1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ dân tộc thiểu số trong phát triển du lịch cộng đồng ở xã cao phạ, huyện mù cang chải, tỉnh yên bái

86 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ dân tộc thiểu số trong phát triển du lịch cộng đồng ở xã Cao Phạ, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
Tác giả Lý A Của
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tâm
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Phát triển nông thôn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, việc cung cấp các dịch vụ tiện lợi của Ngân hàng như cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, mở tài khoản Ngân hàng, hay các dịch vụ về thanh toán hiện đại hiện nay vào trong phát t

Trang 1

- -

LÝ A CỦA

Tên đề tài:

TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA CÁC HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở XÃ CAO PHẠ,

HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khóa học : 2016- 2020

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 2

-OO -

LÝ A CỦA Tên đề tài:

TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA CÁC HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở XÃ CAO PHẠ,

HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khoa : Kinh tế và PTNT

Khóa học : 2016- 2020

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Tâm

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Đặc biệt với sự hướng dẫn

khoa học của thầy giáo TS Nguyễn Văn Tâm, tôi tiến hành thực hiện luận văn

tốt nghiệp với đề tài: Tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ dân tộc thiểu số trong phát triển du lịch cộng đồng ở xã Cao Phạ, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn trong thời gian học tập tại nhà trường cũng như

sự trải nghiệm thực tập thực tế của bản thân Chính những kiến thức thầy cô đã truyền đạt trên giảng đường là một giá trị quan trọng đã giúp bản thân tôi lan tỏa và nuôi dưỡng ý tưởng, tư duy trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Để hoàn thành đề tài luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo nhà trường đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ cũng như hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập tại nhà trường Đặc biệt, cho bản thân tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Tâm người đã tận tình hướng dẫn, chỉ đạo tôi trong suốt quá trình làm luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo xã Cao Phạ, đã tạo điều kiện giúp

đỡ, cung cấp thông tin, cũng như hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp tại địa phương Để có được kết quả luận văn này ngoài sự biết ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo nhà trường và ban lãnh đạo xã Cao Phạ, cho bản thân tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các hộ dân, bà con nông dân các bản: Tà Chơ, Tà Sung, Lìm Mông và Lìm Thái của xã Cao Phạ Những người đã dành thời gian, hỗ trợ thông tin cho tôi để hoàn thành khóa luận này Cuối cùng cho tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!

Thái Nguyên, ngày 04 tháng 6 năm 2020

Sinh viên

Lý A Của

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số hộ dân tộc thiểu số được vấn trực tiếp tại xã Cao Phạ 36

Bảng 4.1 Các chỉ tiêu về dân số, lao động của xã Cao Phạ nghiên cứu năm 2019 43

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu kinh tế-xã hội cơ bản của xã Cao Phạ năm 2019 46

Bảng 4.3 Đặc điểm cơ bản của người được phỏng vấn 50

Bảng 4.4 Đặc điểm cơ bản của hộ gia đình được phỏng vấn 53

Bảng 4.5 Thực trạng tham gia các khóa tập huấn về du lịch tại xã Cao Phạ năm 2020 58

Bảng 4.6 Bảng đánh giá mức độ quan tâm của du khách đến du lịch xã Cao Phạ 59

Bảng 4.7 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các công cụ số 60

trong kinh doanh của các hộ 60

Bảng 4.8 Kết quả kinh doanh du lịch các hộ trong năm 2019 61

Bảng 4.9 Tình hình vay vốn và sử dụng vốn của các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng tại xã Cao Phạ 62

Bảng 4.10 Những kênh chính các hộ vay vốn liên hệ với ngân hàng 63

Bảng 4.11 Nguyên nhân không vay vốn của các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng 64

Bảng 4.12 Thực trạng sở hữu tài khoản ngân hàng của các hộ kinh doanh du lịch tại xã Cao Phạ 65

Bảng 4.13 Bảng những mong muốn được hỗ trợ để phát triển du lịch cộng đồng 67

Bảng 4.14 Bảng đánh giá mức độ mong muốn của các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng 68

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Nghĩa từ viết tắt bằng tiếng

Anh (nếu có)

Nghĩa từ viết tắt bằng tiếng

Việt

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thế giới

ASEAN Association of Southeast Asian

JCB Japan Credit Bureau Thẻ tín dụng JCB

QR Quick Response Mã QR/ mã hai chiều/ Mã phản hồi nhanh

USD United States Dollar Đồng đô la

4P Product Price Place Promotions Mô hình marketing hỗ hợp

Trung Đông và Châu Phi SNV Subversion Phần mền hệ thống quản lí

IUCN

International Union for Conservation of Nature and Nature Resources

Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên

ATM Automatic Teller Machine Máy rút tiền tự động

Băng Nga NAPAS National Payment Serivcec Thẻ thanh toán Napas

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 4

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4

1.4 Bố cục của khóa luận 5

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6

2.1 Cơ sở lý luận 6

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 6

2.1.2 Dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng 10

2.1.3 Du lịch cộng đồng 16

2.1.4 Mối quan hệ giữa các dịch vụ ngân hàng với du lịch cộng đồng 23

2.2 Cơ sở thực tiễn 27

2.2.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng và sử dụng dich vụ ngân hàng,

thanh toán số ở Việt Nam 27

2.2.2 Tình hình sử dụng các dịch vụ ngân hàng vào phát triển các mô hình

du lịch cộng đồng ở Việt Nam 33

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34

3.2 Nội dung nghiên cứu 34

3.3 Phương pháp nghiên cứu 36

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 36

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 37

3.4 Địa điểm và thời gian tiến hành 37

Trang 7

3.4.1 Địa điểm nghiên cứu 37

3.4.2 Thời gian tiến hành 37

3.5 Các chỉ tiêu dùng trong phân tích 37

3.5.1 Chỉ tiêu về thực trạng kinh doanh du lịch cộng đồng 37

3.5.2 Chỉ tiêu thực trạng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng 37

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của của địa bàn nghiên cứu 39

4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 39

4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 43

4.1.3 Mô tả các đặc điểm cơ bản về du lịch cộng đồng tại xã Cao Phạ 47

4.2 Thực trạng kinh doanh du lịch của các hộ điều tra 50

4.2.1 Đặc điểm của các hộ khảo sát 50

4.2.2 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ khảo sát 56

4.3 Những kết quả đạt được và hạn chế của các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng trong việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng tại xã Cao Phạ 69

4.3.1 Những kết quả đạt được 69

4.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 70

4.4 Giải pháp tăng cường tiếp cận các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu 71

4.4.1 Đối với các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng 71

4.4.2 Đối với chính quyền địa phương 72

4.4.3 Đối với ngân hàng 72

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 Kết luận 73

5.1.1 Nhu cầu, mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng của các hộ dân tộc thiểu số 73

5.1.2 Những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ gia đình kinh doanh du lịch cộng đồng 73

5.2 Kiến nghị 74

Trang 8

5.2.1 Đối với các hộ dân tộc thiểu số kinh doanh du lịch cộng đồng 74

5.2.2 Đối với các ngân hàng trên địa bàn 74

5.2.3 Đối với chính quyền địa phương 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 9

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển ngày càng đi lên của nền kinh tế xã hội, nhu cầu sống của con người đã ngày càng được cải thiện và luôn đòi hỏi phải đa dạng hóa qua từng ngày Song hàng loạt các dịch vụ được ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu, mong muốn của con người Một trong các dịch vụ đó không thể không nhắc đến như dịch vụ về ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, làm đẹp, du lịch, công cộng Trong đó du lịch là một trong những ngành dịch vụ được quan tâm

và phát triển hàng đầu trong nền kinh tế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam

Du lịch cũng là nền kinh tế mũi nhọm đóng một vị trí quan trọng, chủ chốt vào góp phần tăng trưởng GDP của nền kinh tế quốc gia

Trong những năm vừa qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng trở nên tăng nhanh Giai đoạn 2015 – 2018 có lẽ là giai đoạn bùng nổ của du lịch Việt Nam Khách

du lịch quốc tế đến Việt Nam cũng ngày càng tăng với mức tăng trưởng đột phá

từ 7,9 triệu lượt năm 2015 lên đến 15,5 triệu lượt vào năm 2018, cho thấy tăng lên 1,95 lần, đạt tốc độ tăng trung bình 25%/năm Đây được coi là giai đoạn tăng cao kỷ lục trong lịch sử phát triển của ngành du lịch Việt Nam Theo báo cáo năng lực cạnh tranh của ngành lữ hành và du lịch 2019 do Diễn đàn Kinh

tế thế giới (WEF) đưa ra, du lịch Việt Nam nhảy vọt từ vị trí thứ 67 lên 63 tăng lên 4 bậc Đây là mức tăng trưởng năng lực cạnh tranh du lịch nhanh nhất trong các nước ASEAN Để có được những thành quả như trên phần lớn nhờ vào những tiến bộ hiện đại của công nghệ thông tin như internet, mạng xã hội, ứng dụng di động, du lịch trực tuyến…Tại Việt Nam, các công ty lữ hành đang thay đổi cách kinh doanh, từ đón khách hàng trực tiếp tại các văn phòng, đại lý sang kinh doanh trực tuyến, chốt tour chỉ sau vài cú kích chuột

Trang 10

Trong những năm qua du lịch Việt Nam như được khai mở và viết nên một trang lịch sử mới, một vị thế mới để khẳng định được vị thế trên lập trường quốc tế Để có được một sự phát triển nhảy vọt như vậy, bên cạnh các yếu tố

về công nghệ thông tin hiện đại, nhanh chóng thì Việt Nam cũng là quê hương hội tụ đầy đủ các yếu tố về điều kiện tự nhiên, về con người, cảnh quang, di tích lịch sử, kiến trúc Đặc biệt hơn Việt Nam là đất nước có một nền văn hóa đặc sắc, đa dạng về loại hình, phong phú về cách thức thể hiện Ví dụ như các

lễ hội, trang phục truyền thống, các phong tục, lối sống của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là các dân tộc thiểu số Chính sự đa dạng đó là ngọn đèn để khơi dạy nên một loại hình du lịch phát triển ở Việt Nam trong những năm qua, đó chính

là “Du lịch cộng đồng” Chính vì vậy, phát triển Du lịch cộng đồng đang là một hướng đi có tiềm năng để góp phần vào phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế du lịch nói riêng Quan trong hơn, việc phát triển du lịch cộng đồng là một bài toán có hiệu quả để nâng cao đời sống, giúp xóa đói giảm nghèo của các hộ dân tộc thiểu số

Tuy nhiên, để phát triển được du lịch cộng đồng đúng với bản chất của

nó thì loại hình du lịch này thường được tập trung và phát triển ở những nơi, những vùng cộng đồng, thôn bản còn khó khăn và hạn chế, đặc biệt là về nguồn lực tài chính, về thông tin Chủ yếu là ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số với dân trí chưa được cao ở các vùng sâu, vùng xa, vùng hiểu lãnh đi lại khó khăn Đây cũng chính là trở ngại lớn nhất để kìn hãm sự phát triển của du lịch cộng đồng tại các vùng có tiềm năng Chính vì vậy, để đưa được loại du lịch này phát triển một cách ổn định và bền vững, thì việc đầu tư nguồn vốn nhân lực vào các hộ dân tộc thiểu số để cùng nhau tham gia kinh doanh du lịch, là một yếu tố rất cần thiết và quan trọng Ngoài ra, việc cung cấp các dịch vụ tiện lợi của Ngân hàng như cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, mở tài khoản Ngân hàng, hay các dịch vụ về thanh toán hiện đại hiện nay vào trong phát triển du lịch là một yếu tố quan trọng góp phần phát triển bền vững cho du lịch cộng

Trang 11

đồng Do đó, để thúc đẩy nhanh chống sự phát triển của loại hình du lịch này, việc tiếp cận, lựa chọn nguồn vốn vay từ Ngân hàng và các dịch vụ tiện lợi của ngân hàng là một sự lựa chọn có tiềm năng

Khi nói đến du lịch của vùng tây Bắc Việt Nam chúng ta không thể không

kể đến các điểm du lịch nổi tiếng như Sa Pa- Lào Cai, du lịch cộng đồng Bản Hon- Tam Đường- Lai Châu, ruộng bậc thang Mù Cang Chải- Yên Bái, Đặc biệt đến với quê hương tôi, quê hương của những cánh dù bay, của những thửa ruộng bậc đó chính là Mù Cang Chải Yên Bái Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái là một trong các huyện nghèo nhất cả nước, thuộc vùng đặc biệt khó khăn Tuy nhiên trong những năm gần đây du lịch Mù Cang Chải đang là một điểm nóng, thu hút được nhiều du khách tới thăm quan, hơn nữa du lịch Mù Cang Chải còn được nhiều tạp chí đánh giá là điểm du lịch hấp dẫn và đáng đến nhất tại Việt Nam trong năm 2019 - 2020 Đến với du lịch Mù Cang Chải chúng ta không thể bỏ qua được những điểm du lịch như ruộng bậc thang Móng Ngựa, Mâm xôi, ruộng bậc thang La Pán Tẩn, Dẽ Xu Phình và Chế Cu Nha Đặc biệt cũng không thể thiếu là điểm du lịch Festival dù lượn tại đèo Khau Phạ, xã Cao Phạ Cao Phạ là một xã nghèo của huyện Mù Cang Chải nhưng lại là một trong các

xã có điểm du lịch hấp dẫn nhất trong toàn huyện Đóng vai trò là một trong ba

xã chủ chốt của du lịch huyện Mù Cang Chải, tuy nhiên cơ sở vật chất của xã còn hạn chế, chưa đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của du khách, như phòng nghỉ cho du khách còn hạn chế, các trang thiết bị, dịch vụ phục vụ còn chưa đáp ứng được đầy đủ Dân trí còn hạn chế nên chưa tiếp cận được các nguồn vốn, dịch vụ hợp lí để phát triển, kinh doanh du lịch cho hiệu quả Vì vậy, đây

là lí do tôi lựa chọn đề tài Tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ dân tộc thiểu số trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Cao Phạ, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Đề tài sẽ góp phần nhằm tháo gỡ được những khó khăn về

vốn và giải quyết được vấn đề sử dụng tối ưu các dịch vụ của ngân hàng trong phát triển du lịch tại địa phương Nâng cao được trình độ của người dân trong

Trang 12

vấn đề huy động, sử dụng và quản lí vốn cho phát triển du lịch tại địa bàn Ngoài ra đề tài còn nhằm định hướng tạo gia tăng thu nhập cho người dân góp phần vào xóa đói giảm nghèo của địa phương

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá nhu cầu, mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng của các hộ dân tộc thiểu số kinh doanh du lịch tại xã Cao Phạ

- Phân tích những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các

hộ gia đình dân tộc thiểu số kinh doanh du lịch cộng đồng tại xã Cao Phạ

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng tại xã Cao Phạ

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Xác định cơ sở khoa học về du lịch cộng đồng và sự tiếp cận về các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng của người dân tại xã Cao Phạ

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Nắm bắt được tình hình phát triển về du lịch cộng đồng tại địa phương góp phần vào phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

- Đánh giá được nhu cầu, mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch ngân hàng của các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng tại xã Cao Phạ

Trang 13

- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp UBND xã Cao Phạ đánh giá được tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng, khả năng tiếp cận các dịchvụ, tín dụng ngân hàng của các hộ kinh doanh du lịch tại xã Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp và có hiệu quả

- Giúp cho các ngân hàng có thể có phương hướng mới, tạo điều kiện trong rải ngân để phát triển du lịch cộng đồng

- Ngoài ra đề tài còn làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và học tập trong lĩnh vực du lịch cộng đồng và tín dụng du lịch cộng đồng Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý tại địa phương

1.4 Bố cục của khóa luận

- Phần 1: Mở Đầu

- Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

- Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Phần 4: Kết quả nghiên cứu

- Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

Khái niệm về tiếp cận: Tiếp cận là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt Sự tiếp cận có thể được xem như khả năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất Sự tiếp cận thường được dùng tập trung vào những người khuyết tật hoặc có nhu cầu đặc biệt hoặc quyền tiếp cận tới các thực thể khác nhau, thường thông qua việc sử dụng thiết

bị hỗ trợ

Khái niệm về dịch vụ: Do tính chất phức tạp, đa dạng và vô hình của dịch vụ nên hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về dịch vụ Chẳng hạn, theo Từ điển VN giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” Tuy nhiên cách giải thích này còn khái quát, chưa thực sự làm rõ được bản chất của dịch vụ Trong cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”, tác giả đã đưa ra khái niệm dịch vụ “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được” Khi so sánh với cách giải thích của Từ điển bách khoa thì cách giải thích này đã làm rõ hơn nội hàm của dịch vụ – dịch vụ là kết tinh sức lao động con người trong các sản phẩm vô hình Ngoài ra thì cách hiểu về dịch vụ cũng không hoàn toàn thống nhất giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới Do đó, trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn, trong mỗi ngành lớn lại bao gồm các phân ngành Tổng cộng có 155 phân ngành với 4 phương thức cung cấp dịch vụ là: Cung cấp qua biên giới, tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại và hiện diện

Trang 15

thể nhân trong đó có hoạt động ngânhàng

Từ các quan điểm khác nhau trên, có thể đưa ra một khái niệm chung cho dịch vụ như sau: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người”

Khái niệm về ngân hàng: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn

Khái niệm về dịch vụ ngân hàng: Đối với dịch vụ ngân hàng, từ khóa

“Dịch vụ ngân hàng” là cụm từ mang theo nhiều khái niệm khá phức tạp, khiến việc tìm hiểu về dịch vụ ngân hàng là vô cùng quan trọng khi người dùng muốn tham gia vào các giao dịch tiền mặt cùng với các định chế tài chính như ngân hàng, quỹ tín dụng,…Dịch vụ ngân hàng là khái niệm tổng quan về rất nhiều kiến thức, thông tin liên quan đến cách mở tài khoản ngân hàng hay cách ứng dụng lãi suất ngân hàng vào việc gửi tiết kiệm hay vay vốn để kinh doanh Qua đây chúng ta có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ ngân hàng như sau: Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch có liên quan đến tài chính ngân hàng, nhằm cung cấp các kiến thức, thông tin liên quan đến tài chính như cách mở tài khoản,vay vốn, ứng dụng lãi suất, gửi tiết kiệm, thanh toán

Khái niệm về dân tộc thiểu số (DTTS): Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều

4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì "Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Khái niệm về Phát triển: Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần

Trang 16

dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển

là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn

Khái niệm về Du lịch: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến

đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Khái niệm về du lịch cộng đồng (DLCĐ): Trong một cộng đồng con người có mối quan hệ mật thiết với nhau trong việc sử dụng và khai thác các tài nguyên du lịch, đặc biệt trong đó là loại hình du lịch về văn hóa DLCĐ đã được đưa ra với nhiều quan điểm khác nhau, bởi lí do về vị trí của du lịch phải dựa vào cộng đồng đó tùy thuộc vào góc nhìn, quan điểm của người nghiên cứu

Tại Thái Lan, “Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là loại hình du lịch được quản

lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Thông qua DLCĐ du khách có cơ hội tìm hiểu

và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương”.[17]

Tổ chức mạng lưới DLBV vì người nghèo đã nêu “DLCĐ là một loại hình DLBV thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên.”

Tại Việt Nam, DLCĐ được nhìn nhận như sau: “DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách

Trang 17

kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” [9]

“Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn

tự nhiên.” [12]

Thuật ngữ này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của các tổ chức xã hội trên thế giới như:Tổ chức Pachamana (hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về DLCĐ như sau:“DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương”

“Du lịch cộng đồng là mô hình phát triển du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ

du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” Quan niệm trên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn quản lý.[15]

Trong khi đó về Viện Miền núi cũng đưa ra một khái niệm về du lịch cộng đồng như sau: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có

cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa cộng đồng (chủ) và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai

Trang 18

phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương”

Vậy qua đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm về du lịch cộng đồng như

sau: DLCĐ là một mô hình phát triển du lịch, cộng đồng dân cư là người cung

cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khách du lịch Đồng thời cộng đồng dân cư là người có trách nhiệm bảo vệ, quản lí các tài nguyên du lịch của cộng đồng và họ được chia sẻ các nguồn lợi về kinh tế do phát triển du lịch tạo ra Du lịch

cộng đồng được dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách du lịch để tìm hiểu thêm về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau Du lịch cộng đồng thường liên kết với người dân thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng thức cuộc sống tại đó trong một khoảng thời gian nhất định

Khái niệm về thanh toán số: Thanh toán số là một hình thức toán, trong đó khoa học công nghệ là yếu tố được áp dụng vào thực hiện các giao dịch Thanh toán số là hình thức thanh toán không sử dụng tiền mặt trực tiếp mà thay vào đó là các giao dịch tiền điện tử, đồng thời việc thực hiện giao dịch sẽ được diễn khi đôi bên đã đáp ứng được đầy đủ mọi điều kiện và nhu cầu

Khái niệm về thanh toán trực tuyến: Thanh toán trực tuyến hay thanh toán điện tử là một mô hình giao dịch không sử dụng tiền mặt, việc giao dịch được thực hiện trên môi trường internet thông qua các thiết bị điện tử thông minh, qua đó người sử dụng có thể thực hiện các hoạt động thanh toán, chuyển, nạp hay rút tiền,… Thanh toán trực tuyến là dịch vụ trung gian giúp khách hàng thanh toán hàng hóa hay dịch vụ trên các website bán hàng cho phép thanh toán trực tuyến và có kết nối với các cổng thanh toán thương mại điện tử

Cổng thanh toán trực tuyến: Là hệ thống kết nối giữa ngân hàng, người mua và người bán với mục tiêu cuối cùng là người bán có thể nhận được tiền ngay khi giao dịch trực tuyến hoàn tất

2.1.2 Dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng

2.1.2.1 Các dịch vụ ngân hàng phục vụ phát triển du lịch cộng đồng

Trang 19

Mở Tài Khoản Ngân Hàng: Tài khoản ngân hàng giống như một thông

tin định danh cho bất kỳ một cá nhân nào khi tham gia giao dịch tài chính với định chế tài chính là ngân hàng Thông thường tài khoản ngân hàng được quy định bằng một dãy số nhất định tùy ngân hàng, nhờ đó mỗi ngân hàng có thể kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của người dùng tốt nhất Trên mỗi tài khoản ngân hàng đều được quy định bằng tên người đăng ký mở tài khoản cùng nhiều thông tin phái sinh khác Dựa theo nhu cầu của người dùng, ngân hàng tạo ra

hệ thống hai loại tài khoản ngân hàng chính là Tài khoản thanh toán (giao dịch)

và Tài khoản tiết kiệm Mỗi loại tài khoản trên đều được phân chia ra thành nhiều dạng tài khoản khác nhau

Cung cấp Thẻ ATM : Thẻ ATM được hiểu là một loại thẻ do các ngân

hàng hoặc tổ chức tài chính cấp cho người dùng để thực hiện các giao dịch và thanh toán như rút tiền, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn,…thông qua máy ATM (máy rút tiền tự động hoặc tại các điểm hỗ trợ thanh toán bằng thẻ Thẻ ATM bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng và được làm ra dưới hai dạng là thẻ

từ và thẻ chip Thẻ ghi nợ (thẻ ghi nợ nội địa): là loại thẻ có chức năng rút tiền dựa trên cơ sở ghi nợ vào tài khoản ngân hàng của bạn Tức là khi bạn rút tiền tại các điểm ATM, tài khoản ngân hàng của bạn sẽ tự động bị trừ đi bằng đúng

số tiền bạn đã rút

Máy rút tiền tự động (ATM): Thập niên 80 chứng kiến sự phát triển của

các máy rút tiền tự động đa chức năng.Những máy này đã được nối mạng điện toán nhằm cung cấp rất nhiều dịch vụ Ngân hàng và vận hành với thế hệ mới nhất của các tấm thẻ nhựa có một dải từ tính được lưu trữ các chi tiết tài chính

cá nhân của người cầm thẻ.Các ngân hàng khác nhau thì vận hành các loại máy khác nhau.Khi đưa thẻ vào máy, hành động này kết nối máy ATM với máy tính của Ngân hàng.Thông qua thông tin lưu trữ trên dải từ tính của thẻ, máy tính có thẻ tra cứu tài khoản của khách hàng Máy rút tiền sau đó có thể đưa ra số tiềnmặt mà người cầm thẻ muốn rút với một giới hạn nào đó, chỉ có chủ thẻ

Trang 20

mới biết số dư trong tài khoản của anh ta,giúp anh ta đặt sổ séc hay một lệnh thanh toán chuyển khoản với điều kiện phải chi tiết về Ngân hàng của người được thanh toán Trong một số trường hợp,giữa các Ngân hàng có sự hợp tác với nhau, theo đó một thẻ ATM của Ngân hàng này có thẻ được dùng với máy rút tiền của Ngân hàng khác trong khi vẫn có thể ghi nợ vào đúng tài khoản

Nhận tiền gửi: Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các

Ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động được tiền Một trong những nguồn thu quan trọng là các khoản tiền gửi (thanh toán và tiết kiệm của khách hàng) – một quỹ sinh lợi được gửi tại Ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, được ngân hàng trả lãi.Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chảng hạn ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% mọt năm để thu hút các khoản tiền gửi nhăm mục đích cho vay đói với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp 3 lãi suất tiết kiệm

Thanh toán: Ngân hàng cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện

thanh toán Khi các doanh nhân gửi tiền vào Ngân hàng, họ nhân thấy Ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ.Thanh toán qua Ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiết kiệm không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ nhận được tiền

Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu hầu hết các Ngân hàng không

tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản vay cho tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao.Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dung và sự canh tranh trong cho vay đã buộc các Ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng Sau chiến tranh thế giới thứ

2, tín dụng tiêu dùng đã trở thành mổttong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển

Trang 21

Tài trợ dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các nghành công nghệ cao Do loại hình tín dụng này nhìn chung rủi ro cao song lãi lại lớn

Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng giúp cho việc mua hàng hoá và các dịch vụ

trả tiền sau Mỗi người có thể được cấp một hạn mức tín dụng theo tài khoản thẻ tín dụng của anh ta, các tài khoản này hoàn toàn tách khỏi tài khoản thông thường của Ngân hàng và chỉ dành cho các thẻ do Ngân hàng phát hành;thẻ tín dụng được mở tại phòng thẻ tín dụng của Ngân hàng.Việc thanh toan hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại nơi có máy đặc biệt để lập các hoá đơn ghi các giao dịch bán hàng và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng mà chúng chấp nhận

2.1.2.2 Các dịch vụ ngân hàng số góp phần phát triển du lịch cộng đồng 2.1.2.2.1 Lợi ích của thanh toán điện tử (thanh toán trực tuyến)

- Nhanh chóng, tiện dụng, phù hợp với dòng chảy thị trường: Tiết kiệm thời gian và chi phí hơn đáng kể so với thanh toán giao dịch truyền thống trong việc thanh toán hóa đơn điện, nước, Internet

- Dễ dàng theo dõi và kiểm soát: Tính bảo mật cao trong những lần giao dịch thanh toán với những tiêu chuẩn bảo mật hết sức gắt gao Tất cả các khoản tiền đều lưu lại trong lịch sử giao dịch và cho phép bạn tra cứu một cách dễ dàng chỉ với vài thao tác đơn giản Bạn có thể quản lý tài chính và có những cân đối chi tiêu hợp lý

- Chuyên nghiệp hóa kinh doanh trực tuyến: Hầu hết người tiêu dùng, nhất là các bạn trẻ đều đang sử dụng thanh toán điện tử như internet banking,

ví điện tử, mã QR… bởi tính tiện dụng Do vậy, doanh nghiệp hay hộ kinh doanh không có hệ thống thanh toán trực tuyến cũng sẽ gặp nhiều bất lợi Thanh toán trực tuyến còn giúp cho việc thanh toán khi mua bán, trao đổi qua online

Trang 22

hay website trở nên đơn giản và dễ dàng hơn như mua hàng online, đặt các dịch vụ phòng, giải trí

-Hạn chế rủi ro khi dùng tiền mặt: Các rủi ro về thất thoát, thiếu tiền,

quên ví rất dễ xảy ra nếu giao dịch bằng tiền mặt, đặc biệt với những sản phẩm/dịch vụ có giá trị lớn Còn với thanh toán điện tử, mọi giao dịch đều nhanh chóng, chính xác tới từng con số, minh bạch, rõ ràng và bảo mật

2.1.2.2.2.Các hình thức thanh toán điện tử hiện nay

- Thanh toán bằng thẻ: Đây là hình thức thanh toán phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% trong tổng số các giao dịch thương mại điện tử Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một loại thẻ có khả năng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại một vài địa điểm, kể cả các website mua hàng trực tuyến nếu được chấp nhận chi trả tiêu bằng thẻ Hoặc có thể dùng để rút tiền mặt trực tiếp từ các ngân hàng hay các máy rút tiền tự động Hiện nay, các loại thẻ thanh toán được chia làm 2 loại, có thể được phát hành bởi các ngân hàng, các tổ chức tài chính Thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc ghi nợ quốc tế và Thanh toán bằng thẻ ghi

nợ nội địa: Thẻ thanh toán quốc tế như Visa, Mastercard, American Express, JCB đều có thể thanh toán tại hơn 60 website đã kết nối với cổng thanh toán OnePay Thẻ thanh toán ghi nợ nội địa, đây là loại hình chưa thực sự phổ biến

ở Việt Nam nhưng khá phát triển ở nước ngoài Với cách thanh toán này các chủ thẻ tại Connect24 của ngân hàng Vietcombank hay chủ thẻ đa năng của ngân hàng Đông Á đã có thể thực hiện thanh toán điện tử tại các website đã kết nối với 2 ngân hàng này cũng như cổng thanh toán OnePay

- Thanh toán qua cổng: Cổng thanh toán về bản chất là dịch vụ cho phép khách hàng giao dịch tại các website thương mại điện tử Cổng thanh toán cung cấp hệ thống kết nối an toàn giữa tài khoản (thẻ, ví điện tử,…) của khách hàng với tài khoản của website bán hàng Giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp thanh toán, nhận tiền trên internet đơn giản, nhanh chóng và an toàn

Trang 23

-Thanh toán bằng ví điện tử: Ví điện tử là một tài khoản online có thể dùng nhận, chuyển tiền, mua thẻ điện thoại, vé xem phim, thanh toán trực tuyến các loại phí trên internet như tiền điện nước, cước viễn thông, bạn cũng có thể mua hàng online từ các trang thương mại điện tử Người dùng phải sở hữu thiết

bị di động thông minh tích hợp ví điện tử và liên kết với ngân hàng thì mới có thể thanh toán trực tuyến bằng hình thức này Như các ví điện tử như MOMO, VinID, ViettelPay

- Thanh toán bằng thiết bị điện thoại thông minh

+ Qua Mobile Banking

Hình thức này đang dần trở nên phổ biến bởi hầu hết ai cũng đều sử hữu một chiếc điện thoại thông minh Chính vì vậy, khi đi mua sắm, khách hàng không cần phải mang theo tiền mặt, thay vào đó là thanh toán qua điện thoại với dịch vụ Mobile Banking, Internet Banking Hệ thống thanh toán qua điện thoại được xây dựng trên mô hình liên kết giữa ngân hàng, các nhà cung cấp viễn thông, và người dùng

+ Qua QR Code

Tiến bộ công nghệ cũng là lý do khiến thanh toán bằng QR Code ngày càng được ưa chuộng Phương thức này khá đơn giản, gọn nhẹ, dễ sử dụng và thân thiện cho người tiêu dùng Tính năng QR Code hiện đang được tích hợp sẵn trên ứng dụng di động của các ngân hàng, các sản phẩm và dịch vụ của Google như Google Chart hay Google Map, trên bảng hiệu, xe buýt, danh thiếp, tạp chí, website, hàng hóa tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi,… Thậm chí là trên một số siêu ứng dụng như VinID của Tập đoàn Vingroup Người dùng sử dụng camera điện thoại quét mã QR để thực hiện nhanh các giao dịch chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua hàng Chỉ với một lần quét, sau vài giây, bạn

đã thanh toán thành công tại các nhà hàng, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, taxi, thậm chí là các website thương mại điện tử hay trên bất cứ sản phẩm nào có

Trang 24

gắn mã QR mà không cần sử dụng đến tiền mặt, thẻ, không lo lộ thông tin cá nhân tại các điểm thanh toán

2.1.3 Du lịch cộng đồng

2.1.3.1 Các hình thức du lịch cộng đồng

Căn cứ vào các yếu tố sau đây chúng ta có thể phân ra các hình thức

du lịch:

- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Du lịch quốc tế ; Du lịch nội điạ

- Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách: Du lịch chữa bệnh; Du lịch nghỉ ngơi giải trí; Du lịch thể thao; Du lịch tôn giáo; Du lịch khám phá

- Căn cứ vào phương tiện giao thông: Du lịch bằng xe đạp; Du lịch tàu hỏa; Du lịch tàu biển; Du lịch ô tô; Du lịch hàng không

- Căn cứ theo phương tiện lưu trú: Du lịch ở khách sạn; Du lịch nhà trọ;

Du lịch cắm trại

- Căn cứ vào đặc điểm địa lý: Du lịch miền biển; Du lịch miền núi; Du lịch đô thị; Du lịch đồng quê

- Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch: Du lịch theo đoàn; du lịch cá nhân

- Căn cứ vào thành phần của du khách: Du khách thượng lưu ; du khách bình dân

- Các loại hình du lịch mới: Du lịch sinh thái; Du lịch cộng đồng; Du lịch nông nghiệp

- Du lịch Teambuilding; Du lịch MICE (Là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện); Du lịch Thiền

Đối với du lịch cộng đồng, xét về bản chất thì du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản

lý và làm chủ nhằm đem lại lợi ích kinh tế, đồng thời bảo vệ được môi trường chung cho cả cộng đồng, thông qua đó có thể giới thiệu cho du khách về các nét đặc trưng của cộng đồng, của địa phương như: Phong cảnh, phong tục tập quán, các lễ hội, các sản vật nổi tiếng của địa phương Mô hình du lịch

Trang 25

cộng đồng tạo điều kiện cho du khách trải nghiệm cuộc sống của người dân địa phương (dân bản địa) với những sinh hoạt rất đời thường và những món ăn dân

dã đậm chất địa phương Chính vì thế chúng ta có thể thấy được các hình thức của du lịch cộng đồng gắn liền với các yếu tố về văn hóa, cảnh quan, các phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, hay chỉ đơn giản là các món ăn truyền thống Ngoài ra thì yếu tố về con người cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch cộng đồng như là độ mến khách hay độ thân thiện với khách của người dân bản địa Chúng ta có thể kể đến các hình thức du lịch cộng đồng như:

- Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa, xã hội của địa phương, có sự quan tâm đến vấn đề môi trường Nó thúc đẩy hệ sinh thái bền vững thông qua quá trình quản

lý môi trường, có sự tham gia của các bên liên quan

- Du lịch nông nghiệp: Là hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại động vật đã được chuẩn bị cho du khách Khách du lịch xem hoặc tham gia vào các hoạt động thực tiễn, sản xuất nông nghiệp như làm việc với công cụ nhà nông hoặc thu hoạch mùa mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng xuất của gia đình chủ nhà Một sản phẩm đặc biệt là nghỉ ngơi

ở các trang trại hữu cơ, nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh tác không dùng thuốc trừ sâu

- Du lịch bản địa: Du lịch bản địa dân tộc đề cập đến một loại du lịch nơi đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người dân bản địa tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, nền văn hóa vốn có của họ là yếu tố chính thu hút khách du lịch

- Du lịch làng: Khách du lịch được chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống thôn bản, và các làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động

du lịch Dân làng cung cấp các dịch vụ ăn uống, nhà trọ cho khách nghỉ ngơi qua đêm trong những ngôi nhà làng cùng với một gia đình, du khách có thể

Trang 26

chọn nhà nghỉ, các nhà nghỉ này được hoạt động bởi một hợp tác xã Làng hoặc các cá nhân cung cấp cho du khách không gian riêng tư hơn, thoải mái cho cả

họ và đôi khi cả nhà chủ

- Nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ: Nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ ở địa phương có một lịch sử lâu dài Nó không phải là một hình thức độc lập 9 của du lịch mà chính là một thành phần của các loại hình khác của du lịch Du lịch không chỉ mang lại cơ hội kinh doanh tốt hơn cho ngành nông nghiệp thủ công mỹ nghệ của khu vực, doanh số bán hàng của hàng thủ công mỹ nghệ cũng có thể giúp người dân địa phương tìm hiểu thêm về di sản văn hóa và nghệ thuật phong phú độc đáo của họ

Các loại hình du lịch này phù hợp với Du lịch cộng đồng bởi chúng được

sở hữu và quản lý bởi cộng đồng: Du lịch sinh thái, Du lịch nông nghiệp, nông thôn Du lịch, Du lịch Làng, Du lịch dân tộc hay bản địa, và du lịch văn hóa Ngoài ra, việc thúc đẩy nghệ thuật và hàng thủ công địa phương có thể là một thành phần quan trọng trong các dự án Du lịch cộng đồng và trong các hình thức chủ đạo của ngành du lịch

2.1.3.2 Vai trò của du lịch cộng đồng

Phát triển du lịch cộng đồng là một hướng đi rất quan trọng trong cuộc sống hiện tại và đặc biệt là đối với người dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn hẻo lánh Một trong những lí do để chúng ta có thể khẳng định rằng, phát triển du lịch cộng đồng lại là một hướng đi quan trong như vậy Bởi phát triển du lịch cộng đồng sẽ tạo thêm công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho cộng đồng dân cư bản địa, đồng thời góp phần rất quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo của địa phương Ngoài ra, mô hình du lịch cộng đồng cũng góp phần thúc đẩy các chiến lược xóa đói giảm nghèo, tạo ra sinh kế đồng thời khuyến khích vai trò của người dân bản địa trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng và bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa cũng như các di sản thiên nhiên tại địa phương Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do

Trang 27

cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và cùng hưởng lợi Du lịch cộng đồng đem lại nhiều tác động tích cực đến cộng đồng dân cư làm du lịch, cụ thể như là: Cung cấp cơ hội tạo thêm việc làm cho cộng đồng địa phương; Tạo điều kiện để phát triển kinh tế địa phương thông qua việc bán các sản phẩm vàdịch vụ của du lịch; Đóng góp để bảo tồn và phát triển du lịch; Cung cấp thị trường cho hàng hoá và dịch vụ địa phương; Góp phần nâng cao hình ảnh của địa phương và của quốc gia

Hiện nay, du lịch cộng đồng đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế khá bền vững cho người dân bản địa, không chỉ giúp người dân bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, mà còn là dịp để bảo tồn và phát huy những nét văn hoá độc đáo của địa phương Ở một số địa phương trên cả nước có rất nhiều mô hình du lịch cộng đồng phát triển khá thành công ở các vùng miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như ở Sa Pa- Lào Cai, Hà Giang, Mù Cang Chải (Yên Bái) Tam Đường (Lai Châu) Những mô hình này đã mang lại hiệu quả thiết thực, không chỉ phát huy được thế mạnh văn hoá bản địa của các dân tộc, mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhiều người dân địa phương Theo như vài các đọc giả và các chuyên gia về du lịch cộng đồng, việc phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng là phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng được nhiều nhu cầu khám phá của đông đảo các du khách mong muốn tìm hiểu văn hoá đặc sắc của dân tộc bản địa

Ngoài ra, để du lịch cộng đồng phát triển cần giữ nguyên gốc, nguyên

sơ, chất phác chân thực của văn hoá bản địa, đó là giá trị cốt lõi của cộng đồng, không để đánh mất nó Phát triển du lịch thì phải có trách nhiệm với xã hội Để phát triển kinh tế địa phương, tôn trọng những giá trị bản địa, giá trị cộng đồng thì loại hình du lịch có trách nhiệm sẽ là giải pháp để phát triển du lịch cộng đồng đúng hướng và bền vững Một nền du lịch bền vững thì người dân phải được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương…

Trang 28

2.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng

Nơi có tài nguyên du lịch là nơi có thể làm được du lịch - có thể chia nguồn tài nguyên du lịch thành 2 nhóm chính là nguồn tài nguyên liên quan đến yếu tố văn hóa và nguồn tài nguyên tự nhiên

Tài nguyên văn hóa như: Dân tộc thiểu số hoặc có tính chất đa văn hóa; Các màn biểu diễn địa phương (ví dụ như bài hát, điệu múa); Lễ hội; Điểm tham quan lịch sử; Nghệ thuật và hàng thủ công; Cảnh quan văn hóa (ví dụ như ruộng bậc thang); Cây trồng đặc biệt và thực hành làm nông; Đặc sản ẩm thực; Hoạt động thường nhật của cộng đồng (ví dụ như giã gạo, nghiền gạo); Tiếp đón, sự thân thiện của người dân

Tài nguyên môi trường: Công viên, khu vực thiên nhiên; Đường xá; Động thực vật; Các điểm tham quan đặc biệt (thác nước); Thể thao (chèo thuyền, leo núi)

Nhưng để hình thành và phát triển được Du lịch cộng đồng thì ngoài các

tài nguyên du lịch trên cần phải có các yếu tố hạ tầng tốt Các yếu tố hạ tầng bao gồm như: Chỗ ở, giao thông đi lại, thông tin, An toàn Sức khỏe trong khu vực Du lịch cộng đồng và khu vực gần đó Nguồn nhân lực, dịch vụ mua sắm, dịch vụ đi lại, nước, năng lượng và nguồn tài chính

Nhưng chung quy lại các yếu quan trọng hơn cả là các yếu tố về con người; môi trường sống, điều kiện kinh tế- xã hội của vùng du lịch, của cộng đồng du lịch; yếu tố về chính sách phát triển của nhà nước

Trong sự phát triển về du lịch cộng đồng yếu tố con người là một trong những yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng, qua đó chúng ta có thể khẳng định được thế mạnh của cộng đồng du lịch đó ra sao Nói đến yếu tố con người điều quan trọng không thể không nhắc đến là khả năng về năng lực lãnh đạo, quản lí, sáng tạo trong phát triển du lịch cộng đồng đó đã đủ mạnh,

đủ vững hay chưa, đủ tự tin, đủ năng lực sáng tạo để tự làm được những sản phẩm mang lại những giá trị độc đáo, mới lạ, thu hút khách hay chưa Ngoài

ra thì con người tại điểm du lịch đó có đủ khả năng giữ được chân khách ở lại

Trang 29

hay không như là: Người dân có khẳ năng tự đón và phục vụ khách hay không; Người dân có khả năng tổ chức các câu lạc bộ bổ ích và đặc sắc hay không; Người dân có khả năng diễn văn nghệ, nghệ thuật tốt hay không; Có khả năng dẫn khách, phục vụ cho khách lưu trú hay không; các khả năng về dịch vụ ăn uống và trình độ giao tiếp, độ thân thiện có làm cho du khách hài lòng hay không Trong cộng đồng du lịch, nếu các yếu tố về con người được đảm bảo thì đó là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công, sự phát triển bền vững của cộng đồng du lịch đó trong tương lai

Về điều kiện kinh tế- xã hội, dựa trên sự đánh giá khách quan của nhiều chuyên gia về du lịch thì sau chiến tranh thế giới thứ 2, tại các nước có nền kinh

tế phát triển và đặc biệt các nước có nền công nghiệp đã được phục hồi nhanh chóng sau chiến tranh, dẫn đến thu nhập ngày càng ổn định và tăng lên, đồng thời các quỹ thời gian rảnh rỗi của những người dân các nước này cũng được tăng lên rõ rẹt Vì vậy các nhu cầu về nghỉ dưỡng, nghỉ mát, đi ngao du, du lịch, trải nghiệm của người dân lại càng được khẳng định Đây cũng chính là yếu

tố cơ bản dẫn tới cầu du lịch tăng cao Theo nghiên cứu thì đất nước nào có nền kinh tế phát triển thì cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ tạo ra tăng trưởng từ 2% - 2,5% trong chi tiêu cho du lịch

Ngoài ra ở những vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi phát triển, xã hội

ổn định, dân trí cao, đồng thời với chế độ chính trị ổn định thì đó cũng là yếu

tố quan trọng góp phần lớn vào việc phát triển du lịch cộng đồng Bên cạnh đó thì loại hình du lịch cộng đồng sẽ được trú trọng và phát triển hơn khi bản thân loại hình du lịch đó phải đặc sắc, độc đáo và mang tính khác biệt cao Đồng thời phải mang tính đại diện cho cộng đồng, mang tính xã hội cao Vì vậy, để phát triển du lịch tại các điểm hay các vùng thì yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội cũng đóng vai trò quan trọng nhất định trong hướng đi của loại hình du lịch

cộng đồng

Trang 30

Ngày nay với sự phát triển của các loại hình du lịch và trong đó có loại hình du lịch cộng đồng đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh

tế quốc dân Để cho các ngành du lịch nói chung cũng như các loại hình du lịch cộng đồng nói riêng cùng phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, của vùng, thì việc ban hành chính sách đúng, kịp thời cũng là một yếu tố hết sức quan trọng Đây là yếu tố quyết định, là yếu tố làm nền tảng thúc đẩy cho sự phát triển bền vững của các loại hình du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng trong tương lai và sau này Khi nói đến về yếu tố chính sách mà tác động đến phát triển du lịch cộng đồng chúng ta có thể quan tâm như: Các chính sách về nguồn vốn phát triển du lịch tại địa phương (Thời hạn vay vốn, quy mô vốn vay,lãi suất, Ngân hàng đồng hành cùng dân trong việc sử dụng vốn ra sao?); Các chính sách về quy hoạch cho phát triển các mô hình, điểm du lịch Ngoài ra còn có các chính sách của nhà nước về đảm bảo cho công dân nước ngoài tới lưu trú du lịch trong nước (các thủ tục nhập cảnh cho khách du lịch,các vấn đề về hộ chiếu, visa ) Trong tương lai, xu hướng đi lại giữa các quốc gia để trải nghiệm, du lịch ngày càng nhiều nên việc tạo được điều kiện thuận lợi, an toàn và hợp pháp cho công dân nước ngoài qua lại tới du lịch là một điều hết sức quan trọng để góp phần vào làm đa dạng và tăng thêm sự biết đến về du lịch nước nhà

Môi trường sống cũng là yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong phát triển du lịch cộng đồng Khi một môi trường, chỗ ở an toàn, không khí trong lành kết hợp với con người thân thiện, an ninh đảm bảo, các cơ sở vật chất đáp ứng được đầy đủ nhu cầu cho du khách thì đó chính là sự thành công to lớn để phát triển về du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng Việc xây dựng và bảo vệ môi trường - xã hội trong sạch, lành mạnh cho khách du lịch là điều cần phải làm một sớm một chiều, bởi vì yếu tố này sẽ tác động trực tiếp tới việc quyết định đến hay là không đến địa điểm du lịch của du khách Ngoài ra khi nói về yếu tố môi trường chúng ta có quan tâm đến các

Trang 31

vấn đề như: Môi trường nơi có điểm du lịch như thế nào? Phong cảnh ra sao? Môi trường nơi đây bị ô nhiễm hay không? Có an toàn khi lưu trú trong các ngày dưới mọi thời tiết hay không? Có dẽ dàng qua lại không? Vậy môi trường cũng nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của du lịch cộng đồng, vì vậy khi phát triển du lịch tại các địa phương sự cần thiết để xem xét đến yếu tố

về môi trường là hết sức quan trọng và cần thiết tất yếu

2.1.4 Mối quan hệ giữa các dịch vụ ngân hàng với du lịch cộng đồng

Để phát triển và kinh doanh du lịch, vốn đầu tư, trang bị là một điều tất yếu phải huy động, việc lựa chọn vốn ngân hàng vẫn là ưu tiên số một với nhiều

hộ kinh doanh du lịch Bởi vậy, các dịch vụ ngân hàng với du lịch nói chung

và du lịch cộng đồng nói riêng có một mối quan hệ mật thiết với nhau

2.1.4.1 Vai trò của dịch vụ ngân hàng đối với phát triển du lịch cộng đồng

Với các loại hình dịch vụ đa dạng của ngân hàng sẽ đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển của kinh tế, xã hội trong đó có ngành du lịch và đặc biệt là du lịch cộng đồng Đối với việc phát triển du lịch cộng đồng, việc liên kết với các ngân hàng nhà nước, ngân hàng tư nhân hay các dòng vốn của ngân hàng nước ngoài để được áp dụng các gói dịch vụ của ngân hàng vào thực tiễn trong phát triển du lịch trong đó có du lịch cộng đồng là điều hết sức cần thiết Một thực tế cho thấy, ở nhiều nước phát Úc, Đức, Hàn Quốc hay Nhật Bản họ đã áp dụng rất tốt các dịch vụ của ngân hàng vào phát triển du lịch, nổi bật nhất như dịch vụ thanh toán, chi trả Việc chi trả tiền dịch vụ như dịch vụ ăn uống, mua sắm, các hoạt động vui chơi, giải trí và hoạt động du lịch tại các nước có nền kinh tế phát triển chỉ thực hiện bằng hình thức quét thẻ, chuyển khoản, thanh toán qua ví điện tử, mã QR Chính vì vậy du khách nước ngoài đi du lịch không hay mang theo tiền mặt mà thay vào đó là chiếc thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng Ngoài việc thanh toán,chi trả thì ngân hàng còn đóng vai trò to lớn trong việc góp vốn để phát triển du lịch, xây dựng mô hình

Trang 32

du lịch Điển hình như xây homestay, khu du lịch, mở các hoạt động vui chơi giải trí du lịch, mở dịch vụ phục vụ cho khu du lịch

Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung cũng như phát triển ngành du lịch nói riêng, cụ thể như:

Ngân hàng là nguồn vốn tiềm năng cho phát triển du lịch Trong sự phát triển của nền kinh tế, du lịch đóng một vị trí quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy việc đầu tư vào phát triển du lịch đặc biệt du lịch cộng đồng là một sự cần thiết và quan trọng Trong du lịch, vốn đóng vai trò quan trọng như góp phần vào tu sửa nhà, xây nhà, xây homestay, mua sẵm các trang thiết bị phục vụ du lịch Ngân hàng là nguồn lực tạo động lực lớn trong phát triển kinh doanh

Cung cấp các dịch vụ tiện lợi trong việc thanh khoản Ngoài là nguồn vốn tiềm năng để phát triển du lịch thì ngân hàng còn có các dịch vụ như thanh toán nhanh, chuyển khoản, thanh toán trực tuyến, online mang độ chính xác cao, an toàn và rất tiện lợi Cùng với sự phát triển của ngành công nghệ hiện đại thì công nghệ thanh toán số đã được khai mở, được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong đó điểm hình như: mua sắm, ăn uống và chi trả cho các dịch vụ du lịch Đóng một vai trò như là chìa khóa để khẳng định sự phát triển vượt bậc của các ngành nói chung và ngành du lịch nói riêng

2.1.4.2 Những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng để phục vụ du lịch cộng đồng

Để dẽ dàng tiếp cận và áp dụng được thành công các dịch vụ của ngân vào việc phát triển du lịch, du lịch cộng đồng cũng là một sự khó khăn Hầu hết đại đa số được thấy áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế tiên tiến hơn Việt Nam Sở dĩ, bởi ở các nước phát triển có trình dân trí cao, có đủ năng lực đủ lớn để thực hiện Song với trình độ dân trí còn chưa ổn định như Việt Nam thì việc áp dụng hay thực hiện các dịch vụ số của ngân hàng là một

Trang 33

sự bất khả thi Đặc biệt để áp dụng tai các vùng du lịch cộng đồng dân tộc thiểu số là một điều khá khó khăn Chính vì vậy, sau đây là vài các rào cản ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của cộng đồng các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng

- Rào cản về dân trí, khi trình độ nhận thức,vốn hiểu biết của cộng đồng cao, việc tiếp nhận các chính sách của Nhà nước nói chung cũng như nhận thức

về các chính sách, dich vụ của Ngân hàng để áp dụng vào cuộc sống, phát triển nền du lịch nói riêng sẽ trở nên dẽ dàng và phát huy được tác dụng Tuy nhiên nếu dân trí còn chưa được cao thì việc nhận thức và lĩnh hội các chính sách, dịch vụ sẽ bị thụt lùi và còn nhiều hạn chế Cụ thể như trong việc áp dụng thanh toán số, thanh toán điện tử thì cũng cần tới sự hiểu biết và biết thao tác

Vì vậy việc áp ụng các dịch vụ ngân hàng vào phát triển DLCĐ tại địa phương

để mang lại sự thành công thì trước tiên dân trí được đẩy mạnh là yếu tố hết sức cần thiết

- Khó khăn về tài sản đảm bảo, khi nói đến tài sản thế chấp thì chúng ta

sẽ nói đến việc vay nợ ngân hàng Khi thực hiện công việc kinh doanh hay làm điều gì đó mà vốn tự có không thể đảm bảo, thì việc đi vay vốn ngân hàng

sẽ là một sự lựa chọn cần thiết cho các chủ thể Tuy nhiên khi thực hiện vay vốn vấn đề không có tài sản thế chấp là một khó khăn cho người vay , bởi vậy cũng sẽ không trừ khả năng có hộ không thể huy động được vốn cho kinh doanh cũng như kinh doanh du lịch Có tài sản thế chấp để thực hiện việc vay vốn là một điều kiện cần, để thực hiện mọi ý tưởng kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng Ngoài vấn đề tài sản đảm bảo, khả năng không chi trả cũng là đòn tâm lí chung của các hộ tham gia vay vốn Khi thực hiện vay vốn, ngân hàng khá quan tâm về khả năng chi trả của người vay Ngoài việc lấy tài sản thế chấp để bảo lãnh cho vay, ngân hàng cũng xem xét đến vấn đề thu hồi vốn từ người vay, mối quan tâm là thu nhập hàng tháng của chủ

Trang 34

thể vay vốn Để từ đ làm cơ sở quyết định cho vay hay không của ngân hàng đối với khách hàng

- Rào cản về mạng Internet, để dẽ dàng hơn trong việc tiếp cận và sử dụng, áp dụng các dịch vụ, chính sách của Ngân hàng cho sự cải thiện và phát triển đối với DLCĐ vấn đề không thể thiếu là mạng internet Từ internet giúp con ngưởi biết khai thác, sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích các thông tin, kiến thức bổ ích Ngoài ra còn tăng thêm khả năng hiểu biết của bản thân trong nhiều lĩnh vực như du lịch, công nghệ thông tin, xã hội, đời sống… Hơn thế mạng Internet sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa người với người, khiến chúng

ta trở nên gần gũi và thân thiện hơn Trong du lịch, mạng internet là công cụ hỗ trợ, điều khiển từ xa cho du khách, đơn giản như viêc đặt phòng ngủ hay đặt chuyến tuor du lịch Chính bởi vậy, Internet cũng là một nhân tố ảnh hưởng không hè nhỏ đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng trong phát triển DLCĐ Ngoài ra, với các dịch vụ hiện đại, dịch vụ thanh toán số phổ biến hiện nay tại các cơ sở dịch vụ hay thậm chí trên các thiết bị di động thông minh cũng phải cần tới mạng internet thì mới hoạt động được Việc thiếu mạng internet sẽ là rào cản lớn khiến cho việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng trở nên bất lợi hơn

- Lượng khách bất banh, trong phát triển du lịch cộng đồng một trong các yếu ttố để khẳng định nên sự thành công của cộng đồng chính là lượng khách thường xuyên qua lại với cộng đồng Trong trường hợp lượng khách bất banh sẽ ảnh hưởng lớn đến tâm lí nên lựa chọn kinh doanh du lịch hay không của nhiều hộ Nêú thật sự lượng khách ít thì việc lựa chọn kinh doanh du lịch

sẽ trở nên ít và khan hiếm, từ đó sẽ là nguyên nhân làm nản đi ý chí kinh doanh

du lịch của nhiều người và việc tiếp cận vay vốn ngân hàng sẽ trở nên không được lựa chọn

- Lãi suất ngân hàng cao, một trong các rào cản lớn khiến người dân không thực hiện vay vốn và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Việc trả lãi

Trang 35

hàng tháng cũng là vấn đề đối với các hộ không có thu nhập ổn định Lãi suất ngân hàng cao sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc không sẵn sàng thực hiện vay vốn của nhiều hộ kinh doanh du lịch

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng và sử dụng dich vụ ngân hàng, thanh toán số ở Việt Nam

2.2.1.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam

- Bản du lịch cộng đồng Cát Cát tại huyện Sa Pa, tỉnhLào Cai

Bản Cát Cát là một làng của đồng bào dân tộc người Mông đen thuộc xã San Sả Hồ, cách thị trấn Sa Pa khoảng 2 km Nơi đây được người Pháp phát hiện vào đầu thế kỉ XX và chọn làm nơi nghỉ dưỡng của các quan chức cấp cao đồng thời cho xây dựng tại đây một nhà máy thủy điện (hiện nay vẫn được bảo tồn và là nơi các chàng trai cô gái người Mông biểu diễn văn nghệ dân tộc phục vụ du khách)

Trên đường vào với bản Cát Cát, du khách sẽ được chiêm ngưỡng phong cảnh núi non hùng vĩ của dãy Hoàng Liên Sơn, những cánh ruộng bậc thang rực rỡ và kỳ vĩ như những nấc thang lên trời Không chỉ có vậy, bản Cát Cát còn là nơi hội tụ của ba dòng suối ngày đêm rì rào với những tên gọi rất hoa

mỹ như: suối Vàng, suối Bạc, suối Tiên Sa cùng ngọn thác Cát Cát tuôn trào xuống thung lũng tạo thành một khối lớn bụi nước bay làm hư ảo cả một khoảng không gian của bản làng

Vào đến trong bản, du khách chắc chắn sẽ bị hấp dẫn bởi những nếp nhà của đồng bào dân tộc nơi đây Người Mông ở bản Cát Cát thường xây nhà dựa vào sườn núi, các nóc nhà chỉ cách nhau khoảng vài chục mét Đó là các căn nhà ba gian có vì kèo 3 bột ngang được kê trên phiến đá vuông hoặc tròn, mái lợp ván gỗ pơ mu, vách bằng gỗ xẻ Ngôi nhà có 3 lối ra vào, gồm cửa chính ở gian giữa, 2 cửa phụ ở 2 đầu nhà Cửa chính luôn được họ đóng kín và chỉ mở khi nào nhà có việc lớn như dịp lễ Tết, đám cưới, đám tang

Trang 36

Ngoài trồng lúa, bản Cát Cát còn là nơi lưu giữ và phát triển những làng nghề thủ công truyền thống của người Mông như: trồng lanh, đan lát dụng cụ sinh hoạt, dệt thổ cẩm, chế tác bạc và rèn công cụ Tất cả những sản phẩm được tạo ra từ đôi bàn tay khéo léo của người dân nơi đây đều mang những nét đẹp tinh xảo Có lẽ vì vậy mà bất cứ du khách nào khi có cơ hội đến với bản Cát Cát đều mong muốn lựa chọn được những món quà ý nghĩa, mang đậm dấu ấn của bản làng người Mông mang về tặng cho người thân và bạn bè Những món đồ độc đáo được người dân làm ra không chỉ mang lại sức sống cho bản làng mà còn thể hiện nét văn hóa đặc trưng được người Hmông gìn giữ qua bao thế hệ

Bản Cát Cát không chỉ hấp dẫn du khách bởi phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, trữ tình mà còn bởi những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, đa dạng của đồng bào dân tộc Mông nơi đây Du khách sẽ thực sự thích thú khi cùng hòa mình vào điệu múa dịu dàng của những cô gái Mông xinh đẹp, điệu khèn, tiếng đàn môi say đắm lòng người hay cùng giao lưu nhảy sạp với những chàng trai cô gái người Mông Nếu đến Sapa vào dịp đầu năm, du khách còn có cơ hội tham gia vào lễ hôi Gầu Tào, một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của người Mông ở bản Cát Cát để hòa cùng không khí tươi vui, nhộn nhịp trong dịp đầu xuân cũng như cầu chúc những điều may mắn cho gia đình của mình Ngoài ra, du khách sẽ có cơ hội thưởng thức nhiều đặc sản như rượu ngô, thắng cố, thịt hun khói, tiết canh gà, nhái nấu măng, bánh ngô, đậu xị Bên cạnh đó, người dân địa phương còn bảo tồn được khá nhiều phong tục, tập quán độc đáo, trong đó không thể không kể đến “tục kéo vợ”.[5]

- Bản du lịch cộng đồng xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Cách TP Lai Châu khoảng chừng 22km, bản Hon (xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu) đem đến cho du khách một cảm giác yên bình

Trang 37

Đây là nơi cư trú trên 150 hộ gia đình, với hơn 100 nếp nhà sàn truyền thống của người Lự vẫn được lưu giữ

Đến thăm bản, du khách sẽ được nghe các bà, các chị hát những làn điệu dân ca Lự êm dịu, những tiết mục ca múa do chính những chàng trai cô gái trong bản biểu diễn với các loại nhạc cụ như trống, chiêng, sáo mẹ, sáo con hoặc được thưởng thức những món ăn đậm đà bản sắc do bà con dân bản chế biến… Du khách có dịp mua những mặt hàng thổ cẩm thủ công như túi xách, khăn, mũ, áo, váy…

Du khách tới tham quan bản Hon đều tỏ ra thích thú khi được cảm nhận hơi thở cuộc sống của bản Hon, được công nhận là Bản du lịch cộng đồng Năm

2012, lượng khách đến bản tương đối ổn định, trung bình mỗi tuần có từ 1 - 2 đoàn khách (5 - 30 khách/đoàn), tuy nhiên vào mùa khô số đoàn khách có thể đến nhiều hơn

Trong hơn 100 nóc nhà sàn ở bản Hon có khoảng 5 nhà có khả năng phục vụ khách lưu trú Mức thu tiền khi khách lưu trú là 70 nghìn đồng/đêm/khách Đặc điểm ngôi nhà sàn của người Lự là thường có diện tích nhỏ, sàn nhà không cao nên sức chứa không lớn Do vậy, bình quân mỗi hộ gia đình có thể chứa khoảng 15 khách/đêm Một số ngôi nhà lớn thì chứa khoảng 20 - 25 khách/đêm

Những năm gần đây khách tới bản Hon tham quan ngày càng nhiều, vì thế thu nhập của các gia đình khá dần lên Các gia đình trong bản cũng đã quan tâm thực hiện vệ sinh môi trường, hầu hết đều xây dựng nhà vệ sinh tự hoại, có nhà tắm cho khách Nhà ở cũng sạch sẽ, không nuôi trâu, nuôi lợn trong gầm nhà

Tuy nhiên, để phát triển du lịch cộng đồng tại bản Hon, chính quyền địa phương cần tăng cường xúc tiến quảng bá điểm du lịch bản Hon trên các phương tiện thông tin đại chúng; kêu gọi sự đầu tư tài chính hỗ trợ người dân nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách;

Trang 38

đồng thời hỗ trợ người dân đưa ra định hướng tổ chức các hoạt động du lịch và khai thác tài nguyên du lịch phù hợp với đặc điểm riêng của bản Người dân địa phương cần được nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có ý thức bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai Ngoài ra, chính quyền và nhân dân cần liên kết với các doanh nghiệp lữ hành để nghiên cứu tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo mang sắc thái riêng của bản Hon.[5]

- Ở Bản Hồ- Sa Pa- Lào Cai

Huyện Sa Pa thuộc tỉnh Lào Cao, cách Thái Nguyên khoảng 400km, bắt đầu phát triển du lịch bùng nổ vào những năm 1990 Sa Pa nổi tiếng với 14 phong cảnh đẹp, khí hậu dễ chịu, bản sắc văn hóa và các phong tục tập quán của dân tộc thiểu số trong vùng Du lịch bắt đầu phát triển tại Bản Hồ vào năm

1997 nhờ các công ty điều hành du lịch tại Sa Pa Năm 2001 SNV cùng với IUCN tiến hành một dự án 3 năm nhằm phát triển du lịch cộng đồng bền vững trong vùng: Dân số của Bản Hồ gồm 200 hộ gia đình thuộc dân tộc Tày Trong đó có 29 hộ gia đình tham gia vào dự án phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương Khách tham quan đến với Bản Hồ có thể ở tại nhà của dân địa phương và tham gia cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người Tày Hướng dẫn viên du lịch là người dân sẽ hướng dẫn du khách tham quan làng bản, thưởng thức phong cảnh thanh nhã và yên bình cũng như tìm hiểu kỹ năng nhuộm chàm, đánh bắt cá, đồng áng và trồng thảo dược Khách tham quan có thể tham gia vào các chuyến đi bộ và bơi ở những thác nước và suối nước khoáng nóng quanh vùng, tham gia các hoạt động thể dục thể thao văn hóa cùng với dân bản địa, thưởng thức các món ăn của người dân địa phương Mỗi ngày Bản Hồ tiếp nhận trung bình từ 5 đến 7 khách du lịch với mức chi tiêu trung bình khoảng 700.000 - 1.000.000 VND Kinh doanh nước giải khát, khuân vác hành lý cho khách du lịch, dịch vụ ăn uống, quà lưu niệm mang lại nguồn thu nhập từ 3.000.000VNĐ/tháng đến 5.000.000VNĐ/tháng cho

Trang 39

người dân trong bản tham gia vào hoạt động du lịch Du lịch đã đóng góp đáng

kể vào quá trình tái sinh các truyền thống văn 15 hóa Các hoạt động du lịch đã khuyến khích người dân bản địa mặc quần áo truyền thống khi biểu diễn hoặc khi đón tiếp khách du lịch Nhận thức về môi trường cũng được nâng cao thông qua các hoạt động du lịch, tiêu biểu là đường phố lối xóm trở nên sạch sẽ và cây được trồng nhiều hơn.[11]

2.2.1.2 Tình hình sử dụng các dich vụ ngân hàng, thanh toán số tại Việt Nam

Với sự chỉ đạo của Chính phủ, việc thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đã có kết quả đáng ghi nhận trong năm 2018, hơn thế vẫn được tiếp tục tăng cao trong năm 2019 Trong đó ví MoMo là một loại ví điện tử nổi tiếng nhất ở Việt Nam, hiện có khoảng trên 10 triệu người dùng, 100.000 đối tác và hơn 100.000 điểm bán hàng (POS) Dịch vụ này đã thu hút nhiều người dùng hơn khi hợp tác với các ngân hàng và tạo ra nhiều điểm thanh toán hơn cũng như các dịch vụ ngoại tuyến và trực tuyến Trước sự bùng nổ của thanh toán không dùng tiền mặt, thì thị trường thẻ tín dụng Việt Nam trở nên phát triển đáng kể Nhiều ngân hàng trong và ngoài nước cũng như các công ty tài chính đang thực hiện các chương trình hoàn lại tiền và sử dụng miễn phí trong nhưng năm đầu tiên Đồng thời vào làm việc với các nhà hàng, khách sạn và đại lý du lịch để thực hiện áp chính sách trên, ngoài ra còn áp dụng giảm giá cho người dùng thẻ tín dụng Đặc biệt Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu chi nhánh các tỉnh, TP triển khai các giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, ưu tiên các lĩnh vực y tế, giáo dục, các khu du lịch và nhà hàng khách sạn Ở các trường học, bệnh viện sẽ trang bị lắp đặt các thiết bị chấp nhận thẻ, thanh toán ứng dụng QR, cho phép phụ huynh, người bệnh sử dụng thiết bị di động, thẻ ngân hàng để thanh toán, tương tự như việc mua hàng trong siêu thị Theo Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam hiện có 78 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua internet và 45 tổ chức cung ứng dịch thanh toán di động (mobile payment) Theo số liệu mà của Cục Thương mại điện tử và

Trang 40

Kinh tế số - Bộ Công Thương, thương mại điện tử tại Việt Nam thời gian qua

đã có sự chuyển biến tích cực khi mà các giao dịch qua internet, di động tăng tới 238% về giá trị Tuy nhiên, tiền mặt vẫn chiếm ưu thế với hơn 90% giao dịch Chính phủ đã đưa ra mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt phải chiếm hơn 30% trên tổng phương tiện thanh toán tại Việt Nam Song song đó, cần xây dựng cho được hệ sinh thái thanh toán điện tử ngày càng phổ biến và tiện lợi cho người giao dịch Hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện

tử của ngân hàng sẽ giúp ngân hàng xây dựng được kết cấu hạ tầng hiện đại để cung cấp các sản phẩm dịch vụ tiện lợi và đa dạng, ngày càng thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu của khách hàng, giảm chi phí vận hành, tăng cường hiệu quả quản

lý và tăng hiệu quả kinh doanh

Trong thời đại công nghệ 4.0, việc áp dụng linh hoạt công nghệ hiện đại vào phát triển hệ thống thanh toán hiện đại trong tất cả các lĩnh vực là một yếu

tố quan trọng và tiện lợi hơn rất nhiều so với việc luôn cầm tiền mặt để thanh toán Du lịch sẽ là một trong các lĩnh vực áp dụng hệ thống thanh toán hiện đại có hiệu quả cao Ở Việt Nam, đặc biệt ở các nơi vùng sâu, vùng xa, du lịch cộng đồng đang là một mũi nhọm góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế nói chung và kinh tế hộ, cộng đồng nói riêng Việc áp dụng được hệ thống thanh toán số hiện đại vào trong phát triển du lịch cộng đồng tại các vùng quê là một

sự cần thiết và phù hợp Ngoài ra việc liên kết với Ngân hàng để thực hiện sử dụng các dịch vụ, các chương trình chính sách vào phát triển du lịch cộng đồng cũng đống một vai trò to lớn góp phần vào sự thành công của du lịch cộng đồng Nhiều vùng địa phương có điều kiện DLCĐ phát triển như: Du lịch Dù Lượng tại Xã Cao Phạ, Du lịch ruộng bậc thang tại xã La Pán Tẩn của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái; Du lịch cảnh quan Cát Cát, Sa Pa-,Lào Cai; Du lịch Hoa Tam giác mạch Hà Giang

Ngày đăng: 24/04/2023, 14:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w