HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự Mã hồ sơ Vụ án Ngày diễn LS DS07/DIỄN ÁN/HNGĐ Tranh chấp[.]
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự
Mã hồ sơ
Vụ án
Ngày diễn
: LS.DS07/DIỄN ÁN/HNGĐ : Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt
: 08/4/2023
Họ và tên: Trần Ngọc Hải Ngày sinh: 30/6/1999 Lớp: Luật sư 24.2H
Số báo danh: 637
TP Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 4 năm 2023
1
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG 3
1 Quan hệ pháp luật tranh chấp: 3
2 Các đương sự trong vụ án: 3
Tóm tắt nội dung vụ án: 3
3 Yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 5
4 Các văn bản quy phạm pháp luật sẽ được áp dụng để giải quyết vụ án 6
II XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HỎI ( BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN ) 7
1 Hỏi bị đơn: 7
2 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 7
3 Hỏi nguyên đơn: 8
III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN 8
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I TÓM TẮT NỘI DUNG
1 Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản
2 Các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo, sinh năm 1978.
ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Hiện trú tại: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976.
ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương (Đại diện là ông Vũ Tiến Phụng-Chủ tịch UBND thành phố Hải Dương)
Đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 08/6/2016:
Ông: Vũ Kim Quang-Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương
Bà: Hoàng Thị Thu Hà-Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương
2 Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang
Đều trú tại: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Tóm tắt nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt tự do tìm hiểu nhau và quyết định tiến tới hôn nhân hợp pháp từ ngày 26/03/1999 Trong quá trình chung sống ông Nguyệt và bà Hảo đã có hai con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007) Bà Hảo và ông Nguyệt có khối tài sản chung gồm Thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1 với diện tích
216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương và các tài
Trang 4sản trên đất được hai người cùng gây dựng (01ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 01 giếng khơi, 01 bể nước, 01 gian bếp).
Sau thời gian sống chung hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng dẫn đến hai vợ chồng sống li thân được hơn một năm (từ tháng 12/2014) Sau đó, cháu Nhi ở với bà Hảo và cháu Đức Anh ở với ông Nguyệt.
Do mâu thuẫn trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt, ngày 02/01/2016 bà Hảo làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương yêu cầu:
1 Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt;
2 Yêu cầu nuôi 02 con chung là cháu Nhi và cháu Đức Anh;
3 Yêu cầu chia đôi tài sản chung là Thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, có diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã thụ lý vụ án, tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật Sau nhiều lần hòa giải thì hai bên đã thống nhất được:
- Về quan hệ vợ chồng: Thuận tình ly hôn, tuy nhiên có lý do khác nhau.
- Về nợ chung: Ông Nguyệt và bà Hảo thống nhất mỗi người trả cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam số tiền gốc và tiền lãi phát sinh là 5.000.000 đồng.
Hai bên chưa thống nhất được:
1 Nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn:
bên đã không sống chung với nhau đã một năm.
có hành vi gọi điện thoại cho đầu gấu về đâm chết bị đơn, hai vợ chồng không còn sống chung với nhau, nguyên đơn bỏ về nhà mẹ đẻ từ ngày 14/12/2014.
Trang 52 Nuôi con:
dưỡng.
nguyên đơn nuôi cháu Nhi.
3 Tài sản chung của vợ chồng:
- Nguyên đơn: xác nhận diện tích đất 216 m2, thửa đất số 496, tờ bản đồ số
1 và tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng Đề nghị Tòa án chia tài sản chung bằng hiện vật, không có yêu cầu với tài sản trên đất.
chồng nhưng thực tế là đất của bố mẹ đẻ bị đơn (Bà Thoa – ông Cang) để lại nên không phải là tài sản chung của vợ chồng Đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp lại cho Bà Thoa – ông Cang.
đất số 496, tờ bản đồ số 01 là của vợ chồng bà Thoa, gia đình bà chỉ cho vợ chồng anh Hảo, chị Nguyệt ra ở chứ không cho hẳn Bà Thoa đã biết việc ông Nguyệt bà Hảo được cấp sổ đỏ nhưng không phản đối hay thắc mắc và không tranh chấp gì.
Đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyệt, bà Hảo.
3 Yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hảo yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt
- Về con chung: Bà Hảo yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhị và Nguyễn Đức Anh Bà không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
- Về tài sản chung: Chia đôi tài sản chung là thửa đất 496 bằng hiện vật, không yêu cầu giải quyết các tài sản khác
Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trang 6- Tài liệu chứng minh tư cách đương sự: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình của bà Nguyễn Thị Hảo
- Tài liệu chứng minh quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn:
+ Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn
+ Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh
+ Biên bản xác minh cán bộ tư pháp xã - chứng minh mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyệt bà Hảo xuất phát từ phía ông Nguyệt chời bời, hay đánh đập chửi bới vợ con
- Tài liệu chứng minh yêu cầu khởi kiện của bà Hảo là có căn cứ:
+ chứng minh nguyện vọng của 02 con chung muốn được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng: Đơn đề nghị của cháu Nhi, cháu Anh muốn được ở với mẹ là bà Hảo (hai cháu đều trên 07 tuổi căn cứ theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần xét đến nguyện vọng của con)
+ Chứng minh tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên ông Nguyệt, bà Hảo
+ Chứng minh bà Hảo có công sức đóng góp trong việc tạo lập tài sản chung vợ chồng: Biên bản xác minh của cán bộ địa chính xã và Biên bản ghi lời khai của ông Quyết, ông Cương, ông Chuyển
+ Chứng minh tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng: Biên bản lấy lời khai của ông Giới, ông Tơ, ông Tạo
4 Các văn bản quy phạm pháp luật sẽ được áp dụng để giải quyết vụ án
- Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của
Quốc Hội (“BLTTDS 2015”);
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội
(“BLDS 2015”);
- Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014 của
Quốc Hội (“Luật HNGĐ 2014”);
- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc Hội
(“Luật Đất đai 2003”);
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất
đai 2003;
Trang 7- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội
(“Luật Đất đai 2013”).
II XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HỎI ( BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN )
1 Hỏi bị đơn:
Về quan hệ hôn nhân:
- Hiện tại ông và bà Hảo đã ly thân và không còn sống chung với nhau nữa phải không?
- Việc bà Hảo yêu cầu ly hôn ông có đồng tình ly hôn hay không?
Về con chung:
- Với tư cách là một người chồng ông có thấy rằng việc bản thân thường xuyên đánh đập, chửi bới đối với người từng đầu gối tay ấp với mình là bà Hảo sẽ gây ảnh hưởng xấu đến vợ mình và các con hay không?
- Ông có tạo điều kiện cho bà Hảo được thăm cháu Đức Anh không? Cụ thể như thế nào?
- Các khoản thu nhập của ông đều không ổn định vậy ông có đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh?
Về tài sản chung:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 496, tờ bản đồ số 01 được cấp thời gian nào?
- Khi nhận giấy chứng nhận ông có ý kiến hay phản đối nào không?
- Tại sao ông không thực hiện thông báo với gia đình khi nhận được GCN QSĐ Đất mà UBND cấp cho mình?
- Khi biết việc ông được cấp GNSQSDĐ gia đình ông có phản đối hay tranh chấp gì không?
- Anh, chị, ba, mẹ, có phụ tiền hay công sức xây dựng nhà trên thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 01 hay không?
2 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hỏi bà Nguyễn Thị Thoa:
+ Bà có biết việc ông Nguyệt, bà Hảo được cấp GNNQSDĐ không? thời điểm biết? khi biết bà có ý kiến phản đối hay yêu cầu hủy Giấy chứng nhận không?
+ Vợ chồng ông Nguyệt, bà Hảo xây nhà kiên cố trên đất bà có ý kiến gì không?
+ Từ năm 1994 đến nay bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?
Trang 8- Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương:
+ Ông Nguyệt lên nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý kiến gì không? + Từ đó đến nay có đơn thư khiếu nại khi ông Nguyệt bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận hay không?
3 Hỏi nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân:
- Cuộc sống hôn nhân hiện tại của bà và ông Nguyệt có hạnh phúc không?
- Việc thường xuyên uống rượu và đánh đập vợ con của ông Nguyệt được thể hiện như thế nào? Có ai làm chứng hay không?
Về con chung:
- Kể từ khi ly thân với ông Nguyệt, bà có được gặp cháu Đức Anh không?
- Chị có thể trình bày rõ kế hoạch chăm nuôi hai cháu không?
Về tài sản chung:
- Tài sản chung của vợ chồng là mảnh đất được bố mẹ của ông Nguyệt giao lại cho 02 vợ chồng như thế nào?
- Quá trình tạo lập tài sản trên đó ra sao?
- Kể từ khi ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có ai có ý kiến
gì hay tranh chấp gì không?
- Ai là người thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đất cho Nhà nước từ năm 1999 cho đến nay?
III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa: - Hội đồng xét xử
Tôi là Luật sư Trần Ngọc Hải, thuộc Văn phòng Luật sư 24.2H – Đoàn Luật sư
Tp Hồ Chí Minh Hôm nay, tôi có mặt tại phiên toà này với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Hòa Thị Hảo Sau khi nghiên cứu hồ
sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi xin nêu quan điểm về vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn như sau:
1 Đối với những vấn đề đã được các đương sự thống nhất:
Bà Hảo và ông Nguyệt đều thống nhất ly hôn do xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt
Trang 9được và thực tế cả hai đã ly thân nhau từ năm 2014 đến nay Do đó, căn cứ theo khoản
1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị HĐXX cho Bà Hảo và ông Nguyệt được ly hôn
2 Các vấn đề đương sự còn chưa thống nhất: Một là, về việc nuôi con chung.
Thứ nhất, qua Biên bản hòa giải tại các bút lục 148-152, 175.177 thì cả ông Nguyệt và bà Hảo đều thống nhất yêu cầu giao cháu Nhi cho bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng Ngoài ra, tại Bút lục 30, cháu Nhi cũng có đơn đề nghị được ở với mẹ Khả năng kinh tế cũng như điều kiện nuôi dưỡng của bà Hảo có thể đáp ứng tốt hơn việc nuôi cháu Nhi so với ông Nguyệt
Thứ hai, đối với cháu Đức Anh, tính đến thời điểm hiện tại cháu đã trên 07 tuổi, cần xem xét đến nguyện vọng của cháu Theo đơn đề nghị bút lục 31, Biên bản lấy lời khai bút lục 167-168 có thể thấy nguyện vọng của cháu khi bố mẹ không sống chung với nhau là ở với mẹ Cháu Đức Anh đang trong độ tuổi phát triển nhân cách và khả năng nhận thức, vì vậy cháu cần sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng và tình yêu thương của người mẹ Trong suốt quá trình hôn nhân ông Nguyệt thường xuyên tụ tập
ăn chơi, không chăm lo cho con cái, có những hành vi bạo lực như đánh đập, chửi bởi
vợ con Tại các bút lục 73,74 ông Đỗ Văn Tư là Cán bộ tư pháp xã cũng có khai rằng sau khi ly thân ông Nguyệt không cho bà Hảo có cơ hội được thăm nom cháu Đức Anh, sẽ hành hạ cháu nếu cháu gặp mẹ Hiện tại Đức Anh đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý, với lối sống như vậy của người cha, cháu Đức Anh rất có thể nhiễm thói hư tật xấu của bố mình, khi cháu lớn lên sẽ trở thành người không tốt cho xã hội Ngoài ra, nếu để ông Nguyệt nuôi cháu Đức Anh thì sẽ rất thiệt thòi cho cả cháu và bà Hảo khi quyền lợi tại khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không được đảm bảo Không chỉ vậy, xét về điều kiện kinh tế của bà Hảo cũng tốt hơn ông Nguyệt, trong khi thu nhập của ông Nguyệt không ổn định phụ thuộc nhiều vào chăn nuôi thì bà Hảo lại có công việc cố định với mức lương hàng tháng khoảng 6.000.000 đồng Với những điều kiện trên đủ cơ sở để khẳng định bà Hảo có điều kiện tốt hơn ông Nguyệt trong việc trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đức Anh
Hai là về tài sản chung
9
Trang 10Thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo bởi lẽ:
Thứ nhất, đối với thửa đất số 496, tại Bút lục số 75, ông Nguyễn Văn Bích - cán
bộ địa chính xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương có khai rằng theo Quyết định 2689 của UBND huyện Nam Sách thì chỉ giao đất cho các hộ gia đình có điều kiện từ 03 cặp vợ chồng trở lên mà chưa có đất ở riêng Tại thời điểm đó vợ chồng ông bà Nguyệt Hảo sống cùng ông bà Cang Thoa, ông bà Chuyển – Lô và ông bà Quyết -Hiên thì mới đủ điều kiện để UBND huyện Nam Sách giao đất cho hộ bà Thoa Sau đó
bà Thoa mới nộp tiền mua thửa đất số 496 Vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo sống tại thửa đất trên từ năm 1999 đến này và không có bất kì tranh chấp hay khiếu nại nào Điều này cho thấy thửa đất nêu trên cũng có một phần thuộc về bà Hảo
Thứ hai, tại Bút lục từ số 83 đến số 87 ông Quyết, ông Cương, ông Chuyển đều khẳng định thửa đất số 496 khi mới mua về là vùng trũng, bà Hảo và ông Nguyệt đã cùng nhau lấp đất để san phẳng mặt bằng như hiện nay Cho nên có thể khẳng định tài sản trên hình thành dựa trên công sức đóng góp của bà Hảo trong thời kỳ hôn nhân
Thứ ba, vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo đã thực hiện việc đóng thuế đất cho nhà nước
từ năm 1999 và được UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496 theo đúng trình tự, thủ tục luật định Từ lúc được cấp Giấy chứng nhận cho đến suốt quá trình sử dụng không có đơn thư khiếu nại hay tranh chấp về quyền
sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên của vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo Điều này được thể hiện tại lời khai của ông Nguyễn Văn Bích tại Bút lục số 97, các lời khai khác của bà Hảo, ông Nguyệt, ông Bích, bà Thoa, ông Quyết, ông Cương và ông Chuyển
Từ những căn cứ trên có thể nhận thấy rằng mặc dù nguồn gốc đất là của bà Thoa nhưng khi xã tổ chức cho các hộ dân trong xã đăng ký kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thì Thoa lại không đi kê khai Vợ chồng ông Nguyệt ở trên đất, xây nhà kiên cố, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Thoa và các anh em trong nhà ông Nguyệt đều biết nhưng không phản đối, khiếu nại gì Tại Bút lục số 85 anh Chuyển cũng có trình bày quá trình vợ chồng bà Thoa ông Cang cùng các con chia tài sản ra làm sao, các anh em trong nhà phải trả cho nhau như thế nào trước khi vợ chồng ông Nguyệt
và bà Hảo làm nhà Điều đó thể hiện ý chí của gia đình bà Thoa đã cho ông Nguyệt và bà Hảo diện tích đất này Ngoài ra, qua 3 lần vay vốn với ngân hàng,
Trang 11phía ông Nguyệt và bà Hảo đều sử dụng QSD đất mang tên ông bà để thế chấp cho khoản vay Vậy đủ cơ sở để kết luận thửa đất 496 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng ông Nguyệt, bà Hảo Nay bà Hảo có yêu cầu chia đôi tài sản nêu trên là được nhận bằng hiện vật là phù hợp Tôi đề nghị Tòa án áp dụng điều Điều 33, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu trên của thân chủ tôi là bà Nguyễn Thị Hảo
Trên đây là toàn bộ quan điểm của tôi để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của
bà Nguyễn Thị Hảo là có căn cứ Cảm ơn HĐXX và toàn thể quý vị đã lắng nghe! Rất mong HĐXX lưu tâm xem xét Mời HĐXX tiếp tục làm việc