho giai đoạn sáng tác thứ hai của Mát-téc-lích mà còn cho cả sự nghiệp sángtác của ông Đây cũng chính là tác phẩm giúp nhà văn đạt giải Nobel năm 1911
Vở kịch mang dáng dấp thần tiên với 6 hồi và 12 cảnh
Bé trai Tyltyl và bé gái Mytyl là con của một tiều phu theo lời tiên
Bérylun đi tìm Chim xanh Nhưng con chim mà họ cho là Chim xanh, thực rakhông phải như họ nghĩ Chim xanh ở trong xứ sở Hoài Niệm đã chết từ lâu Bàngoại cho họ con chim sáo mà họ cứ ngỡ là Chim xanh nhưng khi họ giã từ xứ
sở này thì Chim xanh trở thành đen Ở trong vương quốc Bóng Tối, họ tìm thấytrong vườn Ước Mơ và Ánh sáng ban đêm rất nhiều Chim xanh nhưng nhữngcon chim mà họ bắt được đều chết Đi qua Xứ sở Hồi ức, Lâu đài Đêm tối,Rừng Chết chóc, Vườn Hạnh phúc, Vương quốc Tương lai, Tyltyl và Mytyl đềukhông tìm được con Chim xanh có thể mang lại ánh sáng ban ngày
Con chim xanh được ngợi ca là một câu chuyện thần tiên rực rỡ chất thơ
của tuổi thơ ấu, dù còn mang nặng suy tư nên không giữ vẹn được tính hồnnhiên thuần khiết Trong tác phẩm, con chim xanh của hạnh phúc chỉ tồn tại ởbên kia thế giới phù du, nhưng với những người có trái tim trong sáng, họ sẽkhông bao giờ tìm kiếm nó một cách vô ích, bởi cuộc sống tình cảm và trí tưởngtượng của họ sẽ làm phong phú và thanh tẩy họ trong chuyến du hành qua xứ sởnhững giấc mơ
Với ý nghĩa ấy, vở kịch Con chim xanh đã trở thành một điển cố văn học
biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu
Tác giả La-phông-ten và bài thơ ngụ ngôn “Gà Trống và Cáo ”
Trang 9nhiên và những người nông dân Cuộc sống này đã ảnh hưởng sâu đậm đếnnhững sáng tác của La-phông-ten : ngụ ngôn của ông đầy tính thơ ca, hiện diệnnhiều hình ảnh của cỏ cây, gió mây, sông núi, con thỏ, con cừu, cả voi và sư tửnữa ngòi bút của ông rất sắc sảo mỗi khi nói đến những người nghèo khổ.La-phông-ten giao thiệp rộng rãi, lui tới những nhóm trí thức tự do, yêucuộc đời dễ dãi ; chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học Gaxăngđi (P Gassendi,1592-1655) Ông tuy có làm thơ ca ngợi nhà vua nhưng vẫn sống cuộc sống độclập, không gần gũi cung đình như nhiều nhà văn cổ điển khác.
Ông viết nhiều thể loại : Truyện thơ (1665-1675), tiểu thuyết Xisê 1674), kịch nhưng tiêu biểu hơn cả vẫn là ngụ ngôn
(1664-Văn phong của La-phông-ten mang tính thơ nhẹ nhàng, mơ mộng, tươivui, dí dỏm và đa dạng Bút pháp của ông thay đổi từ tác phẩm này sang tácphẩm khác, khi dí dỏm, khi châm biếm, khi mơ mộng, lúc phóng túng Truyệnnày giống như một vở kịch hề, truyện khác có dáng dấp một phabiô thời trung
cổ La-phông-ten, con người thích những đổi thay, thường được hình dung làmột người tốt bụng, mơ màng, vô tâm, say sưa quan sát không biết chán mộtcon cò hay một đàn kiến tha mồi Có thể tưởng như La-phông-ten là một nhàvăn độc lập, đi bên lề văn học cổ điển Nhưng không phải, ông chính là một nhàvăn cổ điển tiêu biểu, bên cạnh Môlie, Raxin, Boalô Ten (H Taine, 1828-1893)viết : “Theo người ta nói lại, khi Platông (Platon, 427-347 tr CN) được biết đứcĐại đế muốn hiểu người Aten, ông đồng ý rằng cần trình bày lên ngài những hài
kịch của Arixtôphan Nếu Đại đế muốn hiểu biết chúng ta (tức là người Pháp),
chúng ta sẽ phải trình lên ngài sách của La-phông-ten” Cũng như Cornây sángtạo bi kịch, La-phông-ten đã sáng tạo ngụ ngôn Pháp với đầy đủ tính dân tộccủa nó Thế kỷ XVII, thế kỷ của sự thống nhất quốc gia Pháp, đã thành lập mộtnền văn học dân tộc - văn học cổ điển
Như các nhà văn cổ điển khác, La-phông-ten có vốn kiến thức cổ kim sâurộng, ông bắt chước Cổ đại, song “không là nô lệ”; và ông coi mục đích của vănhọc là răn dạy người đời bằng nghệ thuật ngôn ngữ
La-phông-ten được bầu vào Viện Hàn lâm năm 1683 Từ 1692, sức khỏecủa ông giảm sút nhiều và mấy năm sau thì mất
b Bài thơ ngụ ngôn “Gà Trống và Cáo”
Truyện ngụ ngôn La-phông-ten do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành
năm 2007 là cuốn sách gồm hơn 100 bài thơ Mỗi bài là một câu chuyện kể vềcác con vật, đồ vật, cỏ cây Các nhân vật này được tác giả gán cho những tínhcách tốt xấu, chất phác, khờ khạo, khôn ngoan, quỷ quyệt Nội dung chủ yếu rút
ra từ hiện thực cuộc sống, mang ý nghĩa khuyên răn, dạy bảo người đời: hãylàm việc bằng chính khả năng và sức lực của mình, chớ trông cậy vào ngườikhác; hãy yêu mến và kính trọng mọi người; hãy khôn ngoan trong cách ứng xử,chớ nên vong ân, kết oán
Bằng cách dẫn chuyện bằng thơ với những chi tiết cụ thể, sinh động,
Trang 10La-phông-ten đã đưa người đọc đến gần với cuộc sống hơn, nhất là giáo dục các emthiếu nhi những điều hay lẽ phải, luân lý đạo đức đời thường, từ hình ảnh loàivật, đồ vật gần gũi xung quanh
Bài thơ Gà Trống và Cáo được in trong tập sách ấy Bài thơ cũng được đưa vào SGK Tiếng Việt 4, tập 1 trong phân môn Tập đọc, Chính tả Gà Trống và Cáo là câu chuyện kể về cuộc đấu trí giữa hai nhân vật: Gà Trống thông minh
và Cáo gian ngoan, xảo trá Qua câu chuyện, nhà thơ muốn khuyên con ngườihãy cảnh giác, thông minh như Gà Trống, chớ tin lời lẽ ngọt ngào của kẻ xấunhư Cáo
Thần thoại Hy Lạp
Thần thoại Hy Lạp là những truyện thần thoại của người Hy Lạp, bao gồmcác truyền thuyết về các vị thần và các vị anh hùng của người Hy Lạp Ban đầu,thần thoại Hy Lạp là những câu chuyện thơ truyền khẩu qua nhiều thế hệ Cáccâu chuyện đó tồn tại đến ngày nay là nhờ các ghi chép về các câu chuyệntruyền miệng nói trên, đôi khi chúng được bổ sung thêm các lời giải thích về các
ý nghĩa biểu tượng hoặc các hàm ý khác có thể là hiện đại hoặc cổ điển Nhiệm
vụ của các nhà nghiên cứu là tìm ra những ý nghĩa ban đầu được ẩn giấu trêncác hình vẽ trên các bình gốm sứ, các bức họa, hoặc đằng sau những nghi lễtôn giáo còn tồn tại đến ngày nay
Trong các truyền thuyết, câu chuyện và trường ca, tất cả các vị thần của HyLạp cổ đại đều được miêu tả giống như hình dáng của con người, ngoại trừ một
số sinh vật nửa người nửa thú như các nhân sư, số còn lại đều có nguồn gốc từvùng Cận Đông và vùng Thổ Nhĩ Kỳ Các vị thần Hy Lạp có thể sinh con nhưngtrẻ mãi không già, không bị thương tổn, không ốm đau, có thể tàng hình, có thể
di chuyển rất nhanh và có thể dùng người là phương tiện truyền đạt ý tưởng của
họ mà người đó có thể biết hoặc không biết Mỗi vị thần có một hình dáng, mộtnguồn gốc, một sở thích, một cá tính và một lĩnh vực chuyên môn mà họ quảnlý; tuy nhiên, việc miêu tả các thần thường xuất phát từ các dị bản khác nhaunên không phải lúc nào cũng ăn khớp với nhau Khi các vị thần được vinh danhtrong thơ ca hoặc khi cầu nguyện thì họ được coi như là một ý nghĩa tổng hợpgồm tên và trách nhiệm của các vị để phân biệt với các hình ảnh khác của cácthần Trách nhiệm của một vị thần có thể phản ánh một khía cạnh đặc biệt về vaitrò của vị thần đó, Ví dụ (VD): Apollo, vị thần thơ ca là tên dành cho thầnApollo, được coi là người bảo trợ cho nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, họa; người cầmđầu các tiên nữ thơ ca muse
Nhưng trách nhiệm của một vị thần cũng có thể dùng để phân biệt một khíacạnh đặc biệt nào đó của một vị thần
Trong các truyện thần thoại Hy Lạp, các vị thần được miêu tả là nhữngngười thuộc cùng một gia đình đa thế hệ Vị thần già nhất tạo ra thế giới, nhưngcác vị thần trẻ hơn đã thay thế các vị thần già Mười hai vị thần trên đỉnhOlympus là các vị thần quen thuộc nhất với tôn giáo Hy Lạp và nghệ thuật Hy
Trang 11Lạp và được miêu tả trong các sử thi có hình dáng của con người trong Thời đại của các anh hùng Đó là các bài học mà tổ tiên người Hy Lạp phải học để có
được các kỹ năng cần thiết, lòng kính sợ thần thánh, đề cao đức hạnh và trừngphạt tội lỗi Các vị thần nửa người, nửa thần được gọi là các “anh hùng” và chođến khi thiết lập được thể chế dân chủ, các hậu duệ người Hy Lạp xây dựng trên
cơ sở của tổ tiên
Tác giả Xư-phe-rốp và đoạn trích “Chú dế sau lò sưởi ”
Đoạn văn được đưa vào là một phần của bài tập chính tả, môn Tiếng Việtlớp 4 Tác giả soạn sách đã chọn đoạn văn này nói về nhạc sĩ thiên tài, một thầnđồng trong lịch sử âm nhạc thế giới Tài năng âm nhạc của ông được công nhậnkhi mới ba, bốn tuổi Đoạn văn được trích trong SGK là câu chuyện ngắn nói vềmột trong những động lực đã thúc đẩy Mô-da sớm trở thành một thiên tài âm
nhạc, được nhiều người biết đến Qua việc điền những tiếng có vần iên, yên hay iêng, bài tập giúp hoc sinh phân biệt cách dùng những từ chứa tiếng có vần dễ
lẫn, góp phần giúp các em nắm được cách viết đúng chính tả
Theo tác giả Lê Biên (Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội, 1999), danh từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếng Việt Chiếm một
số lượng từ rất lớn trong kho từ vựng tiếng Việt, danh từ có vai trò bậc nhấttrong cấu tạo ngữ pháp Danh từ cùng với động từ tạo n ên cái trục mà quayquanh nó là những vấn đề chủ yếu về ngữ pháp và cú pháp của tiếng Việt
Theo truyền thống và thói quen ngôn ngữ, ở tiếng Việt cũng như các ngônngữ khác, phạm trù danh từ được chia thành hai mảng lớn, căn cứ vào tác dụng
và phạm vi sử dụng, đó là: danh từ riêng và danh từ chung
Danh từ riêng là những danh từ dùng làm tên gọi cho một người, một sự
vật, một hiện tượng tự nhiên (một vùng đất, dòng sông, ngọn núi ) riêng biệt,
để phân biệt sự vật này với sự vật khác Nó là tên gọi riêng cho từng người,
từng vật, từng địa danh VD: anh Nam (Nam là tên gọi một người) ; Pa-ri : tên
gọi của một thành phố lớn, thủ đô nước Pháp
Xét về cấu trúc của danh từ riêng có hai bộ phận:
- Bộ phận chỉ tên riêng Việt Nam như: Lê Quý Đôn; rừng Cúc Phương;
con Vàng; tập thơ Từ ấy
- Bộ phận chỉ tên riêng nước ngoài (tên người, loài vật và tên địa danh).
Bộ phận này có những cách cấu tạo, sử dụng sau:
+ Tên riêng được vay mượn gián tiếp (qua cách đọc phiên âm Hán Việt,qua tiếng Pháp) như: vịnh Ba Tư (vịnh Péc-xích), Lê-nin
+ Cấu tạo tên riêng bằng cách phiên âm trực tiếp cách phát âm của tiếng
Trang 12nước đó, như: Béc-lin, Ca-na-đa, Na-pô-nê-ông,
Xu thế này được nhiều người tán thành, sử dụng Địa hạt tên riêng chỉngười, tên địa danh nước ngoài, hiện nay vẫn còn những trường hợp là một tênngười, một địa danh lại có hai, ba cách gọi khác nhau, như Mạc Tư Khoa vàMatxcơva, Nã Phá Luân và Na-pô-nê-ông
Tuy nhiên, cần lưu ý cách viết tên riêng đến nay còn là vấn đề thời sự, đã
và đang được bàn luận để tìm cách viết hợp lý, giản tiện, đảm bảo tính khoahọc Trong quá trình chuẩn hóa tiếng Việt, bước đầu đã có những quy định đểdần dần thống nhất cách viết tên riêng trên sách báo, và dùng trong nhà trường.Cần tìm hiểu, học tập để sử dụng và giảng dạy cho đúng quy tắc và đúng chuẩncủa Tiếng Việt
Trong cuốn Dạy học Chính tả ở Tiểu học, xuất bản năm 2007, tác giả Hoàng Văn Thung - Đỗ Xuân Thảo đã đề cập đến vấn đề Chính tả các từ phiên
âm như sau:
Phiên âm là cách đọc tiếng nước ngoài sang tiếng Việt bàng cách ghi âmcủa tiếng Việt Những tiếng nước ngoài thường phiên âm là tên riêng, tên tổchức chính trị - xã hội, địa danh, tác phẩm khoa học tự nhiên và khoa học xãhội
Theo nguyên tắc chung, phiên âm dựa trên cách đọc nguyên ngữ rồi ghi
âm bằng chữ viết tiếng Việt, để tái tạo lại cách đọc nguyên ngữ của các từ đượcghi âm
Trong thực tế, cách viết ghi âm chỉ có thể phản ánh cách đọc tương đốiđúng so với cách đọc nguyên ngữ Các chữ cái ở bảng chữ cái tiếng Việt vốnphù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt, có nhiều điểm không theo sát hệ thốngnhững âm không có ở hệ thống ngữ âm tiếng nước ngoài, và trong hệ thống ngữ
âm tiếng nước ngoài, và trong hệ thống ngữ âm tiếng nước ngoài cũng có những
âm không có ở hệ thống ngữ âm tiếng Việt Nguyên nhân đó dẫn đến tình trạngvừa thừa vừa thiếu chữ cái trong cách viết phiên âm Để khắc phục tình trạng
đó, buộc phải sử dụng thêm một số chữ cái (chủ yếu là chữ La-tinh - cùngnguồn gốc với chữ Việt) để ghi những câu không có trong hệ thống ngữ âmtiếng Việt Cách viết ghi âm bằng chữ viết La tinh để áp dụng khi tiếng nướcngoài cũng dùng chữ viết La tinh như tiếng Việt (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếngTây Ba Nha v.v )
Đối với các ngôn ngữ dùng chữ viết riêng-không phải là chữ viết La tinh,thì có thể căn cứ vào cách đọc nguyên dạng để ghi trực tiếp bằng chữ Việt (tiếngNga, tiếng Lào, tiếng Hán, tiếng Cam-pu-chia v.v )
Chuyển tự là chuyển cách viết tiếng nước ngoài sang cách viết bằng chữViệt Chuyển tự được thực hiện đối với những tiếng nước ngoài cùng sử dụngchữ La tinh như tiếng Việt
Đối với các nước dùng chữ viết không phải là chữ La tinh (chữ Hán, chữNhật, chữ Thái v.v ) thì phải chuyển tự sang chữ La tinh để viết tiếng Việt
Trang 13Chính tả tên riêng và thuật ngữ theo các quy định về cách viết phiên âm và
chuyển tự (ban hành kèm theo quyết định số 240/QĐ ngày 5-3-1984 của Bộ giáo dục) cần chú ý một số điểm cụ thể sau:
a) Viết các tên riêng và thuật ngữ chủ yếu theo dạng chữ viết La tinh (chữviết chính thức hay phiên âm từ nguyên ngữ) vận dụng vào từng trường hợp cụthể được quy định trong văn bản trên
b) Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại hai cách xử lý chính tả khi viết các tênriêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài:
Trang 14Các trường hợp tiết trong từ nguyên ngữ Cách viết liền các âm
Cách viết ròi từng âm tiết trong từ nguyên ngữ (cách viết tiếng
Việt)
- Chữ viết của nguyên
ngữ là chữ cái La tinh Paris (Pháp) London
(Anh) Petofi (Hungari)
Latin
Pa-riLuân-đônPê-tơ-fi (phi)
Lô-mô-nô-xốpMát-xcơ-vaSếch-xpia
-Chữ viết nguyên ngữ
không phải là chữ ghi
âm-phiên âm và chuyển
- Các thuật ngữ khoa
học
acidgramsulfur parabolvideo
a-xitgamsun-fua pa-ra-bon vi-
đi-ô
1.1.3 về dạy học theo chủ điểm trong chưong trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Trang 15Sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 thể hiện hướng tích hợp thông qua hệthống các chủ điểm học tập Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc,
Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít được gắn bó với nhau,nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụcung cấp kiến thức và rèn kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước.Ngoài ra, SGK Tiếng Việt còn được xây dựng dựa trên nguyên tắc tích hợptheo chiều dọc, nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới vớinhững kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi
là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc), cụ thể là: Kiến thức và kĩ năng của lớptrên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới,nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới Có thể lấy một VDtrong cuốn sách Tiếng Việt để làm rõ điều này: Trong bộ SGK, chủ điểm đượcchọn làm khung cho cả cuốn sách (chủ điểm Gia đình, Nhà trường, Xã hội,Thiên nhiên và đất nước ) Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học tập Ở lớp 1,thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trởlại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thácsâu hơn Từ lớp 2 đến lớp 3, mỗi chủ điểm được dạy trong hai tuần; vòng đồngtâm xoáy trôn ốc ở đây thưa hơn: Phải sau một năm, học sinh trở lại với chủđiểm đã học Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần và chỉxuất hiện một lần
Về nội dung, cả ba lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây dựngtheo các chủ điểm: Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Tuy vậy , cácchủ điểm được mở rộng và nâng cao dần ở mỗi lớp VD ở lớp 2, các chủ điểmtrên được chia nhỏ với các tên gọi như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học,Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc,Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân Đến lớp 3, các chủ điểm từtuần 1 đến tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) tuy quen thuộc nhưng đãđược mở rộng và nâng cao một bậc so với lớp 2; các chủ điểm từ tuần 7 đếntuần 32 (Cộng đồng, Quê hương Bắc - Trung - Nam, Anh em một nhà, Thànhthị- nông thôn, Bảo vệ Tổ Quốc, Sáng tạo, Văn hóa - Nghệ thuật, Lễ hội, Thểthao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất) thể hiện nội dung hoàn toàn mới sovới lớp 2
Trong dạy học Tiếng Việt, tích hợp hiểu một cách đơn giản là dạy đọc,viết, nghe, nói, Làm văn, Luyện từ và câu hợp nhất, hòa trộn và nhau, học cáinày thông qua cái kia và ngược lại Như thế mới tránh được những vướ ng mắc
dư thừa hay chồng chéo nội dung trong quá trình dạy học Tiếng Việt và Làmvăn, Luyện từ và câu như trước đây Có thể khẳng định ở đây là dạy học TiếngViệt hướng tới mục tiêu chung là hình thành, rèn luyện bốn kĩ năng nghe, nói,
Trang 16đọc, viết cho HS và đều dựa vào một chủ điểm Với sự mở rộng việc lựa chọncác chủ điểm như thế trong SGK sẽ tạo cơ hội và cơ sở tích hợp trong dạy họcTiếng Việt đậm đặc hơn Tuy nhiên, sự lựa chọn chủ điểm không thể tùy tiện.Tiêu chuẩn đầu tiên để chọn chủ điểm được dùng chung này là phải đảm bảomọi thuộc tính riêng của Tập đọc, Làm văn, Chính tả phải được hòa kết vớinhau thì mới tạo nên “tam vị nhất thể” rõ ràng, nổi lên trên mọi thuộc tính đabiệt Như vậy, từ bốn kĩ năng được dạy tách biệt đã được hợp nhất về một môn
có tên gọi Tiếng Việt
Có thể nói rằng tác phẩm văn học là một yếu tố cấu thành SGK Tiếng ViệtTiểu học Ở chương trình Tiểu học 2000, kiến thức về Ngữ chiếm tỉ lệ nhiềuhơn kiến thức về Văn và được tích hợp thành một môn, được thể hiện chung
trong một cuốn sách - sách môn “Tiếng Việt”.
Từ nội dung chương trình, từ chủ điểm, tác giả SGK đi tìm tác phẩm vănhọc và biên soạn thành bài học giáo khoa sao cho vừa phải đảm bảo tính giáodục vừa cung cấp kiến thức ngôn từ, kiến thức về đời sống xã hội cho trẻ thơ.Những bài thơ, bài văn, văn bản tác giả SGK phải tìm buộc phải thỏa mãnkhông ít yêu cầu, như phải gắn với chủ điểm, phải vừa có giá trị thẩm mĩ, giá trịgiáo dục cao, vừa phù hợp đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức của họcsinh Tiểu học, vừa góp phần rèn luyện nhân cách vừa góp phần rèn luyện lời ăntiếng nói cho HS Chương trình, đề cương mà chủ biên và hội đồng xây dựngcũng yêu cầu tác giả SGK phải chọn thơ, văn sao cho phong phú về nội dung,
đa dạng về thể loại, đặc sắc về cấu trúc, tinh tế hàm súc về ngôn từ, Đồngthời, với việc tìm chọn những văn bản đảm bảo giá trị nội dung và giá trị nghệthuật, tác giả SGK còn phải chú trọng tính đa dạng, đặc trưng của vùng miền,của các thế hệ nhà văn, nhà thơ', Có thể nói mà không hề quá rằng tìm đượcbài thơ, bài văn làm ngữ liệu cho việc biên soạn các bài học, người viết SGKTiếng Việt tiểu học 2000 đã hoàn thành hơn 90% công việc được giao
Tỷ lệ thơ so với văn xuôi ở mỗi lớp và mỗi phân môn không hoàn toànnhư nhau Điều này tùy thuộc vào thế mạnh của mỗi thể loại trong sự gắn vớinhiệm vụ chuyển tải các đơn vị kiến thức
Văn bản từ các nguồn từ sách in, báo in đến sách báo trên mạng Internet;
từ tác phẩm trong nước đến tác phẩm nước ngoài, đến tìm lại từ SGK cũ, đềuđược tác giả SGK Tiếng Việt Tiểu học tìm tòi, lục soát với nhiều phương thức,trong đó có cả tìm cách tiếp cận, gặp gỡ các nhà thơ, nhà văn để đặt hàng sángtác bài vở cho chủ điểm mình cần
Có thể mở bất cứ trang sách nào của SGK Tiếng Việt Tiểu học, ở mỗi tuầnmỗi chủ điểm, ta đều dễ dàng bắt gặp những câu thơ, đoạn văn được làm dẫnliệu cho các kiểu rèn luyện chính tả, bài tập luyện từ và câu, bài tập làm văn
Trang 17Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1) cũng theo cấu trúcnhư vậy Trong tổng số 24 bài học của chủ điểm có 6 bài dạy - học kiến thứcnước ngoài
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tiễn việc dạy - học phân môn Tiếng Việt theo chủ điểm
Dựa vào mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, SGK đã tích hợp kiếnthức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và
xã hội thông qua các chủ điểm học tập theo nguyên tắc đồng quy Bằng việc tổchức hệ thống bài đọc, bài học theo chủ điểm, SGK dẫn dắt HS đi dần vào cáclĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ, vốn diễn đạt của các em vềnhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời mở rộng cánh cửa cho các em bướcvào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình
Ở lớp 1, HS được học theo các chủ điểm tương đối rộng: Nhà trường, Giađình, Thiên nhiên và Đất nước Lên lớp 2, các chủ điểm được chia nhỏ hơn.VD: chủ điểm Nhà trường và Gia đình ở lớp 2 được chia thành 8 chủ điểm nhỏ:
Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn ởtrong nhà Lớp 3, ngoài các chủ điểm đã học ở lớp 1 và 2, HS được tiếp cận vớicác chủ điểm mới mở rộng hơn như Quê hương, Cộng đồng, Bắc Trung Nam,Ngôi nhà chung, Khoa học, Thể thao, Lễ hội Lớp 4: Thương người như thểthương thân, Măng mọc thẳng, Trên đôi cánh ước mơ, Có chí thì nên, Người ta
là hoa đất, Những người quả cảm, Khám phá thế giới, Tình yêu cuộc sống Lớp 5: Việt Nam - Tổ quốc em, Cánh chim hoà bình, Con người với thiên nhiên,Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người, Vì cuộc sống thanh bình, Nhớnguồn, Những chủ nhân tương lai
Việc chia nhỏ các chủ điểm phù hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ vàgiúp trẻ duy trì hứng thú học tập, loại trừ cảm giác nhàm chán dễ xảy ra khi họcmột chủ điểm trong một thời gian quá dài
Các chủ điểm là bộ khung cho cả cuốn SGK Ở lớp 1, thời gian học dànhcho mỗi đơn vị học là 1 tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồngtâm xoáy ốc; mỗi lần trở lại là một lần khai thác sâu hơn Từ lớp 2 trở lên, mỗichủ điểm được dạy trong 2 tuần, vòng đồng tâm xoáy ốc thưa hơn Phải sau mộtnăm, học sinh mới trở lại với chủ điểm đã học
Tính tích hợp của bộ sách còn thể hiện ở sự gắn bó giữa các bài học trongphân môn học, sự gắn bó các phân môn trong môn học Quan điểm tích hợp thểhiện rõ trong SGK Tiếng Việt Tiểu học có thể theo chiều ngang hoặc theo chiềudọc
* Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức giữa tiếng Việt với cácmảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc
Trang 18đồng quy Chẳng hạn hướng tích hợp này được SGK Tiếng Việt lớp 4 thể hiệnthông qua hệ thống 10 chủ điểm:
- Tập 1: Thương người như thể thương thân - Măng mọc thẳng - Trên đôicánh ước mơ - Có chí thì nên - Tiếng sáo diều
Tập 2: Người ta là hoa đất Vẽ đẹp muôn màu Những người quả cảm Khám phá thế giới - Tình yêu cuộc sống
-SGK đã hướng dẫn các lĩnh vực vào đời sống Qua đó tăng cường vốn từ,khả năng diễn đạt về mọi lĩnh vực Nhà trường - Gia đình - Xã hội giúp các emhiểu được thế giới xung quanh soi vào thế giới tâm hồn mình.Theo quan điểmtích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Luyện từ và câu, Tậplàm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trụcchủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năngcũng gắn bõ chặt chẽ với nhau hơn trước
SGK Tiếng Việt lớp 2 có chủ điểm: “Em là học sinh” Mở đầu chủ điểm làbài: “Lý lịch” để giáo dục HS biết những điều cơ bản và rất gần gũi về bản thân,phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS Đây là chủ điểm mới thể hiện rất rõtính nhân văn, rất gần gũi với HS
* Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức và kỹ năng vớiđơn vị kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Nghĩalà: kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm cả kiến thức và kỹnăng của lớp dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kỹ năng của lớp dưới,bậc học dưới Điều này ở phân môn Tập đọc thể hiện rất rõ
VD: Về mặt kiến thức: Ở lớp 1 cũng như lớp 2, toàn bộ các bài học đềuđược xây dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên
Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượttrở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thácsâu hơn Đến lớp 2, mỗi chủ điểm nói trên được chia thành nhiều chủ điểm nhỏ,tạo điều kiện cho HS hiểu biết sâu hơn nữa VD: chủ điểm Nhà trường bao gồm
4 chủ điểm nhỏ là Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, thầy cô Mỗi chủ điểmnhỏ được học trong 2 tuần và chỉ xuất hiện 1 lần Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủđiểm được dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần
Trên cơ sở định hướng của Chương trình và SGK ta thấy SGK Tiếng Việtthực hiện việc tích hợp theo các hướng chính sau:
- Tích hợp kiến thức thông qua các hệ thống chủ điểm (nội dung các bàiđọc được thiết lập theo chủ điểm và chương trình là một hệ thống các chủ điểm
về các vấn đề gần gũi với trẻ như gia đình, trường học)
- Tích hợp các kỹ năng học tập (các bài học đều chú ý rèn luyện cả 4 kỹnăng: nghe- nói- đọc- viết, kết hợp dạy thực hành các kỹ năng trên với dạy trithức: ở lớp 4,5 tuy đã có bài dạy tri thức Tiếng Việt riêng, song các bài này vẫnđược thực hiện trên cơ sở thực hành đọc, viết, nghe, nói Tuy nhiên trong đó cómột kỹ năng trung tâm, các kỹ năng khác được rèn luyện phối hợp và có tác
Trang 19có thể vượt qua bằng nỗ lực, bằng cả sự lạc quan và biết ước mơ Thế nênnhững bài thơ, bài văn, văn bản mà các tác giả SGK lựa chọn cũng đề cập đếnchủ điểm xuyên suốt đó Không những thế, hầu hết các bài Tập đọc trong chủ
điểm là ngữ liệu cho bài viết Chính tả trong tuần như: Gà Trống và Cáo, Trung thu độc lập, Thợ rèn Phân môn Luyện từ và câu tập trung vào nội dung về từ loại: Cách viết tên người, tên địa lỷ Việt Nam; cách viết tên người, tên địa lỷ nước ngoài Thêm vào đó là một tiết Mở rộng vốn từ về ước mơ, một bài về Dấu ngoặc kép và một bài về Động từ Phân môn kể chuyện bên cạnh việc tiếp tục hướng HS vào kĩ năng kể chuyện đã nghe, đã đọc, biết lựa chọn những câu
chuyện phù hợp với chủ điểm: những ước mơ đẹp hay những ước mơ viểnvông, phi lý để kể SGK còn cung cấp cho HS một số câu chuyện mới ở tuần 8
như: Lời ước dưới trăng mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đó là những ước
mơ đẹp mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mọi người Ngoài ra, trong chủ
điểm còn giới thiệu một kiểu bài kể chuyện mới: Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia tuy không phải là mới hoàn toàn vì các em đã được làm quen với
kiểu bài này trong phân môn Tập làm văn lớp 3 nhưng trong chủ điểm này lại đisâu vào khai thác những câu chuyện là những ước mơ có thực, đẹp đẽ của mìnhhoặc bạn bè, người thân Qua bài học, HS có kĩ năng sắp xếp các sự việc thànhmột câu chuyện, sau đó biết trao đổi với các bạn về ý nghĩa câu chuyện củamình
Riêng với phân môn Tập làm văn, trong ba tuần học chủ điểm "Trên đôi
cánh ước mơ” chủ yếu tập trung dạy, học các dạng bài Luyện tập phát triển câu chuyện, chiếm 4 tiết/6 tiết tập làm văn Các dạng bài tập làm văn này hướng tới
mục tiêu làm quen với hoạt động phát triển câu chuyện, sắp xếp các sự việc theo
trình tự thời gian hoặc không gian 2/6 bài tập làm văn còn lại, một bài Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện dựa vào cốt chuyện cho sẵn, HS biết tạo dựng
các đoạn văn của bài kể chuyện Đây có thể coi là một bài làm nền móng, mởđầu cho các kiểu bài luyện tập phát triển câu chuyện, khiến cho các em có thểthực hành tốt hơn dạng bài này Kết thức chủ điểm là một dạng bài hoàn toàn
mới: Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân Sau bài này, HS có khả năng
thực hiện các cuộc trao đổi có mục đích với thái độ tự tin, thân ái, lời lẽ có sức
Trang 20thuyết phục Góp phần rèn khả năng sử dụng lời lẽ, cử chỉ thích hợp để thuyếtphục người khác trong một việc nào đó.
Tuy nhiên, chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” chưa được người GV, họcviên lựa chọn để làm đề tài khoa học Chỉ có một số bài được lựa chọn để dạy
chuyên đề, hội giảng như bài: Điều ước của vua Mi-đát, Nếu chúng mình có phép lạ (Tập đọc), Cách viết tên người, tên riêng Việt Nam, Mở rộng vốn từ: Ước mơ (Luyện từ và câu) Có lẽ là vì ở phân môn Luyện từ và câu có bài nội dung kiến thức tương đối rộng và khó như bài Cách viết tên người, tên địa lỷ nước ngoài Các bài tập làm văn, kể chuyện thì đòi hỏi HS phải chủ động, tự tin
trong các hoạt động học thì giờ dạy mới thành công được Điều này khiến người
GV luôn phải cân nhắc, cẩn trọng khi chọn bài để lên tiết dạy mẫu hay thi GVdạy giỏi
Tiểu kết chương 1
Các tác phẩm, trích đoạn tác phẩm được chọn để giảng dạy hoặc làm ngữliệu giảng dạy đều thuộc các tác phẩm tiêu biểu của một số nền văn học nướcngoài; có nội dung dễ hiểu, đơn giản, gần gũi, phù hợp với tâm lý của trẻ thơđồng thời phù hợp với định hướng giáo dục tâm lý, đạo đức của giáo dục ViệtNam
Vấn đề lý luận ngôn ngữ học làm cơ sở cho luận văn là những vấn đề vềdanh từ Trong đó, đặc biệt là vấn đề danh từ riêng và cách đọc, cách viết danh
từ riêng nước ngoài Về vấn đề thứ hai, đã có quy định chung về cách viết phiên
âm và chuyển tự trong chính tả tên riêng và thuật ngữ (ban hành kèm theo Quyết định số 240/QĐ ngày 05-3-1984 của Bộ Giáo dục) Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng hiện nay vẫn tồn tại hai cách xử lý chính tả khi viết các tên riêng và thuậtngữ tiếng nước ngoài, đó là cách viết liền các âm tiết trong từ nguyên ngữ vàcách viết rời từng âm tiết trong từ nguyên ngữ (cách viết tiếng Việt)
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học - 2006 gồm các bộ phận là kỹ năng sử
dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói); tri thức Tiếng Việt (một số hiểu biết cơ
sở, tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp ); Tri thức về văn học,
về tự nhiên và xã hội (một số hiểu biết tối thiểu về sáng tác văn học và cách tiếp cận chúng, về con người, về đời sống tinh thần và vật chất của họ, về đất nước
và dân tộc Việt Nam ) Cấu trúc này được sắp xếp theo hai giai đoạn phát triển
của HS lứa tuổi Tiểu học
Trong thực tế, hoạt động dạy học dựa trên cơ sở của nguyên tắc tích hợp,đồng quy: Tích hợp kiến thức thông qua các hệ thống chủ điểm; Tích hợp các
kỹ năng học tập
“Trên đôi cánh ước mơ” là chủ điểm thứ ba trong SGK Tiếng Việt 4, tập 1.Các bài Tập đọc trong chủ điểm này đều xoay quanh việc nêu gương, cổ vũ conngười vượt qua những khó khăn thử thách, cám dỗ để vươn tới những điều tốtđẹp trong cuộc sống Những bài tập đọc trở thành ngữ liệu cho các bài Chính tả,Luyện từ và câu
Trang 21Như vậy, Chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát những cơ sở lýluận và thực tiễn cần thiết cho đề tài luận văn.
Trang 22Chương 2:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY - HỌC KIẾN THỨC NƯỚC NGOÀI
TRONG CHỦ ĐIỂM “TRÊN ĐÔI CÁNH ƯỚC MƠ”
(TIẾNG VIỆT LỚP 4, TẬP 1)
2.1 Khái quát về chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
2.1.1 Vị trí của chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình
môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
Trong bộ SGK, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách (chủđiểm Gia đình, Nhà trường, Xã hội, Thiên nhiên và đất nước ) Mỗi chủ điểmứng với một đơn vị học tập Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là mộttuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗilần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn Từ lớp 2 đến lớp 3, mỗi chủ điểmđược dạy trong hai tuần; vòng đồng tâm xoáy trôn ốc ở đây thưa hơn: Phải saumột năm, HS trở lại với chủ điểm đã học Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểmđược dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần
SGK Tiếng Việt 4 (tập 1, tập 2) dạy cho cả năm học được chia làm 10 chủđiểm Trong đó, chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” được xếp ở vị trí thứ ba, sau
2 chủ điểm: Thương người như thể thương thân, Măng mọc thẳng Chủ điểm
“Trên đôi cánh ước mơ” được dạy trong ba tuần học: tuần 7, 8, 9 của học kỳ I.Cách sắp xếp chủ điểm như vậy là phù hợp với nhận thức, tâm lý lứa tuổi củahọc sinh Sở dĩ các chủ điểm được sắp xếp như vậy là vì ngay từ những chủđiểm đầu tiên, chương trình SGK đã chuẩn bị và định hướng cho các em một
số tính cách tốt đẹp của con người trong thế hệ mới Đó là
nhân hậu, đoàn kết, tình yêu thương con người “Thương người như thể thương thân trung thực, tự trọng trong “Măng mọc thẳng ” và biết ước mơ và vươn tới
thực hiện ước mơ của mình trong “Trên đôi cánh ước mơ” Các tính cách tốtđẹp đó được tiếp nối và tạm kết thúc vào cuối học kỳ I ở chủ điểm thứ tư, đó là:nghị lực, ý chí quyết tâm, vượt khó của con người Các chủ điểm tiếp sau đó ởhọc kỳ hai đi sâu vào chủ yếu khám phá các năng lực, sở thích của con người
2.1.2 Nội dung của chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương
trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
Tính phù hợp lứa tuổi, trình độ nhận thức của đối tượng tiếp nhận luôn làtiêu chí tối cao cho việc lựa chọn tác phẩm để đưa vào chương trình dạy vàhọc Hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, bước đầu nâng cao tính tích cực,chủ động, sáng tạo của HS Tiểu học phụ thuộc vào yếu tố này Dạy văn ở Tiểu
Trang 23học là dạy theo chủ điểm Bởi thế, các nhà biên soạn, khi lựa chọn giới thiệu,giảng dạy các tác phẩm văn học trong nước và nước ngoài trong chương trìnhTiểu học đều quan tâm trước hết đến ý nghĩa giáo dục của nó Các khía cạnhkhác như tính khái quát, tính nghệ thuật, tính hệ thống, tính lịch sử của tácphẩm cũng quan trọng nhưng chưa cần thiết phải giới thiệu kỹ vì chúng quátrừu tượng với các em.
Trong chương trình Tiểu học có khoảng hơn 100 truyện dân gian cùng vớicác bài, các đoạn trích văn thơ của các tác giả nổi tiếng trên thế giới Các tácgiả và tác phẩm ấy đã để lại những dấu ấn khó phai trong tâm trí của bạn đọc ởlứa tuổi Tiểu học về những kiến thức phong phú của đời sống, về những khátvọng cao cả của con người từ ngàn xưa cho đến bây giờ trên khắp trái đất củachúng ta
Việc chia nhỏ các chủ điểm phù hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ vàgiúp trẻ duy trì hứng thú học tập, loại trừ cảm giác nhàm chán dễ xảy ra khihọc một chủ điểm trong một thời gian quá dài
Về nội dung, cả ba lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây dựngtheo các chủ điểm: Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Tuy vậy cácchủ điểm được mở rộng và nâng cao dần ở mỗi lớp VD ở lớp 2, các chủ điểmtrên được chia nhỏ với các tên gọi như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học,Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc,Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân Đến lớp 3, các chủ điểm từtuần 1 đến tuần 6 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) tuy quen thuộc nhưng đãđược mở rộng và nâng cao một bậc so với lớp 2; các chủ điểm từ tuần 7 đếntuần 32 (Cộng đồng, Quê hương Bắc - Trung - Nam, Anh em một nhà, Thànhthị - nông thôn, Bảo vệ Tổ Quốc, Sáng tạo, Văn hóa - Nghệ thuật, Lễ hội, Thểthao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất) thể hiện nội dung hoàn toàn mới sovới lớp 2
Lên lớp 4, các chủ điểm vẫn trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy ốc, nhưngkhai thác sâu hơn Nội dung các chủ điểm là những vấn đề về đời sống tinhthần như tính cách, đạo đức, năng lực, sở thích Trong SGK Tiếng Việt 4, tập
1 HS làm quen với 5 chủ điểm: “Thương người như thể thương thân” (nói về
lòng nhân ái), “Măng mọc thẳng” (nói về tính trung thực, lòng tự trọng), “Trên đôi cánh ước mơ” (nói về ước mơ của con người), “Có chí thì nên” (nói về
nghị lực của con người), “Tiếng sáo diều” (nói về vui chơi của trẻ em) Sangđến học kỳ 2, các em tiếp tục khám phá các chủ điểm như: “Người ta là hoađất” (nói về năng lực và tài trí), “Vẻ đẹp muôn màu” (nói về óc thẩm mĩ),
“Những người quả cảm” (nói về lòng dũng cảm), “Khám phá thế giới” (nói về
du lịch, thám hiểm), “Tình yêu cuộc sống” (Nói về lòng lạc quan, yêu đời)Trong khuôn khổ có hạn, luận văn đi sâu vào chủ điểm thứ ba - “Trên đôi
Trang 24cánh ước mơ” Cuộc sống có biết bao khó khăn, thử thách, nhưng con ngườivẫn có thể vượt qua bằng nỗ lực, bằng sự lạc quan và biết ước mơ Mở đầu chủ
điểm là bài Tập đọc Trung thu độc lập, HS được biết đêm trung thu đầu tiên
của đất nước, anh chiến sĩ đứng gác và mơ ước về tương lai đẹp đẽ của các em
nhỏ và của đất nước Sau đó là câu chuyện Lời ước dưới trăng với ý nghĩa:
những ước mơ đẹp sẽ mang đến niềm vui và hạnh phúc cho con người Ước
mơ của các bạn nhỏ về một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, có những phát minh
độc đáo của trẻ em là nội dung của vở kịch Ở Vương quốc Tương Lai Ngoài
ra, bài thơ Nếu chúng mình có phép lạ cho các em thấy những ước mơ ngộ
nghĩnh, đáng yêu của bạn nhỏ bộc lộ khát khao về một thế giới tốt đẹp Hayước mơ giản dị của một bạn nhỏ trong tương lai là trở thành người thợ rèn và
thuyết phục mẹ rằng nghề nào cũng đáng quý trong câu chuyện Thưa chuyện với mẹ Tự có những ước mơ tốt đẹp của riêng mình nhưng cũng biết quan tâm
và tôn trong ước mơ của người khác như trong bài Đôi giày ba ta màu xanh.
Và bài học sâu sắc những ước muốn tham lam không đem lại hạnh phúc cho
con người sau câu chuyện Điều ước của vua Mi-đát Tất cả những tác phẩm,
những câu chuyện, bài thơ, vở kịch của các tác giả văn học nổi tiếng trongnước và đặc biệt là trên thế giới được chọn trong chủ điểm đều nhằm giáo dụcnhằm hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho con người Ngoài việc đem lạicác tác phẩm văn học nước ngoài, chủ điểm còn đem lại cho HS các bài họcLuyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả liên quan đến kiến thức nước ngoài
Đó là: cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài - một trong những nội dungdạy học hay, mở mang tầm hiểu biết về từ loại không hề dễ và gần gũi đối với
HS Tiểu học
Trong chủ điểm đặc biệt có bài: “Ở Vương quốc Tương Lai” là một đoạn
trích trong vở kịch Con chim xanh của Mát-téc-lích Đây là một thể loại nghệ
thuật không được giới thiệu nhiều trong chương trình học của HS Tiểu học Cảchương trình học Tiếng Việt Tiểu học nói chung và Tiếng Việt 4 nói riêng chỉ
có một bài duy nhất viết theo thể loại kịch của văn học nước ngoài Tuy nhiên
nội dung của bài học lại rất nhân văn và phù hợp với nhận thức của trẻ nhỏ Đó
là ước mơ của các bạn nhỏ về một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, có những phátminh độc đáo của trẻ em trong tương lai Qua đó, tác giả và người xây dựngchương trình sách muốn giáo dục HS biết mơ ước, có những hành động và việclàm thiết thực để thực hiện ước mơ đó Đây là chủ điểm mới thể hiện rõ tínhnhân văn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và rất gần gũi với HS
2.1.3 Ỷ nghĩa của chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình
môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1
Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” không những cung cấp cho HS nhữngbài học có nội dung hay mà còn đem lại cho các em những bài học nhẹ nhàng,đầy ý nghĩa, giàu tính nhân văn Đó là việc ý thức được tầm quan trọng củanhững ước mơ trong tương lai, để từ đó có định hướng trong việc cố gắng học
Trang 25tập tốt, lao động tốt để đạt được những ước mơ tốt đẹp đó.
Bởi mỗi con người ta khi sinh ra đều có những ước mơ, hoài bão choriêng mình Những ước mơ đó là những khát khao, hi vọng mà chúng ta vươntới Người GV giáo dục các em muốn thực hiện ước mơ đó, trước tiên chúng tacần phải học tập,lao động hết mình để góp phần nâng cánh những ước mơ trở
thành hiện thực M.Goorki đã nói: “Lao động là đôi cánh của ươc mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo ” Như vậy, trước hết muốn lao động tốt chúng
ta phải phấn đấu học tập tốt Học tập và lao động là đôi cánh nâng những ước
mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phánhững điều bất ngờ, thú vị Hiện nay ở nước ta và trên thế giới có rất nhiềungười đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ học tập và lao động mà đặc biệt
là thế hệ trẻ-những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo vàcống hiến hết mình Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềmvui của mỗi người Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi nhữngnỗi buồn, nỗi đau trong cuộc sống Làm việc hết mình, suy nghĩ hết mình, sángtạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cáimới Và khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cũng đi lên, pháttriển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới Như vậy, ý kiến của M Gooc-ki làhoàn toàn đúng Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động khôngngừng, đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cáimới Bên cạnh đó, mỗi HS chúng ta phải có thái độ tích cực, tự giác học tậpnghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, có tính tự giác, kỉ luậtcao trong học tập, lao động để có được những thành quả lớn nhất Mỗi ngườichúng ta, bên cạnh việc học tập, phải lao động, sáng tạo và tìm tòi những cáimới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao độngsáng tạo để có kết quả tốt nhất Vì chính lao động cũng giúp cho cuộc sống và
xã hội thêm phát triển
Chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” còn mang ý nghĩa thứ hai, đó là chínhtình yêu thương, sự quan tâm của mọi người xung quanh sẽ góp phần chắpcánh cho ước mơ của các em nhỏ bay cao, bay xa Như Napoleon Hill đã nói:
“Hãy nuôi dưỡng và khát khao những ước mơ vì đó là động lực giúp bạn đạtđược mục đích của mình" Và để đạt được thành công, bạn phải chắp cánh choước mơ bay thật cao, thật xa Không chỉ thế, bạn còn có thể chắp cánh cho ước
mơ của mọi người
2.1.4 Nhóm bài có kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh
ước mơ” (Chương trình môn Tiếng Việt lớp 4, tập 1)
Trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ”, Tiếng Việt 4, tập 1, nhóm bài cókiến thức nước ngoài bao gồm:
Bài 1: Tập đọc Ở Vương quốc Tương Lai
Bài 2: Luyện từ và câu Cách viết tên người, tên địa lỷ nước ngoài
Trang 26Bài 3: Kể chuyện Kể chuyện đã nghe, đã đọc
Bài 4: Tập làm văn Luyện tập phát triển câu chuyện
Bài 5: Tập đọc Điều ước của vua Mi-đát
Bài 6: Chính tả Gà trống và Cáo.
Nhóm bài trên, ngoài việc thể hiện nội dung “Trên đôi cánh ước mơ” củachủ điểm, còn thể hiện những nội dung kiến thức nước ngoài Đó là cách phát
âm, cách viết tên riêng (Mi-tin, Tin-tin, Mi-đát, ) Đó là giá trị văn hóa, văn
học của Thần thoại Hy Lạp mà trong bài Tập đọc Điều ước của vua Mi-đát thể
hiện khá rõ: con người và thần thánh có mối liên hệ gần gũi, gắn bó, thần thánh
có hình dạng giống con người (đặc điểm này khác những câu chuyện cổ ViệtNam) Hay trong truyện thơ La-phông-ten, những bài học ngụ ngôn được thểhiện qua hình thức những bài thơ - khác với truyện ngụ ngôn của Việt Namđược thể hiện qua các câu chuyện văn xuôi Bên cạnh đó cũng cần nhắc đếnnền văn minh vật chất với sự phát triển của khoa học kĩ thuật được thể hiện qua
những ước mơ của các bạn nhỏ trong bài Tập đọc Ở Vương quốc Tương Lai
-tác phẩm ra đời từ đầu thế kỉ XX nhưng các bạn nhỏ đã vươn tới những ước
mơ về các loại máy móc, những sáng chế, phát minh Trong các bài Tập làmvăn về kể chuyện trong nhóm bài này, học sinh cần nắm được những chi tiếtthể hiện kiến thức nước ngoài của các câu chuyện kể để việc kể chuyện đạt yêucầu
2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học kiến thức nước ngoài trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 - tập 1
2.2.1. Phát huy liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ học
Liên tưởng là hoạt động tâm lý của con người, từ việc này mà nghĩ đếnviệc kia, từ người này mà nghĩ đến người khác Cơ sở của hoạt động liên tưởng
là mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng trong đời sống
Trong hoạt động học tập của học sinh, liên tưởng là hoạt động có mụcđích, nhằm làm nổi bật thực chất một hiện tượng, nhận ra một ý nghĩa nào đó.Các loại liên tưởng bao gồm Liên tưởng tương cận, Liên tưởng tươngđồng, Liên tưởng đối sánh, trái ngược, Liên tưởng nhân quả
Trong hoạt động liên tưởng, yêu cầu phải hợp lý, tự nhiên, mới mẻ và thú
vị.Tưởng tượng là hoạt động tâm lý nhằm tái tạo, biến đổi các biểu tượng trong trínhớ và sáng tạo ra hình tượng mới
Các loại tưởng tượng bao gồm tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sángtạo
Tưởng tượng tái tạo là dựa vào một số thông tin, hình ảnh mà tạo ra hìnhtượng hoàn chỉnh về sự vật Tưởng tượng sáng tạo là kết hợp các hình ảnh đã
Trang 27biết mà tạo ra hình ảnh mới chưa từng có.
Trong hoạt động tưởng tượng, yêu cầu cần phải hợp lý, phong phú, mới
mẻ và bất ngờ
Trong hoạt động học tập của học sinh, liên tưởng và tưởng tượng chắpcánh cho tư duy con người thoát khỏi sự lệ thuộc vào sự việc trước mắt, mởrộng tầm nhìn, đi vào những chỗ sâu thẳm, bí ẩn của thế giới và con người, tạo
ra những sản phẩm mới, những hình tượng nghệ thuật không lặp lại Muốn đạtđược kết quả tốt trong giảng dạy, GV phải có kĩ năng phân tích chương trình vàSGK, xác định đúng mục đích yêu cầu và nội dung của từng bài học và tìm rabiện pháp thích hợp kích thức liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo của học sinh đểgiúp học sinh nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng
Với mạch kiến thức được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm, tuỳ theo ởmỗi lớp mà có những yêu cầu khác nhau Tuy nhiên nếu các em nắm chắcnhững kiến thức ở lớp dưới thì lớp 4 các em sẽ nắm kiến thức dễ dàng hơn Với
phân môn Luyện từ và câu cũng vậy, để học tốt bài Cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài HS phải nắm vững và phát huy những kiến thức, kĩ năng đã
đạt được ở các lớp 1,2,3 và các bài học có liên quan trước đó
VD: Lớp 2, HS bước đầu nhận biết và phân biệt được sự khác nhau giữa
từ và câu qua bài học đầu tiên của phân môn “Từ và câu” Sau đó, tiếp tục làm
quen với từ chỉ sự vật thông qua hai bài Từ chỉ sự vật tuần 3 và 4 HS hiểu từ
chỉ sự vật (chỉ dừng lại ở mức sơ giản) là những từ chỉ người, đồ vật, con vật,cây cối Đến tuần 5, HS được biết phân biệt các từ chỉ sự vật nói chung với tên
riêng của từng sự vật, biết viết hoa tên riêng qua bài Tên riêng và cách viết tên riêng
Lên lớp 3, HS tiếp tục được ôn luyện các bài tập liên quan đến từ chỉ sự
vật qua bài Ôn tập từ chỉ sự vật So sánh trong tuần học đầu tiên Đến giữa năm
học lớp 3, các em được biết thêm tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta qua
bài Mở rộng vốn từ: Dân tộc
Bước sang chương trình lớp 4, HS được học nhiều hơn về kiến thức từ
loại Ở bài Luyện từ và câu tuần 5, các em được học về danh từ HS hiểu được
danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị)(mức độ nhận thức đã bắt đầu cao hơn lớp 2), biết nhận biết được danh từ trongcâu, đặc biệt là danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ cho trước và tập đặt
câu Tiếp theo đến tuần 6, các em có bài Danh từ chung, danh từ riêng giúp
các em tiếp tục tìm hiểu khái niệm danh từ chung, danh từ riêng dựa trên dấuhiệu về ý nghĩa khái quát của chúng, từ đó nắm được quy tắc viết hoa danh từriêng và bước đầu vận dụng quy tắc đó vào thực tế
Bước vào chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ”- tuần 7, HS lớp 4 được đi
sâu vào tìm hiểu cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam HS nắm được quy
tắc viết hoa tên người, tên địa lý Việt Nam ; biết vận dụng những hiểu biết vềquy tắc viết hoa tên người, tên địa lý Việt Nam để viết đúng một số tên riêng
Trang 28Việt Nam.
Trải qua rất nhiều kiến thức cơ bản về từ loại như trên, chương trình SGK
mới sắp xếp dạy HS nội dung cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài Một
nội dung ngữ pháp về từ loại khá khó và phức tạp với HS Tiểu học nói chung
và học sinh lớp 4 nói riêng Ở bài này, các em phải nắm được quy tắc viết hoatên người, tên địa lý nước ngoài; biết vận dụng những quy tắc đã học để viếtđúng những tên người, tên địa lý nước ngoài phổ biến, quen thuộc
VD: Khi dạy bài Cách viết tên người, tên địa lỷ nước ngoài (tuần 8), trong
BT2, GV hướng đẫn HS tìm hiểu nội dung bài thông qua hệ thống các câu hỏi:
(?) Môi tên riêng nước ngoài ở trên gồm mấy bộ phận? (1 hoặc 2 bộ
phận)
Mỗi bộ phận gồm mấy tiếng ? (có thể là 1 tiếng, 2 tiếng, 3 tiếng, 4
tiếng )
(?) Chữ cái mở đầu môi bộ phận viết như thế nào? (Viết hoa)
Các tiếng còn lại trong cùng một bộ phận viết thế nào? (Viết thường, giữa
các tiếng dùng dấu gạch nối)
(?) Trong tên riêng nước ngoài có hai bộ phận, dấu hiệu ngăn cách giữa
hai bộ phận ấy là gì? Có dùng dấu gạch nối không? (Giữa hai bộ phận không
dùng dấu gạch nối, viết cách một li, chữ cái mở đầu của bộ phận thứ hai viếthoa) Cuối cùng GV kết luận: Cách viết tên riêng nước ngoài như trên là viếttheo phiên âm quốc tế
Ngoài cách viết tên riêng nước ngoài theo phiên âm quốc tế, ở BT3, GVhướng dẫn cho HS tìm hiểu thêm một cách viết tên nước ngoài theo phiên âmHán Việt (được viết giống tên riêng Việt Nam)
Có một điểm tương đồng với phân môn Luyện từ và câu ở trên là phânmôn kể chuyện Để HS tiếp thu một giờ kể chuyện tốt, GV cần đặt những câuhỏi gợi mở, khơi gợi hoạt động liên tưởng, tưởng tượng để huy động nhữngkiến thức đã có của HS trong thực tế, trong quá khứ để giúp HS tưởng tượng racốt truyện để kể Như chúng ta đã biết, kể chuyện và nghe chuyện là một nhucầu trong cuộc sống, sinh hoạt của xã hội loài người, bởi chức năng thông tin,giải trí và cao hơn nữa là chức năng nghệ thuật của nó Đặc biệt với trẻ em,truyện kể giúp các em nhận thức được thế giới không chỉ bằng trí tuệ và cònbằng trái tim, vì thế kể chuyện là một nhu cầu cần thiết yếu đối với các emngay từ tuổi nhỏ
Thuở còn thơ, các em đã được nghe bà, mẹ, chị thủ thỉ kể cho nghe nhữngcâu chuyện cổ tích, truyền thuyết, từ đó đi sâu vào giấc ngủ lúc nào khônghay Ở các lớp mầm non, mẫu giáo, giờ học kể chuyện của cô giáo luôn luônthu hút được tâm hồn trong sáng, kích thích được mọi giác quan và đem lại
Trang 29niềm vui cho trẻ nhỏ Lớn hơn, bước vào trường Tiểu học, các em được làmquen và bắt đầu được học kể chuyện ngay từ lớp 1.
Ở lớp 1, trong các tiết ôn tập, HS được nghe cô giáo kể lại những câu
truyện ngắn qua tranh (thường là truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn chủ yếu liên quan đến các con vật) Sau đó, HS dựa vào tranh có thể nói được vài câu hoặc kể lại cả câu chuyện (với HS giỏi) Lớp 2, chính thức mỗi tuần HS có một
tiết kể chuyện HS được kể lại câu chuyện vừa được học trong tiết học đầutuần Ở lớp 3, Kể chuyện được nhập vào cùng với Tập đọc thành tiết Tập đọc-
kể chuyện, được dạy thành 2 tiết liền nhau đầu tiên trong tuần Trong đó, Tậpđọc được dạy 1,5 tiết, còn lại 0,5 tiết là Kể chuyện
Chính những kiến thức sơ giản về văn kể chuyện mà các em được tiếp xúcthông qua những truyện đã được nghe từ khi còn lọt lòng mẹ, những bài họclớp dưới (lớp 1,2,3) là nguồn tư liệu sống động để khi lên lớp 4, 5, HS mới dầndần có cơ sở để hiểu rõ hơn các bài tập đọc trích từ truyện ngắn, truyện dài Để
từ đó, các em có điều kiện tốt để thưởng thức rồi đến phân tích, hiểu sâu hơncác tác phẩm văn học Sau đó, HS ghi nhớ trong đầu và kể lại câu chuyện đó.Trong chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ”, lúc đầu là HS kể lại chuyện bằngcách hoàn chỉnh các đoạn văn theo kiểu mở đầu - diễn biến - kết thúc (bài
Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện, trang 72-73 SGK Tiếng Việt 4, tập 1)
Sau đó là kể một câu chuyện em đã được nghe, được đọc về những ước mơ
viển vông, phi lý (Bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc, trang 80 SGK Tiếng Việt 4,
tập 1) Cuối cùng là kể lại một câu chuyện em đã học qua các bài Tập đọc, Kể
chuyện, Tập làm văn được sắp xếp theo trình tự thời gian (Bài Luyện tập phát triển câu chuyện, trang 82 SGK Tiếng Việt 4, tập 1) Để làm được những dạng
đề kể chuyện này, HS phải biết huy động những kiến thức mình đã có (đã đượcnghe, được đọc, được học ) sau đó nhớ lại và tưởng tượng ra bố cục của câuchuyện rồi kể lại
2.2.2. Vận dụng nguyên tắc hệ thống của ngôn ngữ
Theo cách hiểu chung, "hệ thống" là một thể thống nhất bao gồm các các
yếu tố có quan hệ và liên hệ lẫn nhau Các yếu tố của hệ thống không phải lànhững điểm trừu tượng mà là những hệ thống phức tạp nhỏ hơn Ngôn ngữ làmột hệ thống bởi vì nó cũng bao gồm các yếu tố và các quan hệ giữa các yếu tố
đó Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị của ngôn ngữ Vàtoàn bộ hoạt động của hệ thống ngôn ngữ được thể hiện trên hai trục: trụctuyến tính (trục ngang) và trục liên tưởng (trục dọc)
Khi ngôn ngữ được hiện thực hoá thì những yếu tố của nó hiện ra lần lượtcái này tiếp theo cái kia làm thành một chuỗi Khi biểu hiện bằng chữ viết,người ta đã thay thế sự kế tiếp trong thời gian của các yếu tố ngôn ngữ bằngtuyến không gian của các con chữ Tất cả các loại đơn vị ngôn ngữ đều xuấthiện trên trục ngang, nhưng chỉ có thể nói tới quan hệ ngang giữa các đơn vị
Trang 30cùng loại mà thôi (quan hệ âm vị với âm vị, hình vị với hình vị, từ với từ ).
trục dọc
->
trục ngangQuan hệ ngang thể hiện trong lời nói như quan hệ thực tại giữa các đạidiện của các loại đơn vị Nghĩa là cùng một chỗ hay vị trí trong chuỗi lời nói cóthể thay thế bằng cả một loạt các yếu tố đồng loại Những yếu tố đồng loại cóthể thay thế nhau trong cùng một vị trí của chuỗi lời nói nằm trong quan hệ liên
tưởng đối với nhau, hay còn gọi là quan hệ dọc Ở vị trí của từ " anh hùng" trong chuỗi "nhân dân ta rất anh hùng" có thể thay thế bằng "dũng cảm", "cần
cù", "thông minh"
Vận dụng nguyên tắc hệ thống của ngôn ngữ, trong chủ điểm “Trên đôicánh ước mơ”, GV dựa vào chương trình, hướng dẫn học sinh lĩnh hội ngônngữ ở tất cả các cấp độ trên cơ sở các mối liên hệ
Trong hệ thống ngôn ngữ, âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất mà người ta có thể
phân ra được trong chuỗi lời nói VD: Các âm [b], [t], [v] Âm vị có chức năng nhận cảm và chức năng phân biệt nghĩa.
Ở phân môn Chính tả, GV chú ý giúp học sinh phân biệt khả năng kết hợpcủa một số âm vị với các âm vị khác để tạo thành tiếng/hình vị với những nghĩakhác nhau Ví dụ có nhiều hình vị mang nghĩa khác nhau do một âm vị khác nhau, GV yêu cầu HS viết và đọc để phân biệt cách sử dụng của các âm vị ấy:
- ch/tr: Trí tuệ/ chí tuệ - phẩm chất/ phẩm trất - chế ngự/ trế ngự - chinh phục/ trinh phục-vũ trụ / vũ chụ (BT Chính tả 2a, tuần 7, Tiếng Việt 4, tập 1)
- n/ng: ươn/ ương: bay lượn/ bay lượng - vườn tược/ vường tược - quê hương/ quê hươn (BT Chính tả 2b, tuần 7, Tiếng Việt 4, tập 1)
Song song vơi vi ệc phát âm, giáo viên c'ân áp dung biên pháp phân tích câu tao cua ti ếng, so sanh vo'i nhưng ti ếng dê lân, phát hiên va chì ra nhưng điểm khác nhau đê học sinh lưu y va ghi nhơ khi thực hiên viết chinh ta
Cho học sinh phân tích tiếng:
- vườn= v+ ươn+ dấu huyền;
vường= v+ ương+ dấu huyền
hay:
- hương = h+ ương
hươn = h+ ươn
So sanh đe thay sư khac nhau : tiếng “vườn” có v ần “ươn” , tiêng
“vường”cớ vần “ương” HS ghi nhơ điêu nay, khi viêt các em se không sai
Trang 31Cho học sinh phân biệt r/ d/ gi (hoặc ch/tr.) bằng cách tìm các tiếng lậpbảng.
- rạo: rạo rực - dạo: dạo chơi, dạo này không có
- rào rạo, rệu rạo - đi dạo, bán (hàng) dạo không có
Ngoài ra, cần lưu ý trường hợp tên người, tên địa lý Việt Nam, âm vị đứng
đầu mỗi hình vị được viết hoa Chẳng hạn: Hòa Bình, Ngọc Minh, Củ Chi,.
Hình vị là một hoặc chuỗi kết hợp một vài âm vị Nó là đơn vị nhỏ nhất có
ý nghĩa, tuy nhiên có những hình vị không tạo nghĩa
Tại chủ điểm này, ở cấp độ hình vị, đơn vị kiến thức về Cách viết tênngười, tên địa lý nước ngoài có một số điểm đặc biệt Tên người và tên địa lýnước ngoài đã được kí âm bằng Tiếng Việt Chẳng hạn: Pa-ri, Mát-téc-lích,Uýt-man GV cần hướng dẫn HS đọc rõ ràng từng tiếng/hình vị, ghi lại âmthanh tiếng/hình vị đó bằng tiếng Việt và giữa các tiếng/hình vị phải có dấugạch nối Ngoài ra, do hầu hết các tiếng/hình vị trong những trường hợp nàyđều không có nghĩa nên việc ghi nhớ của HS sẽ gặp khó khăn Để khắc phục,
GV nên yêu cầu HS đọc thành tiếng và viết một vài lần giúp các em ghi nhớ
Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên
và chức năng ngữ nghĩa
Ở cấp độ từ, HS tiếp tục được trau dồi và mở rộng vốn từ GV chú ý đểgiúp HS nắm được các từ ngữ mới, hiểu được nghĩa và vận dụng tốt vốn từ.Phần Luyện từ và câu, HS được mở rộng vốn từ trong chủ đề “Ước mơ” Các
em được làm các bài tập với yêu cầu “tìm từ đồng nghĩa”, “tìm thêm từ”, giảithích ý nghĩa thành ngữ GV nên áp dụng phương pháp tích hợp, HS thực hiệncác yêu cầu trên với những ngữ liệu là các từ, các câu, văn bản trong chủ điểm.Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến lượng từ chỉ tên và địa danh nước ngoài đề giúp
HS nhớ và viết đúng từ
Ở cấp độ cao hơn có câu, văn bản Câu là chuỗi kết hợp của một haynhiều từ, chức năng của nó là chức năng thông báo Văn bản lại được tạo nên
từ nhiều câu thống nhất theo một chủ đề Trong quá trình dạy học chủ điểm,
GV dạy học sinh dùng từ, đặt câu, tạo lập văn bản thông qua các bài học nhưLuyện tập viết đoạn văn kể chuyện, Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia
2.2.3. Kết hợp các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Việc giáo dục HS phải vận dụng tổng hợp nhiều hoạt động, ngoài các hoạt
Trang 32động giáo dục trong giờ học còn cần đến những hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp như giờ sinh hoạt tập thể, chào cờ, sinh hoạt chung của nhà trường, dãngoại, tham quan.
Trong môn Tiếng Việt nói chung, việc phối kết hợp hoạt động ngoài giờnhằm bồi dưỡng cho học sinh ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt văn hoátrong giao tiếp Cũng như các phân môn khác của Tiếng Việt, một trong nhữngnhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu là bồi dưỡng ý thức và thói quen sửdụng tiếng Việt văn hoá Để thực hiện nhiệm vụ này, không chỉ bó gọn trongviệc tổ chức các hoạt động dạy và học trên lớp mà còn cả trong việc học tậpcủa các môn học khác với các hoạt động trong và ngoài nhà trường
Cùng với các phân môn của môn Tiếng Việt (như Tập đọc, Chính tả, Tậplàm văn, Kể chuyện), các bộ môn, hoạt động khác cũng giúp học sinh rất nhiềutrong việc mở rộng vốn từ, cách dùng từ để đặt câu khác nhau, từ phải gắn vớicâu, sắp xếp từ, ý cho đúng văn cảnh cụ thể
VD: Với BT2, phần Luyện tập bài Cách viết tên người, tên địa lỷ nước ngoài (tuần 8), sau khi cho HS tự làm bài, GV cho HS chữa bài và công bố đáp
án để HS đối chiếu GV có thể tổ chức các hoạt động tiếp nối phần bài học nàytrong một giờ Hoạt động tập thể với nội dung “Ai hiểu biết rộng?” Hoạt độngnày có thể tổ chức dưới dạng trò chơi theo mô hình “Hái hoa dân chủ” Trênbông hoa là một tên riêng nước ngoài hoặc tên riêng Việt Nam, bạn nào đượchái hoa sẽ đọc tên riêng mình vừa “hái được” đồng thời nói những hiểu biết củamình về tên riêng đó
Bài học này có thể tích hợp với môn Địa lý, yêu cầu học sinh viết tênnước, tên Thủ đô, tên danh nhân, tên địa danh của một số quốc gia trên thếgiới Chẳng hạn: Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ là ông Gioóc-giơ Oa-sinh-tơn, con sông nổi tiếng của châu Mỹ là sông Mít-xi-xi-pi, tháp đồng hồ nổitiếng nhất thế giới là Tháp Bích-ben
Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các giờ chơi,chào cờ, các cuộc toạ đàm trao đổi, dã ngoại học sinh sẽ tích luỹ được vốn từcho mình
VD: Qua một buổi tọa đàm có thể tổ chức ở quy mô một lớp học hoặc cảkhối 4,5, GV trong trường có thể cho học sinh tổ chức cho học sinh tìm hiểu vềkiến thức, hiểu biết nước ngoài thông qua hoạt động tìm tên thủ đô của cácnước trên thế giới Bằng các hình thức như thi tìm hiểu, trò chơi trí tuệ, trò chơivận động v.v Nhờ đó các em có thêm những hiểu biết không những về kiếnthức nước ngoài mà còn có thêm những hiểu biết về đất nước và con người cácnước trên thế giới Từ đó, bồi đắp thêm cho các em những tình cảm, những ước
mơ mới mẻ, giàu tính nhân văn
Hay thông qua một buổi tham quan ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, giáo viên cóthể đề cập đến tên một số tên riêng có gắn với cuộc đời hoạt động cách mạngcủa Bác như con tàu La-tu-sơ Tê-vi-lê, luật sư Lô-dơ-bai,
Trang 33Việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp có tác dụng rất lớn đến việcdạy phân môn luyện từ và câu giúp các em có thói quen dùng từ đúng, nói viếtthành câu, biết quý biết giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Đối với phân môn Chính tả, để học sinh viết đúng, đẹp thì bản thân giáoviên cũng là một tấm gương cho các em học tập, giáo viên là người viết đúng,viết đẹp và phát âm đúng Ngoài việc sưu tầm các bài thơ hay, các bài tập chính
tả so sánh, phân biệt, điền vào chỗ trống để các em làm, viết trong giờ chính tảbuổi chiều, GV có thể mở rộng thêm các hoạt động giáo dục ngoài giờ họcnhư: kể các gương ham học đời xưa, đời nay, lúc đầu họ cũng viết chữ xấunhưng nhờ kiên trì mà chữ viết trở nên đẹp: Ông Cao Bá Quát, ông Mạc ĐĩnhChi, thầy Nguyễn Ngọc Ký để các em phấn đấu noi theo Với cách dạy họckiến thức đi kèm với thực tế trải nghiệm và học tập các tấm gương sáng nhưvậy, người học sẽ có ý thức và tiếp thu môn học một cách hiệu quả hơn là lờithuyết giảng đơn thuần của người GV trong các giờ học chính khóa
2.2.4 Sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy
Khi sử dụng sách giáo viên, các thày cô giáo chỉ coi đó là tài liệu thamkhảo Cách tổ chức giờ học được giới thiệu trong sách giáo viên chỉ là mộtphương án, một sự gợi ý, không phải là phương án duy nhất dùng hiệu quả chotất cả các đối tượng Giáo viên phải tuỳ trình độ thực tế của học sinh mà lựachọn cách tổ chức dạy học tốt nhất Các hình thức thực hiện bài tập và đồ dùnghọc tập cũng cần được sử dụng linh hoạt cho phù hợp với nhiệm vụ học tập vàtình hình thực tế
Trong một tiết học, không nên chỉ tổ chức các hoạt động cá nhân, cũngkhông cần thiết phải chuyển tất cả các nhiệm vụ học tập thành hoạt động tậpthể Khi thực hiện các bài tập đơn giản, không cần thảo luận cũng có thể tìmthấy kết quả đúng, thì làm việc cá nhân là hình thức hoạt động thích hợp nhất
và tiết kiệm thời gian nhất Học sinh sẽ được hoạt động trong nhóm khi phảithực hiện các bài tập khó, cần huy động trí tuệ tập thể Nên cho học sinh rènluyện các kĩ năng lời nói trong hoạt động nhóm, vì chỉ như vậy tất cả các emmới được thực hành, giờ học sẽ sinh động, và GV có điều kiện để đánh giá kiếnthức và kĩ năng của từng HS
Trong khi dạy người GV không thuyết giảng mà phải gợi mở, tạo điềukiện cho HS phát huy độc lập suy nghĩ, làm việc để tự mình học được cáchnghĩ, cách cảm, cách nói, cách viết
Có hai cách để phân loại các hình thức tổ chức dạy học, căn cứ vào sự chỉđạo của GV đối với toàn lớp hay với nhóm và căn cứ vào địa điểm diễn ra quátrình dạy học
Nếu căn cứ vào sự chỉ đạo của GV đối với toàn lớp hay với nhóm HS
trong lớp có: hình thức tổ chức dạy học toàn lớp, theo nhóm và cá nhân
Trong các giờ học Luyện từ và câu, người GV có thể tổ chức linh hoạt các
Trang 34hình thức dạy học trong một tiết dạy như: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm,đàm thoại gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu.
VD: Khi dạy bài: Mở rộng vốn từ ''Ước mơ''
BT2: Học sinh thảo luận nhóm đôi
Tìm thêm những từ cùng nghĩa với ''ước mơ''
- 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''ước''
- 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''mơ''
Trong hoạt động nhóm này, nhiệm vụ được chia đều cho 2 HS Động cơhọc tập của mỗi cá nhân tạo nên động cơ của nhóm, thúc đẩy HS tương tác,tích cực hoạt động để chiếm lĩnh tri thức Trao đổi nhóm đôi thường diễn ra với
2 HS ngồi gần nhau Những vấn đề cần đưa ra để hoạt động nhóm đôi thườngđơn giản Qua hoạt động nhóm, các em phối hợp cùng nhau, tích cực hoạt động
để đạt được yêu cầu chung mà GV đề ra Cụ thể ở bài này, HS có thể tiếp cậnđược 2 cách tìm từ cùng nghĩa với “ước mơ”, một là bắt đầu bằng từ “ước”,một là bắt đầu bằng từ “mơ” Từ đó vốn từ về ước mơ của các em được mởrộng, trở nên phong phú
BT3: Nêu yêu cầu ghép thêm vào sau từ “ước mơ”những từ ngữ thể hiện
sự đánh giá về những ước mơ cụ thể
GV gợi ý: ghép thêm vào sau từ “ước mơ”những từ ngữ đã cho trongngoặc đơn, sau đó xếp cụm từ đã ghép được vào ý thích hợp Với yêu cầu này,
GV sẽ tổ chức HS làm BT theo nhóm 4 (trên bảng nhóm hoặc giấy khổ to) GVhướng dẫn chữa bài: 2 - 3 nhóm làm nhanh gắn bảng chữa bài, đại diện cácnhóm trình bày, cả lớp nhận xét
Đáp án:
- Đánh giá cao: ước mơ cao đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả,
ước mơ lớn
- Đánh giá không cao: ước mơ bình thường, ước mơ nho nhỏ
- Đánh giá thấp: ước mơ kỳ quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông.
Với hình thức dạy học này, GV lấy HS làm trung tâm, hướng dẫn mẫumột lần, phần thực hiện do các em cùng nhau trao đổi và tự làm GV có thể đếntừng nhóm hướng dẫn một cách chi tiết và sát sao hơn
Như vậy, qua VD về 2 hình thức dạy học theo nhóm (nhóm 2, nhóm 4),chúng ta thấy nhu cầu giao tiếp ở trẻ rất lớn, nếu để cho các em được chủ độngtrao đổi một cách có định hướng để tìm kiếm kiến thức mới thì sẽ được cuốnmình vào giờ học Thảo luận ở đây không có gì là lớn lao, nhưng góp phần rènluyện cho các em sự mạnh dạn trình bày ý kiến, tự tin hơn Với cách học nàythì phần lớn thời gian của một tiết học là do các em tự làm chủ mà không phảingồi nghe cô đọc chép như trước kia
BT4: Nêu VD minh họa về 1 loại ước mơ nói trên
GV gợi ý để HS giải thích hoặc giáo viên trực tiếp giải thích ý nghĩa củatừng loại ước mơ, nêu 1 VD minh họa
Trang 35Bài này HS làm việc cá nhân Có HS sẽ chỉ đủ thời gian nghĩ ra 1 VD,nhưng HS khá-giỏi có thể nghĩ dược 2-3 VD Sau 2 phút, HS trình bày kết quả.
Cả lớp và GV nhận xét
Ở bài này, GV lựa chọn hình thức tổ chức dạy học cá nhân để mỗi HS độclập thực hiện những nhiệm vụ học tập của mình theo nhịp độ riêng để đạt đếnmục tiêu dạy học chung
Trong các giờ học chính tả, việc tổ chức dạy học cho tiết dạy cũng rất cầnthiết trong việc đổi mới phương pháp dạy học, có nhiều hình thức: Học toànlớp, học cá nhân, học nhóm
Học cá nhân: Học sinh tự làm việc, giải quyết các nhiệm vụ mà giáo viên
giao như tự viết bài chính tả, viết lại các lỗi sai của bài chính tầ
Học nhóm: Học sinh làm việc theo nhóm, cùng giải quyết một vấn đề, bạn
khá giỏi giúp đỡ, hướng dẫn bạn yếu trong trường hợp HS cùng làm bài tập,cùng sửa lỗi chính tả
Học toàn lớp khi thực hiện ở việc cùng sửa bài tập, cùng phát hiện các từ
Ngoài ra, với cách thứ hai, nếu căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy
học, có: hình thức dạy học trên lớp và hình thức dạy học ngoài lớp.
Hình thức dạy học trên lớp là hình thức tổ chức dạy học mà thời gian
học tập được quy định một cách xác định và ở một địa điểm riêng biệt, GV chỉđạo hoạt động nhận thức cả lớp đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng
HS HS nắm bài một cách trực tiếp tại lớp như các VD về hình thức dạy họcdiễn ra ở trên
Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp là hình thức tổ chức dạy học linh
hoạt, cho phép kiến tạo các môi trường học tập đa dạng, kích thích được hứngthú học tập của HS
VD: Khi học đến chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ” (Tiếng Việt 4, tập 1),
GV có thể tổ chức cho HS một số hoạt động liên quan đến những kiến thức màcác em đã học trong chủ điểm như cách viết tên riêng nước ngoài, các tác phẩmvăn học nước ngoài, các tác giả văn học nước ngoài nổi tiếng viết cho thiếunhi bằng cách tổ chức các buổi văn nghệ dưới sân trường chào mừng ngàyQuốc tế Lao động 1 - 5, cho HS xuống thư viện đọc truyện theo chủ đề liênquan đến các tác phẩm thiếu nhi của văn học nước ngoài, cho HS đi tham quanbảo tàng Văn học, thăm các đại sứ quán, vẽ tranh chủ đề “Ước mơ của em”
Trang 36Tất cả các hình thức dạy học trên có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫnnhau Mỗi hình thức dạy học có chức năng và vai trò nhất định trong nhàtrường phổ thông, tuy nhiên hình thức tổ chức dạy học trên lớp là hình thức dạyhọc cơ bản.
2.2.5. Vận dụng nguyên tắc tích hợp
Môn Tiếng Việt đã quán triệt tư tưởng tích hợp trong chương trình vàSGK, vì môn học này có những cơ sở chung để thực hiện tích hợp thuận lợi.Trong dạy học Tiếng Việt, tích hợp hiểu một cách đơn giản là dạy đọc, viết,nghe, nói, Làm văn, Luyện từ và câu hợp nhất, hòa trộn và nhau, học cái nàythông qua cái kia và ngược lại Như thế mới tránh được những vướng mắc dưthừa hay chồng chéo nội dung trong quá trình dạy học Tiếng Việt và Làm văn,Luyện từ và câu như trước đây Có thể khẳng định việc thực hiện tích hợp trongphạm vi môn Tiếng Việt sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn ở các môn họckhác Hạt nhân hợp lý ở đây là hướng tới mục tiêu chung là hình thành, rènluyện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS và đều dựa vào một chủ điểm.Với sự mở rộng việc lựa chọn các chủ điểm như thế trong SGK sẽ tạo cơ hội và
cơ sở tích hợp trong dạy học Tiếng Việt đậm đặc hơn
Tuy nhiên, sự lựa chọn chủ điểm không thể tùy tiện Tiêu chuẩn đầu tiên
để chọn chủ điểm được dùng chung này là phải đảm bảo mọi thuộc tính riêngcủa Tập đọc, Làm văn, Chính tả phải được hòa kết với nhau thì mới tạo nên
“tam vị nhất thể” rõ ràng, nổi lên trên mọi thuộc tính đa biệt Như vậy, từ bốn
kĩ năng được dạy tách biệt đã được hợp nhất về một môn có tên gọi Tiếng Việt
và được nhất thể hóa về nội dung kiến thức, kĩ năng, phương pháp theo quanđiểm tích hợp Với cách tích hợp này, Tiếng Việt theo xu hướng tích hợp nộimôn
Quan điểm dạy học tích hợp là điểm khác khác biệt của chương trình vàSGK Tiếng Việt Tiểu học mới Tích hợp trong SGK Tiếng Việt là sự kết hợphữu cơ, có hệ thống ở từng mức độ khác nhau các kiến thức ở các phân mônTập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn Văn bản của tiếtTập đọc có thể được sử dụng làm ngữ liệu để viết chính tả, ngữ liệu để kểchuyện, ngữ liệu để xây dựng kiến thức mới ở các bài Luyện từ và câu hayđược xem như bài văn mẫu để học sinh vận dụng làm văn Ngược lại, các kiếnthức và kĩ năng của các phân môn kia giúp cho việc đọc, tìm hiểu bài ở các giờTập đọc có hiệu quả hơn
SGK đã hướng dẫn các lĩnh vực vào đời sống Qua đó tăng cường vốn từ,khả năng diễn đạt về mọi lĩnh vực Nhà trường - Gia đình - Xã hội giúp các emhiểu được thế giới xung quanh soi vào thế giới tâm hồn mình.Theo quan điểmtích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập
Trang 37làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trụcchủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹnăng cũng gắn bõ chặt chẽ với nhau hơn trước.
SGK thể hiện quan điểm tích hợp một đơn vị kiến thức và kỹ năng vớiđơn vị kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi
là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc) được gọi là tích hợp theo chiều dọc
Cụ thể là: kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm cả kiến thức
và kỹ năng của lớp dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kỹ năng của lớpdưới, bậc học dưới Điều này ở phân môn Tập đọc thể hiện rất rõ
VD: về kiến thức Ở lớp 1 cũng như lớp 2, toàn bộ các bài học đều được
xây dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Ởlớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trởlại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thácsâu hơn Đến lớp 2, mỗi chủ điểm nói trên được chia thành nhiều chủ điểmnhỏ, tạo điều kiện cho HS hiểu biết sâu hơn nữa VD: Chủ điểm “Gia đình” baogồm 4 chủ điểm nhỏ là: Ông bà, Cha mẹ, Anh em và Bạn trong nhà Mỗi chủđiểm nhỏ được học trong 2 tuần và chỉ xuất hiện 1 lần Đến lớp 4 và lớp 5, mỗichủ điểm được dạy trong 3 tuần và chỉ xuất hiện một lần
về kỹ năng: Từ chỗ biết đọc trơn và đọc nhẩm ở lớp 1, HS lớp 2 được rèn
luyện kỹ năng đọc thầm và bước đầu biết đọc lướt nắm ý trả lời câu hỏi; từ chỗbiết nói 1 số câu đơn giản gắn với âm, vần đã học, HS có thể đặt câu theo mẫu
đã cho và nói về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp bằng 1 số câu đơngiản Lên lớp 4, trong một giờ tập đọc GV luôn chú ý : Rèn cho học sinh kỹnăng đọc ngày càng thành thạo Dạy tập đọc cho học sinh chính là quá trìnhlàm việc của thầy và trò để thực hiện hai hình thức: Đọc thành tiếng và đọcthầm Hai hình thức đọc này gắn bó chặt chẽ với nhau, cộng tác cùng thực hiện
để đạt một mục đích cuối cùng của đọc: Thông hiểu nội dung văn bản
Tích hợp trong dạy học Luyện từ và câu thể hiện ở những yêu cầu cơ bản
Trang 38tiếp xúc với các thuật ngữ.
Đối với phân môn Chính tả, người GV có thể vận dụng quan điểm tích
hợp trong dạy học ở một số trường hợp như sau:
Phân biêt nghia cua tư là một biện phá p nhăm khăc phúc học sinh Tiêu học chung ta đơ sai chinh ta Vì muốn viết đúng chính tả phải hiểu nghĩa của
tư chinh xac Viêc giai nghia tư thương đụo'c thưc hiên trong tiêt Tâp đoc , 1 uyên tư va câu va nhât la trong tiêt Chinh ta cung la môt biên pháp tich cưc giup học sinh khi các em không thê phân biêt tư khó) dưa vao phat âm hoăc phân tich câu tao tiêng VD:
+ Phân biệt : trong/ chong (Bài tập Chính tả 2a, tuần 7, Tiếng Việt 4, tập1)
- trong (lòng đất): Phía những vị trí thuộc phạm vi được xác định nào đó,trái với “ngoài”
- chong (động từ) để cháy sáng suốt trong thời gian lâu VD: đèn chongsuốt đêm
+ Phân biên “lượn”và “lượng”(trong tư đơn)
- bay lượn (động từ) : bay và lượn trên không (nói khái quát) VD: đànbướm bay lượn
- bay lượng : không có nghĩa
Đặc biệt với những từ nhiều tiếng , tư nhiêu nghia giáo viên phai đăt tư đotrong văn canh cu thê đê go'i lai nghia tư hoăc giUp học sinh giai nghia từTrong mục giải nghĩa từ của môn Tập đọc, Luyện từ và câu, GV giúp HSnắm vững nghĩa của từ, khả năng kết hợp của từ Từ đó góp phần cho HS viếtđúng chính tả trong từng văn cảnh cụ thể
Qua nhưng tiêt huyên tư va câu giup cac em phân biêt nghia cua tư, phântích cấu tạo tiếng nhằm giúp các em hiểu nghĩa của từ để viết chính tả đúng Nhât la cac em đưoc ren Ịuyên qua cac bai tâp ưng dung Ngoài ra những emhay viêt sai chinh ta con đưoc ren luyên trong nhưng tiêt ôn Tiêng Viêt Tuynhiên đê duy tri đưoc kêt qua nay thi viêc lam trên phai đưoc tiên hanh thưongxuyên, liên tuc, để ren cho học sinh có thoi quen “viêt đung ” trong mọi trườnghợp
Ngoài ra, viêc kiêm tra “viêt đung chinh ta ”của giáo viên đối với học sinhkhông chi o phân môn Chính tả mà còn kiểm tra ở các em những môn khác nhưmôn Tập làm văn, Luyên tư va câu, các tiết kiểm tra Khoa học, Đia lý
Đối với nhưng đôi tụo'ng sai chinh ta nhiêu, GV băt đầu ap dung cac biênpháp trên một cách thường xuyên trong mỗi tiết dạy Tập đọc , huyên tư va câu,Chính tả và trong các trường hợp giao tiếp với học sinh Cụ thể như sau:
VD: Các em đọc yếu thường chính tả viết sai Trong gio T ập đọc người
GV rèn luyện cho các em cách phát âm những từ , tiêng cac em đoc sai Sau đocho cac em luyên đoc nhiêu lân va giao bai về nha
Tính đồng tâm không thể hiện trong một bậc học mà còn thể hiện rõ trong
Trang 39một lớp, trong một học kỳ theo nguyên tắc hệ thống Dĩ nhiên trong tích hợpvẫn có điểm nhấn Không nắm được điểm nhấn này, GV dễ hiểu lệch yêu cầutích hợp, dẫn tới chỗ sa đà, VD biến giờ dạy Tập đọc thành giờ học Đạo đứchay thành giờ học lý thuyết văn miêu tả Để nắm vững trọng tâm của mỗi tiếthọc, bài học, GV nên đọc kỹ phần mục đích yêu cầu của mỗi tiết, mỗi bài nêutrong sách giáo viên.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Văn học, tích hợp nghĩa là tổnghợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảngkiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục vàtiết kiệm thời gian học tập cho người học Chính vì vậy, yêu cầu đối với HS lớp
4 trong việc rèn kĩ năng đọc không chỉ là đọc đúng mà còn phải thông hiểu nộidung văn bản và đọc diễn cảm Muốn vậy, người giáo viên phải có hướng dạyđúng, tích hợp được cả ba kĩ năng trên của việc đọc Đầu tiên là đọc đúng
Đọc đúng bao gồm đúng cả tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu Việc
ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với các dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ởdấu chấm, dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nhịp đúngcác câu:
VD: Trong một số bài tập đọc thuộc chủ điểm “Trên đôi cánh ước mơ”,
GV hướng dẫn HS đọc đúng các âm khó (phát âm chính xác những tên riêng
nước ngoài): Tin-tin, Mi-tin, Mi-đát, Đi-ô-ni-dốt, Pác-tôn Phần luyện này kết
hợp luôn trong lúc đọc cá nhân
Để giúp học sinh đọc cảm nhận văn bản, hiểu văn bản thì trong việc dạy
môn tập đọc phải chú ý rèn luyện khả năng đọc hiểu cho học sinh Đó là vấn đề
cần thiết, quan trọng đối với học sinh lớp 4,5 Có hiểu nội dung bài văn, bài thơthì mới có cách đọc đúng, đọc hay và diễn cảm được.Việc luyện đọc hiểuthường được thực hiện trong bước đọc thầm
Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu Kết quả đọcthầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài tức là toàn bộnhững gì đọc được
Dạy học tích hợp còn là sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tìm hiểu bài vớiviệc luyện đọc GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài đến đâu rèn đọc ngay đến
đó, không tách rời hai khâu tìm hiểu bài và rèn đọc
VD: Dạy bài thơ Gà trống và Cáo có cụm từ “Hồn lạc phách bay”, GV
đưa ra một số câu hỏi vừa là tìm hiểu nội dung đoạn sau đó mới đưa cụm từ đóvào:
+ Gà tung tin có cặp chó săn đang chạy đến để làm gì ? (Để lừa Cáo)+ Khi nghe thấy tin đó thì thái độ của Cáo như thế nào ? (Hồn lạc pháchbay)
- Giáo viên nói luôn “Khi ai đó làm việc gì xấu, bị người khác phát hiệnkhiến người đó vô cùng sợ hãi, hoảng hốt và cụm từ “Hồn lạc phách bay” đãthể hiện được điều đó”
Trang 40Cách dạy này rất hay, học sinh dễ nói được cách đọc từ việc hiểu nộidung, nghệ thuật và có cách đọc đúng, diễn cảm Cách dạy này được chúng tôithực hiện trong tất cả các tiết dạy Tập đọc.
Một giờ tập đọc GV cho học sinh đọc thầm nhiều lần, đồng thời giaonhiệm vụ cho học sinh trong khi đọc thầm để kiểm tra kỹ năng đọc hiểu
VD dạy bài: Điều ước của vua Mi-đát
Đọc thầm lần 1: Sau khi giới thiệu bài xong, 1 HS khá đọc toàn bài, đồng
thời cả lớp đọc thầm theo bạn để nắm được nội dung của bài
Đọc thầm lần 2: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 1, cho 1 HS đọc đoạn
1 Cả lớp đọc thầm theo GV giao nhiệm vụ: Vua Mi-đát xin thần Đi-ô-ni-dốt điều gì?
Đọc thầm lần 3: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 2, 1 HS đọc đoạn 2 Đồng thời cả lớp đọc thầm GV giao nhiệm vụ: Tại sao vua Mi-đát phải xin thần lấy lại điều ước?
Đọc thầm lần 4: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 3, gọi 1 HS đọc đoạn
3 Đồng thời cả lớp đọc thầm GV giao nhiệm vụ: Vua Mi-đát đã hiểu ra điều gì?
Như vậy là HS đọc thầm trước khi phân tích nội dung bài, đồng thời vớiđọc cá nhân thành tiếng để học sinh nắm được nội dung văn bản và từ đó cócách đọc đúng Như vậy đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa đọc thành tiếng và đọcthầm
Bước cuối cùng là dạy đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là việc đọc thể hiện ở
kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngắt giọng, cường độ giọng để biểu đạtđúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểuhiện được sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễncảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọcđúng và đọc lưu loát
Nội dung của bài đọc đã qui định ngữ điệu của nó nên GV không nên ápđặt sẵn giọng đọc bài mà để học sinh tự nêu cách đọc và đọc trên cơ sở hiểu từ,hiểu nghĩa Người GV chỉ nên lắng nghe, sửa cách đọc của từng học sinh, vàkích thích, động viên học sinh cố gắng đọc diễn cảm
VD: Cuối mỗi giờ tập đọc, GV có thể hỏi học sinh:
+ Con hãy đọc đoạn văn (hoặc khổ thơ) mà con thích nhất cho cô và cảlớp cùng nghe
+ Con hãy đọc diễn cảm cả bài văn (hoặc bài thơ)
+ Hoặc chúng tôi tổ chức các hình thức thi đọc diễn cảm, đọc phân vai,đóng kịch (đối với các tác phẩm có nhiều lời hội thoại)
Để đọc diễn cảm hay, GV cần đàm thoại cho học sinh hiểu ý đồ tác giả,thảo luận vì sao đọc như vậy Sử dụng hình thức đọc phân vai Hay khi họcsinh đọc cá nhân, GV đọc mẫu, thường đặt câu hỏi: Vì sao đọc như thế? Chỗnào trong cách đọc của cô làm con thích?