1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

179 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan
Người hướng dẫn PGS.TS Đào Thị Thu Giang, TS Tạ Quang Bình
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (20)
    • 1.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới (20)
      • 1.1.1 Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghiệp nói chung (20)
      • 1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới (22)
      • 1.1.3 Các nghiên cứu về các lợi ích khác của công bố thông tin tự nguyện với (26)
    • 1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới (28)
    • 1.3 Khoảng trống nghiên cứu (31)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN, GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP (37)
    • 2.1 Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện (37)
      • 2.1.1. Khái niệm về công bố thông tin ra công chúng (37)
      • 2.1.2. Khái niệm công bố thông tin tự nguyện (39)
      • 2.1.3. Phân loại thông tin tự nguyện (41)
      • 2.1.4 Các phương pháp đo lường chất lượng công bố thông tin tự nguyện (45)
    • 2.2 Những vấn đề chung về doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp (49)
      • 2.2.1 Khái niệm doanh nghiệp (49)
      • 2.2.2. Khái niệm giá trị doanh nghiệp (49)
      • 2.2.3. Các cách tiếp cận và một số phương pháp xác định giá trị nội tại của (54)
    • 2.3. Những vấn đề chung về chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (58)
      • 2.3.1 Khái niệm chi phí vốn chủ sở hữu (59)
      • 2.3.2 Các cách tiếp cận nhằm ước tính chi phí vốn chủ sở hữu (61)
    • 2.4 Các lý thuyết giải thích ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp (68)
      • 2.4.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (68)
      • 2.4.2 Lý thuyết rủi ro ước tính (71)
      • 2.4.3 Lý thuyết chi phí liên quan (72)
      • 2.4.4 Lý thuyết tín hiệu (74)
      • 2.4.5 Nhóm lý thuyết kinh tế chính trị (75)
  • CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (80)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (80)
    • 3.2 Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu (82)
      • 3.2.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu (82)
      • 3.2.2 Xây dựng mô hình hồi quy (87)
      • 3.2.3 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu (89)
      • 3.2.4 Thu thập dữ liệu nghiên cứu (99)
      • 3.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu (102)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (103)
    • 4.1 Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam và các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (103)
      • 4.1.1 Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam (103)
    • 4.2 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 96 (107)
      • 4.2.1 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện nói chung tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2017- (107)
      • 4.2.2 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo loại thông tin (114)
    • 4.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (123)
      • 4.3.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến (123)
      • 4.3.2 Kết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết (126)
    • 4.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị thị trường của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (129)
      • 4.4.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến (129)
      • 4.4.2 Kết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết (131)
  • CHƯƠNG 5: CÁC KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NÓI RIÊNG VÀ CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM NÓI CHUNG (134)
    • 5.1 Các kết luận rút ra từ nghiên cứu (134)
      • 5.2.1 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (134)
    • 5.2 Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung (140)
      • 5.2.1 Các khuyến nghị và giải pháp đối với các công ty phi tài chính niêm yết nói riêng và công ty đại chúng nói chung (140)
      • 5.2.2 Các khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước (146)
    • 5.3 Một số hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương (152)
  • KẾT LUẬN (155)
  • PHỤ LỤC (166)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI --- NGUYỄN THỊ THANH LOAN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜN

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghiệp nói chung

Hassan và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tài chính (CBTT) bắt buộc và tự nguyện trên 80 công ty phi tài chính niêm yết tại thị trường chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 1995-2002 Nghiên cứu chỉ ra rằng việc không tuân thủ quy định CBTT là phổ biến ở Ai Cập Sử dụng phương pháp pooled generalized least squares (GLS), kết quả cho thấy có mối quan hệ nghịch chiều đáng kể giữa CBTT bắt buộc và giá trị doanh nghiệp, trong khi CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều nhưng không đáng kể Các tác giả giải thích rằng mối quan hệ giữa CBTT và giá trị doanh nghiệp là phức tạp, và tại Ai Cập, chi phí của việc CBTT vượt quá lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp.

Uyar và Kilic (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện đến giá trị thị trường của 129 công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 Giá trị doanh nghiệp được đo lường qua bốn biến: giá trị thị trường cổ phiếu vào cuối năm và sau sáu tháng, cùng với logarit tự nhiên của chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu Kết quả cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện có tác động tích cực đáng kể đến giá trị thị trường hiện tại và tương lai của doanh nghiệp, nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu.

Wang, Ali và Al-Akra (2013) trong nghiên cứu “Sự phù hợp của CBTT tự nguyện và khủng hoảng tài chính toàn cầu: bằng chứng từ Trung Quốc” đã phân tích tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn (2SLS) với 714 quan sát từ các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến trong giai đoạn 2005-2009, kết quả cho thấy CBTT không chỉ không tạo ra giá trị cho các công ty Trung Quốc mà còn làm giảm giá trị của những doanh nghiệp thực hiện CBTT trong cả thời kỳ khủng hoảng và không khủng hoảng Mối quan hệ này càng rõ rệt ở các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao, do chi phí của việc CBTT vượt quá lợi ích mà nó mang lại.

Assidi (2020) nghiên cứu tác động của công bố thông tin tự nguyện và quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh thay đổi pháp lý tại Pháp Nghiên cứu dựa trên 1001 quan sát từ các công ty niêm yết thuộc danh mục SBF 120 trong giai đoạn 2006.

Năm 2016, nghiên cứu bằng phương pháp GMM cho thấy rằng công bố thông tin tự nguyện có ảnh hưởng tích cực đến giá trị doanh nghiệp Thêm vào đó, những thay đổi về mặt pháp lý đã gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp thông qua việc cải thiện chất lượng hệ thống quản trị.

Nghiên cứu của Charumathi và Ramesh (2020) chỉ ra rằng CBTT tự nguyện có ảnh hưởng tích cực đến giá trị doanh nghiệp, được đo bằng chỉ số TobinQ, P/B ratio và giá trị doanh nghiệp, trong giai đoạn 2010-2014 với mẫu CTNY Ấn Độ thuộc chỉ số BSE 100 Kết quả hồi quy FEM cho thấy thông tin chung và thông tin chiến lược có tác động tích cực đến chỉ số TobinQ ở mức ý nghĩa 90%, trong khi thông tin PTBV lại có tác động tiêu cực đến chỉ số này ở mức 95% Các loại thông tin khác không cho thấy ảnh hưởng đáng kể đến giá trị doanh nghiệp.

Khác với các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào CBTT môi trường tự nguyện, Clarkson và cộng sự (2013) đã phát hiện ra rằng CBTT môi trường tự nguyện có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp, ngay cả khi đã kiểm soát hiệu quả thực thi môi trường Mối quan hệ này được các tác giả giải thích dựa trên lý thuyết tín hiệu được đề cập trong nghiên cứu của Clarkson và cộng sự (2008).

Các doanh nghiệp thực thi môi trường tốt sẽ không phải đối mặt với các nghĩa vụ môi trường tiềm tàng trong tương lai và sẽ có lợi thế cạnh tranh nhờ cải tiến quy trình sản xuất kinh doanh và khác biệt hóa sản phẩm, giúp tiết kiệm chi phí và đạt được lợi thế thương mại xanh Việc công bố thông tin môi trường tự nguyện là cần thiết để nhà đầu tư có thể phân loại doanh nghiệp, từ đó gửi tín hiệu phù hợp và giúp thị trường đánh giá đúng giá trị của doanh nghiệp Nghiên cứu này áp dụng phương pháp hồi quy OLS trên mẫu 195 quan sát từ các công ty đại chúng Mỹ trong 5 ngành kinh tế gây ô nhiễm trong các năm 2003 và 2006.

Nghiên cứu của Salvi và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng việc áp dụng lý thuyết tín hiệu có thể giải thích tác động tích cực của công bố thông tin (CBTT) online đối với quá trình chuyển đổi số và giá trị doanh nghiệp, được đo lường bằng chỉ số TobinQ Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và phân tích trên mẫu 114 công ty niêm yết từ nhiều quốc gia trong năm 2018.

1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu

Mối quan hệ giữa công bố thông tin tự nguyện và chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được giải thích qua lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết rủi ro ước tính Theo Diamond và Verrecchia (1991), việc công bố thông tin tự nguyện giúp giảm thiểu thông tin bất cân xứng, từ đó tăng tính thanh khoản của cổ phiếu và nhu cầu từ các nhà đầu tư lớn, dẫn đến giảm chi phí vốn chủ sở hữu Trước khi đầu tư, các nhà đầu tư khôn ngoan cần xem xét lợi suất kỳ vọng và rủi ro liên quan, bao gồm cả rủi ro thông tin không chắc chắn Cải thiện mức độ công bố thông tin tự nguyện có thể giảm rủi ro ước tính không thể đa dạng hóa, giảm beta và từ đó giảm chi phí vốn của doanh nghiệp (Barry và Brown, 1985; Coles và cộng sự, 1995).

Dựa trên hai lý thuyết đã nêu, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện ở các quốc gia nhằm đánh giá tác động của việc công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp Một số nghiên cứu đáng chú ý về chủ đề này đã được tiến hành.

Nghiên cứu của Botosan (1997) dựa trên mẫu 122 doanh nghiệp sản xuất năm 1990 cho thấy rằng mức độ công bố thông tin tài chính tự nguyện không ảnh hưởng đáng kể đến chi phí vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có ít nhà phân tích theo dõi, việc công bố thông tin tài chính tự nguyện lại giúp giảm chi phí vốn chủ, trong khi tác động này không rõ ràng đối với nhóm doanh nghiệp có nhiều nhà phân tích theo dõi.

Botosan (1997) chỉ ra rằng doanh nghiệp có nhiều phương tiện để công bố thông tin tự nguyện như báo cáo thường niên, họp báo và website, dẫn đến việc công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên có thể không phản ánh đầy đủ mức độ công bố của doanh nghiệp, đặc biệt là với những doanh nghiệp có nhiều nhà phân tích theo dõi Nghiên cứu của Botosan sử dụng phương pháp chỉ số công bố để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện và tính toán tỷ lệ thứ hạng công bố của doanh nghiệp Để đo lường chi phí vốn chủ sở hữu, Botosan áp dụng mô hình định giá dựa trên kế toán do Edwards và Bell phát triển.

(1961), Ohlson (1995) và Feltham và Ohlson (1995) (mô hình định giá EBO)

Francis và cộng sự (2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng lợi nhuận, công bố thông tin tự nguyện (CBTT) và chi phí vốn của doanh nghiệp Họ đo lường CBTT tự nguyện qua chỉ số công bố từ báo cáo thường niên và mẫu 10-K của 677 doanh nghiệp Mỹ năm 2001 Chi phí vốn chủ sở hữu được ước tính từ dữ liệu dự báo của các nhà phân tích Kết quả hồi quy OLS cho thấy doanh nghiệp có chất lượng lợi nhuận tốt thường có CBTT tự nguyện cao hơn Khi không tính đến chất lượng lợi nhuận, CBTT có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ sở hữu, nhưng khi thêm biến chất lượng lợi nhuận, tác động tích cực của CBTT đến chi phí vốn giảm đáng kể hoặc biến mất Francis và các cộng sự giải thích rằng chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến cả CBTT tự nguyện và chi phí vốn, do đó việc bỏ qua biến này sẽ làm sai lệch kết quả.

Nghiên cứu của Francis và cộng sự (2005) mở rộng phạm vi ra 34 quốc gia với 672 quan sát doanh nghiệp – năm từ 484 doanh nghiệp ngành sản xuất trong hai năm 1993 và 1995 Kết quả từ phương pháp hồi quy OLS và 2SLS cho thấy rằng doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào tài trợ bên ngoài sẽ có xu hướng công bố thông tin tài chính (CBTT) nhiều hơn, từ đó làm giảm chi phí vốn chủ và vốn vay Cụ thể, CBTT tự nguyện có mối quan hệ âm đáng kể với chi phí vốn vay ở mức 5% và với chi phí vốn chủ sở hữu ở mức 10% Đáng chú ý, ảnh hưởng tích cực của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn không bị tác động bởi các yếu tố quốc gia liên quan đến hệ thống pháp lý hay tài chính, cho thấy rằng CBTT tự nguyện có thể giảm chi phí vốn trên toàn cầu.

Bài nghiên cứu của Hail (2002) với tiêu đề “the impact of voluntary corporation disclosures on the ex-ante cost of capital for Swiss Firms”, tạm dịch là

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới

Nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện (CBTT) ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp, trong khi tác động của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp vẫn chưa được khai thác Hiện tại, một số nghiên cứu đã được thực hiện tại Việt Nam liên quan đến chủ đề này.

Bài viết của Binh, Ta Quang (2014) mang tiêu đề “Ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới sự biến động của TTCK: Bằng chứng từ Việt Nam” là nghiên cứu tiên phong về mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam Nghiên cứu dựa trên mẫu 199 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam năm 2009, xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện lên chi phí vốn bình quân (WACC), chỉ số giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu, mức độ biến động giá cổ phiếu và độ lệch chuẩn của loganepe khối lượng giao dịch Kết quả cho thấy CBTT tự nguyện có lợi ích nhất định đối với giá trị doanh nghiệp, với mối quan hệ thuận chiều với biến động giá cổ phiếu và ngược chiều với biến động khối lượng giao dịch ở mức ý nghĩa 90% Phân tích thông tin thành 6 loại cho thấy chỉ thông tin chung về doanh nghiệp có mối quan hệ đáng kể nghịch chiều với chi phí vốn ở mức ý nghĩa 95% và thuận chiều với biến động giá cổ phiếu ở mức ý nghĩa 90%, trong khi các loại thông tin khác không có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu của Nguyen, D V và Nguyen, L T N (2017) đã phân tích 225 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong năm 2015, cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa công bố thông tin tài chính (CBTT) và chi phí vốn chủ Chi phí vốn chủ được ước tính dựa trên mô hình chiết khấu cổ tức theo phương pháp của Botosan.

Vào năm 1997, do thiếu dữ liệu dự báo từ nhà phân tích, hai tác giả đã sử dụng tỷ lệ trả cổ tức và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong quá khứ để tự ước tính lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp Công bố thông tin tài chính (CBTT) được đo lường theo phương pháp chỉ số công bố dựa trên danh mục thông tin phát triển bởi Botosan.

Bài viết của Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019) nghiên cứu vai trò của thông tin trong việc giảm chi phí vốn chủ tại Việt Nam, mặc dù không hoàn toàn tập trung vào CBTT tự nguyện Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến chi phí vốn chủ thông qua 294 công ty niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2014-2016 Kết quả ước lượng SGMM cho thấy có mối quan hệ nghịch chiều giữa minh bạch thông tin và chi phí vốn chủ ở mức ý nghĩa thấp 10%, trong khi phương pháp FEM không cho kết quả có ý nghĩa thống kê Điều này có thể do việc sử dụng mô hình CAPM để ước tính chi phí vốn chủ sở hữu, mà nhiều nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng các mô hình truyền thống như CAPM giả định rằng mọi thông tin đã được phản ánh trong giá, dẫn đến việc thông tin bất cân xứng không ảnh hưởng đến giá.

Nguyễn Văn Bảo (2020) đã nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin (CBTT) bắt buộc và tự nguyện đến năng lực cạnh tranh của các công ty niêm yết (CTNY) tại Việt Nam Nghiên cứu dựa trên mẫu 145 doanh nghiệp trong ngành xây dựng và bất động sản trên hai sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2016-2018 Năng lực cạnh tranh được đo bằng tỷ lệ doanh thu của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của mẫu nghiên cứu Kết quả hồi quy cho thấy phương pháp hồi quy REM là phù hợp, và CBTT tự nguyện có tác động tích cực, làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khác với những nghiên cứu trên, luận án tiến sỹ của Tạ Thị Thúy Hằng

Nghiên cứu năm 2019 tập trung vào ảnh hưởng của công bố thông tin về trách nhiệm xã hội (CBTT TNXH) đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Mẫu nghiên cứu bao gồm 43 công ty niêm yết tại Việt Nam trong khoảng thời gian 11 năm từ 2006 đến 2016, sử dụng các phương pháp hồi quy như FEM, REM, 2SLS và GMM với biến phụ thuộc là ROA và TobinQ Kết quả cho thấy việc thực hiện CBTT TNXH trong quá khứ có tác động tích cực đến chỉ tiêu ROA và TobinQ của năm tiếp theo.

Hồ Ngọc Thảo Trang và Liafisu Sina Yekini (2014) đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa công bố thông tin tài chính (CBTT TNXH) và hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp, với mẫu nghiên cứu gồm 20 doanh nghiệp tài chính niêm yết lớn nhất Việt Nam trong giai đoạn 2010-2012 Hiệu quả tài chính được đo lường qua các chỉ số như ROA, ROE, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ thuận chiều có ý nghĩa thống kê từ 95% trở lên giữa CBTT TNXH và tất cả các biến phụ thuộc.

Khoảng trống nghiên cứu

Chủ đề ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam Qua việc xem xét các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu sinh đã nhận ra một số điểm quan trọng.

Mặc dù có nhiều lý thuyết ủng hộ lợi ích của công bố thông tin tự nguyện đối với giá trị doanh nghiệp, nhưng các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam vẫn chưa cung cấp nhiều bằng chứng thuyết phục Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy tác động tích cực của công bố thông tin tự nguyện lên chi phí vốn chủ sở hữu và giá trị doanh nghiệp, nhưng cũng có không ít nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa các yếu tố này Thậm chí, một số nghiên cứu chỉ ra rằng công bố thông tin tự nguyện có thể có tác động tiêu cực đến chi phí vốn chủ sở hữu và giá trị doanh nghiệp Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng cho ra kết quả khác nhau, với một số chỉ ra rằng công bố thông tin tự nguyện không có mối quan hệ thống kê đáng kể với chi phí vốn chủ sở hữu, trong khi một số khác lại chứng minh mối quan hệ nghịch chiều Sự không nhất quán trong các nghiên cứu trước đây cho thấy đây vẫn là một chủ đề cần tiếp tục thảo luận Kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa công bố thông tin tự nguyện và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam, một thị trường đang phát triển.

Bảng 1.1: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện nói chung đến giá trị doanh nghiệp nói chung

Kết quả thực nghiệm Biến đại diện cho giá trị doanh nghiệp Các nghiên cứu tiêu biểu

CBTT tự nguyện không có quan hệ với giá trị doanh nghiệp

CBTT tự nguyện có quan hệ thuận chiều với giá trị doanh nghiệp

Charumathi và Ramesh (2020); Assidi (2020); Al- Akra và Ali (2012); Saha và Kabra (2019); Salvi và cộng sự (2020) CBTT tự nguyện có quan hệ nghịch chiều với giá trị doanh nghiệp

Kết quả không nhất quán tùy theo từng thước đo giá trị doanh nghiệp

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Bảng 1.2: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện nói chung đến chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Kết quả thực nghiệm Các nghiên cứu tiêu biểu

CBTT tự nguyện không có quan hệ với chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

(2008) CBTT tự nguyện có quan hệ thuận chiều với chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

CBTT tự nguyện có quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

Francis và cộng sự (2005); Hail (2002); Nguyen, D V., &

Kết quả không nhất quán tùy theo từng thước đo chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp, loại thông tin, phương pháp hồi quy…

Botosan (1997); Botosan và Plumlee (2000); Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019);

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Nghiên cứu về ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện (CBTT) đến giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam còn hạn chế Chưa có nghiên cứu nào tổng hợp đầy đủ các lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp Hơn nữa, cần xem xét một cách thấu đáo ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị nội tại và giá trị thị trường của doanh nghiệp, bao gồm cả tác động trực tiếp và gián tiếp Các nghiên cứu trước đây về vấn đề này vẫn còn thiếu sót.

Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019), Nguyen, D V., & Nguyen, L T N

Nghiên cứu của Binh và Ta Quang (2014) chỉ ra rằng công bố thông tin tự nguyện có ảnh hưởng đến chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp Họ cũng xem xét tác động của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị thị trường của doanh nghiệp Thêm vào đó, nghiên cứu của Nguyễn Văn Bảo (2020) nhấn mạnh tác động tích cực của công bố thông tin tự nguyện đối với các yếu tố tài chính của doanh nghiệp.

Nghiên cứu về CBTT tự nguyện và tác động của nó đến năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã được thực hiện bởi nhiều tác giả, trong đó có Binh, Ta Quang (2014) với việc xem xét tác động trực tiếp của CBTT tự nguyện lên giá trị thị trường doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu này có một số hạn chế, bao gồm việc dữ liệu thu thập từ năm 2009 không còn phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, và lý thuyết về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp chưa được hệ thống hóa đầy đủ Hơn nữa, nghiên cứu chưa xem xét ảnh hưởng trực tiếp của CBTT tự nguyện đến giá trị thị trường mà chỉ sử dụng chỉ số giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ Để khắc phục những nhược điểm này, luận án sẽ hệ thống lại các lý thuyết liên quan và xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp một cách trực tiếp và gián tiếp, từ đó cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo tại Việt Nam.

Nghiên cứu tác động của công bố thông tin tự nguyện lên chi phí vốn chủ sở hữu và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam thường dựa vào mô hình CAPM, nhưng các mô hình truyền thống này không xem xét vai trò của thông tin, dẫn đến giả định rằng thông tin bất cân xứng không ảnh hưởng đến giá Nghiên cứu của Dũng và Lan (2017) sử dụng mô hình chiết khấu cổ tức để ước lượng chi phí vốn chủ sở hữu, nhưng gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu dự báo kết quả kinh doanh Botosan và cộng sự (2011) cảnh báo rằng việc thay thế dự báo của nhà phân tích bằng giá trị thực tế có thể dẫn đến ước tính chệch Luận án này là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam ước tính chi phí vốn chủ ngầm định dựa trên dự báo của nhà phân tích, sử dụng thang đo mới để kiểm chứng các kết quả trước đó và trả lời câu hỏi liệu công bố thông tin tự nguyện có mang lại lợi ích và gia tăng giá trị doanh nghiệp hay không.

Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” mang tính mới mẻ và cần thiết cho nghiên cứu tại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN, GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện

2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin ra công chúng

Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ với xã hội, do đó hoạt động của họ thu hút sự quan tâm của cộng đồng Khi còn nhỏ, doanh nghiệp chỉ ảnh hưởng đến một số đối tượng như người tiêu dùng và cổ đông Tuy nhiên, khi phát triển thành công ty đại chúng, sự chú ý từ cộng đồng tăng lên đáng kể Để đáp ứng nhu cầu thông tin của các bên liên quan, doanh nghiệp cần công bố thông tin ra công chúng Các nghiên cứu trước đây đã xem xét việc công bố thông tin từ nhiều góc độ khác nhau.

Luật chứng khoán Việt Nam (2019) quy định tại chương VIII về công bố thông tin, xác định rõ các đối tượng, nguyên tắc và yêu cầu công bố thông tin cho từng đối tượng, nhưng không đưa ra khái niệm cụ thể về công bố thông tin.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa công bố công khai là hành động làm cho thông tin hoặc dữ liệu có sẵn cho tất cả cá nhân và tổ chức quan tâm Các hình thức công bố công khai bao gồm tuyên bố bằng lời nói hoặc văn bản trên diễn đàn công khai, phương tiện truyền thông, hoặc thông qua các bản tin chính thức, công báo, báo cáo, tài liệu độc lập, và thông tin được đăng trên trang web.

Nguyễn Thùy Dương (2016) định nghĩa công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán từ hai góc độ Dưới góc độ xã hội, công bố thông tin là việc công ty cung cấp rộng rãi các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến hoạt động của mình, giúp công chúng đầu tư dễ dàng tiếp cận Còn từ góc độ pháp lý, công bố thông tin là việc công ty tuân thủ các yêu cầu về chế độ báo cáo và công khai thông tin theo quy định của pháp luật.

Gibbins và cộng sự (1990) định nghĩa công bố thông tin tài chính của doanh nghiệp là hành động công bố có chủ đích thông tin tài chính, bao gồm cả số liệu và định tính, không phân biệt là bắt buộc hay tự nguyện, và có thể thực hiện qua kênh chính thống hoặc không.

Khái niệm công bố công khai do IMF đưa ra là một khái niệm chung, phù hợp với nhiều loại tổ chức kinh tế chính trị khác nhau Nguyễn Thùy Dương (2016) định nghĩa công bố thông tin của công ty đại chúng từ góc độ xã hội, tập trung vào các công ty đại chúng và nhà đầu tư là đối tượng sử dụng thông tin Ngoài ra, khái niệm công bố thông tin của công ty đại chúng còn được xem xét từ góc độ pháp lý theo Nguyễn Thùy Dương.

Theo nghiên cứu của Gibbins và cộng sự (1990) và thông tin tài chính được công bố vào năm 2016, nội dung chỉ tập trung vào một phần thông tin công bố bởi doanh nghiệp, bao gồm thông tin bắt buộc và thông tin tài chính.

Dựa trên các khái niệm đã đề cập, tác giả định nghĩa công bố thông tin ra công chúng một cách đầy đủ và phù hợp với đối tượng là doanh nghiệp.

Công bố thông tin ra công chúng là quá trình mà doanh nghiệp chia sẻ rộng rãi các thông tin liên quan đến hoạt động của mình, nhằm đảm bảo rằng tất cả các đối tượng có nhu cầu đều có thể dễ dàng tiếp cận thông tin này.

Trong nghiên cứu này, việc công bố thông tin ra công chúng của doanh nghiệp được gọi tắt là công bố thông tin của doanh nghiệp.

2.1.2 Khái niệm công bố thông tin tự nguyện

Thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú Hoạt động công bố thông tin ra công chúng được chia thành nhiều loại dựa trên các tính chất khác nhau của thông tin Căn cứ vào tính chất bắt buộc của thông tin, công bố thông tin của doanh nghiệp được phân thành hai loại: công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện Hai khái niệm này thường được hiểu là loại trừ nhau, nghĩa là công bố thông tin bắt buộc không phải là công bố thông tin tự nguyện và ngược lại.

Hai loại công bố thông tin này cũng đã được nhiều nghiên cứu trước đây đề cập đến và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:

Công bố thông tin tự nguyện, theo Meek, Roberts và Gray (1995), là việc cung cấp thông tin vượt quá yêu cầu pháp luật, thể hiện sự lựa chọn tự do của nhà quản lý trong việc cung cấp các thông tin kế toán và thông tin khác nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng báo cáo thường niên.

Theo Tian và Chen (2009), công bố thông tin bắt buộc là nghĩa vụ của các công ty niêm yết dựa trên các quy định pháp luật như luật doanh nghiệp, luật chứng khoán và luật kế toán Ngược lại, công bố thông tin tự nguyện diễn ra khi các công ty niêm yết cung cấp thông tin không bắt buộc nhằm nâng cao hình ảnh công ty, phục vụ nhà đầu tư và giảm thiểu rủi ro bị cáo buộc.

Hassan và Marston (2010) phân loại công bố thông tin thành hai nhóm chính: công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin bắt buộc là những thông tin cần thiết để đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp, bao gồm các quy định niêm yết của sở giao dịch chứng khoán Ngược lại, công bố thông tin tự nguyện là việc công bố các thông tin không nằm trong danh sách bắt buộc, có thể bao gồm những thông tin được khuyến nghị bởi các cơ quan hoặc điều luật có thẩm quyền.

Báo cáo cải tiến doanh nghiệp do Dự án nghiên cứu báo cáo doanh nghiệp (BRRP) của FASB định nghĩa rằng công bố thông tin tự nguyện là hành động mà các công ty niêm yết thực hiện để công bố thông tin một cách tự nguyện, không bao gồm các thông tin tài chính cơ bản theo yêu cầu của các nguyên tắc kế toán và cơ quan quản lý chứng khoán.

Việc công bố thông tin tự nguyện là hành động mà doanh nghiệp chia sẻ công khai những thông tin không bắt buộc theo quy định pháp luật, tổ chức hành nghề hoặc sàn chứng khoán, nhằm phục vụ nhu cầu thông tin của các đối tượng quan tâm.

Những vấn đề chung về doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp

Theo luật doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp được định nghĩa là một tổ chức có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký theo quy định của pháp luật với mục đích kinh doanh.

Doanh nghiệp, từ góc độ pháp lý, là một tổ chức kinh tế được pháp luật công nhận và thành lập với mục đích kinh doanh Từ quan điểm của chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư, doanh nghiệp có thể được xem như một tài sản hoặc một khoản đầu tư Mục tiêu chính của chủ sở hữu khi đầu tư vào doanh nghiệp là thu lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên, tài sản này có những đặc điểm riêng biệt.

Doanh nghiệp khác với các tài sản thông thường, vì nó là một thực thể vận động liên tục và không ngừng Chỉ khi doanh nghiệp trải qua giai đoạn giải thể hoặc phá sản, tài sản của nó mới dừng hoạt động và trở thành một tập hợp các tài sản đơn lẻ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán, doanh nghiệp đã trở thành hàng hóa có thể giao dịch trên thị trường Khi doanh nghiệp được xem như hàng hóa, giá trị và giá trị thị trường của chúng trở thành mối quan tâm hàng đầu.

2.2.2 Khái niệm giá trị doanh nghiệp

Giá trị là một khái niệm đa dạng, được nghiên cứu từ nhiều góc độ như đạo đức, xã hội, chính trị và kinh tế Mỗi sự vật, hiện tượng đều mang những loại giá trị riêng Chẳng hạn, theo Các Mác, hàng hóa có hai thuộc tính chính: giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của hàng hóa phản ánh sự kết tinh của lao động xã hội cần thiết, trong khi giá trị sử dụng thể hiện công dụng và lợi ích mà hàng hóa mang lại cho người tiêu dùng.

Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực từ 1/1/2021, quy định sự phân biệt giữa giá trị thị trường và giá cả hàng hóa Giá cả hàng hóa được định nghĩa là biểu hiện bằng tiền của giá trị, nhưng chịu ảnh hưởng bởi quy luật cung cầu Điều này cho thấy giá trị là yếu tố cốt lõi, trong khi giá cả có thể biến động xung quanh giá trị tùy thuộc vào tình hình cung cầu trên thị trường.

Doanh nghiệp, mặc dù có thể được coi là hàng hóa trên thị trường, lại là một tài sản đặc biệt với cách sử dụng khác biệt so với các tài sản thông thường Khi nói đến giá trị doanh nghiệp, các nghiên cứu thực nghiệm thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ hai loại giá trị chính: giá trị nội tại (intrinsic value) và giá trị thị trường (market value).

2.2.2.1 Khái niệm giá trị nội tại của doanh nghiệp Ý tưởng về giá trị nội tại của doanh nghiệp đã hình thành từ rất lâu cùng với sự hình thành và phát triển của phương pháp phân tích cơ bản Graham và Dodd

Theo (1934), các nhà đầu tư cần phân tích giá cả thị trường để xác định sự phù hợp giữa giá thị trường và giá trị "thực tế" của doanh nghiệp (CFA, 2017) Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có khái niệm nhất quán nào về giá trị nội tại của doanh nghiệp được phát triển và áp dụng trong nghiên cứu thực nghiệm Một số khái niệm về giá trị nội tại có thể được đề cập.

The CFA Institute defines the intrinsic value of an asset as the amount a rational investor, fully informed about the asset's characteristics, is willing to pay for it.

Giá trị doanh nghiệp, theo “Giáo trình định giá tài sản” của Trường đại học Thương Mại (2017), được hiểu là giá trị nội tại của doanh nghiệp từ góc nhìn của các nhà đầu tư Cụ thể, giá trị doanh nghiệp được định nghĩa là sự biểu hiện bằng tiền của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp tạo ra cho nhà đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Theo Damodaran (2012), giá trị nội tại của một tài sản được xác định bởi các đặc điểm cơ bản như dòng tiền, tốc độ tăng trưởng dự kiến và rủi ro Điều này có nghĩa là những tài sản có khả năng tạo ra dòng tiền, chẳng hạn như trái phiếu, cổ phiếu, doanh nghiệp hoặc bất động sản thương mại cho thuê, sẽ có giá trị nội tại Ngược lại, những tài sản không tạo ra dòng tiền sẽ không có giá trị nội tại, và giá trị của chúng phụ thuộc vào người nắm giữ.

Tiwari (2016) đã định nghĩa giá trị nội tại của doanh nghiệp bằng cách nhấn mạnh sự khác biệt giữa giá trị nội tại và giá trị thị trường của doanh nghiệp.

Giá trị nội tại (intrinsic value) là giá trị thực tế của một doanh nghiệp, được xác định thông qua phân tích cơ bản mà không phụ thuộc vào giá trị thị trường của nó.

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, hầu hết các khái niệm về định giá doanh nghiệp đều được nhìn nhận từ góc độ của nhà đầu tư, như được nêu trong tài liệu của tổ chức CFA và giáo trình định giá tài sản của Trường đại học Thương Mại (2017) Điều này dễ hiểu vì việc định giá thường diễn ra khi nhà đầu tư cần quyết định về mua bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, các khái niệm này chưa làm rõ các đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp Luận án này tiếp cận từ góc độ nhà đầu tư và định nghĩa rằng “giá trị nội tại của doanh nghiệp là giá trị mà một nhà đầu tư có lý trí, hiểu biết đầy đủ về các đặc điểm của doanh nghiệp (dòng tiền, tốc độ tăng trưởng dự kiến và rủi ro), sẵn sàng trả để mua doanh nghiệp đó”.

Những vấn đề chung về chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Cách tiếp cận từ thu nhập là một trong ba phương pháp xác định giá trị nội tại của doanh nghiệp, mặc dù cách tiếp cận dựa trên thị trường thường được áp dụng nhiều hơn trong thực tế Tuy nhiên, phương pháp này lại đóng vai trò nền tảng cho việc xây dựng các phương pháp khác (Damodaran, 2012).

Phương pháp này ước tính giá trị nội tại của doanh nghiệp bằng cách quy đổi thu nhập tương lai về giá trị hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu phù hợp Tỷ lệ chiết khấu có thể là chi phí vốn chủ sở hữu hoặc chi phí sử dụng vốn bình quân, tùy thuộc vào việc xác định giá trị vốn chủ sở hữu hay giá trị toàn bộ doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu là một phần quan trọng trong tổng nguồn vốn, và chi phí vốn chủ sở hữu cũng là yếu tố then chốt trong chi phí sử dụng vốn bình quân Do đó, bên cạnh thu nhập tương lai, chi phí vốn chủ sở hữu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị nội tại của doanh nghiệp.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị nội tại của doanh nghiệp thường tập trung vào chi phí vốn chủ sở hữu và thu nhập tương lai Do hạn chế về thời gian, luận án này sẽ đánh giá tác động của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu, từ đó chứng minh ảnh hưởng của nó lên giá trị nội tại Mục này sẽ hệ thống lại các vấn đề chung liên quan đến chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

2.3.1 Khái niệm chi phí vốn chủ sở hữu Để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư và hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động bằng nhiều cách thức khác nhau, từ nhiều nguồn tài trợ khác nhau như vay vốn, phát hành cổ phiếu thường, phát hành cổ phiếu ưu đãi,… Trong kế toán, các nguồn tại trợ này được phân loại thành 2 nhóm: vốn chủ sở hữu và vốn vay Khi nhà đầu tư cho doanh nghiệp vay, thông thường họ sẽ nhận được lợi suất cố định không phụ thuộc vào tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp Trái lại, khi nhà đầu tư đầu tư vào doanh nghiệp với vai trò chủ sở hữu, lợi suất mà họ nhận được sẽ biến động cùng với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lãi, lợi nhuận trước tiên sẽ được trả cho chủ nợ, phần còn lại mới thuộc về chủ sở hữu Do đó, rủi ro đối với chủ nợ thường thấp hơn rủi ro đối với chủ sở hữu

Khi đầu tư vào doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ phải chấp nhận mất đi cơ hội sử dụng vốn cho các khoản đầu tư khác, dẫn đến việc không thu được lợi nhuận từ những cơ hội này.

Để bù đắp cho khoản thu nhập mất đi, nhà đầu tư yêu cầu một mức sinh lời khi đầu tư vào doanh nghiệp Theo "giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp" của trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2020), điều này được định nghĩa từ góc độ của nhà đầu tư.

Chi phí vốn của doanh nghiệp là tỷ suất sinh lời tối thiểu mà các nhà đầu tư yêu cầu khi đầu tư vào doanh nghiệp.

Khi huy động vốn, doanh nghiệp cần xác định chi phí liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn Mức tỷ suất sinh lợi tối thiểu mà doanh nghiệp cần đạt được là yếu tố quan trọng để đáp ứng nhu cầu của các bên cấp vốn Do đó, chi phí vốn được xem là một yếu tố then chốt trong quyết định tài chính của doanh nghiệp.

Chi phí vốn là khoản chi mà doanh nghiệp cần thanh toán cho các nhà cung cấp vốn trên thị trường, nhằm đảm bảo nguồn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.

Các nhà đầu tư tài trợ vốn cho doanh nghiệp qua nhiều hình thức khác nhau, và mức độ rủi ro mà họ phải đối mặt cũng khác nhau Do đó, tỷ suất sinh lời mà họ yêu cầu cho mỗi hình thức cung ứng vốn cũng khác biệt Cụ thể, rủi ro khi cho doanh nghiệp vay vốn thường thấp hơn so với việc đầu tư vào doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu, dẫn đến chi phí vốn vay thường thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu.

Chi phí vốn chủ sở hữu là tỷ suất sinh lời mà các chủ sở hữu hiện tại hoặc tiềm năng yêu cầu từ doanh nghiệp để đảm bảo việc tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh.

Chi phí nợ vay là tỷ suất sinh lời mà các chủ nợ hiện tại hoặc tương lai yêu cầu doanh nghiệp thanh toán để đảm bảo nguồn tài trợ vốn cho hoạt động của doanh nghiệp.

Việc ước lượng chi phí sử dụng vốn, bao gồm chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí nợ vay, là rất quan trọng đối với các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp Những thông số này hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quyết định thực hiện dự án kinh doanh và hình thức huy động vốn phù hợp, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và giá trị doanh nghiệp.

Việc xác định chi phí vốn chủ sở hữu là một thách thức lớn, vì nó không thể quan sát trực tiếp mà chỉ có thể ước lượng Chi phí này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tính mạo hiểm trong việc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.

2.3.2 Các cách tiếp cận nhằm ước tính chi phí vốn chủ sở hữu

Trong lĩnh vực tài chính và kế toán, nhiều nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp khác nhau để ước tính chi phí vốn chủ sở hữu Ba phương pháp phổ biến nhất bao gồm tỷ suất sinh lời thực hiện bình quân, mô hình định giá tài sản vốn CAPM, và mô hình chiết khấu cổ tức.

Các lý thuyết giải thích ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp

2.4.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng, được phát triển bởi Akerlof (1970), Spence (1973) và Stiglitz (1975), là một trong những lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu công bố thông tin Bất cân xứng thông tin xảy ra khi một bên trong hợp đồng nắm giữ nhiều thông tin hơn bên còn lại về hàng hóa trao đổi Ví dụ, nhà tuyển dụng cần đánh giá khả năng của nhân viên (Stiglitz, 2000), hội đồng quản trị gặp khó khăn trong việc hiểu rõ đặc điểm của ứng viên CEO (Zajac, 1990), và nhà đầu tư muốn biết giá trị thực tế của doanh nghiệp trước khi đầu tư (Cohen và Dean, 2005) Hiện tượng này xuất hiện trong nhiều lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm và thị trường lao động Trên thị trường chứng khoán, bất cân xứng thông tin xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư có thông tin riêng hoặc nắm giữ nhiều thông tin công khai hơn về một công ty (Kyle, 1985; Kim và Verrecchia, 1997).

Bất cân xứng thông tin dẫn đến hai vấn đề chính: lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Lựa chọn bất lợi xảy ra khi bên có ít thông tin hơn chọn đối tác không tốt, ví dụ như nhà đầu tư không nắm rõ thông tin về doanh nghiệp có thể đầu tư vào những công ty kém hiệu quả Rủi ro đạo đức xuất hiện sau khi hợp đồng được ký kết, khi bên có nhiều thông tin thực hiện hành vi ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại Chẳng hạn, trong các công ty cổ phần, nhà quản trị thường có nhiều thông tin hơn cổ đông, dẫn đến khả năng thực hiện các hành vi vì lợi ích cá nhân mà gây hại cho cổ đông.

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng thông tin bất cân xứng ảnh hưởng đến chi phí vốn của doanh nghiệp Theo Glosten và Milgrom (1985), nhà đầu tư thiếu thông tin thường lo ngại khi giao dịch với những nhà đầu tư có nhiều thông tin hơn, dẫn đến việc họ giảm giá mua và tăng giá bán Hệ quả là chênh lệch giá mua và bán trên thị trường chứng khoán thứ cấp gia tăng Thông tin bất cân xứng và lựa chọn bất lợi cũng làm giảm khối lượng cổ phiếu mà nhà đầu tư ít thông tin sẵn sàng giao dịch, từ đó giảm tính thanh khoản của thị trường.

Thiếu tính thanh khoản và chênh lệch giá mua-bán cao tạo ra chi phí giao dịch cho nhà đầu tư, dẫn đến việc họ yêu cầu tỷ suất lợi nhuận cao hơn để bù đắp cho chi phí gia tăng (Constantinides, 1986; Amihud và Mendelson, 1986) Bên cạnh đó, lựa chọn bất lợi có thể làm sai lệch quyết định đầu tư, gây ra đầu tư kém hiệu quả và tốn kém, do đó nhà đầu tư cũng sẽ yêu cầu tỷ suất lợi nhuận lớn hơn để phòng ngừa rủi ro này (Garleanu và Pedersen, 2004).

Vấn đề lựa chọn bất lợi và chi phí giao dịch trên thị trường chứng khoán thứ cấp ảnh hưởng đến quyết định phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp trong tương lai Khi nhà đầu tư dự đoán tính thanh khoản thấp của cổ phiếu trên thị trường thứ cấp, họ sẽ giảm mức giá mà họ sẵn sàng chi trả trên thị trường sơ cấp khi doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu (Baiman và Verrecchia, 1996; Verrecchia, 2001).

Tình trạng thông tin bất cân xứng làm giảm giá chào bán và dẫn đến định giá thấp khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Theo mô hình của Rock (1986), cổ phiếu phát hành lần đầu thường bị định giá thấp Cụ thể, khi cổ phiếu được phát hành với giá hợp lý, nhà đầu tư có nhiều thông tin sẽ mua vào, nhưng nếu giá cao, họ sẽ không tham gia, khiến rủi ro rơi vào tay nhà đầu tư ít thông tin Để tránh "lời nguyền của người chiến thắng", nhà đầu tư ít thông tin thường không tham gia thị trường sơ cấp trừ khi cổ phiếu được phát hành với mức chiết khấu Do đó, thông tin bất cân xứng dẫn đến chi phí huy động vốn cao hơn.

Công bố thông tin giúp giảm lựa chọn bất lợi và tăng tính thanh khoản bằng cách tạo ra sự công bằng giữa các nhà đầu tư Khi có nhiều thông tin được công bố, việc thu thập thông tin nội bộ trở nên khó khăn và tốn kém hơn, dẫn đến số lượng nhà đầu tư có thông tin nội bộ giảm Điều này cũng làm giảm khả năng giao dịch với những bên nắm giữ nhiều thông tin hơn Hơn nữa, việc công bố thông tin nhiều làm giảm sự không chắc chắn về giá trị doanh nghiệp, từ đó giảm lợi thế thông tin của các nhà đầu tư có thông tin nội bộ Kết quả là, mức độ cần tự bảo vệ của nhà đầu tư ít thông tin giảm, tăng tính thanh khoản của thị trường, giảm chi phí giao dịch và lợi suất kỳ vọng, từ đó làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu.

2.4.2 Lý thuyết rủi ro ước tính

Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất trong điều kiện thông tin không chắc chắn đã được nhiều học giả nghiên cứu, như Klein và Bawa (1979), Barry và Brown (1985), và Clarkson và Thompson (1990) Các nghiên cứu này cho thấy rằng nhà đầu tư khôn ngoan cần xem xét lợi suất kỳ vọng và rủi ro đầu tư liên quan khi đưa ra quyết định đầu tư Rủi ro đầu tư bao gồm cả rủi ro thông tin không chắc chắn, hay còn gọi là rủi ro ước tính, phát sinh từ việc nhà đầu tư phải ước tính các thông số về lợi nhuận của tài sản, chẳng hạn như hệ số beta và dòng tiền trong tương lai, dựa trên thông tin hạn chế mà họ có.

Nếu rủi ro không thể đa dạng hóa, nhà đầu tư sẽ yêu cầu bù đắp cho rủi ro tăng thêm Cải thiện mức độ công bố thông tin có thể giảm rủi ro ước tính không thể đa dạng hóa, từ đó giảm beta và chi phí vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy mô hình CAPM truyền thống chưa phản ánh đầy đủ cấu phần không thể đa dạng hóa của rủi ro, dẫn đến hệ số beta của cổ phiếu có ít thông tin bị ước tính thấp một cách có hệ thống.

Các nghiên cứu trước đây vẫn đang tranh cãi về tầm quan trọng của rủi ro ước tính Reinganum và Smith (1983) cho rằng trong nền kinh tế lớn với nhiều cổ phiếu, rủi ro ước tính có thể được đa dạng hóa phần lớn, vì nó là rủi ro đặc trưng riêng của từng cổ phiếu Họ lập luận rằng nếu cổ phiếu có ít thông tin chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ của chỉ số thị trường, thì rủi ro này sẽ ít ảnh hưởng đến phương sai và hiệp phương sai của danh mục Ngược lại, Handa và Lim (1993) sử dụng lý thuyết giá chênh lệch (APT) để khẳng định rằng cấu phần hệ thống của rủi ro không thể đa dạng hóa, ngay cả trong nền kinh tế có mức độ đa dạng hóa cao Lambert và cộng sự (2007) đã tính toán lại chi phí vốn trong mô hình CAPM dựa trên giá trị kỳ vọng và hiệp phương sai của dòng tiền trong tương lai Họ chỉ ra rằng việc cải thiện chất lượng công bố thông tin giúp giảm hiệp phương sai giữa dòng tiền của doanh nghiệp và thị trường, từ đó làm giảm chi phí vốn, một tác động không thể đa dạng hóa do số lượng phương sai giữa các dòng tiền của doanh nghiệp tăng khi số doanh nghiệp trong nền kinh tế gia tăng.

2.4.3 Lý thuyết chi phí liên quan

Mặc dù việc công bố thông tin tự nguyện (CBTT) mang lại nhiều lợi ích, nhưng các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng có nhiều chi phí liên quan đến việc này, cản trở việc công bố thông tin đầy đủ (Verrecchia, 1983) Các chi phí này bao gồm chi phí trực tiếp như thu thập, lưu trữ, kiểm toán và cung cấp thông tin (Edwards và Smith, 1996; Leuz và Wysocki, 2008) Hassan và Marston (2010) đã nêu ví dụ về chi phí sản xuất và phổ biến thông tin, bao gồm chi phí cải tiến hệ thống thông tin, chi phí thuê hoặc đào tạo kế toán và kiểm toán Những chi phí trực tiếp này là đáng kể, đặc biệt khi xem xét chi phí cơ hội của việc đầu tư.

Việc đầu tư vào trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) có thể làm giảm nguồn lực tài chính cho các dự án có lợi suất cao, do các doanh nghiệp từ chối bán sản phẩm gây hại cho môi trường và không hối lộ để có cơ hội kinh doanh tốt Eccles và cộng sự (2014) chỉ ra rằng, khi thực hiện CSR, doanh nghiệp phải chịu nhiều chi phí hơn, bao gồm tiền lương cao hơn, chi phí môi trường vượt mức yêu cầu pháp luật, và bỏ qua các cơ hội đầu tư không phù hợp với giá trị của mình Điều này dẫn đến lợi nhuận thấp hơn trên sản phẩm do chi phí cao nhằm thuyết phục các tổ chức phi chính phủ, cũng như mất khách hàng do giá sản phẩm cao hơn vì những tính năng không được ưa chuộng.

Tất cả những điều này, cuối cùng tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh và giá trị doanh nghiệp

Việc công bố thông tin tự nguyện có thể tạo ra chi phí gián tiếp cho doanh nghiệp, khi thông tin này bị các bên liên quan như đối thủ cạnh tranh hay cơ quan thuế sử dụng để gây bất lợi Depoers (2000) chỉ ra rằng chi phí bất lợi cạnh tranh phát sinh từ việc công bố thông tin về chiến lược, công nghệ và cải tiến quản trị Chẳng hạn, thông tin về phát triển sản phẩm tương lai có thể tạo ra rủi ro cho doanh nghiệp khi đối thủ sử dụng để phát triển sản phẩm cạnh tranh Mặc dù nhiều học giả như Verrecchia (1983) và Dye (1986) ủng hộ lập luận này, nhưng mối đe dọa từ cạnh tranh không nhất thiết ngăn cản doanh nghiệp công bố thông tin Doanh nghiệp lớn có thể công bố để ngăn chặn sự gia nhập của đối thủ mới hoặc chia sẻ thông tin về nhu cầu thị trường để tránh sản xuất thừa Hơn nữa, đối thủ cũng có thể thu thập thông tin từ việc doanh nghiệp không công bố Do đó, mối quan hệ giữa công bố thông tin và chi phí liên quan rất phức tạp và phụ thuộc vào loại bất lợi kinh tế.

Một lập luận cho rằng minh bạch thông tin có thể làm tổn hại đến các mối quan hệ tài chính, đặc biệt là với ngân hàng Mối quan hệ tài trợ thường yêu cầu thông tin riêng giữa doanh nghiệp và ngân hàng để bảo vệ đầu tư Doanh nghiệp có thể chấp nhận lãi suất cao hơn thị trường trong thời gian kinh doanh thuận lợi, đổi lại sẽ được vay vốn khi gặp khó khăn Do đó, các doanh nghiệp thường không công bố toàn bộ thông tin.

Lý thuyết tín hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp Việc phát tín hiệu được xem như một biện pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng.

QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

CÁC KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NÓI RIÊNG VÀ CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM NÓI CHUNG

Ngày đăng: 25/04/2023, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Lê Vũ Nam (2017). Tiếp tục hoàn thiện các quy định về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán để đáp ứng nhu cầu hội nhập.Nghiên cứu lập pháp, 16(344) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục hoàn thiện các quy định về công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán để đáp ứng nhu cầu hội nhập
Tác giả: Lê Vũ Nam
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2017
12. Nguyễn Thị Thanh Loan và các cộng sự (2020). Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dự báo kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Trường đại học Ngoại Thương, Đề tài cơ sở cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dự báo kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Loan, các cộng sự
Nhà XB: Trường đại học Ngoại Thương
Năm: 2020
13. Trương Đông Lộc, Nguyễn Minh Nhật (2016). Ảnh hưởng của thông tin kế toán đến giá của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí khoa học Đại học Mở Tp.HCM, Số 11 (2) 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thông tin kế toán đến giá của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Đông Lộc, Nguyễn Minh Nhật
Nhà XB: Tạp chí khoa học Đại học Mở Tp.HCM
Năm: 2016
14. Trường đại học Thương Mại (2017). Giáo trình định giá tài sản. NXB Hà Nội 15. Trường đại học Kinh tế Quốc dân (2020). Giáo trình Quản trị tài chính doanhnghiệp. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân II. Tài liệu tham khảo tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình định giá tài sản
Tác giả: Trường đại học Thương Mại
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2017
1. Al-Akra, M., & Ali, M. J. (2012). The value relevance of corporate voluntary disclosure in the Middle-East: The case of Jordan. Journal of Accounting and Public Policy, 31(5), 533-549 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The value relevance of corporate voluntary disclosure in the Middle-East: The case of Jordan
Tác giả: Al-Akra, M., Ali, M. J
Nhà XB: Journal of Accounting and Public Policy
Năm: 2012
2. Alves H., Rodrigues A.M., Canadas N. (2012). Factors influencing the different categories of voluntary disclosure in annual reports: An analysis for Iberian Peninsula listed companies. Review of Applied Management Studies (2012), 10, 15-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors influencing the different categories of voluntary disclosure in annual reports: An analysis for Iberian Peninsula listed companies
Tác giả: Alves H., Rodrigues A.M., Canadas N
Nhà XB: Review of Applied Management Studies
Năm: 2012
4. Armitage, S., & Marston, C. (2008). Corporate disclosure, cost of capital and reputation: Evidence from finance directors. The British Accounting Review, 40(4), 314-336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate disclosure, cost of capital and reputation: Evidence from finance directors
Tác giả: S. Armitage, C. Marston
Nhà XB: The British Accounting Review
Năm: 2008
6. Beattie, V., & Thomson, S. J. (2007, June). Lifting the lid on the use of content analysis to investigate intellectual capital disclosures. In Accounting forum (Vol. 31, No. 2, pp. 129-163). No longer published by Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lifting the lid on the use of content analysis to investigate intellectual capital disclosures
Tác giả: V. Beattie, S. J. Thomson
Nhà XB: Accounting forum
Năm: 2007
7. Beattie, Vivien & McInnes, Bill & Fearnley, Stella. (2004). A Methodology for Analysing and Evaluating Narratives in Annual Reports: A Comprehensive Descriptive Profile and Metrics for Disclosure Quality Attributes. Accounting Forum. 28. 205-236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Methodology for Analysing and Evaluating Narratives in Annual Reports: A Comprehensive Descriptive Profile and Metrics for Disclosure Quality Attributes
Tác giả: Vivien Beattie, Bill McInnes, Stella Fearnley
Nhà XB: Accounting Forum
Năm: 2004
8. Binh, T.Q. (2012). Influential factors on voluntary disclosures and their impact on the stock market: Evidence from Vietnamese non-financial listed companies, Kobe University, Doctoral Dissertation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influential factors on voluntary disclosures and their impact on the stock market: Evidence from Vietnamese non-financial listed companies
Tác giả: Binh, T.Q
Nhà XB: Kobe University
Năm: 2012
9. Binh, Ta Quang (2014). The Impacts of Voluntary Information Disclosure on the Fluctuation of Stock Market: Evidence from Vietnam. International Journal of Management Sciences and Business Research, 2014, Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=2725028 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impacts of Voluntary Information Disclosure on the Fluctuation of Stock Market: Evidence from Vietnam
Tác giả: Ta Quang Binh
Nhà XB: International Journal of Management Sciences and Business Research
Năm: 2014
10. Bontis, N. (2003), "Intellectual Capital Disclosure in Canadian Corporations", Journal of Human Resource Costing & Accounting, Vol. 7 No.1, pp. 9-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intellectual Capital Disclosure in Canadian Corporations
Tác giả: Bontis, N
Nhà XB: Journal of Human Resource Costing & Accounting
Năm: 2003
11. Botosan, C. A. (1997). Disclosure level and the cost of equity capital. Accounting review, 323-349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disclosure level and the cost of equity capital
Tác giả: Botosan, C. A
Nhà XB: Accounting review
Năm: 1997
12. Botosan, C., & Plumlee, M. (2000). Disclosure level and expected cost of equity capital: An examination of analysts' rankings of corporate disclosure. Available at SSRN 208148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disclosure level and expected cost of equity capital: An examination of analysts' rankings of corporate disclosure
Tác giả: Botosan, C., Plumlee, M
Năm: 2000
13. Botosan, C. A., Plumlee, M. A., & Wen, H. (2011). The relation between expected returns, realized returns, and firm risk characteristics. Contemporary Accounting Research, 28(4), 1085-1122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relation between expected returns, realized returns, and firm risk characteristics
Tác giả: Botosan, C. A., Plumlee, M. A., Wen, H
Nhà XB: Contemporary Accounting Research
Năm: 2011
14. Cao, Y., Myers, L. A., Tsang, A., & Yang, Y. G. (2017). Management forecasts and the cost of equity capital: international evidence. Review of Accounting Studies, 22(2), 791-838 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management forecasts and the cost of equity capital: international evidence
Tác giả: Cao, Y., Myers, L. A., Tsang, A., Yang, Y. G
Nhà XB: Review of Accounting Studies
Năm: 2017
15. Chen, H., Chen, J. Z., Lobo, G. J., & Wang, Y. (2011). Effects of audit quality on earnings management and cost of equity capital: Evidence from China. Contemporary Accounting Research, 28(3), 892-925 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of audit quality on earnings management and cost of equity capital: Evidence from China
Tác giả: Chen, H., Chen, J. Z., Lobo, G. J., Wang, Y
Nhà XB: Contemporary Accounting Research
Năm: 2011
16. Chen, Y. C., Hung, M., & Wang, Y. (2018). The effect of mandatory CSR disclosure on firm profitability and social externalities: Evidence from China. Journal of accounting and economics, 65(1), 169-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of mandatory CSR disclosure on firm profitability and social externalities: Evidence from China
Tác giả: Chen, Y. C., Hung, M., Wang, Y
Nhà XB: Journal of accounting and economics
Năm: 2018
17. Cheng, E. C., & Courtenay, S. M. (2006). Board composition, regulatory regime and voluntary disclosure. The international journal of accounting, 41(3), 262-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Board composition, regulatory regime and voluntary disclosure
Tác giả: Cheng, E. C., Courtenay, S. M
Nhà XB: The international journal of accounting
Năm: 2006
18. Clarkson, P. M., Li, Y., Richardson, G. D., & Vasvari, F. P. (2008). Revisiting the relation between environmental performance and environmental disclosure: An empirical analysis. Accounting, organizations and society, 33(4-5), 303-327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revisiting the relation between environmental performance and environmental disclosure: An empirical analysis
Tác giả: P. M. Clarkson, Y. Li, G. D. Richardson, F. P. Vasvari
Nhà XB: Accounting, organizations and society
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w