Cụ thể là: Tự truyện mặc dù xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 với Giấc mộng lớn của Tản Đà năm 1929 và tương đối sôi nổi vào giai đoạn 1930 - 1945 nhưng sau đó lại hầu như vắng bóng trên diễn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong Luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận án
Hoàng Thị Tâm
Trang 2
Tôi xin được cảm ơn các Thầy cô giáo Khoa Văn học, Học viện Khoa học
Xã hội, đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai cơ quan là Trường Đại học Hồng Đức và Học viện Quản lý giáo dục đã tạo điều kiện về thời gian để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và học tập
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đặc biệt tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên tôi trong suốt thời gian qua, đã động viên, khích lệ, tạo động lực, niềm tin và sự kiên nhẫn để tôi có thể hoàn thành luận án của mình
Hà Nội, ngày 5 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Hoàng Thị Tâm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại 7
1.1 Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài 7
1.2 Những nghiên cứu tự truyện từ các khía cạnh xã hội học 20
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại 29
2.1 Quan niệm về tự truyện 29
2.2 Hướng nghiên cứu xã hội học về tự truyện 46
2.3 Những chặng đường của tự truyện Việt Nam 54
Chương 3: Những điều kiện tự truyện và sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện 65
3.1 Những điều kiện tự truyện 65
3.2 Sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện 71
3.3 Các hình thức biểu đạt chủ thể trong tự truyện 91
3.4 Giới hạn xã hội và lựa chọn của chủ thể 112
Chương 4: Hoạt động tiếp nhận tự truyện 118
4.1 Tiếp nhận tự truyện nhìn từ hoạt động xuất bản 118
4.2 Tiếp nhận tự truyện nhìn từ người đọc 129
4.3 Tiếp nhận tự truyện nhìn từ các mô hình diễn giải 134
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 1 164
PHỤ LỤC 2 180
Trang 4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Số lượng tự truyện và hồi ký xuất bản từ 1986 đến 1996 chia theo nguồn gốc 120
Bảng 2: Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1997 - 2014 chia theo nguồn gốc 122 Bảng 3: Lý do đọc tự truyện 130
Bảng 4: Mục đích đọc tự truyện 130
Bảng 5: Mức độ đọc tự truyện Việt Nam 131
Bảng 6: Mức độ đọc tự truyện nước ngoài 131
Bảng 7: Anh/chị thích đọc tự truyện của nhóm tác giả nào 132
Biểu đồ 1: Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1986 đến 1996 119
Biểu đồ 2: Số lượng tự truyện và hồi ký được xuất bản từ 1997 đến 2014 121
Biểu đồ 3: Số lượng tự truyện được tái bản từ 1986 đến 2014 123
Biều đồ 4: Tác phẩm và số lần xuất bản 124
Trang 5
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
PV sâu số 1: Phỏng vấn nhà văn Phan Việt
PV sâu số 2: Phỏng vấn nhà văn Ma Văn Kháng
PV sâu số 3: Phỏng vấn nhà văn Bùi Ngọc Tấn
PV sâu số 4: Phỏng vấn nhà văn Tô Hoài
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Quan sát chặng đường lịch sử của tự truyện Việt Nam, có thể thấy một
số dấu hiệu khá đặc biệt đòi hỏi phải được giải thích Cụ thể là: Tự truyện mặc dù
xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 với Giấc mộng lớn của Tản Đà năm 1929 và tương đối
sôi nổi vào giai đoạn 1930 - 1945 nhưng sau đó lại hầu như vắng bóng trên diễn đàn văn học cho đến tận những năm cuối thế kỷ 20 mới xuất hiện trở lại và đến những thập niên đầu của thế kỷ 21, thì nở rộ như một phong trào.Tuy nhiên, so với đầu thế
kỷ, tự truyện giai đoạn này có nhiều nét khác: Các dấu hiệu thể loại không bộc lộ tập trung mà khi đậm đặc, khi mờ nhạt trong từng tác phẩm Nếu quan sát diễn tiến
của tự truyện có thể thấy, kể từ 2006, sau sự xuất hiện của Yêu và Sống của nữ nghệ
sĩ Lê Vân, nó bắt đầu chuyển hướng Tính chất tiểu thuyết giảm đi, tính chất phi hư cấu tăng lên Đặc biệt, cái Tôi được bộc lộ ở nhiều chiều kích hơn như cái tôi nghề nghiệp, cái tôi khác biệt, cái tôi vượt khó…, song cũng vì thế mà các dấu hiệu đặc trưng của tự truyện theo quan niệm của P Lejeune - nhà nghiên cứu tự truyện Pháp
- lại trở thành khung hình quá chật hẹp và luôn xuất hiện các biến thể như tự truyện
- tiểu thuyết, tự truyện - hồi ký, tự truyện - du ký… Chúng tạo nên dáng vẻ không thuần nhất của thể loại Nếu đặt những dấu hiệu này trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ đến nay sẽ thấy đó chính là những hình ảnh phản chiếu khá
rõ sự chuyển biến của tinh thần xã hội
1.2 Về đặc điểm này của tự truyện Việt Nam, nhà nghiên cứu Đoàn Cầm Thi (2008) cho rằng “truyền thống văn hóa vốn đề cao dân tộc, cộng đồng”, “Đạo Khổng và chủ nghĩa tập thể là những ý thức hệ cản trở sự bộc lộ cá nhân” [174, 247] đã cản trở sự phát triển thể loại Tiếc rằng những nhận định ấy lại chưa được triển khai một cách hệ thống hoặc chỉ quan sát từ những vận động nội tại của tự sự văn học mà chưa có sự phân tích mối quan hệ này một cách cặn kẽ Hơn nữa, bản thân tự truyện, cũng giống như các thể loại văn học nói chung, để có thể lý giải được những đặc điểm nội tại của chúng không thể chỉ quan sát từ một thành tố riêng
lẻ bởi văn học, như quan điểm của J.P.Sartre (1948) trong tác phẩm Văn học là gì:
“Chính sự kết hợp giữa hành động của nhà văn và của độc giả sẽ làm xuất hiện một
Trang 7tác phẩm tinh thần là một vật vừa cụ thể, vừa chỉ tồn tại trong tưởng tượng” Điều
đó có nghĩa văn học phải được coi là một quá trình xã hội, được tạo thành bởi hai chủ thể tác giả và người đọc Giá trị văn học sẽ thành tạo nên từ những tương tác giữa hai chủ thể của quá trình này Như vậy, việc lý giải những đặc điểm của tự truyện cần được đặt vào hệ thống và quá trình của nó Hay nói cách khác, là phải quan sát cặn kẽ mối quan hệ giữa xã hội và thể loại
1.3 Theo mô tả của Sidonie Smith và Julia Watson (2002) trong Reading
Autobiography: Aguide for Interpresting Narratives, lịch sử nghiên cứu tự truyện từ
hướng tiếp cận xã hội đã từng được đặt ra Trong đó, yếu tố giới được các nhà nghiên cứu lấy làm điểm xuất phát cho những giải thích về đặc trưng tự sự của tự truyện, họ cho rằng: tự truyện, đặc biệt tự truyện của giới nữ là một hành động tái lập sự cân bằng đối với xã hội thông qua sự bộc lộ thế giới nhận thức của phụ nữ
Từ đây, họ tập trung phân tích những dấu hiệu làm nên sự khác biệt về kỹ thuật tự
sự trong tự truyện của phụ nữ và tự truyện của nam giới Những cảm nhận về thế giới từ góc nhìn của người nữ như: sự miêu tả bản thân, những cấu trúc bất bình đẳng hiện diện trong nội dung văn bản có ý nghĩa như là một phương thức tồn tại của giới nữ trong một xã hội trọng nam quyền Việc khuôn các quan hệ xã hội vào mối quan hệ giới này đã phần nào cho thấy cái nhìn chú trọng những tác động từ phía xã hội lên nhận thức và hành vi của các chủ thể tự truyện song lại hạn chế sự quan sát trong chỉ một khâu của quá trình văn học là khâu tạo lập mà bỏ qua khâu tiếp nhận - một quá trình xã hội quan trọng góp phần không nhỏ trong việc thành tạo các giá trị văn học của một thể loại
1.4 Trong các nghiên cứu xã hội học văn học, mối quan hệ xã hội - văn học
đã từng được quan sát từ nhiều góc độ khác nhau tùy theo sự thay đổi trọng tâm của nghiên cứu văn học Nếu phương pháp của R Esacrpit nhấn mạnh quá trình phản hồi và tiếp nhận thì phương pháp của P Bourdieu lại chú trọng vai trò chủ động, tích cực của chủ thể văn học Đặc biệt là mối quan tâm tới những yếu tố xã hội tạo thành những cơ hội để chủ thể thực hiện những hoạt động chủ động của mình Mỗi phương pháp gắn liền với một phương diện được quan tâm vì thế mà hoặc là chỉ nhìn thấy người đọc, hoặc lại chỉ có thể lý giải hành động của chủ thể mà hạn chế
sự quan sát thể loại với tư cách là kết quả của một quá trình Bởi vậy, theo chúng
Trang 8tôi, để có thể quan sát tự truyện trong trạng thái sinh tồn của nó, không gì khác, phải vận dụng tổng hợp các quan điểm lý thuyết trên Đặc biệt là quan niệm coi tự truyện
là hoạt động tương tác giữa một bên là hành động tạo lập của tác giả và một bên là hành động tiếp nhận của người đọc mới có thể thống nhất toàn bộ quá trình xã hội của thể loại và lý giải một cách đầy đủ đặc điểm hiện trạng của thể loại
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ xã hội học, đề tài nhằm mục đích lý giải các đặc điểm hiện tại của tự truyện Việt Nam đương đại, từ đó bao quát toàn bộ diện mạo của nó Bên cạnh đó, nghiên cứu xã hội về tự truyện là hướng nghiên cứu còn mới mẻ và chưa có tiền lệ vì vậy, thông qua đề tài này, chúng tôi đề xuất một khung
lý thuyết nghiên cứu xã hội học về tự truyện nói riêng và văn học nói chung nhằm
bổ khuyết cho các nghiên cứu từ các phương diện nội dung phản ánh hay tự sự học
Đề lý giải đặc điểm diện mạo của tự truyện Việt Nam đương đại, luận án giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Xác định các đặc điểm của bối cảnh là tiền đề cho sự phát triển tự truyện
- Phân tích đặc điểm của việc bộc lộ chủ thể trong tự truyện nhằm tìm ra quy luật của sự bộc lộ đó trong bối cảnh xã hội
- Mô tả và phân tích đặc điểm của hoạt động tiếp nhận tự truyện từ đó làm rõ những ảnh hưởng của tiếp nhận đối với thể loại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Coi tự truyện là một quá trình xã hội, do đó đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là Tự truyện Việt Nam đương đại nghĩa là toàn bộ hiện thực xã hội của nó
từ hành động tự truyện của tác giả tới hoạt động tiếp nhận trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ sau 1986 đến nay Những khía cạnh cụ thể là: những điều kiện xã hội như là không gian của hoạt động tự truyện, hành động tự truyện của tác giả với cả hai mặt nội dung và hình thức và hoạt động tiếp nhận tự truyện từ quá trình lựa chọn của xuất bản đến các mô hình diễn giải
3.2 Phạm vi khảo sát của đề tài bao gồm toàn bộ các hình thức viết xuất hiện
từ 1986 đến nay ở cả khu vực văn học và phi văn học đáp ứng các tiêu chí sau:
- Là tác phẩm văn xuôi tự thuật về cuộc đời tác giả
- Tác giả - người kể chuyện - nhân vật chính trùng làm một
Trang 9- Trọng tâm của kể chuyện là nhân cách cá nhân người tự thuật
Điều đó cũng có nghĩa hiện tượng hội tụ đầy đủ các tiêu chí kể trên song có
sự pha trộn với các thể loại gần gũi khác như tiểu thuyết, hồi ký, du ký, nhật ký cũng ở trong diện khảo sát bởi theo chúng tôi, chúng là những cách thức biểu đạt cá nhân mà chủ thể lựa chọn để bộc lộ bản thân mình, con người và nhân cách mình trong một bối cảnh xã hội lịch sử nhất định Tuy nhiên, bởi một phần tự truyện là những sản phẩm đại chúng không hàm chứa nhiều các chủ ý nghệ thuật của tác giả cho nên, trong quá trình lựa chọn các dẫn chứng điển hình, sự tập trung sẽ dành nhiều hơn cho các tác phẩm mà giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân sinh đậm nét hơn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Coi tự truyện là một quá trình xã hội mà ở đó tồn tại hai hoạt động: hoạt
động tự truyện của tác giả và hoạt động tiếp nhận của người đọc, nghiên cứu xã hội học về tự truyện của chúng tôi xuất phát từ khái niệm về hành động xã hội của Max Weber để phân tích hành động tự truyện của tác giả với tư cách là một “hành động được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nào đó”, chúng tạo nên mục đích của hành động Vì thế, hành động xã hội là hành động mang tính chủ quan song luôn
“tính đến hành vi của người khác trong quá trình của nó”, nó giống như một “cách ứng xử của cá nhân” trong hệ thống xã hội và “chỉ có thể hiểu được các cấu trúc xã hội nếu hiểu được và giải thích được cách ứng xử của cá nhân” Sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện là biểu hiện của cách ứng xử đó
Từ quan điểm này, hành động tiếp nhận cũng là một hành động xã hội song chúng được hiểu ở hai cấp độ: tiếp nhận thông qua xuất bản với quá trình lựa chọn của hệ thống xuất bản và tiếp nhận qua quá trình diễn giải với các mô hình tiêu biểu theo cách gọi của Mĩ học tiếp nhận Sự tương tác giữa các chủ thể trong hai quá
trình này sẽ tạo thành các giá trị chi phối con đường đi của thể loại tự truyện
4.2 Để khảo sát hai quá trình xã hội của tự truyện, phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp xã hội học bởi chúng cho phép thu thập được cả hai loại dữ liệu định tính và định lượng làm căn cứ khách quan cho các kết luận nghiên cứu
- Phương pháp xã hội học: là một hệ thống các phương pháp đặc thù trong nghiên cứu xã hội học bao gồm: phương pháp nghiên cứu tiểu sử, phương pháp điều tra, thống kê phân loại, phương pháp phỏng vấn… các phương pháp này giúp thu
Trang 10thập thông tin về sự vận động của các nhân tố xã hội và văn học tạo nên phong trào
tự truyện ở Việt Nam sau 1986, đặc biệt là từ 2006 trở lại đây, quá trình tiếp nhận tự truyện, các đặc điểm của công chúng tự truyện…
Điều tra về công chúng tự truyện, chúng tôi sử dụng một mẫu bao gồm 201
cá thể thuộc các nhóm xã hội khác nhau tại các không gian: thư viện, lớp học, trường học Hình thức thu thập thông tin là phát phiếu trưng cầu ý kiến các đối tượng trong các không gian trên trong thời gian cụ thể là tháng 3 năm 2016
Phiếu thăm dò ý kiến với 6 câu hỏi trong đó: hai câu hỏi đóng thu thập thông tin về khả năng và mức độ đọc đối với thể loại, 3 câu hỏi nhiều lựa chọn đưa ra các phương án xác định lý do đọc, mục đích đọc, mức độ đọc; một câu hỏi mở thu thập thông tin định tính hướng đến tìm hiểu mong muốn chủ quan của người đọc qua đó tìm hiểu xu hướng tiếp nhận đối với tự truyện trong tương lai
Phỏng vấn sâu có tham dự được thực hiện với 4 nhà văn, cũng đồng thời là tác giả của các tự truyện được viết trong vòng từ 1986 đến nay Cụ thể là nhà văn
Tô Hoài, nhà văn Ma Văn Kháng, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, nhà văn Phan Việt Các phỏng vấn này hướng tới tìm hiểu những nhu cầu chủ quan của tác giả tự truyện, chúng có ý nghĩa như là những động lực cho hành động tự truyện trong bối cảnh văn hóa xã hội hiện tại
Phương pháp tự sự học: Để có thể tìm hiểu những cách thức bộc lộ bản thân của chủ thể trong tự truyện, không gì khác là phải dựa trên văn bản Do thế chúng tôi sử dụng nhóm các phương pháp thuộc tự sự học cụ thể như: phân tích văn bản,
so sánh - đối chiếu, phương pháp hệ thống nhằm phát hiện những cách thức mà chủ thể sử dụng để bộc lộ bản thân mình và bày tỏ các quan niệm giá trị
Hệ các phương pháp này bổ sung cho nhau trong việc thu thập dữ liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong đề tài Chúng bổ sung và soi sáng lẫn nhau, góp phần cụ thể hóa các luận điểm nghiên cứu
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án là một khái quát đầu tiên về tự truyện với tư cách là một quá trình
xã hội Qua đó có thể thấy được diện mạo và các yếu tố tác động tới sự phát triển
của thể loại này trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam đương đại và dự đoán xu
hướng phát triển của nó trong tương lai
Trang 11- Nghiên cứu tự truyện từ các khía cạnh: Những điều kiện tự truyện, Sự bộc
lộ chủ thể trong tự truyện và Hoạt động tiếp nhận, luận án đã xây dựng được một khung lý thuyết đối với việc nghiên cứu xã hội học về tự truyện nói riêng và các hiện tượng văn học đương đại nói chung
- Luận án là sự khẳng định tính khả dụng của phương pháp xã hội học trong nghiên cứu văn học Đặc biệt là những khảo sát định lượng có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng tính thuyết phục cho các kết luận trong nghiên cứu văn học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là việc vận dụng các quan điểm xã hội học vào việc lý giải đặc trưng diện mạo của thể loại tự truyện trong đời sống xã hội Việt Nam đương đại từ đó một mặt làm rõ các luận điểm lý thuyết về mối quan hệ giữa xã hội và văn học mặt khác, đóng góp một cái nhìn mới đối với một hiện tượng văn học hiểu ở ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về những hiện tượng văn hóa, văn học Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc của luận án
Luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc nghiên cứu tự truyện Việt Nam đương đại
Chương 3: Những điều kiện tự truyện và sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện Chương 4: Hoạt động tiếp nhận tự truyện
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TỰ TRUYỆN VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài
Ngay từ năm 1940, trong công trình Nhà văn hiện đại, nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Phan đã từng quan tâm tới tự truyện với tư cách là một nhóm loại tiểu thuyết
hấp dẫn và nhiều thử thách Các bài viết của ông về Dã tràng của Thiết Can, Những
ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư có thể coi là những
nghiên cứu đầu tiên về tự truyện Do thực tế phát triển của thể loại, nên đến tận thế
kỷ thứ 21 này, khi phong trào dân chủ hóa văn học ngày càng trở nên sôi nổi, văn học bắt đầu xuất hiện một loạt tác phẩm lấy cuộc đời riêng của người viết làm đề tài, câu chuyện về tự truyện mới được dịp quay trở lại Chính vì thế mà những nghiên cứu về nó cũng mới đang ở giai đoạn bắt đầu Những vấn đề như: tự truyện
là gì, văn học Việt Nam có tự truyện hay không, con đường phát triển của nó là như thế nào, những dấu hiệu của tự truyện trong các tác phẩm cụ thể…đã và đang được đặt ra Trong phần này, để thuận tiện cho sự trình bày, chúng tôi tạm chia hoạt động nghiên cứu về tự truyện ở Việt Nam thành hai nhóm chính: nhóm tập trung vào những vấn đề thể loại và nhóm quan tâm tới những tác phẩm tự truyện riêng biệt
1.1.1 Những vấn đề thể loại
Hai câu hỏi lớn mà những nghiên cứu về tự truyện Việt Nam luôn quan tâm là: thế nào là tự truyện và Văn học Việt Nam có tự truyện hay không Đây cũng đồng thời là những vấn đề gây tranh luận khá nhiều kể từ khi thể loại này xuất hiện
Có thể kể đến một loạt các bài viết tiêu biểu như: Truyện tiểu sử, một loại
hình tự sự cần được khẳng định và phát triển của Trương Dĩnh năm 2000, Viết tự truyện, khi nào và vì sao của Trần Văn Toàn năm 2003, chùm bài viết của Đoàn
Cầm Thi đăng rải rác trên báo văn nghệ từ 2004 đến 2008 sau này tập hợp lại trong
cuốn sách mới xuất bản Đọc Tôi bên bến lạ: Cơ hội của chúa - từ nhật ký đến hậu
trường văn học (2004), Nỗi buồn chiến tranh: tự truyện bất thành (2004), Đặng Thùy Trâm: biến số và ẩn số (2008), Tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước
(2008), bài viết của Lê Tú Anh: Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc
Trang 13mộng lớn (Tản Đà) - Những bước đi đầu tiên của tự truyện Việt Nam (2010), của
Đỗ Hải Ninh: Mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuật
trong văn học Việt Nam đương đại (2009) và sau này là luận án khá công phu của
chị: Tiểu thuyết có khuynh hướng tự thuật trong Văn học Việt Nam đương đại năm
2012 Ngoài ra, việc xác định những đặc điểm của tự truyện không thể không kể
đến hai nghiên cứu khá quan trọng là bài viết: Tự thuật và tiểu thuyết Pháp ở thế kỷ
XX của Đặng Thị Hạnh năm 1998 và chương Tiểu thuyết tự thuật trong công trình
nghiên cứu Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI của Phùng Văn Tửu năm 2005
Mặc dù đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết Pháp nhưng những vấn đề như bối cảnh, hành trình, đặc điểm của thể loại được đề cập đến trong các nghiên cứu này đã giúp cho việc hiểu về tự truyện Việt Nam thêm cụ thể, rõ ràng
Về câu hỏi thế nào là tự truyện, hầu như các nghiên cứu đều coi định nghĩa của P Lejeune là cơ sở để xác định các đặc trưng thể loại Nhà nghiên cứu Đặng Thị Hạnh sau khi mô tả nguồn gốc của việc lấy cái tôi làm đối tượng miêu tả là tinh thần tự thú và hành trình của nó trong văn học Pháp đã nêu định nghĩa về thể loại của P Lejeune làm cơ sở cho việc nêu ra mối quan hệ giữa nó và tiểu thuyết: “Năm
1971 trong cuốn Tự thuật ở Pháp Philippe Lejeune định nghĩa nó như sau: Truyện
kể mang tính nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc sống của mình, khi người đó đặt trọng âm lên đời sống riêng, nhất là lên sự hình thành nhân cách” [70,
36] Định nghĩa này được coi là căn cứ lý thuyết quan trọng trong hầu khắp các
nghiên cứu về tự truyện Tại chương Tiểu thuyết Tự Thuật, tác giả Phùng Văn Tửu
cũng dẫn định nghĩa này để phân biệt với tiểu thuyết và chỉ ra sự giao thoa giữa hai thể loại Điều thú vị là ở chỗ, ông có ghi chú thêm: “thể loại tự thuật không chỉ giới hạn ở những nhà văn tuy ở đây ta chỉ xem xét trường hợp nhà văn viết tự thuật” [165, 136] như một sự phân định ranh giới giữa tự thuật của nhà văn và tự thuật nói chung Tuy vậy, ông không đi sâu phân tích ranh giới này mà chỉ coi đó là một giới hạn cho phạm vi nghiên cứu của mình, đó là mối quan hệ giữa tiểu thuyết và tự thuật, tiểu thuyết tự thuật và tiểu thuyết
Chú ý tới tác giả song nhấn mạnh một đặc điểm thuộc về chủ thể tự truyện,
đó là tuổi tác và độ chín của những trải nghiệm nhân sinh, nhà nghiên cứu Trần Văn Toàn viết: “Tự truyện như ta đã biết, thường được viết vào thời tác giả đã trưởng
Trang 14thành, đã trải qua phần lớn các chặng đường đời Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt tự truyện với nhật ký Ở nhật ký, thời gian viết và thời gian được nói tới trùng khít với nhau trong khi đó ở tự truyện giữa hai dòng thời gian này là một khoảng cách rất rõ nét Vậy thì điều gì đã khiến một tác giả đang sống ở đây, trong hiện tại - lại có nhu cầu nhìn lại quá khứ đã trôi xa của mình Vì đâu mà người ta khao khát được tìm lại “thời gian đã mất”? (…) Về phần mình, tôi cho rằng: tự truyện gắn với một năng lực đặc biệt của con người: năng lực nghiệm sinh cuộc
sống Cuộc sống có trải nhưng cũng có nghiệm và không phải lúc nào trải và
nghiệm cũng đồng nhất với nhau Để nghiệm cần có thời gian, cần một sự lịch duyệt nhân sinh, không hiếm khi là những đổ vỡ, vấp ngã trong đường đời để đọc thấu/ để cấp cho những gì đã trải một ý nghĩa nào đó” [167] Như thế, căn nguyên của sự khác nhau giữa nhật ký và tự truyện chính là sự “lịch duyệt nhân sinh” hay nói khác đi, là tuổi tác, là thời gian đủ để có thể nghiệm sinh cuộc sống của chính tác giả tự truyện Từ đây, quá khứ mang một ý nghĩa khác, ý nghĩa của trải nghiệm, của hiện tại viết mà không còn là chính nó tại thời điểm đã diễn ra Sự lý giải này cho phép người đọc nhận thức đầy đủ hơn về sự tác động của các yếu tố chủ quan của chủ thể tự truyện lên câu chuyện của mình Các yếu tố chủ quan hiểu rộng ra là tuổi tác, nghề nghiệp, thói quen, là ý thức xã hội Chúng tác động lên hành động tự truyện, tạo nên đặc điểm riêng của từng tự truyện
Cùng với việc xác định đặc trưng cơ bản của tự truyện, câu hỏi tự truyện có phải là văn học hay không cũng được đặt ra Có thể nói nhà nghiên cứu Lê Tú Anh
là người quan tâm đến vấn đề này nhiều nhất Trong các bài viết của mình, việc đưa
ra quan niệm về tự truyện và coi tự truyện như một thể loại văn học luôn được nhấn mạnh Theo đó, tự truyện chỉ được coi là văn học khi nó đạt được các phẩm chất văn học:
“Theo tôi, tự truyện như một thể loại văn học hay một tác phẩm tự truyện ngoài việc cần phải có những điểm khả thủ để phân biệt ở một mức độ tương đối với hồi ký, nhật ký, tiểu thuyết; cần phải đáp ứng được những yêu cầu để có thể phân biệt với một tự truyện chưa đạt đến trình độ tác phẩm văn học (cận văn học) Các yêu cầu cụ thể, là: phải có thao tác tự sự, có ý nghĩa nhân sinh và ngôn từ có tính nghệ thuật” [5]
Trang 15Những xác định này đã vẽ ra một đường phân giới giữa một bên là tự truyện
“cận văn học” và một bên là tự truyện văn học Sự khác nhau giữa chúng là ở chỗ có/ không có những phẩm chất vừa nêu Điều này cũng được nhà văn Triệu Xuân
nêu ra trong bài viết: Tự truyện: con nuôi của văn học, ông viết: “Tự truyện không
hẳn là văn học Nó là một thể văn viết ghi lại tư liệu có thật nhằm thuật lại cuộc đời,
sự nghiệp của một cá nhân hoặc một gia đình, dòng họ Tự truyện chỉ có thể là văn học khi nó được viết theo cái cách của văn học Thông qua số phận của cá nhân ấy, gia đình ấy, phản ánh và biểu hiện tâm thế của một cộng đồng, một dân tộc, một
thời đại các cuốn như Thép đã tôi thế đấy của N.Otxtrovski, Bộ ba tác phẩm: Thời
thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M Gorky, Những ngày thơ
ấu của Nguyên Hồng, Cai của Vũ Bằng là tự truyện chính cống ” [189] Theo ông, cái cách của văn học, chính là những kỹ thuật của văn học, chúng tạo nên phẩm chất văn học của tác phẩm Như thế, sẽ tồn tại những tác phẩm có/ không có chất văn học ở những mức độ khác nhau Trong khi đó, bản thân những phẩm chất đó phần lớn lại tùy thuộc vào sự cảm nhận của người đọc bên cạnh sự thể hiện giá trị tự thân của văn bản Trên thực tế, do đặc tính của mình, tự truyện còn có thể được đọc ở nhiều phương diện khác nữa như phương diện tư liệu, phương diện văn hóa, phương diện xã hội…mà không chỉ đọc thuần túy bằng sự cảm nhận văn chương.Vì thế, theo chúng tôi, sẽ cùng lúc tồn tại hai phạm vi của tự truyện: tự truyện mang phẩm chất văn học và những tự truyện mà phẩm chất văn học ít hơn Điều đó phản ánh chính thực tế của thể loại
Với chủ đề “văn học Việt Nam có tự truyện hay không”, những nghiên cứu
và tranh luận cũng diễn ra khá sôi nổi Trả lời câu hỏi này tồn tại hai ý kiến trái ngược nhau, một khẳng định và một phủ định Nhà nghiên cứu Lê Tú Anh, các nhà văn Bảo Ninh, Triệu Xuân, Văn Chinh khẳng định truyền thống văn học Việt Nam
đã xuất hiện tự truyện với tư cách một thể loại văn học
Nhân bình luận về cuốn tự truyện Yêu và sống của Lê Vân, Bảo Ninh cho rằng: “cho tới khi đọc Yêu và sống của Lê Vân tôi mới ngẫm ra và nhớ ra rằng trong
các tác phẩm văn xuôi Việt Nam mà bản thân mình yêu thích nhất, có không ít tự
truyện: Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Tuổi thơ im lặng của Duy Khán,
Chiều chiều của Tô Hoài ( ) Văn chương không hư cấu, viết cụ thể về một con
Trang 16người có thật và đương thời, với nhân vật đích danh, là một thể loại đã xuất hiện từ lâu ở ta với số lượng tác phẩm không nhỏ, trong đó có những tác phẩm xứng đáng
là hạng nhất của nền văn học” [118]
Lê Tú Anh khẳng định một cách cụ thể hơn về sự xuất hiện thể loại Chị cho rằng “tự truyện đích thực đã xuất hiện trong nền văn học Việt Nam hiện đại ngay từ chặng khởi đầu” và diễn giải cụ thể: “Trong quá trình vận động của nền văn học Việt Nam từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại, thể loại này có dấu hiệu xuất hiện ngay từ tác phẩm văn xuôi bằng chữ quốc ngữ đầu tiên:
Thầy Lazarô Phiền (Nguyễn Trọng Quản) Đến chặng hoàn tất của quá trình hiện
đại hoá văn học (1930-1945), tự truyện đã chính thức có mặt và cùng với các thể loại khác, làm nên một diện mạo mới cho nền văn học Việt Nam Góp phần tạo nên
sự xuất hiện sớm sủa và mau lẹ của thể loại này, theo chúng tôi, không thể không kể tới vai trò của Phan Bội Châu và Tản Đà Hai tác phẩm đánh dấu sự ra đời của thể
loại văn học này chính là Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng
lớn (Tản Đà)” [4, 5] Chị đã chứng minh thông qua việc phân tích những yếu tố cấu thành như nghệ thuật tự sự, ý thức tự thú và tinh thần cá nhân từ những dấu hiệu manh nha đến sự xuất hiện đầy đủ ở hai tác phẩm đã nêu
Ngược lại quan điểm trên, nhà nghiên cứu Đoàn Cầm Thi cho rằng: Văn học
Việt Nam chưa có tự truyện Trong bài trả lời phỏng vấn Tương lai của tự truyện
Việt Nam còn ở phía trước trên báo Văn nghệ (được đăng lại trong tập phê bình Đọc Tôi bên bến lạ xuất bản 2016), xuất phát từ định nghĩa tự truyện của P
Lejeune, chị phân tích các trường hợp tự truyện cụ thể như: Bóng (Nguyễn Văn Dũng), Không lạc loài (Thành Trung), Cánh buồm nhỏ (Lê Minh), Tôi mù (Nguyễn Thanh Tú), nhóm tự truyện của các nhà văn, đặc biệt là Những ngày thơ ấu của
Nguyên Hồng và đi đến kết luận: “Cho đến hôm nay tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước” và chị cho rằng những trường hợp vừa kể trên có thể gọi là “tự sự”, và “tự sự” với ý nghĩa chỉ “văn học viết về chính mình” là chiếc áo mặc nhờ” [174, 246] Tuy vậy, chị cũng cho rằng sự lên ngôi của cái “tôi” trong đời sống và trong văn học là tiền đề của sự phát triển tự truyện: “Cái “tôi” trong văn học Việt gắn liền với bước thăng trầm của hệ tư tưởng Ý thức được điều này người ta hiểu cuộc phôi thai đầy khó khăn của tự truyện Từ cái “tôi” hư cấu đến cái “tôi” xương
Trang 17thịt lẽ nào không có khoảng cách?” và chị khẳng định: “Nhưng cuộc sống đang hàng ngày thay đổi, tự truyện sẽ mọc ra như nấm ở Việt Nam Hơn thế nữa, tôi tin trong tương lai gần, nó sẽ có những chuyển biến về chất Đó không chỉ là những tác phẩm được viết để thỏa mãn nhu cầu giãi bày uẩn khúc, mà sẽ là cuộc tìm kiếm nghệ thuật đích thực” [174, 248]
Phát biểu của Đoàn Cầm Thi cho thấy một quan niệm khá chặt chẽ về sự bộc
lộ cái “tôi” Đó phải là cái “tôi” đầy đủ, trọn vẹn với tất cả các khía cạnh được nhận
thức của nó Ví dụ trường hợp Nguyên Hồng, theo chị trong Những ngày thơ ấu cái
tôi Nguyên Hồng phải được hiện ra một cách đầy đủ, tuổi thơ, tài năng văn chương…nghĩa là những gì mà người đọc đã biết và muốn biết hay nói chính xác hơn, là cái tôi làm nên bản sắc cá nhân ông song có một thực tế là ý thức chủ quan
của chủ thể Nguyên Hồng tại thời điểm viết Những ngày thơ ấu sẽ không trùng khít
với Nguyên Hồng khi đã ở tuổi “nghiệm sinh cuộc sống”, những trải nghiệm về thời thơ ấu mới chỉ đổ bóng xuống hiện tại ở thời điểm viết Như vậy, nếu hiểu tự truyện theo định nghĩa của P Lejeune: “một câu chuyện mà một người có thật ngược dòng thời gian kể lại đời mình, nhấn mạnh tới cuộc sống cá nhân, đặc biệt tới sự hình thành tính cách” một cách chặt chẽ nhất thì chủ thể chỉ có thể viết tự truyện khi đã ý thức đầy đủ về toàn bộ nhân cách mình, cũng là khi cuộc đời đã trải qua những trải
nghiệm nhất định Tương tự như trong Những lời bộc bạch J.J.Rousseau đã viết về
mình với tất cả các khía cạnh của cái “tôi” Song trường hợp mẫu mực ấy lại không phải là phổ biến trong tất cả các nền văn hóa cũng như ở tất cả các nhóm tuổi của tác giả tự truyện Điều đó cho thấy sự khác biệt về văn hóa sẽ tạo nên những khác biệt trong sự nhận thức bản thân và do đó, sẽ khác biệt trong miêu tả về cái tôi của
tự truyện.Thực tế cho thấy năm năm trở lại đây, tự truyện ở Việt Nam phát triển khá sôi nổi song nội hàm của chúng ngày càng xa hơn so với khuôn mẫu tự truyện của
P Lejeune
Từ những vấn đề về thể loại và xác định sự tồn tại của tự truyện trong văn học Việt Nam, việc nhận diện tự truyện cũng là nội dung nổi bật của các nghiên cứu Do giới hạn tự truyện trong phạm vi văn học, hơn nữa, ranh giới giữa tự truyện
và tiểu thuyết cũng không dễ tách bạch do vậy, việc nhận diện tự truyện thường được thực hiện trong những nghiên cứu về tiểu thuyết Tiêu biểu cho các nghiên
Trang 18cứu này là bài viết Mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuật
trong văn học Việt Nam đương đại và luận án Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại của Đỗ Hải Ninh Trong các nghiên cứu này, quan niệm
về tự truyện và mối quan hệ giữa tự truyện với các thể loại gần kề như hồi ký, nhật
ký, tiểu thuyết được nhà nghiên cứu phân biệt khá rõ Đặc biệt là sự phân định phạm vi của tự truyện Theo tác giả: “Sự phức tạp trong nghiên cứu về tự truyện xuất phát từ nguyên nhân đây là thể loại có tính giáp ranh, nằm ở ngã tư của khoa học nhân văn, vừa gần gũi với triết học, lịch sử, tâm lý học vừa gắn bó mật thiết với văn học.Tự truyện (autobiography: Anh/ autobiographie: Pháp) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, bản thân thuật ngữ đã hàm chứa sự kết hợp ba yếu tố (auto: tự, bio: cuộc đời, graphy: viết) trong một thể loại Trong các định nghĩa đầu tiên, tự truyện được xác định là “câu chuyện cuộc đời của cá nhân do chính người đó kể lại” hay
“tiểu sử của một người do chính người đó chép lại” Bởi vậy có thể hiểu một cách đơn giản tự truyện là một thể loại tự sự mà tác giả tự viết về mình Về sau này, khi trở thành đối tượng quan tâm của văn học, tự truyện được xem là một thể loại văn học” [116, 103] Cách hiểu này đã mở rộng ranh giới của tự truyện Tự truyện sẽ không thuần túy chỉ là tự truyện văn học mà sẽ bao gồm những tác phẩm văn xuôi
“do một người có thật kể lại cuộc đời mình, đặt điểm nhấn lên lịch sử hình thành nhân cách cá nhân người tự thuật” Về mối quan hệ giữa tự truyện và tiểu thuyết, mặc dù xác định rõ sự khác biệt giữa tự truyện và tiểu thuyết ở tính chất hư cấu và phi hư cấu song cũng chính ở đây, ranh giới giữa chúng bị mờ nhòa do hiện tượng tiểu thuyết tự thuật Tuy vậy, tác giả cũng cho rằng văn học Việt Nam chưa có tiểu thuyết tự thuật (Do đặc điểm riêng về truyền thống văn hóa cũng như quan niệm văn học nên ở Việt Nam chưa hình thành dòng tiểu thuyết tự thuật như ở nhiều nước khác trên thế giới) mà chỉ coi hiện tượng tự truyện trong các tiểu thuyết đương đại là “khuynh hướng tự truyện” song ngay ở sự phân loại các hình thức tự thuật, tác giả đã xếp tiểu thuyết tự truyện là một nhóm loại, một khuynh hướng của tiểu
thuyết Theo đó những tác phẩm: Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải) là
những tiểu thuyết tự truyện Điều đó cho thấy sự tồn tại các đặc điểm tự truyện trong những tác phẩm này song chính người nghiên cứu cũng không thể khẳng định
Trang 19một cách hoàn toàn dứt khoát Tuy nhiên, nếu đặt điểm nhìn từ phía tự truyện, cũng
có thể sẽ thấy đây là những tự truyện mang danh tiểu thuyết hay tự truyện - tiểu thuyết bởi nếu chấp nhận yếu tố hư cấu như một tất yếu và nhân vật tôi - chủ thể luôn ở vị trí trung tâm thì những đặc điểm của tự truyện ở các tác phẩm này hoàn toàn được đảm bảo Và việc coi tiểu thuyết tự truyện là một nhóm loại tự truyện trong phạm vi văn học cũng không phải là không có căn cứ
Như vậy, cùng với việc dựa trên định nghĩa có sẵn về tự truyện để xác định những đặc điểm thể loại, việc coi nhu cầu nghiệm sinh cuộc sống của tác giả tự truyện cũng là một dấu hiệu để có thể nhận diện thể loại Theo đó,việc lấy giá trị văn học làm thước đo của tự truyện cũng cho thấy quan điểm coi tự truyện như một thể loại văn học Song chính vì thế lại giới hạn phạm vi của tự truyện, bởi chúng loại ra bên ngoài một lượng lớn các tác phẩm mà đặc trưng của nó cũng không ngoài các đặc điểm của tự truyện, khác chăng chúng hoặc không được viết bởi nhà văn hoặc được viết không vì mục đích văn học
Về vấn đề tự truyện trong văn học Việt Nam, căn cứ vào những đặc trưng thể loại, xu hướng khẳng định là chủ yếu và chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này bởi xét cho cùng, trong tự truyện, bằng cách này hay cách khác, lịch sử của cá nhân vẫn và luôn luôn được đặt ở trung tâm của sự kể, khác chăng là cá nhân - nhân cách ấy nhận diện bản sắc của mình ra sao Điều đó sẽ quy định việc bộc lộ bản thân như thế nào của chủ thể Hay nói cách khác, mỗi nền văn hóa sẽ kiến tạo nên những diện mạo tự truyện của riêng mình tùy thuộc vào nhu cầu và bản chất của nó
Không thể nói Những điều bộc lộ của J.J Rousseau là tự truyện còn Phan Bội Châu
niên biểu không phải là tự truyện khi cả hai đều lấy bản thân mình làm đối tượng và
sự lý giải nhân cách làm mục đích của sự kể
1.1.2 Nghiên cứu tác phẩm tự truyện cụ thể
Cùng với quan niệm khẳng định tự truyện đã có mặt trong đời sống văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ, việc chứng minh những đặc trưng thể loại trên những tác phẩm cụ thể là điều tất yếu Song do giới hạn tự truyện trong phạm vi văn học nên trọng tâm chú ý thường là các tác phẩm tự truyện của các nhà văn Mặc dù tinh thần
tự truyện đã xuất hiện trong văn học với Giấc mộng lớn của Tản Đà hay Phan Bội
Châu niên biểu của Phan Bội Châu song cho mãi đến hơn mười năm sau khi tiểu
Trang 20thuyết bước vào giai đoạn nở rộ và sự xuất hiện của Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Dã tràng của Thiết Can, Sống nhờ của mạnh Phú Tư, Mực mài nước mắt của Lan Khai, Cai của Vũ Bằng…thì sự nhận thức về tự truyện với tư cách là một thể
loại mới được bắt đầu Có thể coi Vũ Ngọc Phan là người viết về tự truyện đầu tiên, ông coi đó là một loại văn và gọi đích danh một tác phẩm là tự truyện Bài giới thiệu của ông về Thiết Can (Nguyễn Văn Xuân) là một dấu mốc: “Ông là tác giả tập
tự truyện Dã tràng và hai tiểu thuyết ngắn Cát bụi, Trinh nữ Tự truyện là loại văn
tuy không mới ở nước ngoài, nhưng rất mới ở nước ta Gần đây có mấy nhà văn đem việc của mình ra viết nhưng họ chưa có can đảm đề là tự truyện Họ “tiểu thuyết hóa” ít nhiều cuộc đời của họ và đề là tiểu thuyết” [143, 248] Đối với Vũ
Ngọc Phan, Dã tràng là một tự truyện: “người ta nhận thấy tập tự truyện này có giá
trị như một tập tiểu thuyết phong tục vậy” nhưng bởi những nguyên do nào đó mà tác giả đã không tự mình xác định thể loại Đặc điểm nổi bật của tự truyện là cái tôi,
là việc viết về mình của tác giả Ngoài ra, những nhận xét của ông về Nguyên Hồng
và Những ngày thơ ấu đã nêu ra vấn đề về quan niệm xã hội đối với tự truyện Nếu như với Dã tràng, Vũ Ngọc Phan cho rằng tác giả không dám xác nhận một cách trực tiếp mình chính là nhân vật thì ở Những ngày thơ ấu, ông lại cho rằng chính
nhà xuất bản lại rụt rè trước sự táo gan khi tác giả xác nhận luôn tên mình và câu chuyện của mình Điều đó chứng tỏ đối với tự truyện, bên cạnh bản lĩnh của người viết còn cần cả sự chấp nhận của xã hội nói chung Xã hội không định kiến thì cái tôi tự truyện mới có thể xuất hiện một cách đường hoàng Biểu hiện của điều ấy chính là việc ghi tên loại tự truyện ngay ở trang bìa Tất nhiên ở đây không bàn tới hiện tượng tác giả tung hỏa mù Nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan đã khẳng định sự tồn tại của thể loại trong đời sống văn học Việt Nam đồng thời cũng cho thấy vai trò
quan trọng của ý thức xã hội đối với thể loại
Những năm sau Cách mạng, tự truyện không xuất hiện cho đến tận cuối thế
kỷ 20 và tình hình nghiên cứu tự truyện vì thế cũng khá mờ nhạt Sang đầu thế kỷ
21, những chuyển động trong đời sống văn học và sự ra đời của các tác phẩm lấy đời tư của mình làm đối tượng viết đã khiến hoạt động nghiên cứu về tự truyện quay trở lại Các tác phẩm và tác giả thu hút sự quan tâm có thể kể đến là: Nguyễn
Khải và Thượng đế thì cười, Tô Hoài và Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Gia đình bé
Trang 21mọn của Dạ Ngân, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Một mình một ngựa và Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng, Yêu và Sống của
Lê Vân…Coi tự truyện như một hướng sáng tạo của tiểu thuyết, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung khẳng định chất tự truyện, phân tích yếu tố tự truyện như một thành công trong việc viết về sự thật và con người
Về hai tác phẩm Chiều chiều và Cát bụi chân ai của Tô Hoài, nhà nghiên
cứu Vương Trí Nhàn cho rằng đây là sự tiếp nối một mạch sáng tạo dồi dào của nhà văn, đó là những câu chuyện về mình, về những gì mình chứng kiến, mình suy nghĩ
và nếm trải được viết một cách trực tiếp Kể từ Cỏ dại, rồi Tự truyện, Tô Hoài đã tạo nên một dòng mạch riêng, đến Chiều chiều và Cát bụi chân ai, dòng mạch ấy được phát triển ở những chiều cạnh thú vị hơn “phải đến khi Cát bụi chân ai (và sau
đó là Chiều chiều) ra đời thì ngòi bút hồi ký của Tô Hoài mới thật có dịp tung
hoành giữa những chuyện đã sống qua để rồi dựng lên ngồn ngộn một bức tranh hoành tráng”[120] Theo tác giả, những bức tranh ấy chính là đời sống với cả mặt phải và mặt trái của nó Song nó vẫn là sự thật, sự thật của Tô Hoài, kiểu Tô Hoài:
“Biết chắc rằng những định kiến hôm qua vẫn chưa buông tha ngòi bút, ông không
hề hứa rằng mình nói thực tất cả, ông chỉ cố gắng nói ra điều có thể nói với những tốt và xấu, là sự thật như nó vốn có”[120] Sự thật kiểu Tô Hoài gắn với chính quan niệm: “Con người vốn không biết sợ là gì này đôi khi lấy ngay cả chính bản thân ra
để đùa bỡn Trong khi mọi người thích đưa ra tiếng nói cuối cùng về đời mình về đời những con người mà mình đã gặp trong đời thì ông chỉ cố nói những điều vừa nghĩ hôm nay đồng thời để ngỏ khả năng mai kia mình có thể nghĩ khác mà mọi người càng có thể nghĩ khác” [120] Và vì thế, theo nhà nghiên cứu, điều đó lý giải cho “lối viết hồi ký như vẫn viết văn xuôi” của Tô Hoài Về đặc điểm này, nhà
nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Tô Hoài – người sinh ra để viết cũng
nhận xét: “Cái nhìn không nghiêm trọng hóa là nét trội trong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài, nó khiến cho nhà văn dù viết ở thể loại nào đi chăng nữa vẫn thổi vào
đó chất tiểu thuyết mà Bakhtin đã từng nói đến Cái nhìn ấy càng rõ nét hơn trong
Cát bụi chân ai và Chiều chiều” [52, 19] Ngoài ra, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn còn cho rằng cách kể “lung linh, chờn vờn” về hiện thực và “lối viết phân
thân trong người có mình” là đặc điểm nổi bật
Trang 22Cùng quan niệm “Tô Hoài viết gì cũng ra tự truyện”, nhà văn Đặng Tiến
trong bài viết Tổng quan về hồi ký Tô Hoài lại lý giải yếu tố hấp dẫn của tự truyện
Tô Hoài là ở nghệ thuật ngôn từ đặc biệt là sự chú trọng chi tiết Theo ông, mỗi chữ,
mỗi câu của Tô Hoài chính là hồn cốt của sự vật.Trong Chiều chiều, từ ngữ cũng biểu hiện giọng điệu, thái độ và tình cảm của nhà văn, tính cách con người nhà văn
Bên cạnh các nghiên cứu này, việc quan sát Chiều chiều của Tô Hoài từ
phương diện thể loại cũng đã được thực hiện Theo đó, hình tượng tác giả và hình tượng nhân vật người kể chuyện là trọng tâm Trần Thị Mai Phương trong luận văn
Nhân vật người kể chuyện trong hồi ký, tự truyện Tô Hoài nhận xét: “Người kể
chuyện trong hồi ký, tự truyện Tô Hoài hiện lên với một bức chân dung chân thực,
đa diện: chân dung một nhà văn, nghệ sĩ, chân dung con người đời thường, chân dung một chứng nhân thời đại” [146, 98] hay trong luận văn Chiều chiều và những
đặc sắc về thể tiểu thuyết - tự truyện Tô Hoài, Lê Thị Biên coi tác giả, thời đại và
lịch sử là ba hình tượng nổi bật của tác phẩm này Như vậy, đối với Cát bụi chân ai
và Chiều chiều, bản thân đặc điểm thể loại của chúng là vấn đề không phải bàn cãi,
hầu như chúng đều được quan sát từ chính đặc trưng hoặc là hồi ký, hoặc lưỡng lự hơn là hồi ký - tự truyện, tiểu thuyết - tự truyện Cùng với đó, việc phân tích những đặc điểm của thể loại thể hiện trong tác phẩm đã cho thấy mối quan tâm của giới
nghiên cứu đối với thể loại
Khác với Chiều chiều, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải lại thu hút các
nhà nghiên cứu ở cả hai góc nhìn: góc nhìn tiểu thuyết và góc nhìn tự truyện Tiêu
biểu cho góc nhìn tự truyện là bài viết Đôi nét về Nguyễn Khải qua Thượng đế thì
cười của Đông La Trong bài viết này, trước khi quan sát chân dung Nguyễn Khải,
tác giả xác định thể loại: “Thượng đế thì cười” thực chất là một cuốn hồi ký nhưng
lại được viết theo hình thức của một tiểu thuyết; tức các nhân vật đều có thực, còn kết cấu, văn phong thì được viết theo kiểu tiểu thuyết” và vì thế, tác giả quan sát nhân vật “hắn” chính là quan sát Nguyễn Khải, phân tích Nguyễn Khải với tư cách
là một tác giả bộc lộ bản thân mình, có nghĩa là đọc Thượng đế thì cười với tư cách
là một tự truyện Điều này không phải người đọc nào cũng chấp nhận Hầu hết, các nhà nghiên cứu vẫn giữ thái độ lưỡng lự vừa đọc như tiểu thuyết, vừa đọc như tự
truyện Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào trong bài Tôi đọc “hắn” cho rằng Thượng
Trang 23đế thì cười vừa giống như một bản kiểm điểm của thế hệ những người quen sinh
hoạt tập thể như hắn, lại vừa giống như lời xưng tội của một con chiên” [43] Hay
đối với nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Thượng đế thì cười là một tiểu thuyết:
“Tác phẩm quan trọng nhất của ông lại chính là khi ông lấy mình làm nhân vật ẩn dưới đại từ nhân xưng “hắn” để kể lại chi tiết vẫn với giọng điệu tự thú toàn bộ hành trình nhà văn của mình Đó là cuốn tiểu thuyết đậm chất tự truyện có tên gọi
mang tính tôn giáo và triết học hơn cả của Nguyễn Khải: Thượng đế thì cười” [131]
Từ những đặc điểm của Thượng đế thì cười, các nghiên cứu cho rằng tự truyện là
một đặc điểm nằm trong cấu trúc nội tại của tác phẩm của ông
Cũng tương tự Thượng đế thì cười, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn,
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân cũng tạo ra hai cách đọc như vậy Thụy Khuê trong Bùi Ngọc Tấn, Chuyện kể năm 2000 một mặt cho rằng tác phẩm là tiểu thuyết bởi
nhờ thế, tác giả có thể sống nhiều cái tôi, đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau để quan sát cuộc đời mình, nhưng một mặt khác, vẫn khẳng định đó là một tự truyện bởi nhân vật vẫn giữ tên thật, tác giả đổi một vài tên đã xuất hiện trong tập hồi ức
Một thời để mất [95] Còn Lê Tú Anh trong bài: Tự truyện hay tiểu thuyết trong Gia
đình bé mọn, lại khẳng định: “Gia đình bé mọn rõ ràng là một tiểu thuyết Nhưng
không thể phủ nhận toàn bộ cuốn sách cứ toát lên hình bóng cuộc đời Dạ Ngân Vậy thì tại sao không thể nói rằng nó là một cuốn tự truyện” và “trong trường hợp này tự truyện dưới dạng tiểu thuyết là cuộc tìm kiếm thành công về mặt thể loại Như thế, đây là một tác phẩm mang tính phức thể Còn nếu gọi đó là một cuốn tự truyện thì cũng không hề làm giảm đi giá trị của nó” [3] Ở đây, việc đọc như tự truyện hay đọc như tiểu thuyết hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức và quan niệm của người đọc Song có một điểm chắc chắn là nếu đọc như tự truyện thì nhu cầu quy chiếu được đặt lên hàng đầu, và một khi, tác phẩm hoàn toàn đầy đủ khả năng quy chiếu như vậy thì dù dưới hình thức nào, nó vẫn có thể được gọi là tự truyện Đối với chúng tôi, điều đó không làm giảm đi giá trị của tác phẩm
Như vậy, những nghiên cứu tự truyện cho đến thời điểm hiện tại, hầu như chưa thoát khỏi những nhận diện về thể loại Và sự nhận diện đó dẫn đến một đặc điểm là quan sát mới chỉ dừng lại ở hành động đi tìm hình tượng tác giả mà chưa có những khám phá khác xuất phát từ chính đặc trưng của thể loại Điều đó một phần
Trang 24do bởi sự phát triển của thể loại chủ yếu ở khu vực văn học, nhưng một phần khác, cũng do ý thức xã hội chưa quen với sự có mặt của tự truyện như một phần tất yếu của đời sống con người Biểu hiện của nó là sự nước đôi, sự lưỡng lự trong nhìn nhận và đánh giá của chính nhà nghiên cứu, đặc biệt là sự nhìn nhận hầu như chỉ từ lăng kính văn học
Mặc dù vậy, việc coi tự truyện như một thực thể độc lập cũng đã được thực
thi với Yêu và Sống của Lê Vân qua công trình nghiên cứu của John C Schafer: Lê
Vân và những quan niệm về giới nữ Việt [155] Trong công trình này, tự truyện được quan sát từ một phương pháp hoàn toàn mới: lăng kính văn hóa và phân tích liên văn bản.Tự truyện của Lê Vân được nhận xét là một câu chuyện đầy truyền
cảm của một người phụ nữ trong hành trình khẳng định bản sắc: Tôi là tôi, là đàn
bà Nghiên cứu của Jonh C Schafer coi Yêu và Sống như một đường dẫn để từ đó
truy tìm những đặc trưng bản sắc về giới nữ trong truyền thống văn hóa Việt Nam
Từ đó khẳng đinh Lê Vân là một hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ hiện đại, vừa chịu sự chi phối mạnh mẽ của truyền thống văn hóa, vừa luôn tự vận động để khẳng định bản sắc cá nhân Và xa hơn, ông truy tìm những cấu trúc bất bình đẳng liên quan đến nam giới và nữ giới trong các văn bản văn hóa để hiểu sâu sắc hơn về những quan niệm bất bình đẳng giới đang tồn tại trong đời sống, chi phối nhận thức
và hành vi con người trong đời sống xã hội Việt Nam Dù mục đích nghiên cứu không hướng tới những đặc trưng thể loại nhưng nghiên cứu của Jonh C Schafer
đã một mặt khẳng định cái nhìn đối với tự truyện, mặt khác mở ra những hướng quan sát khác nhau đối với thể loại đặc biệt này
Quan sát quá trình nghiên cứu tự truyện có thể thấy, cho đến nay, nhận diện thể loại vẫn là vấn đề chưa đi đến hồi kết mặc dù hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận tự truyện đã có mặt trong đời sống văn học Việt Nam và hầu hết chúng đều được tiếp cận từ góc độ tiểu thuyết Tất nhiên điều này có liên quan đến thực tiễn của thể loại song cũng chính vì thế mà việc coi nó như một thể loại độc lập, việc tiếp cận nó với tư cách là một hình thức viết đặc trưng vẫn chưa được thực hiện Bài viết của Jonh C Schafer, vì vậy, vẫn là một ngoại lệ
Trang 251.2 Những nghiên cứu tự truyện từ các khía cạnh xã hội học
1.2.1 Về các điều kiện xã hội liên quan đến sự xuất hiện của tự truyện
Có lẽ, trong các công trình nghiên cứu về tự truyện, Đoàn Cầm Thi là người đặt ra nhiều vấn đề nhất Chị không chỉ dẫn các định nghĩa thể loại mà còn cố gắng
để mô tả các dấu hiệu thể loại trong quá trình vận hành của tự sự trong văn học Trong đó, theo chị, dấu hiệu về sự xuất hiện cái Tôi là những tiên báo mạnh mẽ đối với sự xuất hiện tự truyện Theo chị, vấn đề sự phát triển của ý thức cá nhân là thành tố quan trọng nhất để tự truyện phát triển ở Việt Nam Từ sự giới hạn:
“Những tự truyện hay nhất là những tác phẩm quyết liệt nhất trong cuộc đi tìm chân
lý cá nhân”, chị tập trung phân tích các điều kiện xã hội của sự xuất hiện tự truyện,
lý giải tại sao, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh là một “tự truyện bất thành” [174, 204] Những quan điểm của chị, thực sự là gợi ý quan trong trong việc xem xét tự truyện từ phương diện xã hội học Tất nhiên, trước Đoàn Cầm Thi, nhà văn Vũ Ngọc Phan cũng đã đặt ra vấn đề về mối liên hệ tác động giữa tự truyện và xã hội
trong công trình Nhà văn hiện đại (1940) Khi đánh giá về các dòng tiểu thuyết, ông
khá chú trọng tới một nhóm các tiểu thuyết mang dấu hiệu tự truyện Và hai tiểu
thuyết Những ngày thơ ấu và Dã tràng được ông gọi đích danh là tự truyện Song
điều quan trong hơn, đó là ông đã nhấn mạnh tới vai trò của môi trường xã hội tới
sự xuất hiện, sự thừa nhận loại tiểu thuyết này
Ông cho rằng: “Lối tự truyện này ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, ở Nga rất thịnh hành Nhưng ở Việt Nam ta, viết được tôi cho là can đảm lắm”[143, 564] và ông
khen cái táo gan của Nguyên Hồng khi viết Những ngày thơ ấu cũng như giải thích
vì sao nhân vật chính của tự truyện Dã tràng của Thiết Can lại không chỉ mang cái
tên na ná tên tác giả Song ông cũng giải thích vì sao hình thức thể loại đề trên bìa
của Những ngày thơ ấu lại là tiểu thuyết: “Có lẽ, nhà xuất bản Đời nay đã rụt rè
trước cái táo gan của tác giả, nên mới cho quyển tự truyện đội cái lốt mơ hồ bằng hai chữ tiểu thuyết ở ngoài”[143, 564] Ở đây, cái rụt rè của nhà xuất bản thực chất chính là phản ứng từ phía người tiếp nhận mà xuất bản là bước tiếp nhận đầu tiên trong hành trình tác phẩm đến với công chúng Ông còn bình luận thêm: “Thật thế, viết được tự truyện ở nước ta, tôi nói là viết thành thật - không phải dễ Phải trút bỏ tất cả những thành kiến đi, phải đặt mình lên trên tất cả dư luận, phải gột rửa cho kỹ
Trang 26lòng tự ái Rồi còn phải gì gì nữa chứ không phải chỉ viết thành lối tự truyện mà đã được Cái huênh hoang là cái tối kỵ trong tự truyện, nên nói được cái tôi chân thật
mà lại làm cho người đọc cảm thấy những điều thú vị khi đọc cái tôi của mình là một điều khó” [143, 565] Như thế, nhà nghiên cứu đã nói tới những điều kiện căn cốt của hoạt động tự truyện Đó chính là ý thức và thái độ của chủ thể trước bối cảnh xã hội Sự can đảm của các tác giả tự truyện theo cách giải thích của Vũ Ngọc Phan chính là phải vượt qua được định kiến, phải đặt mình lên trên dư luận Đó chính là những rào cản vô hình, những định chế vô hình ràng buộc tự truyện, làm cho hành vi tự truyện của chính tác giả bị đánh tráo Bản thân văn bản tác phẩm lại
bị định danh sang một hình thức khác
Loạt bài của nhà nghiên cứu Đoàn Cầm Thi mà chúng tôi dẫn ở trên đã phân tích khá tường tận về mối quan hệ giữa tự truyện và xã hội Chị thậm chí đã khẳng định rằng, tự truyện sở dĩ chưa xuất hiện ở Việt Nam thời điểm ấy (2004) là do nguyên nhân từ xã hội “Trong văn học Việt Nam, như ta đã thấy, có nhiều hồi ký nhưng chưa có tự truyện với nghĩa đầy đủ Và thực tế có phần khắt khe này có thể giải thích được bằng bản chất xã hội Việt Nam: khi viết tự truyện, tác giả công khai tên tuổi, tự do nói những điều mình nghĩ, rọi xuống cuộc đời mình một cái nhìn riêng, nhưng những điều khoản này đều vấp phải hai bước cản - đạo Khổng và chủ nghĩa tập thể” [174, 247] và chị cho rằng, khi cái tôi lên ngôi thực sự trong ý thức
xã hội, thì sớm muộn, tự truyện cũng sẽ xuất hiện Dấu hiệu lên ngôi của cái tôi được thể hiện qua các hiện tượng xã hội như các cơn sốt nhật ký, blog cá nhân trong giới trẻ, sự tiếp nhận nồng nhiệt các nhật ký chiến tranh…điều đó chứng tỏ những thay đổi trong ý thức xã hội Hay nói rõ hơn, đó là xu hướng đề cao cá nhân trong ý thức xã hội
Mô tả những điều kiện của sự xuất hiện khuynh hướng tự truyện trong văn học,
trong luận án Khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại, Đỗ Hải
Ninh cho rằng, các yếu tố tiền đề của sự nảy sinh và phát triển tự truyện bao gồm:
- Nhu cầu nhận thức về sự tồn tại của cá nhân trước những biến cố lịch sử xã hội và sự giải tỏa sau một khoảng thời gian dài bị kìm nén
- Sự khẳng định cái tôi cá nhân trong bối cảnh văn hóa đương đại trong đó, toàn cầu hóa, và giao lưu văn hóa, kinh tế thị trường có ý nghĩa thúc đẩy mạnh mẽ
Trang 27Những lý giải trên đã cụ thể hóa phần nào các điều kiện văn hóa căn bản của
sự xuất hiện và phát triển khuynh hướng tự truyện trong văn Việt Nam từ sau 1986 Song có lẽ các quan sát của tác giả chủ yếu tập trung vào những biến đổi nội tại của văn học hơn là các nhân tố bên ngoài Trong khi, trên thực tế, theo chúng tôi, những chuyển biến trong nhận thức xã hội, yếu tố kinh tế, văn hóa và sự thay đổi quan niệm chức năng của văn học cũng có những tác động không nhỏ tới sự phát triển của tự truyện hiện nay
Về yếu tố kinh tế, một nhận xét khá táo bạo của nhà nghiên cứu Lockhart
trong công trình Tự sự ngôi thứ nhất từ năm 1930 cho rằng: cái “tôi” chủ động xuất
hiện trong những năm 1930 là một kết quả của sự suy tàn của chế độ quân chủ và sự suy giảm của hệ thống Nho giáo; trong những năm 1980 sự bùng nổ xuất hiện được xem như kết quả của việc con người đã mỏi mệt với đời sống cá nhân bị trói buộc trong tập thể [155, dẫn theo] và theo Jonh Schafer: “Đổi mới đem lại cơ hội để lên tiếng vì chính quyền nhận thấy khó mà cản trở tự do nghệ thuật khi đã ủng hộ tự do kinh doanh” [155] Như thế, việc cái tôi bộc lộ mình một cách chủ động là hệ quả tất yếu của những thay đổi trong đời sống xã hội mà không thể chỉ trong ý thức văn học
1.2.2 Về tác giả và sự bộc lộ bản thân trong tự truyện
Tác giả - chủ thể của tự truyện sở dĩ có thể quan sát được là nhờ tính chất
“tam vị đồng nguyên” giữa tác giả - người kể chuyện - nhân vật chính Khía cạnh xã hội của sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện là ở chỗ chủ thể - người kể chuyện nhận thức về mối quan hệ giữa mình và xã hội như thế nào điều đó sẽ quyết định việc họ
kể về mình trong tự truyện ra sao
Về chủ thể trong tự truyện, Mai Vũ trong bài Viết tự truyện: nhu cầu hay
trách nhiệm nêu ra những vấn đề cần chú ý về mặt lý thuyết đối với chủ thể tự
truyện Ở bài viết này, tác giả đã khẳng định việc viết tự truyện là một nhu cầu và nhu cầu đó thuộc về tâm lý: “Kẻ viết tự truyện trước hết phải là kẻ có nhu cầu nói
sự thật, tạo dựng sự thật nào đó, hoặc ít ra là nó xuất hiện như kẻ có nhu cầu bức thiết ấy, bất kể diện trường sống mà nó muốn phô diễn rộng hẹp thế nào” [188] Cũng ở đây, khái niệm chủ thể tự truyện được tác giả phân biệt và giới hạn Trước tiên là sự xác định giới hạn về đối tượng nhận thức: Chủ thể tự truyện (…) muốn tái tạo lại “văn bản quá khứ” trong tính toàn vẹn của nó, nó muốn giới hạn và giải thích
Trang 28quá khứ của nó bằng lí lịch của mình” Bên cạnh đó, chủ thể tự truyện “còn phát hiện về người khác, đọc người khác, cái khác qua lịch sử của mình, cuộc đời mình” [188] Sự phân biệt này cho thấy tính chủ quan của những gì được viết ra trong tự truyện Chủ thể, như thế vừa hiện diện ở những gì được viết, vừa ở mục đích của sự viết Ở phương diện hình thức, đặc điểm của chủ thể là: “một mặt được đồng nhất với chủ thể tiểu sử, chủ thể sáng tạo, mặt khác nó là sản phẩm của sự sáng tạo, một chủ thể phát ngôn, sinh ra cùng với phát ngôn, chỉ tồn tại trong phát ngôn của chính
nó mà thôi” [188] Sự phân biệt này là hoàn toàn hữu ích đối với việc đọc và nghiên cứu nội dung của tự truyện bởi nói cho cùng, không thể có sự trùng khít hoàn toàn giữa tác giả ngoài đời và nhân vật hay người kể chuyện trong sản phẩm mà họ viết ra Việc khảo sát sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện của chúng tôi thực chất là đi tìm chủ thể trong văn bản Song cái chủ thể được bộc lộ trong văn bản ấy là hình ảnh khúc xạ của tác giả thực ngoài đời với những đặc điểm về tâm lý, nhận thức và xã hội Vì thể,
sự tham chiếu một chủ thể văn bản với một tác giả tiểu sử vẫn là cần thiết
Khảo sát sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện thường được các nhà nghiên cứu tìm hiểu qua các khía cạnh: người kể chuyện, hình tượng tác giả, cái tôi tác giả
Về người kể chuyện, luận văn Nhân vật người kể chuyện trong hồi ký và tự
truyện Tô Hoài của Trần Thị Mai Phương là một nghiên cứu tiêu biểu Luận văn mô
tả nhân vật người kể chuyện từ hai phương diện: hình tượng và ngôn ngữ, giọng điệu Theo đó, chân dung người kể chuyện Tô Hoài được mô tả: “Một bức chân dung chân thực, đa diện: chân dung một nhà văn - nghệ sĩ, chân dung một con người đời thường, chân dung một chứng nhân thời đại Ở phương diện nào, người
kể chuyện Tô Hoài cũng thể hiện tính cách của một con người cầu thị, nghiêm túc, luôn trăn trở truy tìm sự thật, luôn muốn sống cho thật cận nhân tình” [146, 98] Những miêu tả đó một mặt cho thấy tính cách và con người Tô Hoài, mặt khác là sự khẳng định việc quan sát tự truyện từ chính những đặc trưng thể loại của nó luôn là một hướng đi đúng đắn Tuy vậy, phân tích nội dung tác phẩm để chỉ ra đặc điểm tính cách như vậy dễ làm quên đi những yếu tố chủ quan của tác giả trong việc kiến tạo nên hình ảnh về bản thân trong khi chính điều đó quyết định việc chủ thể sẽ viết
về mình như thế nào
Trang 29Tương tự nghiên cứu của Trần Thị Mai Phương, Phan Thị Lúy trong luận
văn Hồi ký, tự truyện của Nguyễn Khải khảo sát về chủ thể thông qua hình tượng
tác giả mà biểu hiện của hình tượng đó là người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “tôi”
và ngôi thứ ba “hắn” Từ đây, nghiên cứu đi vào sự phân tích và mô tả về “tôi” và
“hắn” trong sự quy chiếu với chính Nguyễn Khải Những đặc điểm về cuộc đời, con người và sự nghiệp của Nguyễn Khải cùng lúc được giải thích một cách cặn kẽ Theo tác giả chúng chính là một “cánh cửa mở ngỏ để người đọc có thể đi vào các sáng tác của Nguyễn Khải qua lối mở của chính nhà văn” [108, 113] Tự truyện và hồi ký lúc này, không chỉ mang giá trị văn học, nó là tư liệu, là con đường bước vào
thế giới riêng tư của tác giả Đặc biệt, nhà nghiên cứu Đông La trong Đôi nét về
Nguyễn Khải qua Thượng đế thì cười đã thông qua những gì nhà văn kể mà khái
quát về cuộc đời và văn nghiệp Nguyễn Khải, cá tính Nguyễn Khải
Cái tôi là một khía cạnh biểu hiện của chủ thể Về cái tôi tự truyện nói
chung, Đoàn Cầm Thi trong bài trả lời phỏng vấn: Tương lai tự truyện Việt Nam
còn ở phía trước? chị phân tích: chữ “tôi” trong tự truyện thường là một đại từ
trung lập chỉ con người trong nghĩa triết học (tức là con người đối mặt với vũ trụ) khác với đại từ ngôi thứ nhất số ít chỉ mối quan hệ với tha nhân như “tao”, “anh”,
“em” Từ quan niệm này, nhận xét về Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, chị
cho rằng “ Bảy thập kỷ sau, có thể nói ông vẫn là người đi xa nhất trong việc tìm kiếm cái tôi” [174, 245] Sở dĩ như vậy là bởi Nguyên Hồng đã không ngần ngại viết về mình, về tuổi ấu thơ nghịch ngợm, lang thang, về một người cha nghiện ngập, một người mẹ “theo trai”…nghĩa là những điều mà theo lẽ thường “tốt đẹp phô ra” trong văn hóa Việt Nam, thường được giấu kín Điều đó tạo nên một cái tôi riêng biệt, độc đáo của Nguyên Hồng Quan niệm của Đoàm Cầm Thi gợi ý cho việc quan sát cái tôi chủ thể trong tự truyện Mỗi tác giả khi kể về mình thực chất chính là sự viết lại cái tôi của mình, viết về hành trình hình thành nên “tôi” của ngày hôm nay Song có một điều tuổi tác, thế hệ và những trải nghiệm đời người cũng có những chi phối nhất định tới việc nhận thức về cái tôi bởi không thể có một cá nhân nào đứng ngoài nhóm, ngoài tập thể, xã hội của mình Khi phân tích cái tôi của Lê
Vân trong Yêu và Sống, nhà nghiên cứu Jonh C Schafer, cho rằng: “Cô chấp nhận
một số ý niệm truyền thống về nữ giới nhưng chỉnh sửa hoặc từ chối một số khác”
Trang 30[155] Có nghĩa rằng, Lê Vân một mặt chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quan niệm truyền thống Việt Nam về người phụ nữ song cũng là một cái tôi cá nhân ở khả năng “tự vận động” để xác lập một quan điểm riêng, một tiếng nói, một cách nói riêng Chúng làm nên động lực cá nhân của hành động tự truyện của Lê Vân Tự truyện của chị vì thế là hành trình khẳng định bản sắc cá nhân của một người phụ
nữ trong bối cảnh văn hóa Việt Nam
Nói tới tự truyện là nói tới chân dung của tác giả - chủ thể của tự truyện song quan sát sự bộc lộ ấy không chỉ là việc phân tích hình ảnh hay hình tượng tác giả
mà phải là phân tích sự viết của họ Vì vậy, bên cạnh việc đi tìm điểm xuất phát của việc trả lời câu hỏi “tôi là ai” của chủ thể là việc chỉ ra những cách thức tương ứng
mà tác giả lựa chọn để tự truyện.Về vấn đề này, từ những nghiên cứu về khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết, Đỗ Hải Ninh cho rằng tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện là một phương thức ứng xử với sự thật của các nhà văn Tác giả giải thích: “viết tự truyện tưởng chừng đơn giản nhưng lại không hề dễ, nhất là trong nền văn hóa có truyền thống tương đối khép kín như Việt Nam Hơn nữa, suốt một thời kỳ dài, do những áp lực của cơ chế kiểm duyệt, mỗi người cầm bút phải tự kiểm duyệt trước khi viết và trước khi xuất bản tác phẩm Đây chính là thái độ mà Dương Tường chỉ ra: sự ham muốn an toàn và ngại đương đầu của trí thức Việt Nam trước thời cuộc Chính vì vậy, sự lựa chọn tiểu thuyết thay vì các thể loại phi
hư cấu (tự truyện, hồi ký) là cách từ chối cam kết “chỉ nói thật” của nhà văn” [115, 135] Như vậy, hình thức tiểu thuyết là cách thức bộc lộ sự thật của chủ thể nhà văn theo quan niệm của Đỗ Hải Ninh Với hình thức này, nhà văn được quyền “từ chối cam kết” song vẫn có thể nói được những điều cần thiết Từ lăng kính của sự bộc lộ chủ thể, theo chúng tôi, cho dù là một phép ứng xử với sự thật, dù né tránh cam kết nhưng những mâu thuẫn trong chính các câu trả lời về bản thân của chủ thể sẽ luôn hiện hữu Chúng xuất hiện ngay trong hình thức của tự truyện, trong điểm nhìn, ngôi kể, trong thái độ và giọng điệu của người kể chuyện Do đó, tìm hiểu sự bộc lộ chủ thể trong tự truyện phải bao gồm cả hai phương diện nội dung và hình thức
1.2.3 Về hoạt động tiếp nhận tự truyện
Hoạt động tiếp nhận trong quan niệm xã hội học văn học của R Escarpit là một quá trình trong toàn bộ quá trình văn học bao gồm các khâu xuất bản, phát hành
Trang 31và tiêu thụ Hiện không nhiều các nghiên cứu tự truyện ở khía cạnh này Thậm chí nếu có cũng chỉ là một ý kiến mà chưa thể là một lý giải đầy đủ và đúng nghĩa
Trước hết phải kể đến ý kiến của Jonh C Schafer về tự truyện Lê Vân: “Đổi mới đem lại cơ hội để lên tiếng vì chính quyền nhận thấy khó mà cản trở tự do nghệ thuật khi đã ủng hộ tự do kinh doanh Các nhà xuất bản đã không còn nguồn bao cấp từ nhà nước phải tìm cách in những cuốn sách mà mọi người sẽ mua, và họ đã thấy những cuốn tự truyện bán rất chạy” [155] Hướng tới kinh tế thị trường rõ ràng
là một yếu tố trong việc xuất bản Yêu và Sống Yếu tố kinh tế thị trường là căn
nguyên của sự xuất bản tự truyện hiện nay, điều đó là một thực tế Bởi chúng thu hút khá nhiều sự tò mò Theo quan niệm của R Escarpit, vấn đề lợi nhuận là việc làm có ý thức, là một mục tiêu của xuất bản: “Đây là việc một tác phẩm được mang
ra công bố là một quá trình có ý thức và có tính chất thô bạo bởi nó đi từ sự bí ẩn của quá trình sáng tạo nghệ thuật ra ánh sáng vô danh nơi công cộng Ở đây, bạo lực được chấp thuận, sự làm uế tạp vật thiêng được thực hiện một cách có ý thức, mà điều này còn tồi tệ hơn nữa bởi trong đó còn có vấn đề lợi nhuận tầm thường”[178, 363] Như thế, không thể phủ nhận việc xuất bản tự truyện vì mục đích kinh tế Yêu
và Sống của Lê Vân trước hết là một hiện tượng xuất bản cũng bởi lý do này Tuy
nhiên,vai trò của nhà xuất bản bên cạnh mục đích kinh tế còn là mục đích văn hóa,
là nhiệm vụ định hướng giá trị Song để hiểu được sự định hướng đó đã diễn ra như thế nào lại cần phải có cái nhìn bao quát cùng với những thống kê cụ thể
Về công chúng của tự truyện, bài viết của của nhà nghiên cứu Vương Trí
Nhàn Nhân đọc Lê Vân yêu và sống nghĩ thêm về sách và công chúng thời nay đã
cho thấy sự chú ý của người nghiên cứu đến vấn đề này Ông nhận xét: “Dấu hiệu
rõ nhất đánh dấu sức chinh phục của Lê Vân yêu và sống là công chúng không chỉ
mua nó đọc nó mà còn bàn bạc về nó rất nhiều Mở các trang báo kỳ này, người ta
có thể bắt gặp rất nhiều bài viết bàn bạc về Lê Vân và với Lê Vân như là bàn chuyện của gia đình mình, người quen của mình Qua việc nhiều bạn đọc tham gia
thảo luận về Lê Vân yêu và sống, người ta nhận ra rằng rút cuộc tự truyện thường
khi không phải là chuyện riêng của một người mà là chuyện của thời đại” [121] Ở đây, nhà nghiên cứu đã phát hiện ra mối quan hệ giữa tác giả và công chúng hiện nay đã thay đổi Sự bình đẳng và dân chủ trở thành đặc điểm nổi trội Sở dĩ như vậy
Trang 32một phần do ảnh hưởng của giao lưu văn hóa với phương Tây, một phần khác, chính là bởi người viết đã lựa chọn vị trí đứng ngang hàng cùng người đọc: “Lâu nay, các hồi ký chỉ nặng về tô vẽ cho bản thân người viết Nay thì Lê Vân hiện ra qua các trang sách như một con người đầy băn khoăn hối lỗi và khắc khoải đi tìm bản thân” [121] Mối quan hệ giữa Lê Vân và người đọc là mối quan hệ bình đẳng giữa cá nhân và cá nhân Thêm nữa, nó cũng lại là câu chuyện của đương thời cho nên giữa người đọc và tác giả càng có nhiều điểm tương đồng Đó là lý do vì sao công chúng bàn về Lê Vân và chuyện của Lê vân như là chuyện của mình Có lẽ đây chính là đặc thù của mối quan hệ tác giả và công chúng của tự truyện Khi đọc
tự truyện, người đọc nhận ra quyền của mình Chính tác giả là người trao cho họ cái quyền đó khi bày tỏ cam kết những gì nói ra sẽ là sự thật
Tuy nhiên, ngoài những nhận xét trên, hầu như chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về sự tiếp nhận đối với tự truyện được tiến hành mặc dù hoạt động tiếp nhận thể loại này với những đặc điểm về tâm lý, nhu cầu, tầm đón đợi của công chúng trên thực tế là khá phong phú Nếu khảo sát thực tế này sẽ cho thấy bức tranh chung về hiện thực tự truyện đồng thời phần nào lý giải những đặc điểm nhất định của tự truyện Việt Nam đương đại
Như vậy, hoạt động tiếp nhận tự truyện hầu như vẫn là một khoảng đất còn
bỏ trống Những nhận xét về các hiện tượng xuất bản liên quan tới tự truyện cũng mới chỉ dừng lại ở sự giải thích lý do xã hội của tự truyện mà chưa có những bằng chứng cụ thể Về công chúng của tự truyện và sự đọc cũng vậy Có lẽ đây là thể loại chưa thực sự quen thuộc với người đọc cho nên sẽ khó có thể nói là đã có nhóm công chúng riêng biệt của mình Tuy nhiên, những cách đọc khác nhau đối với tự truyện kể từ khi thể loại này xuất hiện trong đời sống và trong văn học Việt Nam là
một hiện thực khá phong phú Bằng chứng là những cuộc tranh luận sôi nổi về Yêu
và Sống của Lê Vân trên các báo sau khi tác phẩm ra đời Điều đó cho thấy tự
truyện đã bắt đầu có độc giả riêng Nghiên cứu của chúng tôi với tinh thần đi tìm mối liên hệ giữa thể loại và đời sống xã hội không thể bỏ qua khía cạnh này
Tiểu kết: Tự truyện dù manh nha từ khá sớm ở Việt Nam song bởi những
đứt đoạn nhất định trong quá trình phát triển nên nó chưa thực sự trở thành đối tượng riêng biệt của nghiên cứu văn học Chỉ sang đầu thế kỷ 21, những quan tâm
Trang 33về nó mới được bắt đầu Bởi thế, kết quả nghiên cứu về tự truyện mới dừng lại ở sự nhận diện về thể loại và đi tìm gương mặt của nó trong đời sống văn học, coi nó như một biểu hiện của xu hướng đổi mới trong tư duy văn học Đối với từng tác phẩm cụ thể, việc lý giải tự truyện cũng không nằm ngoài giới hạn này Tuy nhiên,
sự phát triển của tự truyện đã không hoàn toàn khuôn mình trong phạm vi văn học
và vì thế chúng đòi hỏi một quan sát rộng rãi hơn, linh hoạt hơn, đủ để lý giải hiện trạng thực tế của thể loại
Mặc dù vậy, từ phương diện xã hội học, những nhận xét bước đầu về tự truyện lại có ý nghĩa quan trọng Sự quan tâm đến bối cảnh xã hội như là những điều kiện để cá nhân bộc lộ bản sắc, việc phân tích những biểu hiện của cái tôi trong trong văn học, sự lý giải mối quan hệ giữa ý thức hệ và khả năng nói về cá nhân và
sự thật, những phân tích về chủ thể - tác giả ở từng tác phẩm…là những gợi ý xác đáng để chúng tôi có thể nghiên cứu quá trình thứ nhất của hiện tượng này: quá trình tạo lập Bên cạnh đó, quá trình thứ hai, quá trình tiếp nhận tự truyện ở Việt Nam cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được chú ý như: hoạt động xuất bản và vai trò của nó trong thời kỳ kinh tế thị trường, những quan điểm diễn giải và tác động của chúng đối với tác giả và thể loại… Chúng cho thấy việc quan sát tự truyện không thể chỉ bó hẹp ở phạm vi văn bản tác phẩm mà phải quan sát nó với tư cách là một
sự thực văn học với cả hai quá trình đã nói trên Thêm vào đó, ở mỗi quá trình, tinh thần dân chủ phải được xem như hạt nhân cơ bản của sự phát triển của thể loại bởi chỉ dân chủ xã hội mới tạo ra không gian tiềm năng của tự truyện và thúc đẩy ý thức
tự truyện của các chủ thể
Trang 34CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TỰ
TRUYỆN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
2.1 Quan niệm về tự truyện
2.1.1 Những định nghĩa tự truyện
Với ý nghĩa là câu chuyện của một người tự kể về mình, tự truyện đã có mặt trong đời sống văn hóa của con người từ rất sớm và tồn tại trong nhiều dạng thức khác nhau Chính vì thế, đi tìm một định nghĩa về tự truyện có thể bao quát được hầu khắp các dạng thức của thể loại này không phải là điều dễ dàng Hơn nữa, với mỗi nền văn hóa, thậm chí với mỗi cá nhân khi cầm bút viết tự truyện, quan niệm
về “câu chuyện tự kể” này cũng không hoàn toàn đồng nhất Điều đó làm cho những định nghĩa về tự truyện trở thành một loại khuôn mẫu không đủ bao quát bức tranh sinh động của bản thân thể loại Để có được một cách hiểu đầy đủ nhất về tự truyện, chúng tôi sẽ trình bày sau đây một số quan niệm về tự truyện vừa từ góc nhìn văn học vừa từ góc nhìn phi văn hoc trên cơ sở đó xác lập những đặc điểm cơ bản làm căn cứ nhận diện và khảo sát
Trước tiên là định nghĩa của Đỗ Đức Hiểu được nêu trong Từ điển văn học
(Bộ mới): “Tự truyện là thể loại văn học trong đó tác giả kể chuyện về cuộc đời mình Nhân vật chính của truyện chính là tác giả Tự truyện ở Phương Tây đặc biệt phát triển với sự phát triển của nội quan, con người quan sát lương tâm mình” [134, 1905] Tác giả lấy ý kiến của P Lejeune, nhà nghiên cứu tự truyện Pháp, để cụ thể hóa: “Tự truyện thường là những câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả, có thể gần trọn cuộc đời, có thể thời thơ ấu hoặc thời phiêu lưu người kể chuyện trùng với tác giả hoặc nhân vật chính” Ông cũng xác lập một
số điểm giáp ranh giữa tự truyện với các thể loại như: giáp ranh với tiểu thuyết ở đặc điểm người kể chuyện ngôi thứ nhất, với hồi ký và nhật ký ở đặc điểm về cái nhìn nội quan, và thái độ tự vấn Đặc biệt, một tiêu chuẩn hết sức quan trọng là: tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết Thế nhưng, dường như vẫn còn băn khoăn, nhà nghiên cứu lại viết thêm: “Tự truyện là một thể loại văn học rộng mở có thể bao gồm những kỷ
Trang 35niệm, nhật ký, những truyện ngắn có nguồn gốc từ cuộc đời tác giả, gọi là tiểu thuyết tự truyện, có thể kể theo phương thức dòng tư tưởng” [134, 1905]
Một định nghĩa khác về tự truyện được nêu trong Từ điển thuật ngữ văn học:
Tự truyện là “tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự do tác giả tự viết về cuộc đời mình [69, 389] Tự truyện được phân biệt với bản tự thuật về tiểu sử nhà văn ở chỗ:
“tự thuật yêu cầu trình bày một cách súc tích những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời nhà văn, tự truyện lại yêu cầu nhà văn tái hiện đoạn đời đã qua của mình trong tính toàn vẹn, cụ thể cảm tính, phù hợp với một lý tưởng xã hội - thẩm mĩ nhất định
Tự thuật là sự thông báo về quá khứ, tự truyện lại là tác phẩm nghệ thuật làm cho quá khứ tái sinh Nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình Tự thuật đòi hỏi người viết phải hết sức tôn trọng tính xác thực của
sự kiện, trong tự truyện, tiểu sử nhà văn chỉ đóng vai trò cơ sở của sáng tạo nghệ thuật” [69, 389]
Điểm gặp gỡ của hai định nghĩa trên là ở chỗ ngoài việc xác định đặc trưng: trình bày những sự kiện đã qua trong cuộc đời tác giả, do tác giả kể từ ngôi thứ nhất
là một chú dẫn hết sức quan trọng, đó là sự nhấn mạnh tính nghệ thuật biểu hiện ở việc coi tự truyện “là tác phẩm nghệ thuật, làm cho quá khứ tái sinh”, ở việc “được
bố trí như một truyện, một tiểu thuyết” Điều đó thể hiện mục đích của tác giả là sự nhấn mạnh tính chất văn học của tự truyện
Tuy nhiên, thực tế phát triển phong phú của thể loại, đặc biệt là sự nở rộ của phong trào tự truyện trong đời sống và những tác động của nó tới nhiều mặt của xã hội đòi hỏi một cái nhìn về tự truyện rộng rãi hơn, ngõ hầu có thể bao quát được toàn bộ các phương diện khác nhau của thể loại Định nghĩa của P Lejeune, nhà
nghiên cứu tự truyện Pháp trong Công ước tự thuật có thể đáp ứng được điều này
Theo ông, tự truyện là “Câu chuyện hồi cố bằng văn xuôi được viết bởi một người có thật kể lại cuộc đời riêng của mình, lấy trọng tâm là đời sống cá nhân, đặc biệt đặt điểm nhấn lên lịch sử hình thành nhân cách cá nhân người tự thuật”[84, 168] Đồng thời nó phải hội tụ đầy đủ các dấu hiệu:
- Về hình thức ngôn ngữ: thuộc dạng văn xuôi tự sự
- Về đối tương kể: cuộc sống cá nhân, câu chuyện về một nhân cách
Trang 36- Về tình huống tác giả: Tác giả phải là một người có thật với một cái tên cụ thể đồng thời cũng là người kể chuyện
- Về vị trí của người kể chuyện: người kể chuyện và nhân vật chính trùng làm một
- Điểm nhìn của người kể chuyện: Là sự đi ngược dòng thời gian, là hồi ức Cũng trong tiểu luận này, ông phân biệt những điểm giống và khác nhau giữa
tự truyện và các hình thức viết tương tự như: hồi ký, tiểu sử, tiểu thuyết cá nhân, chân dung tự họa, thơ tự sự…để từ đó nhấn mạnh, tự truyện phải là sự hội tụ đầy đủ các dấu hiệu trên mà không thể chỉ là sự hợp thành của một trong số chúng
Góc nhìn khác về tự truyện được nêu trong Dẫn giải ý tưởng văn chương
của Henry Benac, một cuốn cẩm nang về văn học, mang đến cách hiểu khá rộng rãi:
“tự truyện là kiểu tác phẩm trong đó một tác giả nói về chính mình và cuộc đời mình, dù cho chúng được viết dưới hình thức nào Chúng có thể là những hồi ký, tự thú, suy ngẫm triết học, những hồi ký, nhật ký riêng tư, phản tự truyện” [17, 66] Ông cũng giải thích về những căn nguyên tâm lý của thể loại, những lợi ích xã hội
và các vấn đề đặt ra đối với việc sáng tác và nghiên cứu thể loại này Với góc nhìn này, phạm vi thể loại được mở rộng ranh giới Đặc điểm được chú trọng là đặc điểm
về nội dung: tác giả nói về chính mình và cuộc đời mình Ở đây, tác giả và sự thật
đã hòa làm một Các dấu hiệu hình thức được đưa xuống vị trí thứ yếu
Như vậy, hiểu về tự truyện tồn tại hai góc nhìn: góc nhìn văn học nhấn mạnh các phẩm chất tạo nên tính văn học của tự truyện như: sự hoàn chỉnh, tính chất tái tạo quá khứ và góc nhìn rộng hơn, coi tự truyện như một thể loại văn xuôi viết về bản thân của tác giả mà không chú trọng các phẩm chất văn học Hai góc nhìn này cho thấy hình ảnh đầy tính nước đôi của thể loại trong đời sống thực tiễn Một mặt,
đi theo con đường của sáng tạo văn học, dung nạp vào mình những đặc tính của văn học như tính đa nghĩa, tính hư cấu, một mặt khác lại cố gắng bảo lưu các đặc tính phi hư cấu, mở rộng khả năng quy chiếu và hướng đến các chức năng đời sống như chức năng giáo dục, chức năng tâm lý
Để có thể bao quát toàn bộ thực tiễn của thể loại, chúng tôi cho rằng, việc nới rộng quan niệm về tự truyện là điều cần thiết Theo đó, coi tự truyện như một thể loại văn xuôi mà ở đó tính văn học luôn là một phẩm chất cần thiết để đánh giá
Trang 37và phân loại giá trị của tác phẩm bởi vì xét cho cùng, viết đã là một hành trình đi tìm ý nghĩa cho những gì được kể, và đó phần nào đã là văn học Hơn nữa, bản thân giá trị văn học cũng là một hành trình lựa chọn và kiến tạo mà không phải bao giờ cũng là những thước đo cố định và áp đặt
Phần viết sau đây là sự cụ thể hóa các đặc trưng cơ bản làm cơ sở để chúng tôi thực hiện việc khảo sát tự truyện Việt Nam đương đại
2.1.2 Đặc trưng của tự truyện
2.1.2.1 Đặc trưng về tác giả - chủ thể tự truyện
Theo quan điểm triết học, chủ thể là con người hoạt động tích cực và nhận thức, có ý thức và ý chí (đối lập với khách thể là cái mà hoạt động nhận thức và hoạt động khác của chủ thể hướng vào đó) Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong lịch sử triết học có nhiều quan niệm khác nhau song bản thân nội hàm khái niệm chủ thể thì không thay đổi Thậm chí chúng bổ sung cho nhau làm phong phú thêm nội hàm ý nghĩa chủ thể Nếu quan niệm Mác xit nhấn mạnh tính chủ động, tích cực và khách quan trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể thì quan niệm duy tâm cho rằng “tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể và bản thân sự tồn tại của khách thể là bắt nguồn từ hoạt động của chủ thể” [139, 92] Đó là chủ thể ý hướng tới khách thể Nhờ hoạt động nhận thức của chủ thể mà khách thể tồn tại Và như vậy, nói tới chủ thể là nói tới hoạt động nhận thức tích cực, chủ quan, là ý thức hướng tới thế giới của con người Đây là cơ sở của các khái niệm chủ thể trong tất
cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tất nhiên, chủ thể không tồn tại độc lập mà trong mối quan hệ giữa nó với khách thể và bối cảnh xã hội
Trong lĩnh vực văn học, chủ thể đồng nghĩa với tác giả, người viết nên tác phẩm văn học, người tạo ra một thế giới khách quan mang ý hướng của chính mình Bởi thế, tác phẩm văn học luôn là một “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, duy nhất, không lặp lại Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm tác giả văn học còn được nhấn mạnh ở tính giá trị của hành động sáng tạo, đó là “người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới” [69, 289] Và như thế, tác giả tự truyện cũng là chủ thể tự truyện, chủ thể của hành động viết về bản thân của mình
Đối tượng nhận thức của chủ thể tự truyện là sự thật về bản thân mà theo P Lejeune là lịch sử hình thành nhân cách cá nhân người tự thuật Đây là đặc trưng
Trang 38quan trọng nhất giúp người đọc nhận ra tự truyện Tuy nhiên, xung quanh câu hỏi
Sự thật là gì đã diễn ra nhiều tranh luận khác nhau bởi nó mang một nội hàm rộng
mở và có thể được đặt trong nhiều hệ quy chiếu khác nhau
Ở nghĩa thứ nhất, sự thật được đặt trong hệ quy chiếu với hiện thực, nó được coi là những sự việc đã diễn ra trong một không gian, thời gian xác định, có thể quy chiếu với các bằng chứng nhất định Ở các nghĩa khác, sự thật có nghĩa là không dối trá, sự thật là chân lý của tồn tại khách quan, sự thật là tự do, sự thật là sự đích thực,
sự thật là không hư cấu (trong khi chỉ hư cấu mới đạt đến sự thật),…Những ý nghĩa
ấy đã trở thành đề tài tranh luận trải dài suốt các chặng đường sáng tạo và kiếm tìm
sự thật của không chỉ văn chương Nathalia Sarraute trong suốt cuộc đời mình luôn
đi tìm “giây phút của sự thật” như là cái đích thực luôn bị che dấu trong hàng ngàn khuôn mẫu ngôn từ, J.P Sartre tìm con người đích thực trong mối quan hệ với tự
do, A R Grillet tìm sự thật trong không - sự thật mọi ngả đường cuối cùng đều dẫn đến nhận thức rằng: sự thật về bản thân là bất khả, không thể có một sự thật ổn định, bất biến, chỉ có những sự thật “mong manh, chuyển động và nhanh chóng bị phá bỏ” [84, 164] và không thể mô tả sự thật, chỉ có diễn giải sự thật mà thôi Cuộc phiêu lưu đi tìm sự thật của văn chương vì thế vẫn chưa bao giờ dừng lại
Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu tự truyện, như P Lejeune, sự thật là những gì diễn ra trong thực tế Biểu hiện của sự thật trong tự truyện trước nhất, đó là: nó phải là một chân dung trung thành về tác giả Theo P.Lejeune, “Khi đọc xong cuốn sách độc giả sẽ có một chân dung của tác giả, một hình dung tổng thể về đời sống gia đình, xã hội, tâm lý Độc giả tin rằng đó là một chân dung trung thành, chính xác, ổn định với những yếu tố cố kết vững chắc Độc giả cũng có thể tìm thấy những diễn giải nhằm làm sáng tỏ lôgic và quá trình hình thành tác giả trong tư cách
là tác giả” [84,170] Người đọc có thể quy chiếu đời tư tác giả với nội dung câu chuyện Trong tự truyện, theo ông, luôn có cam kết ngầm giữa nhà văn và độc giả
“Tôi thề sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật, không có gì khác ngoài sự thật” [84, 171]
Đó là bản giao kèo, là công ước tự thuật Chúng là chiếc neo vừa mong manh, vừa vững chắc, tạo nên niềm tin đồng thời cũng là mối dây ràng buộc giữa tác giả và người đọc Người đọc vì thế, dẫu không có nhiều bằng chứng của sự thật vẫn tin rằng đang được đối diện với một sự thật thực sự
Trang 39Ở điểm này, tính chất quy chiếu còn cho phép những sự thật ngoài bản thân,
sự thật về thời đại từ góc nhìn cá nhân, sự thật về người khác cũng được chấp nhận Những chi tiết về gia đình, dòng họ, tổ tiên… đều là những căn cứ để xác định tính chất tự thuật của tác phẩm
Bên cạnh đó, sự thật của tự truyện còn là sự thật về cái tôi, sự thật về bản thân Người đọc sẽ không ngại ngần đi tìm trong tác phẩm những khớp nối giữa các
sự kiện tiểu sử và sự kiện được kể lại trong tự truyện nhằm bổ khuyết cho bức chân dung đã biết về tác giả Cái tôi trong tự truyện, theo cách diễn đạt của J.P Sartre là một cái tôi chân tín ý thức đầy đủ về những sự thật mà anh ta đủ can đảm thừa nhận (đối lập với cái tôi ngụy tín ý thức về những điều muốn che dấu) Cái tôi ấy lấy điểm nhấn là nhân cách cá nhân do thế câu chuyện thường hướng vào thế giới bên trong,
lý giải cái tốt cũng như cái xấu của nhân cách mình với một thái độ chân thành không dấu giếm Có thể gọi đó là sự “ý thức tội lỗi của tôi” theo cách mà Heidegger
diễn đạt trong Tồn tại và Thời gian [84, 105] Sự thật ở đây là sự thật của nhân cách, là kết quả của sự quan sát lương tâm mình của tác giả - người kể chuyện Chính bởi đặc điểm này, tự truyện khác biệt một cách rạch ròi với thể loại cùng hướng về sự thật là hồi ký Nếu ở hồi ký, mối quan hệ với lịch sử và thời đại của người kể chuyện thường được chú trọng thì trong tự truyện, sự chú trọng lại tập trung vào mối quan hệ với những cá nhân khác nhằm diễn giải bản thân với đầy đủ các khả thể để trở thành chính mình “Hồi ký là bức tranh về một thời đại, bên cạnh câu chuyện của mình, tác giả đi sâu tìm hiểu những mảnh đời khác” [134, 1906] Điều đó làm nên sự khác biệt giữa cái tôi hồi ký và cái tôi tự truyện “Tôi” trở thành một thành tố gắn liền với thể loại tự kể này Nó trở thành điều kiện cốt yếu để định loại văn bản
Khi xem xét đặc trưng sự thật của tự truyện, một trong những vấn đề được quan tâm là mối quan hệ của nó với hư cấu Hư cấu, với chức năng thẩm mĩ của mình luôn mang tính khái quát hóa cao, do vậy nhiều khi, lại thật hơn cả sự thật Đây cũng là vấn đề bàn cãi của tự truyện Song kết thúc của những bàn cãi ấy là một thỏa thuận: “trong tự truyện, các sự kiện tiểu sử của nhà văn chỉ đóng vai trò cơ
sở của sáng tạo nghệ thuật” hay “đời tư của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với nhiều mục đích nghệ thuật khác nhau” [69, 389] Trong định
Trang 40nghĩa về sự thật của tự truyện, P Lejeune đã phải chú ý: “về quá khứ, kỷ niệm bị xóa mờ với thời gian vì tư duy của nhà văn khi viết tự truyện đã trải biết bao cảnh đời, và vì các sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng hợp với sự thật; đó là chưa kể có khi nhà văn có ý thức muốn biến đổi câu chuyện hoặc
tô điểm thêm, hoặc làm xấu đi những sự thật, cho nên hình ảnh của tác giả trong tự truyện có độ lệch nhất định so với cuộc đời thật của tác giả [134, 1905] Và như thế,
việc mặc định: Thời thơ ấu, Những trường đại học của tôi của M Gorki, Tuổi thơ
của N Sarraute là tự truyện cũng là một thái độ khẳng định thành phần hư cấu là không thể thiếu được của thể loại Nhờ hư cấu, chân dung của chủ thể trần thuật cũng đồng thời là tác giả hiện lên rõ nét và chân thực hơn Đó chính là hư cấu của
tự truyện
Vai trò của hư cấu trong tự truyện còn ở chỗ, nhờ nó, câu chuyện của một cá nhân trở thành “truyện” Tính truyện với các dấu ấn của người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu và các yếu tố trần thuật khác khiến cho câu chuyện từ một hệ quy chiếu đơn nhất trở nên đa dạng, tạo nên tính nghệ thuật theo quan niệm của Iu Lotman1 Điều đó mang đến ý nghĩa thẩm mĩ cho tác phẩm tự truyện Trong qúa trình đi tìm sự thật quy chiếu, người đọc nhận chân được nhiều sự thật khác về con người, về thế giới và về chính mình qua những trải nghiệm của một người có thực, chịu trách nhiệm về những gì mình kể Vì vậy, hư cấu mặc nhiên sẽ là một thành tố không thể thiếu của tự truyện Và nhờ hư cấu mà tự truyện trở thành một thể loại văn học đích thực
Một căn cứ quan trọng để xác định sự thật của tự truyện, đó là: câu chuyện
đó phải do chính tác giả kể Một tác giả thực thể với một cái tên, một hình hài, một nhân cách cụ thể tồn tại như một bằng chứng của câu chuyện của mình Có thể coi
đó là những cam kết ngầm, là công ước của tự truyện Tuy nhiên, một thực tế là bên cạnh những tự truyện do chính tác giả kể và ghi chép lại xuất hiện hình thức tự
các câu của ngôn ngữ tự nhiên là một văn bản nghệ thuật, thì cần khẳng định được rằng chúng hình thành nên được một cấu trúc nào đó thuộc kiểu thứ cấp ở cấp độ của một tổ chức mang tính nghệ thuật” [tr 104] Và
“việc được tạo ra trong trò chơi tính đa ý nghĩa trở nên là một trong những dấu hiệu mang tính cấu trúc cơ bản của nghệ thuật” [tr 134] Như vậy, một cấu trúc tạo nghĩa, đặc biệt là khả năng tạo sự đa nghĩa là tiêu chuẩn định tính căn bản để xác nhận một hình thức viết nào đó là văn học