BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TIỂU LUẬN MÔN ĐỊA LÝ KINH TẾ Chủ đề “Kinh nghiệm phát triển các cụm liên kết ngành ở các quốc gia khác nhau trên thế giới và bài học kinh nghiệm[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN MÔN ĐỊA LÝ KINH TẾ Chủ đề: “Kinh nghiệm phát triển các cụm liên kết ngành ở các quốc gia khác nhau trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho thúc đẩy phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam ”
Họ và tên: Hoàng Thị Thu Phương
Mã số sinh viên: 11225203 Lớp: 64A Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng
GV hướng dẫn: TS Lê Huy Huấn
Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2023
Trang 2A - LỜI MỞ ĐẦU
Theo mục tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2039,
để đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 thì cần phảichú trọng thúc đẩy tăng trưởng năng suất Thông qua lý thuyết kinh tế và các bằngchứng thực nghiệm đã chứng minh rằng, một trong những biện pháp hiệu quả để thựchiện mục tiêu trên là sự hình thành và phát triển các mạng lưới doanh nghiệp hay cụmliên kết ngành, cũng như năng lực của các mạng lưới, cụm ngành sẽ nâng cao hiệu quảkinh tế theo quy mô và đổi mới thông qua các hiệu ứng tích tụ, có vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy tăng năng suất
Một trong những nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và của địaphương nói riêng chính là cấu trúc không gian cụm ngành của quốc gia, địa phương
đó Khả năng của một quốc gia trong sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có giá trị cao phụthuộc khá nhiều vào việc tạo ra cũng như củng cố các cụm ngành và mối liên kết giữachúng để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo Hầu hết các nền kinh tế hiện đại đều
có một đặc điểm nổi bật là các cụm ngành, nơi tích tụ các ngành công nghiệp và dịch
vụ liên quan; đó cũng là yếu tố làm cho nền kinh tế quốc gia và địa phương có mức độcạnh tranh khác biệt trong việc làm và đầu tư Những thực tế này trở thành động lựcthúc đẩy nhu cầu ngày càng tăng về phát triển không gian kinh tế của các cụm ngành
Tuy nhiên, việc hình thành các cụm liên kết ngành tại Việt Nam hiện tại vẫn cònmanh nha, các mối liên kết giữa các tác nhân trong cụm chưa đủ mạnh, sự kết nối cònyếu do mang tính tự phát Tiểu luận này sẽ phân tích các kinh nghiệm được rút ra từcác quốc gia khác nhau trên thế giới trong việc phát triển cụm liên kết ngành và chỉ rabài học kinh nghiệm cho thúc đẩy phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam
Mặc dù đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc và kiếnthức về địa lý kinh tế còn nhiều hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếusót Rất mong thầy góp ý, bổ sung để em có thể hoàn thiện thêm kiến thức, hiểu biết
và rút ra kinh nghiệm vận dụng cho tương lai Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3B - MỤC LỤC
1 Một số vấn đề lý luận chung về cụm liên kết ngành 3
1.3 Điều kiện hình thành và lợi ích trong việc hình thành các Cụm liên kết ngành 5
2 Một số kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc phát triển cụm
3.1 Thực trạng phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam 153.2 Những cụm liên kết ngành đang dần nhen nhóm xuất hiện 173.3 Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác và đề xuất một số giải pháp 17
Trang 4C - NỘI DUNG
1 Một số vấn đề lý luận chung về cụm liên kết ngành
1.1 Khái niệm cụm liên kết ngành
Cụm liên kết ngành không phải là một hiện tượng hay mô hình mới, đã có nhữngnghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau, tùy vào mục tiêu và phạm vi nghiên cứukhác nhau Cụm liên kết ngành là khái niệm đã có từ lâu trong kinh tế học, lần đầu
được A.Marshall sử dụng trong cuốn “Các nguyên tắc kinh tế học” (Marshall, 1890),
đó là “sự tập trung địa lý của các ngành công nghiệp để có thể đạt các lợi thế thôngqua việc tập trung này” Tích tụ công nghiệp là một trong các động lực tạo nên cáccụm liên kết ngành Marshall đã chỉ ra các yếu tố hình thành tích tụ bao gồm: thịtrường lao động, sự chia sẻ đầu vào, chia sẻ và lan tỏa tri thức công nghệ
Một định nghĩa về cụm liên kết ngành cũng được biết đến rộng rãi là của GS MichelPorter “Cụm liên kết ngành là nơi tập trung về địa lý (quần tụ) của các công ty có liênkết với nhau, các nhà cung cấp được chuyên môn hóa, các nhà cung cấp dịch vụ, công
ty trong các ngành có liên quan và các tổ chức liên quan (như trường đại học, các cơquan tiêu chuẩn và hiệp hồi ngành hàng) cùng cạnh tranh nhưng cũng cùng hợp tác.”
(Porter, 1998).
Theo UNIDO, cụm liên kết ngành là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp theo vùngkhông gian địa lý, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm có liên quan đến nhau, có chungnhững cơ hội và thách thức Do mức độ tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất nên tạođiều kiện thu hút các nhà cung cấp chuyên môn hóa (nguyên liệu, sản phẩm trunggian), cũng như các tổ chức dịch vụ trung gian (dịch vụ công nghệ, đào tạo, thị
trường…) (UNIDO, 2013)
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, cụm liên kết ngành là một tập hợp cácdoanh nghiệp, hoạt động trong các ngành được kết nối với nhau, tập hợp lại trongcùng một vùng Một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp lớn, có dịch vụ và các ngànhcông nghiệp đồng hành cùng với nhau sẽ có những lời thế hiển nhiên, từ việc giảm chiphí và đạt được hiệu quả nhờ tính kinh tế theo quy mô cho đến hiệu quả quần tụ Sự
Trang 5xuất hiện và phát triển của các cụm liên kết ngành nhìn chung dựa trên lợi thế so sánh
của vùng (World Bank, 2009)
Quan niệm địa giới có thể thay đổi do thế giới đang trở nên phẳng hơn bởi các tiến bộkhoa học kỹ thuật nhưng bản chất nhất của cụm liên kết ngành vẫn là sự kết nối hiệuquả của tất cả các bên liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, chuỗi giá trị,chuỗi cung ứng và nổi lên cùng với đó là vai trò của công ty tiên phong, các doanhnghiệp nhỏ và vừa (SMEs)
1.2 Phân loại cụm liên kết ngành
1.2.1 Phân loại theo tính chất
Về tính chất, cụm liên kết ngành được chia thành hai loại:
- Cụm ngành thương mại: Bao gồm các ngành tập trung trong một vài khu vực
địa lý nhất định và có giao dịch thương mại với các khu vực và quốc gia khác Cáccụm ngành thương mại có xu hướng đạt năng suất cao hơn so với các cụm ngành nộiđịa vì phải cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, do đó có xu hướng tiệm cận với năngsuất và các tiêu chuẩn kỹ thuật toàn cầu
- Cụm ngành nội địa: Bao gồm ngành có mặt ở hầu hết (nếu không phải tất cả)
các khu vực địa lý và hầu như chỉ phục vụ thị trường nội địa và ít tương tác trên phạm
vi toàn cầu hoặc với khu vực khác
1.2.2 Phân loại theo cấu trúc
Về cấu trúc, cụm liên kết ngành được chia thành 4 kiểu:
- Mô hình Marshall: Là cụm tập hợp nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, liên hệ,
trao đổi, hợp tác với nhau theo nhu cầu, người lao động thường di chuyển qua lại giữacác doanh nghiệp trong cụm
- Mô hình trục - nan hoa: Là cụm ngành bị chi phối bởi một vài doanh nghiệp
lớn (đóng vai trò trục bánh xe) có các nhà cung cấp hay các doanh nghiệp liên quanvới quy mô nhỏ hơn ở xung quanh (các nan hoa)
Trang 6- Mô hình vệ tinh: Là cụm ngành bao gồm tập hợp các doanh nghiệp chi nhánh
có liên kết tổ chức bên ngoài, hay nói cách khác là “vệ tinh” cho các doanh nghiệp mẹ
ở nước ngoài Ở mô hình này, mối liên kết giữa các công ty thành viên của cụm là mờnhạt, nhưng chúng cùng quy tụ với nhau tại một vùng lãnh thổ
- Cụm IC theo mô hình chính phủ chủ đạo: Lấy khu vực nhà nước làm trung tâm,
tức là, bị chi phối bởi các tổ chức công, cơ quan chính phủ hay các đơn vị hoạt độngphi lợi nhuận (các viện R&D, các trường đại học, căn cứ quân sự )
(Theo PGS.TS Nguyễn Đình Tài, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội
và Quản lý Doanh nghiệp)
1.3 Điều kiện hình thành và lợi ích trong việc hình thành các Cụm liên kết ngành
Hình thành các cụm liên kết ngành yêu cầu những điều kiện khác nhau đối với mỗiquốc gia khác nhau Trước hết là điều kiện về mặt lãnh thổ, phải có sự tập trung củacác doanh nghiệp mà không cần quá chú ý đến phạm vi của sự tập trung đó; sự tậptrung về mặt địa lí là một điều kiện tiên quyết cho sự hình thành của một cụm liên kếtngành Ngoài ra, trong một cụm liên kết ngành còn cần những yêu cầu liên quan đếnngành công nghiệp: có thể chỉ một ngành công nghiệp hay có thể gồm nhiều ngànhcông nghiệp liên quan chặt chẽ với nhau Cùng với đó là yêu cầu về khả năng tạodựng mạng lưới liên kết giữa các hoạt động khác trong nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnhvực đổi mới, sáng tạo
Thực tiễn thế giới cho thấy, việc phát triển một mạng lưới cụm liên kết ngành hữuhiệu sẽ tạo điều kiện giúp nâng cao năng lực cạnh tranh; nâng cao trình độ công nghệtrong nước, phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương; đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội Cụthể như sau:
- Đem lại lợi thế kinh tế theo quy mô nhờ sự tập trung các nguồn lực; giảm chi phí giao dịch; thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới và chuyển giao công nghệ
Trang 7- Tăng khả năng cạnh tranh và sáng tạo của các doanh nghiệp trong lĩnh vựcchuyên biệt; thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp nhỏ và vừaphát triển
- Mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong cụm liên kết ngành góp phầnhoàn thiện chuỗi sản xuất của ngành; thay đổi sự phân bố không gian của các hoạtđộng sản xuất và kinh doanh
- Các ngoại ứng tích cực sẽ hấp dẫn các hoạt động kinh tế khác thông qua “quả bóng tuyết” tạo nên hiệu ứng cụm (cluster effect)
- Nhờ hiệu ứng lan tỏa, các cụm liên kết ngành và vùng hội tụ có thể trở thành cực tăng trưởng
2 Một số kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc phát triển cụm liên kết ngành
Nhìn rõ được tính quan trọng trong việc hình thành cụm liên kết ngành, hiện nay, tất
cả các nhóm nước đều quan tâm phát triển cụm liên kết ngành, từ các nước OECD đến các nước đang phát triển với hàng trăm chương trình cho nền kinh tế của bản thân quốc gia mình Tuy nhiên không phải chương trình nào cũng thành công và chẳng phải quốc gia nào cũng thất bại Những kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước
sẽ là bài học kinh nghiệm thực tiễn cho các nước theo sau, đặc biệt là Việt Nam.
2.1 Kinh nghiệm từ các nước châu Âu
Các chính sách phát triển cụm liên kết ngành ở EU ra đời từ khá sớm, ban đầu xuấthiện ở Đức, Anh, Tây Ban Nha, sau đó được mở rộng ra các quốc gia khác trong khuvực và có thể chia thành 3 loại: (i) Các chính sách khuyến khích gỡ bỏ các rào cảnthương mại và cạnh tranh; (ii) Các chính sách đòn bẩy như chính sách nghiên cứu vàphát triển, chính sách đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách phát triển ngành;(iii) Các chính sách phát triển cụm liên kết ngành hoặc một vài ngành
Chính sách phát triển cụm liên kết công nghiệp ở châu Âu được phân ra các cấp độsau:
Ở quy mô khu vực, EU đã thiết lập được thể chế điều phối chung như: Sáng kiến
INNOVA và PRO INNOVA; Sáng kiến Đài quan sát cụm châu Âu; Liên minh cụm
Trang 8liên kết ngành châu Âu; Nhóm chính sách cụm liên kết ngành châu Âu; Diễn đàn hợp tác giữa các cụm liên kết ngành châu Âu; Liên minh công nghiệp sáng tạo châu Âu…
Ở quy mô quốc gia, cơ quan quyền lực cao nhất thực thi là cán bộ, tập trung vào các
nội dung, như: tạo dựng môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp thông qua cải tổ hệthống luật pháp và thể chế, cải thiện cơ sở vật chất hạ tầng; nâng cao năng lực cạnhtranh và động lực cho quá trình đổi mới, sáng tạo và phát triển bền vững Trong đóchú trọng mô hình liên kết giữa nhà nước - doanh nghiệp - tổ chức nghiên cứu; pháttriển mạng lưới các vườn ươm doanh nghiệp; thu hút đầu tư FDI cho các cụm liên kết;đảm bảo nguồn lao động lành nghề qua thu hút sinh viên; khuyến khích sử dụng côngnghệ thông qua chương trình đổi mới sinh thái
Ở cấp độ vùng và địa phương, áp dụng những chính sách khác nhau tùy theo đặc
trưng riêng về khu vực địa lý Những lĩnh vực trọng tâm mà các chính sách vùnghướng tới là: hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp; hỗ trợ cơ sở hạ tầng; hỗ trợ cácchương trình giáo dục, đào tạo và hợp tác để hình thành mạng lưới liên kết toàn vùng
Năm 1975, Quỹ châu Âu về phát triển vùng được thành lập để thực hiện các chínhsách phát triển cụm liên kết ngành Đan Mạch là nước đầu tiên thực hiện cách tiếp cận
về liên kết doanh nghiệp từ những năm 1989 - 1990 Trong giai đoạn đầu, nghiên cứu
tổ hợp công nghiệp theo dạng “cung - cầu” trong giới hạn theo 4 ngành là: nôngnghiệp; dệt may; thiết bị văn phòng; sản xuất các thiết bị bảo vệ môi trường Sau đóchuyển tiếp sang 3 lĩnh vực là: thiết bị y tế điện tử; nội thất và dược phẩm Ủy banĐan Mạch về phát triển kinh doanh được xem là cơ quan chịu trách nhiệm trướcChính phủ về các chính sách phát triển cụm ngành, trong đó các cơ quan cùng liên kếtbao gồm: Bộ Công thương, Bộ Giáo dục, Bộ Lao động Cơ quan Phát triển thươngmại và công nghiệp và Bộ Tài chính Năm 1992, 40% doanh nghiệp của Đan Mạchtham gia vào cụm công nghiệp, cụm liên kết ngành và chiếm đến 60% kim ngạch xuấtkhẩu quốc gia Cho đến nay, ở Đan Mạch có 29 cụm chính đang hoạt động
Ở Đức, phát triển 3 cụm ngành trong 7 cụm ngành công nghệ cao trên thế giới, đó là:Munich, Hamburg và Dresden Sau khi thống nhất, ngành công nghiệp ô tô có xuhướng chuyển sang Đông Đức theo sáng kiến của 5 vùng: Berlin - Brandenburg,Thuringen, Mecklenburg Vorpommern, Sachsen và Sachsen - Anhalt Trong một cụm
Trang 9sẽ bao gồm các doanh nghiệp sản xuất ô tô, các doanh nghiệp sản xuất linh kiện vànguyên vật liệu, các trung tâm dịch vụ, các viện nghiên cứu và các hiệp hội khác Việcthực hiện phát triển IC trong 2 năm đã tập trung các hãng sản xuất ô tô lớn như:BMW, DaimlerChrysler, Opel, Porsche, VW; các doanh nghiệp sản xuất linh kiện:KUKA Schweissanlagen GmbH, MITEC Automotive AG, Schnellecke Group,Siemens VDO Automotive AG, TRIMET Aluminium AG, Ngân hàng Công nghiệpĐức, Viện Fraunhofer, Đại học Kỹ thuật Dresden, Trường Cao đẳng Thương mạiLeipzig…
Ở Phần Lan trong giai đoạn 1991 - 1993, việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế dần trở nênphổ biến sau khi chính sách cụm ngành được sử dụng để hoạch định chính sách côngnghiệp thông qua cách tiếp cận về cụm ngành của M Porter bằng dự án “Lợi thế cạnhtranh của Phần Lan - tương lai của công nghiệp Phần Lan” Với các ngành trọng tâmlà: rừng và chế biến gỗ, năng lượng, viễn thông, y tế, hóa chất Hiện nay, các cụm liênkết ngành, liên kết công nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất với sự phát triển kinh tếcủa Phần Lan, đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu, chiếm phần lớn trong GDPcủa Phần Lan
Khác với các nước kể trên, ở Ý, sự phát triển của cụm ngành ở các vùng dựa trên kinhnghiệm thành công về phát triển các vùng công nghiệp Tập trung ở Đông Bắc vàmiền Trung nước Ý với mức độ tập trung các doanh nghiệp rất cao, cụm ngành ởvùng này có hiệu suất sinh lời cao, năng suất cao hơn các doanh nghiệp tương tự ởngoài cụm dù chỉ chủ yếu tập trung doanh nghiệp vừa và nhỏ với các ngành côngnghiệp chế tạo truyền thống Hiện nay, nước Ý có tới 200 cụm ngành với hơn 600000doanh nghiệp Chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cụm ngànhthông qua ưu đãi cho xuất khẩu, thu hút đầu tư và tư vấn; hệ thống thông tin đượcthiết lập và đảm bảo truy cập cho tất cả đối tượng ở cả cấp quốc gia và vùng
2.2 Kinh nghiệm từ Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đang phát triển có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóanhanh Thành công này một phần là nhờ nước này đã phát triển mạnh các cụm liên kếtngành Vì lẽ đó, đã có học giả Trung Quốc gọi kiểu công nghiệp hóa của Trung Quốc
là “công nghiệp hóa dựa vào cụm liên kết ngành” Chính quyền trung ương và địa
Trang 10phương Trung Quốc đã rất quan tâm phát triển các cụm liên kết ngành do nhận thứcđược vai trò của chúng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
và sản phẩm Trung Quốc Phát triển cụm liên kết ngành của Trung Quốc rất đa dạngvới sự điều chỉnh phù hợp và sáng kiến của các loại hình doanh nghiệp trong mỗicụm Hiện tượng tụ tập kinh doanh doanh, sản xuất hàng hóa theo chuyên ngành đãxuất hiện ở Trung Quốc từ rất lâu Ngày nay, ở Trung Quốc được cho là có hàng trămcụm liên kết ngành, phân bổ rộng khắp các tỉnh, thành và khu tự trị Tuy đa dạng vềhình thức và có nhiều tên gọi khác nhau nhưng các cụm liên kết ngành đại thể có thểphân thành năm kiểu
2.3.1 Cụm liên kết ngành Chiết Giang
Một số nhà nghiên cứu gọi kiểu cụm liên kết ngành Chiết Giang là kiểu cụm liên kếtngành truyền thống bởi quá trình phát triển của các doanh nghiệp ở đây bắt đầu từnhững gánh hàng rong, tiến lên thành các xưởng - cửa hiệu gia đình rồi thành các nhàmáy công nghiệp Nhưng cơ bản, cụm liên kết ngành Chiết Giang mang các đặc trưngnhư:
(i) Doanh nghiệp nội địa có quy mô nhỏ và vừa là chính;
(ii) Các ngành thâm dụng lao động;
(iii) Sản phẩm chủ yếu là các công nghệ phẩm tiêu dùng hằng ngày, đáp ứng nhu cầu phổ thông đó là “mặt hàng nhỏ, nhưng thị trường lớn”;
(iv) Trong các cụm liên kết ngành đều có những chợ bán buôn chuyên doanh phục vụviệc bán các sản phẩm do cụm làm ra hoặc cung ứng vật tư cho các doanh nghiệptrong cụm
Nét đặc sắc trong chính sách phát triển cụm liên kết ngành kiểu Chiết Giang là sự hỗtrợ tận tình của chính quyền địa phương Thời kì đầu vào những năm đầu thập niên
1980, chính quyền trung ương và chính quyền nhiều địa phương của Trung Quốc vẫncòn e ngại khu vực kinh tế tư nhân Tuy nhiên, chính quyền Chiết Giang đã mạnh dạnthức đẩy khu vực tư nhân của mình bằng các biện pháp đặc sắc như:
Thứ nhất, chính quyền đã không ngăn cản mà còn tạo thuận lợi để hệ thống tín dụng
vi mô không chính thức phát triển Hệ thống này đã cấp tín dụng rất linh hoạt cho các
xí nghiệp tư phát triển