TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT BÀI BÁO CÁO MÔN LUẬT NGÂN HÀNG Nhóm học phần 01 Mã học phần KL388 HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện ThS Lê Huỳnh P[.]
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ
Vai trò của hoạt động tài chính vi mô trong nền kinh tế
Tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong chiến lược xóa đói giảm nghèo tại các quốc gia đang phát triển Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang chú trọng đến sự phát triển và hoạt động của lĩnh vực này.
Hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, giúp người nghèo và người có thu nhập thấp tiếp cận dịch vụ tài chính, đồng thời giảm thiểu tín dụng đen Tài chính vi mô không chỉ cung cấp dịch vụ tín dụng mà còn bao gồm bảo hiểm và các dịch vụ xã hội, phục vụ cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ Việc nâng cao nhận thức về tài chính vi mô và phổ biến các mô hình hoạt động hiệu quả là rất quan trọng Ngoài ra, tài chính vi mô còn tái tiết kiệm và phân bổ cho đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hàng hóa và dịch vụ, góp phần giảm nghèo và tăng thu nhập.
Tài chính vi mô tạo cơ hội cho người nghèo và người có thu nhập thấp tiếp cận dịch vụ tài chính, từ đó nâng cao năng lực xã hội và khuyến khích họ tham gia vào sản xuất và tự lập tài chính Mục tiêu chính là cải thiện điều kiện kinh tế cho nhóm khách hàng này, giúp họ phát triển và cải thiện cuộc sống thông qua các dịch vụ tài chính Các tổ chức tài chính vi mô không chỉ tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính mà còn giúp khách hàng có khả năng duy trì tiếp cận bền vững với dịch vụ tài chính chính thức, góp phần giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời thực hiện các chương trình trọng điểm nhằm duy trì mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo.
Quản lý Nhà nước về hoạt động tài chính vi mô
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu ấn tượng trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, với sự đóng góp đáng kể từ hoạt động tài chính vi mô Sự chuyển đổi từ các dự án TCVM phi lợi nhuận sang các tổ chức TCVM với mục tiêu lợi nhuận đã diễn ra mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Điều này yêu cầu Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải thực hiện giám sát và quản lý chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả Để đảm bảo tái cơ cấu toàn diện thị trường tài chính, nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động TCVM.
Vào ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô (TCVM) tại Việt Nam đến năm 2020 Tiếp theo, vào ngày 12/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạt động của chương trình và dự án TCVM của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, và tổ chức phi chính phủ Sự ra đời của các quyết định này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam.
Đề án 2195 đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển hệ thống tài chính vi mô (TCVM) tại Việt Nam, cung cấp cơ sở pháp lý đầu tiên hướng dẫn về nội dung và phạm vi hoạt động của các chương trình, dự án TCVM Điều này tạo nền tảng cho các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện quản lý thống nhất các chương trình và dự án TCVM đang hoạt động đa dạng và trải rộng trên toàn quốc.
Vào ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, với mục tiêu tạo điều kiện cho mọi người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là người nghèo, người có thu nhập thấp, cùng các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa Chiến lược này nhằm đảm bảo họ có thể tiếp cận và sử dụng an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu và chi phí hợp lý, đồng thời đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để phát triển hoạt động tài chính vi mô (TCVM) trong tương lai.
Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô (TCVM) ứng dụng công nghệ tài chính tại Việt Nam hiện vẫn đang ở giai đoạn đầu và cần được hoàn thiện để đáp ứng tiềm năng và nhu cầu thực tiễn Nghiên cứu về việc thúc đẩy tài chính vi mô trong bối cảnh phát triển công nghệ tài chính là rất cần thiết, không chỉ để phát triển nền kinh tế mà còn để đảm bảo sự ổn định trong cộng đồng, đặc biệt là trong việc nâng cao an sinh xã hội.
Đánh giá chung về hoạt động tài chính vi mô trong nền kinh tế hiện nay
Nhìn chung các tổ chức TCVM Việt Nam có mức độ tiếp cận tương đối tốt kể cả chiều rộng cũng như chiều sâu.
Các tổ chức Tài chính vi mô (TCVM) hiện diện rộng rãi tại 64 tỉnh thành trên cả nước, với nhiều tổ chức mở rộng hoạt động ra ngoài phạm vi địa phương Một số tổ chức đã chính thức hóa hoặc tăng cường số lượng chi nhánh để phát triển hơn nữa Sản phẩm và dịch vụ tài chính, cũng như phi tài chính, đã được đa dạng hóa và thiết kế phù hợp với nhu cầu của các nhóm khách hàng khác nhau Nhờ đó, số lượng khách hàng và dư nợ tín dụng đã gia tăng đáng kể so với các năm trước.
Về chiều sâu, các tổ chức TCVM Việt Nam đã vươn đến nhóm khách hàng yếu thế gồm phụ nữ và người nghèo tương đối tốt.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, các tổ chức tài chính vi mô (TCVM) tại Việt Nam vẫn hoạt động yếu kém trên thị trường Mức độ bền vững của họ chưa cao và khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác còn nhiều hạn chế.
Thứ nhất, Mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính còn rất thấp so với tiềm năng của Việt Nam.
Các tổ chức tài chính vi mô (TCVM) hiện đang chiếm một thị phần nhỏ so với các tổ chức lớn thuộc Nhà nước, như Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ
Quy định của pháp luật về đối tượng hoạt động tài chính vi mô
Sự phát triển mạnh mẽ của tài chính vi mô tại Việt Nam đã mở rộng phạm vi tiếp cận và cung cấp các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế và giảm nghèo Nhà nước và Chính phủ đã tích cực hỗ trợ sự phát triển này, đồng thời pháp luật cũng đã quy định rõ ràng về đối tượng của hoạt động tài chính vi mô.
Theo quy định tại Thông tư số 21/VBHN-NHNN, điều 3, khoản 6, có hướng dẫn về việc cấp giấy phép cho tổ chức tài chính quy mô.
Khách hàng tài chính vi mô bao gồm cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ, đặc biệt là những người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, theo quy định của pháp luật.
Đối tượng hoạt động của tài chính vi mô bao gồm cá nhân thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, cá nhân đại diện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và doanh nghiệp siêu nhỏ Để xác định cá nhân thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, cần căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 07 năm 2021 của Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025.
Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 -
+ Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng
+ Khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng
Mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản được xác định qua sáu dịch vụ thiết yếu, bao gồm việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, cùng với thông tin.
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 12 yếu tố quan trọng: việc làm, số người phụ thuộc trong hộ gia đình, tình trạng dinh dưỡng, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông, và phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.
Dịch vụ xã hội cơ bản là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt này và ngưỡng thiếu hụt được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định.
Dựa trên tiêu chí thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, hộ nghèo và cận nghèo được xác định theo quy định hiện hành Để xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, cần căn cứ vào Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP, quy định rõ tiêu chí cho doanh nghiệp siêu nhỏ và vừa.
"Điều 5: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa”
Thông tư số 03/2018/TT-NHNN, ban hành ngày 23 tháng 02 năm 2018, quy định về việc cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 4 năm 2018 Thông tư này đã được sửa đổi và bổ sung một số điều tại thông tư số 19/2019/TT-NHNN, ban hành ngày 05 tháng 01 năm 2019, quy định về mạng lưới hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô.
Doanh nghiệp siêu nhỏ được định nghĩa là doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không vượt quá 10 người, và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn hàng năm không quá 3 tỷ đồng.
Đối tượng của tài chính vi mô bao gồm cá nhân trong hộ nghèo, hộ cận nghèo, cũng như những người đại diện cho các hộ này và các doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định pháp luật.
Theo Điều 3 khoản 7 số 21/VBHN-NHNN, Thông tư quy định về cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô có những quy định cụ thể.
Khách hàng khác là cá nhân trong hộ gia đình, đại diện cho hộ gia đình đã từng sử dụng dịch vụ tài chính vi mô của tổ chức tài chính vi mô nhưng hiện đã thoát nghèo hoặc cận nghèo.
Hoạt động tài chính vi mô không chỉ hướng đến cá nhân thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, mà còn bao gồm cả những cá nhân đại diện cho các hộ này và doanh nghiệp siêu nhỏ Đặc biệt, đối tượng còn mở rộng đến những cá nhân thuộc hộ gia đình, bao gồm cả những người đã từng là khách hàng của tổ chức tài chính vi mô nhưng đã thoát nghèo hoặc cận nghèo.
Tài chính vi mô chủ yếu hướng đến những người nghèo trong xã hội, nhưng họ thường không đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết để tiếp cận nguồn vốn từ các chương trình tín dụng nông thôn do nhà nước hỗ trợ, như yêu cầu về tài sản và bảo lãnh tín chấp từ tổ chức chính trị xã hội Do đó, sự trợ giúp từ hoạt động tài chính vi mô là rất cần thiết để giúp họ có cơ hội vay vốn.
Quy định về tổ chức, hoạt động của Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện và thành lập, tổ chức và hoạt động của các Hội, Hiệp hội trong liên hệ đến hoạt động tài chính vi mô
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/2019/NĐ-CP, thay thế Nghị định số 30/2012/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện Để triển khai các quy định mới, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BNV hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định này Quỹ xã hội và Quỹ từ thiện là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, hoạt động vì lợi ích cộng đồng và không vì mục đích lợi nhuận, với phạm vi hoạt động từ cấp xã đến toàn quốc Tài sản ban đầu khi thành lập Quỹ được quy định tại Điều 12 Nghị định số 93/2019/NĐ-CP.
Đối với quỹ do công dân và tổ chức Việt Nam thành lập, Ban sáng lập quỹ cần đảm bảo số tài sản đóng góp quy đổi ra tiền đồng Việt Nam, trong đó số tiền chuyển vào tài khoản quỹ tối thiểu phải đạt 50% tổng giá trị tài sản quy đổi Cụ thể, quỹ hoạt động toàn quốc hoặc liên tỉnh yêu cầu tối thiểu 5.000.000.000 VNĐ, quỹ cấp tỉnh là 1.000.000.000 VNĐ, quỹ cấp huyện là 100.000.000 VNĐ, và quỹ cấp xã là 20.000.000 VNĐ.
3 Đối với quỹ có tài sản của công dân, tổ chức nước ngoài góp với công dân, tổ chức Việt Nam thành lập; Ban sáng lập quỹ phải đảm bảo số tài sản đóng góp thành lập quỹ quy đổi ra tiền đồng Việt Nam (trong đó số tiền dự kiến chuyển vào tài sản của quỹ tối thiểu bằng 50% tổng giá trị tài sản quy đổi) như sau: a) Quỹ hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh: 7.000.000.000 (bảy tỷ); b) Quỹ hoạt động trong phạm vi cấp tỉnh: 3.000.000.000 (ba tỷ); c) Quỹ hoạt động trong phạm vi cấp huyện: 1.000.000.000 (một tỷ); d) Quỹ hoạt động trong phạm vi cấp xã: 500.000.000 (năm trăm triệu).”
Quỹ xã hội và Quỹ từ thiện hoạt động theo Quyết định số 10/2008/QĐ–BTC của Bộ Tài chính, quy định về quản lý tài chính Các văn bản của Bộ Nội vụ về tổ chức và hoạt động của các quỹ này mang tính tổng thể, áp dụng cho mọi lĩnh vực Mục tiêu chính là hỗ trợ phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học, và các hoạt động từ thiện, nhân đạo vì lợi ích cộng đồng Thông tư 04/2020/TT-BNV đã quy định chi tiết về mẫu đơn, điều lệ và các văn bản liên quan đến việc thành lập và hoạt động của các Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện.
Quỹ sử dụng tài sản của mình để chi cho các dịch vụ công, nghiên cứu khoa học, và các chương trình mục tiêu do Nhà nước đặt hàng Ngoài ra, quỹ còn tài trợ cho các chương trình nhân đạo, từ thiện, và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, cùng các mục đích xã hội khác nhằm thúc đẩy sự phát triển cộng đồng theo điều lệ của quỹ.
Điều kiện và thủ tục thành lập Quỹ, cùng với tổ chức và hoạt động của Quỹ, đã được quy định cụ thể và chặt chẽ, nhằm đảm bảo các Quỹ hoạt động đúng mục tiêu, an toàn và hiệu quả cho xã hội Các quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ xã hội và Quỹ từ thiện đã được cải thiện, với yêu cầu rõ ràng hơn về đóng góp tài chính và vai trò của sáng lập viên.
Do vậy, hoạt động của các Quỹ này chuyên nghiệp hơn, giảm số lượng Quỹ
Các cá nhân và tổ chức nước ngoài có thể góp vốn, từ đó mở rộng khả năng tham gia của các đối tác quốc tế trong việc hình thành và phát triển các Quỹ xã hội, nhằm khắc phục tình trạng hoạt động không hiệu quả và thiếu thiết thực.
Bước chuyển tiếp để thành lập tổ chức tài chính vi mô chính thức đã tạo cơ hội thuận lợi cho việc thành lập các Quỹ xã hội và Quỹ từ thiện có hoạt động tài chính vi mô Quy trình thành lập các Quỹ này được đơn giản hóa theo Thông tư 04/2020/TT-BNV, với yêu cầu về vốn tối thiểu cũng có sự thay đổi Việc nâng cao mức vốn ban đầu đối với các Quỹ do cá nhân, tổ chức trong nước thành lập và giảm mức vốn đối với các Quỹ có sự tham gia của cá nhân, tổ chức nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến các chương trình tài chính vi mô quy mô nhỏ Điều này nhằm khuyến khích sự hỗ trợ vốn từ các nhà hảo tâm nước ngoài và tránh hiện tượng hoạt động manh mún Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề hạn chế trong việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các chương trình, dự án tài chính vi mô phát triển.
Theo Nghị định số 93/2019/NĐ-CP, các Quỹ xã hội được phép cung cấp dịch vụ tài chính vi mô nhằm hỗ trợ phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học, từ thiện và các mục đích phát triển cộng đồng mà không vì lợi nhuận Tuy nhiên, các quỹ này phải tuân thủ sự quản lý của cơ quan nhà nước liên quan đến lĩnh vực hoạt động của mình và chỉ được nhận tài trợ trong phạm vi quy định của điều lệ quỹ Do đó, cần xem xét liệu các Quỹ xã hội/Quỹ từ thiện chủ yếu cung cấp sản phẩm tài chính vi mô có phù hợp với các quy định của Nghị định số 93/2019/NĐ-CP hay không.
CP có thể gây khó khăn cho các Quỹ xã hội và Quỹ từ thiện chuyên cung cấp sản phẩm tài chính vi mô, đặc biệt khi không nhận được sự ủng hộ và hỗ trợ từ Ủy ban nhân dân các cấp chính quyền địa phương.
Mức tài sản ban đầu quy định tại Điều 14 Nghị định số 93/2019/NĐ-CP được cho là không phù hợp và khó đáp ứng khi thành lập Quỹ, đặc biệt đối với các tổ chức hoặc cá nhân có mong muốn thiện nguyện Việc yêu cầu nguồn tiền lớn đến hàng tỷ đồng làm khó khăn cho các hoạt động từ thiện nhỏ Hiện nay, các quy định chỉ là bước đầu trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam Mặc dù vẫn còn một số bất cập, nhưng tài chính vi mô đang nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều từ pháp luật và cơ quan công quyền Nếu sự quan tâm này được thực hiện đúng cách, ngành tài chính vi mô Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai gần.
Quyết định số 2195/QĐ-TTg về việc Phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020”
hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020”
Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020, nhấn mạnh vai trò quan trọng của tài chính vi mô trong việc xóa đói, giảm nghèo Ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định này nhằm xây dựng hệ thống tổ chức tài chính vi mô an toàn, bền vững, phục vụ người nghèo và doanh nghiệp nhỏ Đề án cung cấp định hướng cho các cơ quan quản lý Nhà nước, như Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính, trong việc ban hành chính sách và hành động cụ thể để phát triển tài chính vi mô Hai nội dung quan trọng là xây dựng trung tâm thông tin tín dụng về tài chính vi mô và thành lập Hiệp hội tài chính vi mô Tuy nhiên, một số nội dung trong Đề án còn thiếu cụ thể, và việc triển khai của các Bộ, ngành liên quan diễn ra chậm, dẫn đến khó khăn trong hoạt động tài chính vi mô và thiếu định hướng phát triển cho các chương trình, dự án liên quan.
Luật tổ chức tín dụng đã quy định rõ về tổ chức tài chính vi mô, trong khi Quyết định số 2195/QĐ-TTg thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển ngành tài chính vi mô theo tiêu chuẩn quốc tế Điều này nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn mới Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020 đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của lĩnh vực này trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân.
– Xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động tài chính vi mô, cụ thể là:
Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật là cần thiết để hướng dẫn thi hành Luật, bao gồm các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư do các Bộ trưởng, Thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành Những văn bản này liên quan đến hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng hợp tác xã, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô và các chương trình, dự án liên quan đến tài chính vi mô.
Để khuyến khích phát triển hoạt động tài chính vi mô, cần ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp, bao gồm việc tạo nguồn vốn ổn định và quy định lãi suất đặc thù cho các khoản vay nhỏ dành cho người nghèo không có tài sản đảm bảo Đồng thời, cần thiết lập các quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, đảm bảo an toàn và hợp lý về thuế, phí, bảo hiểm vi mô, cũng như đa dạng hóa loại hình tổ chức Hơn nữa, việc nâng cao năng lực hoạch định chính sách và quản lý của cơ quan Nhà nước là rất quan trọng, bao gồm xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý, thanh tra, giám sát và đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên gia về tài chính vi mô.
Nâng cao năng lực cho các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam thông qua việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản trị là rất cần thiết Cần xây dựng cơ chế kiểm soát và kiểm toán nội bộ hiệu quả để đảm bảo hoạt động an toàn và bền vững Hỗ trợ đào tạo cán bộ và tìm kiếm nguồn vốn ưu đãi, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập, là yếu tố quan trọng Triển khai các chương trình đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản trị và điều hành sẽ giúp phát triển bền vững và hiệu quả cho các chương trình tài chính vi mô, đồng thời hỗ trợ chuyển đổi sang mô hình tổ chức tài chính vi mô chính thức.
Tuyên truyền và nâng cao nhận thức về vai trò của tài chính vi mô là rất quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo Cần tham mưu cho các cấp chính quyền, hội, đoàn thể về hiệu quả của tài chính vi mô, đồng thời phổ biến các kinh nghiệm và mô hình hoạt động hiệu quả Điều này sẽ hỗ trợ các chương trình, dự án và tổ chức tài chính vi mô trong việc phát triển bền vững.
Các giải pháp hỗ trợ tài chính vi mô bao gồm việc tạo điều kiện về nguồn vốn và khuyến khích tham gia đóng góp cho các tổ chức tài chính vi mô Cần thiết lập các chương trình và dự án giúp các tổ chức này tiếp cận các khoản vay, đồng thời hỗ trợ hình thành cơ sở đào tạo chuyên ngành tài chính vi mô Việc xây dựng các trung tâm đào tạo và khóa học dài hạn cho học sinh, sinh viên, cũng như các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ tổ chức tài chính vi mô là rất quan trọng Ngoài ra, cần xây dựng cơ sở dữ liệu chung và trung tâm thông tin tín dụng về tài chính vi mô, cùng với việc thành lập Hiệp hội tài chính vi mô để hỗ trợ lẫn nhau và thống nhất quy tắc ứng xử trong ngành.
Quyết định số 2195/QĐ-TTg đã cung cấp các nội dung quan trọng, tạo định hướng cho các cơ quan quản lý Nhà nước như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ Điều này nhằm ban hành chính sách và thực hiện các hành động cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính vi mô và hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam.
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ HIỆN NAY
Thực trạng về hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù tài chính vi mô ở Việt Nam chưa phát triển hết tiềm năng, nhưng nó vẫn mang lại nhiều ưu điểm đáng chú ý.
Về mức độ bền vững của hoạt động tài chính vi mô
Quy mô hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Mặc dù còn nhỏ so với các dịch vụ tài chính khác, nhưng tỷ lệ tăng trưởng khách hàng và dư nợ của lĩnh vực này đang diễn ra ổn định nhờ vào việc tăng cường huy động vốn và phát triển số lượng khách hàng.
Để đảm bảo tính bền vững cho hoạt động tài chính vi mô, nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành, bao gồm Đề án 2195 về xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020, Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạt động của chương trình và dự án tài chính vi mô của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, cùng với Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Những văn bản này đề ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể nhằm phát triển hoạt động tài chính vi mô.
Hầu hết các hoạt động tài chính vi mô đã đạt được sự bền vững nhờ vào sự hỗ trợ từ các tổ chức chính trị - xã hội và các khoản tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước, cùng với nỗ lực của các tổ chức tài chính vi mô trong quá trình công nghiệp hóa.
Hoạt động tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các tổ chức tín dụng khác, góp phần vào sự phát triển ổn định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, từ đó thúc đẩy công cuộc giảm nghèo tại Việt Nam.
Về nội dung của hoạt động tài chính vi mô
Hoạt động tài chính vi mô của các tổ chức tài chính vi mô đã tận dụng vị thế pháp lý để huy động tiết kiệm, với sự đa dạng hóa khách hàng bao gồm người nghèo, cận nghèo, cán bộ công nhân viên, hộ gia đình thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ Các hình thức cho vay cũng được đa dạng hóa, từ cho vay theo nhóm đến cá nhân, với nhiều mục đích như sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng lâu bền, tiêu dùng khẩn cấp và đầu tư dài hạn như giáo dục Phương thức trả nợ linh hoạt theo tuần hoặc tháng, cùng với sự phát triển của các hoạt động đại lý bảo hiểm, đã hỗ trợ phát triển cộng đồng và nâng cao kiến thức, kỹ năng thông qua các hoạt động tín dụng vi mô hiệu quả.
Hoạt động tài chính vi mô chủ yếu cung cấp khoản vay nhỏ cho những đối tượng yếu thế, bắt nguồn từ mô hình cho vay theo nhóm Do đó, để hỗ trợ cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ, hoạt động này cần duy trì tổng dư nợ các khoản tín dụng.
Tại Việt Nam, hoạt động tài chính vi mô chủ yếu áp dụng cách tiếp cận tổng hợp, cung cấp cả dịch vụ tài chính và phi tài chính Mức độ cung cấp các dịch vụ phi tài chính khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của từng tổ chức, với các dịch vụ xã hội thường được lồng ghép qua các chương trình của các tổ chức đoàn thể Một số tổ chức tài chính vi mô chỉ tập trung vào tín dụng vi mô, dẫn đến sự khác biệt lớn trong hoạt động của các tổ chức này.
Về phạm vi hoạt động tài chính vi mô
Phạm vi hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam đang ngày càng được mở rộng, với sự hiện diện rộng rãi trên 63 tỉnh thành Mạng lưới tài chính vi mô bao phủ từ các thành phố lớn đến các xã nhỏ Hoạt động này được chia thành ba khu vực: chính thức, bán chính thức và phi chính thức, mỗi khu vực phục vụ cùng một nhóm khách hàng nhưng lại có mục tiêu và tính chất hoạt động khác nhau.
Các tổ chức tài chính vi mô đã đa dạng hóa và thiết kế nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính và phi tài chính để phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau, bao gồm cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.
Số lượng khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô và dư nợ tín dụng đã tăng đáng kể qua từng năm Hoạt động tài chính vi mô đã tập trung vào nhóm khách hàng yếu thế, bao gồm cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ, góp phần hỗ trợ họ vượt qua những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống.
Hoạt động cấp tín dụng vi mô chủ yếu phục vụ đối tượng khách hàng có thu nhập thấp, với các khoản vay có giá trị nhỏ và thời hạn ngắn Những khoản vay này thường được bảo đảm bằng tiết kiệm bắt buộc hoặc bảo lãnh từ nhóm khách hàng Tuy nhiên, chu kỳ trả nợ diễn ra thường xuyên hơn và lãi suất áp dụng thường cao hơn so với các khoản vay thông thường.
Lãi suất tín dụng vi mô chủ yếu bị ảnh hưởng bởi chi phí hoạt động như chi phí nhân viên và chi phí đi lại Do tính chất cho vay các khoản vay nhỏ, lãi suất tín dụng vi mô thường cao hơn so với lãi suất của các ngân hàng thương mại, nơi cho vay các khoản lớn hơn Chi phí hoạt động trên doanh số của các tổ chức tài chính vi mô cao hơn, nhưng họ cung cấp dịch vụ tận nơi, giúp khách hàng giảm chi phí và tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ.
Các khoản vay tài chính vi mô thường có lãi suất cao hơn so với cho vay thương mại nhằm bù đắp chi phí hoạt động Điều này cũng đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định pháp luật cho các hoạt động tài chính vi mô.
Khuyết điểm của hoạt động tài chính vi mô:
Thứ nhất, bất cập và sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động tài chính vi mô.
Về nội dung hoạt động tài chính vi mô:
Mặc dù khung pháp lý cho tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) đang được cải thiện, nhưng quy mô và hình thức tổ chức của các chương trình tài chính vi mô tại Việt Nam vẫn còn đa dạng Nhiều chương trình và dự án TCVM do nhiều tổ chức thực hiện, dẫn đến việc triển khai gặp khó khăn Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của các tổ chức TCVM.
Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động tài chính vi mô
3.2.1 Kiến nghị về phạm vi hoạt động tài chính vi mô
Phạm vi hoạt động tài chính vi mô hiện nay chủ yếu tập trung vào nhận tiết kiệm và cho vay, dẫn đến khó khăn trong việc đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu khách hàng Do đó, cần nghiên cứu và rà soát quy định về thành lập mới và chuyển đổi chương trình tài chính vi mô để đảm bảo tính khả thi Để ổn định và phát triển mạnh mẽ hơn, tài chính vi mô cần mở rộng phạm vi hoạt động, tăng cường tiếp cận dịch vụ cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi, đồng thời đa dạng hóa các sản phẩm cho vay nhỏ lẻ như cho vay trả góp và lưu vụ với lãi suất tích lũy Trong tương lai, cần phát triển các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
3.2.2 Kiến nghị về khoản tiền vay và lãi suất
Hoạt động tài chính vi mô đang đối mặt với thách thức về đối tượng khách hàng và hạn mức vay Theo Thông tư số 03/2018/TT-NHNN, tổng dư nợ cho vay của tổ chức tài chính vi mô đối với một khách hàng không được vượt quá 50 triệu đồng, và đối với một khách hàng khác là 100 triệu đồng Mức vốn vay này được đánh giá là còn khiêm tốn, do đó, cần thiết phải có quy định điều chỉnh giới hạn dư nợ tối đa cho mỗi khách hàng và tỷ lệ dư nợ đối với nhóm khách hàng khác.
Cần thiết phải xây dựng và ban hành cơ chế áp dụng phí và lãi suất cho vay nhằm điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng Mặc dù tài chính vi mô là một phương thức quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo, nhưng nó cũng cần tạo ra chênh lệch thu chi để đảm bảo sự tồn tại Thực tế cho thấy, chi phí hoạt động của tài chính vi mô thường cao hơn so với các tổ chức tín dụng khác do đặc thù như giá trị khoản vay nhỏ và địa bàn hoạt động phức tạp.
Khoản 5 Điều 32 của Thông tư số 03/2018/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 4 năm 2018, quy định về cấp Giấy phép và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô Thông tư này đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 19/2019/TT-NHNN, ban hành ngày 05 tháng 01 năm 2019, nhằm quy định về mạng lưới hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô.
Để đảm bảo sự tồn tại và có lợi nhuận, các tổ chức tài chính vi mô cần áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các ngân hàng thương mại, do cơ chế tính lãi suất và phí của họ khó có thể cạnh tranh.
NHNN cần ban hành quy định riêng cho hoạt động tài chính vi mô, vì nó có những đặc thù khác biệt so với ngân hàng thương mại Để đảm bảo sự phát triển bền vững của tài chính vi mô, các quy định cần được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này.
Quy định về lãi suất trong hoạt động tài chính vi mô cần được xây dựng dựa trên việc tính toán hợp lý các chi phí đặc thù, bao gồm rủi ro cao và chi phí đi lại cho người nghèo Ngân hàng Nhà nước nên quy định lãi suất cho vay của các tổ chức tài chính vi mô không vượt quá 150% lãi suất trần của các tổ chức tín dụng, nhằm ngăn chặn tình trạng tăng lãi suất không kiểm soát và bảo vệ khả năng trả nợ của khách hàng.
So sánh ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính vi mô
- Ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính vi mô được bắt đầu với vốn chủ sở hữu.
- Góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Điều kiện thành lập và hoạt động vô cùng chặt chẽ, yêu cầu vốn theo quy định và nguồn nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ.
Sẽ chịu sự kiểm soát và quản lý của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc thanh toán.
TIÊU NGÂN HÀNG TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
Chí thương mại đóng vai trò quan trọng đối với nhiều đối tượng, đặc biệt là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như các doanh nghiệp siêu nhỏ và lớn Những đối tượng này thường có thu nhập thấp và hoạt động trong quy mô rộng, góp phần vào sự phát triển kinh tế.
Hình Công ty cổ phần và công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn thức trách nhiệm hữu hạn
Ngân hàng thực hiện các hoạt động nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam dưới hai hình thức chính: tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi không kỳ hạn Ngoài ra, ngân hàng còn nhận tiền gửi tự nguyện từ các tổ chức và cá nhân, bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cung cấp dịch vụ vay vốn cho các tổ chức tín dụng và phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu trong nước và quốc tế.
Phạm vi huy động vốn trong nước chỉ cho phép cho vay bằng tiền đồng đối với cá nhân thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, bao gồm các hình thức như cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá Ngân hàng có thể bảo lãnh, phát hành thẻ tín dụng, và mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại, nhưng không được mở tài khoản thanh toán quốc tế Các hình thức cấp tín dụng khác sẽ được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
+ Ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn; chấp thuận.
+ Mở tài khoản thanh toán cho + Cung ứng các dịch vụ tư vấn tài khách hàng chính liên quan đến lĩnh vực tài chính
Chúng tôi cung cấp các phương tiện vi mô và dịch vụ thanh toán, bao gồm dịch vụ thu hộ, chi hộ và chuyển tiền cho khách hàng tài chính vi mô.
+ Làm đại lý cung ứng dịch vụ bảo hiểm
Vốn pháp định lớn hơn Theo Vốn pháp định ít hơn Theo Nghị định
Theo Nghị định 10/2011/NĐ-CP và Nghị định 86/2019/NĐ-CP, tổ chức pháp định ngân hàng thương mại (NHTM) có mức vốn pháp định tối thiểu là 3.000 tỷ đồng, trong khi mức vốn pháp định cho các tổ chức tài chính vi mô là 5 tỷ đồng.
Lãi suất của ngân hàng thương mại thường cao hơn so với lãi suất của tổ chức tài chính vi mô, do tổ chức này hoạt động vì mục tiêu xã hội Ngoài ra, tổ chức tài chính vi mô thường nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam.
Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ dưới các hình thức sau đây: hạn của các tổ chức, cá nhân - Tiết kiệm bắt buộc theo quy định
Nguồn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của tổ chức tài chính vi mô bao gồm tiền gửi của tổ chức và cá nhân, vốn huy động, và phát hành giấy tờ có giá như phiếu và trái phiếu Các khoản tiền gửi này không nhằm mục đích thanh toán.
+ Vốn vay: Ngân hàng thương