1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận khái niệm triết học, triết lý và xây dựng triết lý kinh doanh (quản lý) theo mục tiêu phát triển bền vững liên hệ honda viet nam

22 196 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm triết học, triết lý và xây dựng triết lý kinh doanh (quản lý) theo mục tiêu phát triển bền vững liên hệ Honda Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học và Quản lý phát triển bền vững
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 57,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Khái niệm triết học, triết lý và xây dựng triết lý kinh doanh (quản lý) theo mục tiêu phát triển bền vững Liên hệ thực tiễn triết lý kinh doanh của Honda Việt Nam Mục Lục Chương 1 Cơ sở lý luận.

Trang 1

Đề tài: Khái niệm triết học, triết lý và xây dựng triết lý kinh doanh (quản lý) theo mục tiêu phát triển bền vững Liên hệ thực tiễn triết lý kinh doanh của Honda Việt Nam.

Mục Lục

Chương 1: Cơ sở lý luận về triết học và triết lý 3

1.1 Khái niệm triết học 3

1.2 Khái niệm triết lý 4

Chương 2: Xây dựng triết lý kinh doanh theo mục tiêu phát triển bền vững 10

2.1 Triết lý kinh doanh 10

2.1.1 Khái niệm 10

2.1.2 Phân loại triết lý kinh doanh 11

2.1.3 Nội dung cơ bản của triết lý kinh doanh 11

2.1.3.1 Sứ mệnh và các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp 11

2.1.3.2 Phương thức hành động 12

2.1.4 Vai trò của triết lý kinh doanh 13

2.1.5 Các yếu tố tác động và cách thức xây dựng triết lý kinh doanh 15

2.1.5.1 Các yếu tố tác động 15

2.1.5.2 Các thức xây dựng triết lý kinh doanh 16

2.2 Mục tiêu phát triển bền vững 17

2.3 Liên hệ thực tiễn với triết lý kinh doanh của Công ty Honda Viet Nam 19

2.3.1 Giới thiệu về Honda Việt Nam 19

2.3.2 Phân tích triết lý kinh doanh của Honda Việt Nam với mục tiêu phát triển bền vững 20

Trang 2

Chương 1: Cơ sở lý luận về triết học và triết lý

1.1Khái niệm triết học

Triết học đã được hình thành từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷthứ VI trước công nguyên (tr.CN) với các thành tựu rực rõ trong triết học TrungQuốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Lý luận trong triết học được biết đến là hệ thốngtri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của conngười trong thế giới ấy Triết học nghiên cứu về các câu hỏi chung và cơ bản về sựtồn tại, kiến thức, giá trị, lý trí, tâm trí và ngôn ngữ

Theo triết học Mác – Lenin là triết học duy vật biện chứng triệt để Nó là khoa học

về những quy luật phổ biến chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xãhội và tư duy con người Trong Triết học Mác – Lenin, các quan điểm duy vật về

tự nhiên và về xã hội, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng gắn

bó hết sức chặt chẽ với nhau thành một hệ thống lý luận thống nhất Vì vậy, có thểquan niệm, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thếgiới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy ( nguồn: Giáo trình Triếthọc- Đại học Kinh tế Quốc dân)

Ở phương Tây, cũng có những lí luận xuất hiện từ triết học và khái niệm triết họclần đầu tiên xuất hiện tại Hy Lạp với tên gọi (philosophia), mang nghĩa là “love ofwisdom” (tình yêu đối với sự thông thái) bởi nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại mang tênPythagoras Với người Hy Lạp, triết học mang tính định hướng đồng thời cũngnhấn mạnh khát vọng tìm kiếm chân lý của con người

Tại Trung Quốc thì khái niệm hay khi nhắc tới thuật ngữ triết học người ta nghĩngay tới sự bắt nguồn từ chữ triết và được hiểu là sự truy tìm bản chất của đốitượng; là trí tuệ, sự hiểu biết sâu sắc của con người Còn tại Ấn Độ, triết học Ấn độ

cổ đại có tên gọi là “darshanas”, có nghĩa là “chiêm ngưỡng” Nó mang hàm ý làtri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đế

Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới ra đời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật.

Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học Trongcác quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung Đó là, tất cả các hệ thốngtriết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tínhchỉnh thể của nó, tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã

hội và bản thân con người Khái quát lại, có thể cho rằng: Triết học là một hệ

Trang 3

thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người

và vị trí của con người trong thế giới đó.n với lẽ phải.

Nguồn: cua-triet-hoc/

https://luatduonggia.vn/triet-hoc-la-gi-vai-tro-va-doi-tuong-nghien-cuu-1.2Khái niệm triết lý

Trước tiên chúng ta cần nhắc lại trong tiếng Việt có 2 chữ: triết học và triết lýnhưng không có định nghĩa rõ ràng Sách Mỹ giải thích rõ, từ philosophy có hai nghĩa

Một nghĩa là tư tưởng của các triết gia Ví dụ Jean-Paul Sartre là triết gia Các

tác phẩm viết về triết của ông là những tác phẩm triết lý (Philosophic essays: tiểu luậntriết lý), ví dụ cuốn: Being and Nothingness / L’être et le néant (1943) (hiện hữu và hưvô)

Nghĩa thứ hai là những hoạt động nghiên cứu tư tưởng của những triết gia.

Như vậy những tác giả viết sách để tìm hiểu, giải thích các tư tưởng của Jean-PaulSartre (không phải để tranh luận với ông) thì không được coi là triết gia và tác phẩmcủa họ được gọi là tác phẩm triết học Theo giải thích của phương tây, chúng ta thấy

rõ, nghĩa thứ hai của từ philosophy (triết học) chỉ như một cái thùng (box) hay chiếc

xe (vehicle) chuyên chở, giới thiệu, giải thích tư tưởng của các triết gia (triết lý)

Cuốn The visual reference guides Philosophy by Stephen Law, Metro Books, NewYork, ISBN 978-1-4351-3894-0 (trg 14) viết: Triết lý đôi khi bị coi như một bộ môntrên mây (head in the clouds discipline) không liên quan tới đời sống hàng ngày(Philosophy is sometimes dismissed as a wholly “head in the clouds” discipline with

no relevance to everyday life.) Đối tượng nghiên cứu của triết lý không phải là vật thểnhư máy móc, hay cơ thể con người v…v mà triết lý nghiên cứu những vấn đề rấttrừu tượng, rất siêu hình như là bản chất của vũ trụ, nguồn gốc của vũ trụ, khi chết conngười đi về đâu v…v Tuy nhiên, tiếp tục đọc bài này, độc giả sẽ thấy triết lý có thể vàthường rất liên quan tới đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta như tác giả StephenLaw đã viết tiếp câu ở trên như sau: “Sự thực thì triết lý có thể và rất thường khi quantrọng trong đời sống thường nhật” (The truth is that philosophy can be, and very often

is , very relevant indeed )

Triết lý là lý luận

Cuốn History of Philosophy, mục The Ancients viết, Theo lịch sử được biết, thì triếtgia phương Tây đầu tiên không phải là Socrate mà là nhà toán học Thales, khoảng 585trước tây lịch, tại thành phố Miletus thuộc Hy Lạp cổ (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) Ông và

Trang 4

các tư tưởng gia đồng thời cho rằng để tìm hiểu thiên nhiên phải dùng lý trí (reason).Nhưng Socrates được coi là cha đẻ của triết học Tây Phương vì ông đưa ra phươngpháp hỏi & đáp (phương pháp thảo luận) (dialectical method) để tìm ra chân lý (trg.24) Chính vì thế có người định nghĩa triết lý là lý luận (reasoning, logic, reflection,rationale, argument,).

Cuốn Philosophy in Minutes by Marcus Weeks viết, ở trg 16: ” Nhiều kỹ thuật đãđược tạo ra để phân biệt một câu tranh luận (argument) là hợp lý (valid) hay ngụybiện (fallacious), đã tạo thành ngành luận lý học (logic) trong bộ môn triết lý Lý luận(logic) là tiến trình suy luận (process of inferring) từ tiền đề (premises) tới kết luận(conclusion), hoặc là rút ra một nguyên tắc tổng quát từ những kinh nghiệm cụ thể(specific examples) gọi là phương pháp qui nạp (inductive reasoning) hay từ mộtnguyên tắc tổng quát (general statements) rút ra kết luận gọi là pháp diễn dịch(deductive reasoning).”

Ta cũng thấy trên trang mạng của đại học cộng đồng West Valley College, ở thànhphố Saratoga, California, có một lớp triết dậy về lý luận (logic); đó là lớp triết 2 có tên

là “Lý luận nhập môn, với 3 tín chỉ (Phil 2: Introduction to Logic) Lớp này dậy nhậpmôn về các vấn đề (problems) và kỹ thuật lý luận truyền thống và hiện đại bao gồmphương pháp diễn dịch và phương pháp qui nạp Sinh viên sẽ được học cách phân biệt

lý luận (arguments) và phi lý luận (non-arguments), xác định đâu là ngụy biện(fallacies) để tránh trong khi lý luận…

(http://westvalley.edu/academics/social_science/philosophy/index.html)

Lý luận (logic) được hiểu là một sự chuyển dịch từ ý niệm này sang ý niệm khác (từtiền đề sang kết luận-from premises to conclusion) một cách hợp lý Mối liên hệ cơbản giữa hai ý niệm (tiền đề và kết luận) trong một phát biểu hợp lý là liên hệ nhânquả (cause-effect) Một câu phát biểu dựa trên liên hệ nhân quả được cho là một câuhợp lý (a valid argument)

Bởi vì triết lý là lý luận (và như trên vừa trình bày ” Lý luận (logic) là một sựchuyển dịch từ ý niệm này sang ý niệm khác một cách hợp lý.”), vì vậy trong quátrình lý luận người ta phải định nghĩa những ý niệm được sử dụng Khi sử dụng các ýniệm, người ta phải hiểu rõ nội dung của ý niệm đó Vì vậy có người định nghĩa triết

lý là môn học về định nghĩa Trước khi phát biểu một mệnh đề, hay một câu dĩ nhiêntất cả những ý niệm (từ ngữ) trong câu đó đều phải được định nghĩa rõ ràng Điều nàyđặc biệt quan trọng, khi những triết gia phản bác quan điểm của nhau hay khi đưa ramột quan điểm mới thì họ phải đưa ra định nghĩa những từ vựng mà họ sử dụng Ví

Trang 5

dụ khi Karl Max đưa ra ý niệm giá trị thặng dư (surplus value) thì ông ta phải địnhnghĩa từ vựng đó là gì bởi vì trước đó chưa có ý niệm này

Bước đầu vào bất cứ bộ môn nào cũng cần định nghĩa những ý niệm Nhưng theoA.J Ayer on Philosophy các nhà khoa học thực nghiệm chỉ xử dụng các ý niệm để tìmhiểu những qui luật của vũ trụ, của xã hội Trong khi trong The visual referenceguides Philosophy by Stephen Law ở mục Triết lý và Khoa học trg 18, tác giả viết,

“việc giải thích các ý niệm (meanings and concepts) là một trong các hoạt động chủyếu của triết gia”, (không phải là việc của các nhà khoa học thực nghiệm)

Một lý do khác nữa khiến khoa học không khả năng trả lời được một số những câu hỏi

cơ bản là vì một phần các câu hỏi cơ bản liên quan tới nội dung của ý niệm(concepts) Ví dụ trong câu hỏi “Con người có ý trí tự do hay không?” (Do humanbeings possess free will?) thì cái ý niệm “free will” vẫn chưa được giải thích rõ là gì.Việc giải thích ý niệm “free will” là công việc của các triết gia

Cuốn The visual reference guides Philosophy by Stephen Law viết, triết lý là bộmôn đặt những câu hỏi cơ bản (fundamental questions) về vũ trụ và cuộc sống; vàthường là những câu hỏi không có câu trả lời Ví dụ Vũ trụ từ đâu tới? Tại sao lại cóvật chất (Why, indeed, is there anything at all?)

Cũng trong cuốn này, ở mục Những Câu Hỏi Cơ Bản (Fundamental questions) trg 15Stephen Law viết, Chúng ta cũng biết trẻ con thường hay hỏi “Tại sao?” và rất mauchóng chúng thường đào sâu một số những câu hỏi có tính cách cơ bản Ví dụ chúng

có khi hỏi “Ông trời ở đâu hả mẹ?” Các triết gia cũng có khuynh hướng “trẻ con” nhưvậy khi đặt ra những câu hỏi cơ bản Trong đời sống thường nhật, người ta ít khi đặt

ra những câu hỏi cơ bản bởi vì người ta có khuynh hướng cho những vấn đề thườngnhật có tính cách đương nhiên (take it for granted.) Nhà bác học Einstein lưu ý rằngmột trong những gợi hứng lớn đối với ông là sau khi đọc triết gia David Hume của tk

18 David Hume đã khiến Einstein bắt đầu đặt câu hỏi về những điều mà những ngườikhác cho là sự thật hiển nhiên (assumed to be true.)

Không phải chỉ có các khoa học gia mới hưởng lợi khi đặt những câu hỏi cơ bản Một

số những phát triển quan trọng nhất trong lãnh vực đạo đức và chính trị cũng được đặt

ra bởi những người có khuynh hướng hay đặt những câu hỏi cơ bản và trong một sốtrường hợp đã bác bỏ những tín điều mà hầu hết những người khác nghĩ đơn giản cho

là đúng Ví dụ, cách nay không lâu, ở khắp phương Tây, người ta coi, về phương diệnđạo đức, rõ ràng có thể chấp nhận hiện tượng nô lệ (slavery); hay là vai trò của phụ nữ

Trang 6

là chỉ ở trong nhà bếp núc, nội trợ Những tiến bộ về chính trị và đạo đức hiện nayđược mang lại bởi chính những người đã muốn đặt ra những câu hỏi về những vấn đề

mà nhiều người khác coi là lẽ đương nhiên

Cuốn History of Philosophy, ở mục The Ancients, viết, Aristotle nói rằng triết lý khởiđầu bằng sự thắc mắc (philosophy begins in wonders) Nếu thế triết lý phải có nguồngốc song hành cùng loài người (trg.24) Và bởi vì ai mà không thắc mắc, cho nên triết

lý rất gần gũi với con người chứ không phải là một cái gì xa lạ Nhưng rất nhiều khicon người không nhận ra mình đôi khi cũng triết lý Một điều rõ nhất là ai cũng cóniềm tin triết lý nhưng chúng ta có thể không nhận ra điều đó Stephen Law trongcuốn The visual reference guides Philosophy viết, Tất cả chúng ta ai cũng có niềm tintriết lý (philosiphical beliefs) mặc dù chúng ta có thể không nhận ra điều đó (Though

we may not realize it, we all hold philosiphical beliefs.) Ví dụ, chắc nhiều người tinrằng quá khứ là một hướng dẫn tương đối đáng tin cậy cho tương lai, đó là một niềmtin triết lý Có người tin rằng có thượng đế, có người không, đó là một niềm tin triết

lý Người thì tin rằng con người có linh hồn bất tử (immortal souls), người chỉ tin rằngcon người là thuần túy vật chất (purely material beings), đó là một niềm tin triết lý.Như vậy có con người là có triết lý Triết lý hiện diện hàng ngày trong đời sống conngười

Thêm nữa, trong cuộc sống, hàng ngày, hàng giờ, nếu không muốn nói hàng phút, conngười luôn đối diện với những giải pháp phải chọn lựa, với những vấn đề cần giải đáp.Khả năng lý luận (tức triết lý) giúp người ta tìm ra sự chọn lựa hợp lý, hay câu trả lờicần thiết Nói cách khác, trong đời sống hàng ngày con người phải luôn luôn vận dụngkhả năng triết lý (lý luận) dù rằng đôi khi họ không nhận thức được rằng họ đã quaquá trình lý luận

Khả năng lý luận là điều cần thiết, là kỹ thuật sống (life skill), cho nên trong trườnghọc Hoa Kỳ, người ta dậy kỹ năng lý luận cho học sinh ở mọi cấp Thêm nữa, trongchương trình đại học, ở năm thứ nhất sinh viên bắt buộc phải lấy một lớp triết học cơbản Trong đó người ta dậy sinh viên lý luận và những trường hợp ngụy biện(fallacies)

Chính vì trong đời sống hàng ngày con người thường xuyên phải vận dụng khả năngtriết lý để chọn một giải pháp, một quyết định, cho nên triết lý hướng dẫn con người tahành động Bởi thế, trong cuốn tập đọc 180 của Hoa Kỳ dành cho bậc tiểu học , triết

Trang 7

lý được định nghĩa là “Những nguyên tắc hướng dẫn con người hành động”(Philosophy: The attitude or beliefs that guide how people or groups act.)

Một cuốn sách tiểu học Mỹ khác viết rằng: Triết lý là thái độ hay niềm tin hướng dẫncon người hành động Ví dụ: Tôi sống theo triết lý sau: Tôi muốn giúp mọi người Ví

dụ 2: Trường học thay đổi triết lý giáo dục bằng cách cho phép học sinh có quyền tự

do phát biểu (free speech)

Một người có những nguyên tắc hướng dẫn hành động (guides) trong cuộc sống đượcgọi là một người có “triết lý sống” (philosophy of life) Trong đời sống, con người cần

có triết lý sống thì mới định hướng được cuộc đời, mới không phí phạm thời gianhoạch định cuộc sống Những người không có một triết lý sống rõ ràng dễ bị lạchướng, không biết mình phải sống ra sao, phải chọn nghề gì Triết lý sống giúp người

ta trả lời câu hỏi cơ bản “Mình sống để làm gì? Sống ra sao? Mình muốn làm gì trongtương lai?” Không ít sinh viên năm đầu không biết chọn ngành nghề gì cho nên cầngặp cố vấn giáo dục tại trường mình đang theo học Người cố vấn giáo dục sẽ khôngkhuyên người hỏi nên học ngành nào mà họ chỉ đặt ra những câu hỏi cơ bản như: bạnmuốn sau này sẽ làm gì? Trong các môn học bạn khá nhất môn nào? v…v Bằng cáchđặt ra những câu hỏi cơ bản như vậy người cố vấn giáo dục giúp người sinh viên tựquyết định đường hướng cho cuộc đời mình, tức là tự tìm cho mình một triết lý sống.Triết lý hành động (philosophy of life) cũng giúp người ta làm việc có mục tiêu, có kếhoạch và tránh được những thất bại không đáng có Hàng ngày, trên mặt báo chúng tathấy hầu hết các chương trình về giao thông, y tế, môi trường, giáo dục v…v tại ViệtNam bị thất bại Sở dĩ như vậy vì giới lãnh đạo VNXHCN thiếu một triết lý hànhđộng, không biết đặt ra những câu hỏi cơ bản, tức là không biết triết lý Cụ thể nhất làtrong lãnh vực giáo dục, suốt từ 1954 tới nay, qua nhiều cải tổ, nhưng các giới lãnhđạo giáo dục đều nhận là thất bại Sở dĩ vậy vì thiếu một triết lý giáo dục (philosophy

of education) Tương tự như vậy, từ khi tái lập ngành tư pháp, dư luận và báo chí nhànước Việt Nam thừa nhận có nhiều khuyết điểm trầm trọng trong mọi ngành luật Sở

dĩ vậy vì giới lãnh đạo ngành tư pháp hoàn toàn chưa nghe nói tới triết luật(philosophy of law) chứ đừng nói tới việc đặt những câu hỏi cơ bản trong ngành luậtnhư Luật là gì? Luật do ai thiết lập? Tại sao luật lại có tính cách bắt buộc thi hành(cưỡng hành)? Nền tảng của luật pháp là gì?

Không biết đặt ra những câu hỏi cơ bản, tức là không biết triết lý, thì khó thành công

Tóm lại, ta thấy rằng triết lý có mặt khó mà cũng có mặt dễ; triết lý tuy có tínhcách trên mây nhưng cũng có tính cách thực tế; triết lý tuy là một lãnh vực hàn lâmnhưng cũng liên hệ chặt chẽ với đời sống hàng ngày của con người; triết lý là nhữngnguyên tắc hướng dẫn con người hành động; Triết lý giúp người ta biết cách diễn tả ý

Trang 8

tưởng hoặc bằng lời nói, hoặc bằng văn bản một cách cô đọng, khúc chiết, mạch lạc

mà ngắn gọn; kiến thức triết lý là một khả năng bổ sung bên cạnh văn bằng và kiếnthức chuyên môn giúp người ta dễ kiếm việc và dễ thành công trong công việc Vàquan trọng hơn hết, gia tăng khả năng triết lý, tức khả năng phản biện trong dân chúng

sẽ giúp xây dựng một xã hội tiến bộ, dân chủ pháp quyền Socrates nói rằng, “Cuộcsống không triết lý là cuộc sống không đáng sống “(“The unexamined life is not worthliving,”) Hay nói nhẹ hơn như A.J Ayer “một xã hội không triết lý trong đó ít cónhững tư tưởng hợp lý (critical thought) về những điều cơ bản là một xã hội gần nhưquè quặt (society perilously close to atrophy) Nhận định của A.J Ayer vô tình đã mô

tả đúng xã hội Việt Nam Xã hội chủ nghĩa hiện tại Xã hội Việt Nam hiện nay có thểcoi là một xã hội đang què quặt bởi vì xã hội chẳng những thiếu mà còn cấm đoánnhững suy nghĩ triết lý, không cho phép đặt những câu hỏi cơ bản, không cho phépphản biện

Trang 9

Chương 2: Xây dựng triết lý kinh doanh theo mục tiêu phát triển

bền vững

2.1 Triết lý kinh doanh

2.1.1 Khái niệm

Triết lý đạo đức là những nguyên tắc, quy tắc căn bản con người sử dụng để

xác định thế nào là đúng, thế nào là sai và để hướng dẫn con người trong việc xácđịnh cách thức giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống con người trong mốiquan hệ với tự nhiên và với các thành viên khác trong xã hội

Khi đối diện với một vấn đề trong thực tiễn, con người phải tìm cách xử lý; có thể tìm

ra rất nhiều giải pháp, nhưng để xác định giải pháp nào là “đúng” hoặc “sai”, conngười sử dụng những “thước đo” nhất định và “vận dụng” theo cách riêng của mình.Khái niệm “triết lý” hàm chứa 2 nội dung chính: triết lý bao hàm giá trị được sử dụnglàm thước đo và nguyên tắc áp dụng khi vận dụng trong thực tế để ra quyết định hànhđộng hoặc phán xét về một hành vi hay hành động nào đó Có thể diễn đạt khái niệmtriết lý bằng biểu thức như sau:

Triết lý = (Giá trị làm thước đo + Nguyên tắc áp dụng)* Cá nhân

Như vậy, bản chất của sự khác biệt giữa các cá nhân trong việc ra quyết định và/hayphán xét về một quyết định chính là sự khác biệt về giá trị sử dụng làm thước đovà/hoặc nguyên tắc áp dụng khi ra quyết định

Triết lý kinh doanh: Trong kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh thường được coi

là cung ứng sản phẩm, hàng hóa cho thị trường để kiếm lợi nhuận Thực chất, hànghóa chỉ là “phương tiện” để người sản xuất tiếp cận và giao dịch với khách hàng vàcác đối tượng hữu quan khác; lợi nhuận là những khoản lợi ích kinh tế khách hàng vàđối tượng hữu quan khác tự nguyện bỏ ra để “thưởng” cho người cung ứng Như vậy,bản chất của hoạt động kinh doanh là xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữadoanh nghiệp và những người có liên quan

Có một số cách hiểu về triết lý kinh doanh dựa trên các cách tiếp cận khác nhau Tuynhiên, theo quan niệm phổ biến nhất, triết lý kinh doanh là những tư tưởng khái quátsâu sắc được chắt lọc, đúc rút từ thực tiễn kinh doanh có tác dụng định hướng, chỉ dẫncho hoạt động của các chủ thể kinh doanh

Dựa trên những niềm tin căn bản, định hướng giá trị các chủ thể kinh doanh sẽ đúc rút

từ thực tiễn kinh doanh những tư tưởng mang tính chất khái quát, sâu sắc Những tưtưởng này sẽ được coi là kim chỉ nam để định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp.Trong môi trường kinh doanh hiện đại, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh,

Trang 10

ngoài mục tiêu lợi nhuận thì các chủ thể kinh doanh còn hướng tới các giá trị chân,thiện, mỹ Đây là các giá trị mang tính nhân bản, gắn liền với con người, là những giátrị mà mọi người đều hướng tới Khi chủ thể kinh doanh lựa chọn và kết hợp các giátrị nhân văn vào trong triết lý kinh doanh, sẽ có tác động sâu sắc đến tình cảm củakhách hàng, của đối tác, của các thành viên trong doanh nghiệp và của cả xã hội.

Từ đó có thể đi đến định nghĩa sau: Triết lý kinh doanh là triết lý đạo đức vận dụngtrong hoạt động kinh doanh để xây dựng và phát triển mối quan hệ kinh doanh tốt đẹpvới các đối tượng hữu quan Từ định nghĩa nêu trên về triết lý đạo đức, có thể biểudiễn khái niệm triết lý kinh doanh bằng biểu thức như sau:

Triết lý kinh doanh = (Giá trị mục tiêu + Nguyên tắc áp dụng)*Đối tượng hữu quanNhư vậy, triết lý kinh doanh là một trong những biểu hiện của văn hóa trong hoạtđộng kinh doanh Vì vậy, lãnh đạo doanh nghiệp cần phải lựa chọn một hệ thống cácgiá trị và triết lý hành động đúng đắn, đủ để làm động lực lâu dài và mục đích phấnđấu chung cho tổ chức Hệ thống các giá trị và triết lý này cũng phải phù hợp vớimong muốn và chuẩn mực hành vi của các đối tượng hữu quan

2.1.2 Phân loại triết lý kinh doanh

Dựa theo tiêu chí lĩnh vực hoạt động và nghiệp vụ chuyên ngành: có các triết lýkinh doanh về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, marketing, quản lý chấtlượng,…

Dựa theo quy mô của các chủ thể kinh doanh:

- Triết lý áp dụng cho cá nhân: Là các triết lý được rút ra từ kinh nghiệm, bài họcthành công và thất bại trong quá trình kinh doanh,có ích cho các cá thể kinh doanh

- Triết lý áp dụng cho tổ chức, doanh nghiệp: Là triết lý kinh doanh chung của tất cảcác thành viên của một doanh nghiệp cụ thể Khi một chủ thể kinh doanh trở thànhngười lãnh đạo doanh nghiệp, họ sẽ cố gắng vận dụng các tư tưởng triết học về kinhdoanh và tổ chức quản lý của họ, phát triển thành triết lý chung của doanh nghiệp Đó

là lý tưởng, là phương châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanhnghiệp chỉ dẫn cho hoạt động, nhằm làm cho doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trongkinh doanh Thực tế cho thấy, sự phát triển của doanh nghiệp được định hướng chủyếu từ triết lý doanh nghiệp đúng đắn

2.1.3 Nội dung cơ bản của triết lý kinh doanh

2.1.3.1 Sứ mệnh và các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp

Trang 11

Sứ mệnh kinh doanh là phát biểu của doanh nghiệp mô tả doanh nghiệp là ai, làmnhững gì, làm vì ai và làm như thế nào,… Nội dung sứ mệnh thường trả lời cho cáccâu hỏi: Doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp muốn thành một tổ chức như thế nào?Doanh nghiệp kinh doanh cái gì? Tại sao Doanh nghiệp tồn tại? Doanh nghiệp tồn tại

vì cái gì? Doanh nghiệp có nghĩa vụ gì? Sẽ đi về đâu? Doanh nghiệp hoạt động theomục đích gì? Mục tiêu định hướng của doanh nghiệp là gì?

2.1.3.2 Phương thức hành động

Đây là phần nội dung xác định doanh nghiệp sẽ thực hiện sứ mệnh và đạt tới các mụctiêu như thế nào, bằng những nguồn lực và phương tiện gì, bao gồm 2 nội dung: hệthống giá trị và biện pháp quản lý của doanh nghiệp

- Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp:

Giá trị của doanh nghiệp là những niềm tin căn bản của những người làm việc trongdoanh nghiệp Bao gồm:

- Nguyên tắc của doanh nghiệp: Chính sách xã hội, các cam kết đối với khách hàng

- Lòng trung thành và cam kết

- Hướng dẫn những hành vi ứng xử mong đợi

Hệ thống giá trị là cơ sở để quy định, xác lập nên các tiêu chuẩn về đạo đức trong hoạtđộng của công ty

Trong một nền văn hóa, hệ thống các giá trị là thành phần cốt lõi và ít thay đổi Cácdoanh nghiệp kinh doanh có văn hóa đều có đặc điểm chung là đề cao nguồn lực conngười, coi trọng đức tính trung thực, kinh doanh chính đáng, chất lượng… như lànhững mục tiêu cao cả cần vươn tới Đó cũng chính là những chuẩn mực chung địnhhướng cho các hoạt động của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp

- Các biện pháp và phong cách quản lý

Tổ chức, quản lý doanh nghiệp là nhiệm vụ trung tâm và có vai trò quyết định đối vớiviệc thực hiện sứ mệnh và các mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp Phong cách và cácbiện pháp quản lý của mỗi công ty đều có điểm đặc thù, sự khác biệt lớn so với cáccông ty khác Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau

có ảnh hưởng như: thị trường, môi trường kinh doanh, văn hóa dân tộc và tư tưởngtriết học về quản lý của người lãnh đạo Triết lý quản lý doanh nghiệp là cơ sở để lựachọn, đề xuất các biện pháp quản lý, qua đó củng cố phong cách quản lý đặc thù củacông ty

Ngày đăng: 25/04/2023, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w