Các bệnh kí sinh trùng tuy không phát thành dịch lớn, gây chết hàng loạt như bệnh truyền nhiễm nhưng làm cho gà kém ăn hoặc bỏ ăn,giảm chất lượng thịt, trứng nếu không được phòng trị kịp
Trang 1NÔNG THỊ HÀ NAM
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN ĐÀN GÀ CÁY CỦM TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HỢP TÁC XÃ THUỘC XÃ TỨC TRANH
HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thúy Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2NÔNG THỊ HÀ NAM
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN ĐÀN GÀ CÁY CỦM TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HỢP TÁC XÃ THUỘC XÃ TỨC TRANH
HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thúy
Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường và sau 6 tháng thực hiện đề tài tại cơ
sở, đến nay em đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này Em xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, phòng đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi – Thú y
đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, cùng các bác, anh, chị quản lý trong trại chăn nuôi hợp tác xã thuộc Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa – Công ty Cổ phần khai khoáng miền núi tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại cơ sở
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Bùi Thị Thơm, người đã trực tiếp hướng dẫn và đã giúp đỡ em trong thời gian tiến hành đề tài cũng như hoàn thành bản luận văn này
Cuối cùng em xin trân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên
và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Em xin cam đoan đây là công trình do chính em nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS Bùi Thị Thơm Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 10 năm 2020
Sinh viên
Nông Thị Hà Nam
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 4
2.1.1 Thuận lợi 5
2.1.2.Khó khăn 5
2.2 Một số hiểu biết về giống gà nuôi tại trang trại 5
2.3 Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gà 7
2.3.1 Căn bệnh, vị trí ký sinh 7
2.3.2 Phân loại, hình thái và đặc tính sinh học của cầu trùng 8
2.3.3 Vòng đời 11
2.3.4 Đặc điểm dịch tễ 15
2.3.5 Cơ chế sinh bệnh 18
2.3.6 Sự miễn dịch của bệnh cầu trùng gà 20
2.3.7 Điều kiện gà mắc bệnh 21
2.3.8 Triệu chứng 21
Trang 52.3.9 Bệnh tích 23
2.3.10 Chẩn đoán 25
2.3.11 Điều trị bệnh 26
2.3.12 Phòng bệnh 30
2.4 Nghiên cứu trong nước và ngoài nước 32
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 32
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Địa điểm thực hiện đề tài 35
3.3 Thời gian thưc hiện đề tài 35
3.4.Nội dung nghiên cứu 35
3.4.1 Nghiên cứu tình hình chăn nuôi và công tác thú y tại trang trại 35
3.4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng trên đàn gà Cáy Củm tại trang trại 35
3.4.3 Nghiên cứu các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh cầu trùng gà 35
3.4.4.Nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị bệnh cầu trùng 35
3.5 Phương pháp nghiên cứu 36
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.5.2 Phương pháp bố trí lấy mẫu 36
3.5.3 Phương pháp lấy mẫu 37
3.5.4 Phương pháp xét nghiệm mẫu và xác định các chỉ tiêu theo dõi 37
3.5.5 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh cầu trùng ở gà Cáy Củm 38
3.5.6.Sử dụng thuốc phòng và điều trị bệnh cầu trùng cho gà 38
3.5 7 Phương pháp xử lý số liệu 39
Trang 6PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Tình hình chăn nuôi, công tác thú y tại trại 40
4.1.1.Tình hình chăn nuôi 40
4.1.2 Công tác thú y tại trại 40
4.2 Tình hình bệnh cầu trùng trên đàn gà nuôi tại trang trại trong thời gian thực tập (21/11/2019 – 20/05/2020) 44
4.2.1.Tình hình gà Cáy Củm nuôi tại trại chăn nuôi hợp tác xã động vật quý hiếm mắc bệnh cầu trùng trong thời gian thực tập 44
4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi của gà 45
4.2.3 Tỷ lệ và cường dộ cầu trùng theo phương thức chăn nuôi 50
4.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh cầu trùng gà 52
4.3.2 Tổn thương đại thể ở cơ quan tiêu hóa do cầu trùng gây ra 54
4.4 Biện pháp phòng và điều trị bệnh cầu trùng 55
4.4.1 Hiệu lực của thuốc phòng bênh cầu trùng 55
4.4.2 Hiệu lực của thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho gà 56
4.4.3 Đánh giá độ an toàn của thuốc điều trị bệnh cầu trùng 57
4.4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho gà 58
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hình thái đặc tính sinh học của các loại cầu trùng gà 10
Bảng 3.1 Bố trí lấy mẫu phân theo tháng 36
Bảng 3.2 Bố trí lấy mẫu phân theo lứa tuổi 36
Bảng 3.3: Bảng bố trí lấy mẫu phân theo phương thức chăn nuôi 37
Bảng4.1 Lịch dùng vaccine cho gà Cáy củm tại trại 42
Bảng 4.2 Lịch sử dụng thuốc tại trang trại 42
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh bằng công tác vệ sinh, bằng thuốc và bằng vaccine tại trại 43
Bảng 4.4 Tình hình bệnh cầu trùng trên đàn gà 44
từ ngày 21/11/2019 – 20/05/2020 44
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh cầu trùng theo lứa tuổi của gà 46
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo phương thức chăn nuôi 50
Bảng 4.7.Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của gà nhiễm cầu trùng 52
Bảng 4.8 Hiệu quả của thuốc phòng bệnh cầu trùng cho gà 55
Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho gà 56
Bảng 4.10 Đánh giá độ an toàn của thuốc điều trị cầu trùng 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Vòng đời phát triển của cầu trùng 14
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi của gà 48
Hình 4.2.Biểu đồ cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi gà 49
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo phương thức chăn nuôi 51
Hình 4.4: Biểu đồ cường độ nhiễm cầu trùng theo từng phương thức chăn nuôi 52
Trang 10và ấp trứng nhân tạo, công nghệ sản xuất thiết bị chuyên nghành, công nghệ giết mổ và chế biến các sản phẩm gia cầm,….Các sản phẩm phụ của chăn nuôi gia cầm như lông, phân, chất độn chuồng, phụ phẩm ở lò ấp và lò mổ… cũng được tận dụng với hiệu quả cao
Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà Cúp hay gà không phao câu là một giống gà nội được nuôi từ rất lâu đời tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam Chúng mang nhiều đặc tính di truyền quý hiếm, chúng là giống gà đặc sản, được nuôi từ lâu ở Hà Giang, Cao Bằng Giống gà này được đưa vào diện bảo tồn nguồn gen quý hiếm
Gà Cáy Củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng
xa, địa hình hẻo lánh Ở đây ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng thì chưa phát triển nên còn gặp phải nhiều khó khăn như phương thức chăn nuôi còn cổ hủ, người chăn nuôi còn thiếu kinh nghiệm, chưa có đầu tư đúng mức vào vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn sinh học
và cơ chế chính sách của nhà nước chưa thỏa đáng trong việc hỗ trợ cho người chăn nuôi Thực trạng chăn nuôi này đã đặt ra cho ngành thú y rất
Trang 11nhiều vấn đề cần giải quyết, đó là dịch bệnh ngày càng nhiều đa dạng và phức tạp đã gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng người chăn nuôi Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp như newcastle, tụ huyết trùng, cúm gia cầm, gumboro, còn thấy nhiều bệnh
kí sinh trùng Các bệnh kí sinh trùng tuy không phát thành dịch lớn, gây chết hàng loạt như bệnh truyền nhiễm nhưng làm cho gà kém ăn hoặc bỏ ăn,giảm chất lượng thịt, trứng nếu không được phòng trị kịp thời sẽ gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, trong đó có bệnh cầu trùng Cầu trùng ký sinh và phá hủy tế bào biểu mô ruột làm cho gà bỏ ăn, lông xù, cánh xã, phân loãng lẫn máu tươi, giảm năng xuất và hiệu quả chăn nuôi, tạo cơ hội cho những bệnh kế phátxâm nhập Bệnh không chỉ phổ biến ở nước ta mà còn xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu các biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng gà
Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay việc áp dụng các quy trình phòng và trị bệnh cầu trùng vẫn còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được, căn bệnh vẫn còn đang trong tình trạng đáng lo ngại
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của chăn nuôi hiện nay, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình bệnh cầu trùng trên đàn gà Cáy Củm
tại trại chăn nuôi hợp tác xã thuộc xã Tức tranh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích đề tài
- Xác định được tình hìnhnhiễm bệnh cầu trùng trên đàn gà cáy củm tại trại chăn nuôi hợp tác xã huyện Phú Lương
- Xác định đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh cầu trùng
- Xác định được thuốc phòng, biện pháp phòng và điều trị bệnh cầu trùng có hiệu quả cao, từ đó đề ra các biện pháp phòng và trị bệnh cầu trùng cho gà giúp người chăn nuôi đạt hiệu quả cao
Trang 121.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện về đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng, biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng có hiệu quả cho gà tại trại chăn nuôi hợp tác xã huyện Phú Lương và
gà khác dòng ở địa phương khác
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh cầu trùng, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà, hạn chế thiệt hại do bệnh cầu trùng gây ra góp phần nâng cao năng xuất trong chăn nuôi gà
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã nằm trên địa bàn xã Tức Tranh, thuộc sự quản lý của Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa – Công ty Cổ phần khai khoáng miền núi Trại được xây dựng năm 2006 trên diện tích 6
ha trong đó bao gồm:
- Diện tích dành cho xây dựng nhà ở và nhà kho: 0,05 ha
- Diện tích trồng cây ăn quả: 2 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi lợn: 0,15 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi gà: 0,2 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi hươu nai: 0,1 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi ngựa: 1,0 ha
Các ngành sản xuất chính của trại bao gồm:
Trồng trọt một số cây ăn quả chủ yếu là bưởi và ổi, ngoài ra còn trồng thêm lê, mận, mít: Trồng và sản xuất các loại cỏ để phục vụ chăn nuôi và cung cấp giống ra thị trường
Chăn nuôi một số động vật như: Gà Cáy Củm, hươu Sao, lợn rừng, ngựa bạch, trong đó:
- Chăn nuôi hươu: Đây là hai đối tượng được nuôi sớm ở trại, hiện trại
có 10 con hươu Đàn hươu được nuôi nhốt trong chuồng có sân vận động, mục đích sản xuất con giống và lấy nhung
- Hiện trại có 150 con lợn, có 1 đực giống, 12 lợn nái sinh sản, 8 lợn nái hậu bị, còn lại là lợn con theo mẹ, lợn con cai sữa và lợn choai Mục đích nuôi đàn lợn chủ yếu là nghiên cứu, sản xuất con giống và bán lợn thịt ra thị trường
Trang 14- Chăn nuôi ngựa bạch: Từ tháng 4 năm 2009 trại cho nhập 24 con ngựa bạch về nuôi với mục đích sinh sản, tạo sản phẩm ngựa bạch và cao ngựa bạch cung cấp cho thị trường
- Tổng đàn gà cáy củm là 561 con, được nuôi theo hình thức chăn thả và bán chăn thả
2.1.2.Khó khăn
Cơ sở thục tập đặt tại trại xã Tức Tranh là một xã trung du miền núi
có địa hình phúc tạp, đân cư thưa, phân bố không đều gây khó khăn cho công tác quản lý và sản xuất, cùng với đó là quá trình bê tông hóa đường gia thông còn chậm ảnh hưởng một phần không nhỏ tới hoạt động sản xuất và đi lại của người dân
Công tác tiêm phòng trên đàn vật nuôi của những gia đình, thôn xóm xung quanh cơ sở chăn nuôi chưa được triệt để, vệ sinh phòng dịch chưa tốt tiềm ẩn nguy cơ cho cơ sở
2.2 Một số hiểu biết về giống gà nuôi tại trang trại
* Gà Cáy Củm
Gà Cáy Củm là một trong những giống vật nuôi bản địa mang nhiều đặc tính di truyền quý, chúng có diện tích phân bố khá hẹp Hiện nay, gà Cáy Củm chỉ được phát triển tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Hà Giang với số lượng nhỏ được rải rác trong các nông hộ
Trang 15Hiện nay đã và đang được nuôi và nhân giống tại trại chăn nuôi hợp tác xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Gà Cáy Củm có màu lông đa dạng giống gà Ri: lông màu vàng nhạt
có sọc nâu, xám hoa mơ,vàng có đen ánh xanh cánh xả đen… lông mượt và nhiều màu Lúc mới nở và còn nhỏ con trống và con mái có màu lông đa dạng, khi trưởng thành con trống có màu lông rực rỡ, đẹp mắt, màu sắc lông
đa dạng như nâu đỏ, đen pha đỏ thẫm, xám, trắng, lá chuối khô…; con mái
có bộ lông mềm sáng có màu vàng, nâu, xám, trắng sọc đen Gà có mào đơn (mào cờ), có răng cưa, mào dâu, mào đỏ và phát triển triển mạnh ở con trống, con mái có mào kém phát triển hơn Gà có mắt màu đen, nâu Dái tai màu trắng đỏ, trắng Gà có móng chân dài sắc, màu sắc chân chủ yếu màu vàng một số màu đen, nâu Cánh phát triển bay nhảy tốt, hình dáng cơ thể nhỏ gọn và đặc biệt có phần đuôi cụp (không có phao câu) khác biệt hẳn với các giống gà khác
Người ta cho rằng chúng là gà không có phao câu vì phao câu gà không lồi ra, thực ra gà Cáy Củm có phao câu nhưng là phao câu chìm, vẫn
có khả năng sinh sản và phát triển tốt.Khi sờ thử không hề thấy cục thịt ở cuống đuôi của giống lông vũ này, kể cả khi vạch hết lông đuôi con gà để nhìn tận mắt, sờ tận tay Chỗ sau cùng của nó nhẵn nhụi, vuốt đều tay từ lưng tuột xuống đến bụng
Giống gà này mang những đặc điểm di truyền quý như phẩm chất thịt ngọt, giòn, thơm ngon đặc trưng Người ta cho rằng tại những thứ ngon lành vốn tích ở phao câu đều đã ngấm hết vào xương thịt Gà Cáy Củm có sức sống và bản năng sinh tồn mãnh liệt, có khả năng thích nghi và chống chịu thời tiết tốt, thích hợp nuôi cả bốn mùa trong năm Có thể chăn nuôi theo phương thức nuôi nhốt, bán chăn thả, thích hợp với quy mô hộ gia đình, trang trại và bán trang trại khối lượng trưởng thành chỉ 1,3 – 1,5 kg gà mái còn ở gà trống 1,6 – 1,8 kg Con mái đẻ trứng sớm (150 ngày đẻ quả trứng
Trang 16đầu tiên) khối lượng trứng trung bình 48 gram, chất lượng trứng nhiều lòng
Bệnh cầu trùng là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, thú hoang và con người, do một nhóm
nguyên sinh động vât đơn bào ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidia thuộc họ Eimeriidae chủng Eimeria và Isospora gây ra
Cầu trùng ở gà thuộc 2 giống:
Giống Eimeria: phân bố rộng rãi, đã tìm được trên 100 loài gây
bệnh cho gia súc, gia cầm
Giống Isospora: ít gặp hơn
Có 9 loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây thiệt hại lớn cho gà và đã
được công bố Gà thường nhiễm hỗn hợp nhiều loại cầu trùng Chúng thường kí sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của gà Một số loài kí sinh ở phần trên của ruột non , có loài kí sinh ở manh tràng và trực tràng Sức gây bệnh của chúng khác nhau, biến đổi bệnh lý ở nơi ký sinh cũng không giống nhau
Trang 172.3.2 Phân loại, hình thái và đặc tính sinh học của cầu trùng
Vị trí của cầu trùng gà trong hệ thống phân loại động vật học, các loài cầu trùng kí sinh ở Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập đến
Phân loại cầu trùng kí sinh ở gà như sau:
Ngành nguyên sinh động vật Protozoa
Lớp Sporozoasida
Bộ Eucoccidiorida
Họ Eimeriidae
Giống Isospora và giống Eimeria
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng gà trong đó có Nguyễn Văn Quang và Nguyễn Thị Kim Lan (2005) [13]
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình thái đa dạng phụ thuộc vào từng loài cầu trùng như hình ovan, bầu dục, tròn, Chúng kí sinh chủ yếu ở
tế bào biểu bì ruột của nhiều loại gia súc kể cả con người và đặc biệt là ở gia cầm
Về phân loại ký sinh trùng trong họ Eimeriidae đã được nhiều tác giả
đề cập tới Tuy nhiên cách phân loại cầu trùng chủ yếudựavào một số đặc điểm
cấu tạo của nang trứng (Oocyst), số lượng các Sporocyst trong nang trứng khi
phát hiện bào tử, vật ký chủ, vị trí ký sinh và cách gây bệnh Cầu trùng gà do
gần 10 chủng Eimeria gây ra nhưng chủ yếu thường gặp 9 loại sau:
- Loài Eimeria tenella: ký sinh ở manh tràng chúng không những ký
sinh ở trên bề mặt niêm mạc mà còn thâm nhập sâu vào các lớp của Mucose thuộc đoạn ruột già và trực tràng Các noãn nang có hình Ovan, vỏ bọc có màu trứng xám hoặc xanh nhạt, không có lỗ sinh dục, tại một nửa của noãn nang có nhân phân cực, kích thước của noãn nang từ 22,6 × 19,0µm, quá trình tạo thành bào tử nang ở môi trường bên ngoài kéo dài 24 – 48 giờ.Đây
là loài có tính độc cao, rất phổ biến
Trang 18- Loài Eimeria mitis: ký sinh ở ruột non, ruột già chúng ký sinh ở phần
giữa ruột non là chủ yếu Noãn nang có dạng hình tròn, vỏ bọc không màu, không nhân phân hạt, kích thước nhỏ: 16,2 × 15,5 µm, thời gian hình thành bào
tử nang trong môi trường bên ngoài là 48 giờ Đây là loài có độc lực thấp
- Loài Eimeria necatricx: ký sinh ở ruộtnon là chủ yếu, kí sinh manh
tràng Noãn nang có hình tròn hoặc Ovan và nhân phân hạt, kích thước nhở 16,7× 14,2µm, vỏ cứng và bà tử nang hình thành trong 48 giờ Đây là loài có tính độc cao nhưng ít phổ biến
- Loài Eimeria acercvulina: ký sinh tại vùng tá tràng và vùng đầu ruột
non Các noãn nang có hình quả trứng gà hoặc hình ovan, đầu nhỏ của noãn nang có một Micoropyl, đầu to có nhân phân cực, vỏ bọc nhẵn, kích thước của noãn nang là 19,5 × 14,3µm, thời gian hình thành bào tử nang ở môi trường bên ngoài là 21 giờ Đây là loài có độc lực thấp
- Loài Eimeria praecox: ký sinh ở đầu ruột non là chủ yếu Noãn nang
có hình bầu dục vỏ cứng không màu, nhân phân cực nằm ở một bên cạnh hoặc xen giữa các nguyên bào tử, kích thước nhỏ: 21,2 × 17,0µm, thời gian tạo thành bào tử nang là 24 – 48 giờ
- Loài Eimeria mivatti: ký sinh ở trực tràng Nang trứng hình trứng
hay hình bầu dục, chúng không có màu, ở một trong hai đầu nang trứng có
lỗ noãn, bên cạnh còn thấy cả hạt cực, độ lớn nang trứng thay đổi từ 15,6
×13,4µm, thời gian sinh bào tử 18 – 24 giờ Đây là loài gây bệnh yếu
- Loài Eimeria maxima: ký sinh trong các tế bào biểu bì bề mặt và các
lớp sâu của Mucose ở ruột non, ký sinh ở phần giữa ruột non là chủ yếu Noãn nang có hình quả trứng hoặc hình ovan, vỏ bọc xù xì, màu vàng nhạt, tại đầu nhỏ của noãn nang có một Micoropyl và dưới nó là nhân phân hạt, kích thước của noãn nang là 29,3 × 22,6µm, đây là loại noãn nang lớn, thời gian hình thành bào tử nang ở môi trường bên ngoài cơ thể là 48 giờ Đây là loài có tính độc yếu
Trang 19- Loài Eimeria brunette: thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếutrong ruột
già, đôi khi kí sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt Các nang trứng hình bầu dục, không màu, có độ lớn 20,7 × 18,1µm, sinh sản bào tửkết thúc sau 24 giờ Đây là loại có tính độc cao nhưng ít phổ biến
- Loài Eimeria Hagani: kí sinh ở đoạn đầu ruột non Noãn nang có
hình hơi tròn, không màu, có kích thước 19,1 × 17,6µm, thời gian sinh bào
Nơi ký sinh
Sức gây bệnh
Kích thước
Rất mạnh
Trung bình
bầu dục
Không
Đầu ruột non
Trung bình
Trung bình
Trang 202.3.3 Vòng đời
Sự lan truyền rộng khắp của cầu trùng là nhờ vào cấu trúc vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên
Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào
Theo Johannes kaufmann (1996) [20], vòng đời của cầu trùng diễn ra rất phức tạp
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết, cầu trùng sinh sản theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony)
Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony)
Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Hai giai đoạn đầu diễn ra bên trong cơ thể ký chủ, xảy ra trong tế bào biểu bì của vật chủ còn được gọi là giai đoạn nội sinh sản giai đoạn sau xảy
ra ở môi trường bên ngoài cơ thể ký chủ là giai đoạn ngoại sinh sản
Các Oocyst có sức gây bệnh được gà nuốt vào cùng thức ăn, nước
uống Dưới tác dụng của men tiêu hóa trong dạ dày va ruột non (đặc biệt là
men trypsin), vỏ của Oocyst bị vỡ, giải phóng ra các bào tử con (Sporosyst) (goodrich, 1994 và P.L, 1979) đã mô tả Sporozoit thoát ra qua lỗ noãn
(micropyle) dưới tác động của men Trypsin
Sporozoit được giải phóng ra có hình thoi, dài 10 – 15µ có một hạt
nhân Braunius W.W (1982) [19] cho rằng, Sporozoit của loài E necatrix
chui vào đỉnh các nhung mao ruột non, qua biểu mô, vào tuyến ruột nhiều
tác giả đã chứng minh rằng Sporozoit của các loài cầu trùng khác cũng xâm
nhập vào tế bào biểu mô của các đoạn ruột khác nhau
- Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony): trực phân
Trang 21Quá trình sinh sản vô tính theo hình thức trực phân diễn ra liên tục,
lặp đi lặp lại nhiều lần để tạo ra các Schizogony thế hệ III, IV, V,…
Sau khi noãn nang cầu trùng theo chất thải ra môi trường bên ngoài cơ thể, dưới tác động bất lợi của các yếu tố như ánh sáng mặt trời, độ ẩm, nhiệt
độ thay đổi… Các noãn nang được hình thành một lớp vỏ bọc cứng, chúng biến thành bào tử nang cầu trùng Các bào tử nang này có thể tồn tại rất lâu trong tự nhiên
Khi các bào tử nang cầu trùng xâm nhập vào cơ thể theo thức ăn hoặc nước uống,dưới tác dụng của dịch dạ dày, ruột, mật thì lớp vỏ bọc cứng đó
bị phá vỡ, các noãn nang được giải phóng, chúng lập tức xâm nhập vào trong các tế bào biểu bì ruột, thận, mật…Tại đây các noãn nang lớn lên nhanh chóng, có hình tròn, hình elip với nhiều nhân thể phân lập thuộc thế
hệ I hay còn gọi là Schizont I Từ mỗi một Schizont I hình thành rất nhiều tế bào có dạng elip dài được gọi là Merozoit sinh trưởng rất nhanh làm tan vỡ
các tế bào biểu bì của vật chủ Khi các tế bào biểu bì nơi khu trú bị phá hủy
thì lập tức các Merozoit tấn công xâm nhập sang các tế bào biểu bì mới và
quá trình phát triển này được lặp lại như cũ Đến đây các ký sinh này thuộc
thế hệ thứ hai và được gọi là SchizontII, tùy theo chủng cầu trùng và loại vật chủ có thể hình thành tiếp các thế hệSchizon III, IV,… Một cách ồ ạt theo
cấp số nhân kiểu phản ứng dây truyền phân tử làm cho hàng loạt tế bào biểu
bì của vật chủ bị phá vỡ, gây tổn thương nặng nề cho niêm mạc nơi bị nhiễm Đặc điểm phát triển của giai đoạn này theo kiểu phân chia tế bào
- Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony): Hình thành giao tử
Sau một đợt sinh sản vô tính (tùy loại cầu trùng), các Schizont thuộc
thế hệ cuối cùng chuyển sang sinh sản hữu tính, bắt đầu là tạo ra các thể
Gametscó hình dạng giống Schizont nhưng phát triển hoàn toàn khác Từ thể Gamets chúng bắt đầu định hướng phát triển thành Gametocyte (giao tử)đực
Trang 22và Gametocyte (giao tử) cái.Nhân của giao tử đực phân chia và lớn lên đến
chừng mực nào đó thì xung quanh mỗi nhân con hình thành nguyên sinh chất bao bọc và giao tử đực đã được trưởng thành Chúng có hình quả lê, kích thước nhỏ, một đầu có vòi sinh dục Cả cơ thể giao tử đực trưởng thành
là một tế bào sống hoàn chỉnh, chuyển động nhanh Quá trình hình thành giao tử cái cũng tương tự như giao tử đực, chỉ khác ở một đầu tế bào có
một lỗ sinh dục gọi là Micropyl, thông qua lỗ này giao tử đực chui vào
trong giao tử cái để thực hiện chức năng thụ thai Giao tử cái to hơn, ít chuyển động hơn, sau khi thụ thai xong cả giao tử đực và giao tử cái hình thành một hợp tử chung, được bọc chung bởi một lớp vỏ mới gồm hai lớp
và chúng rơi vào lòng ruột biến thành noãn nang chưa chín gọi là Oocyst kết thúc giai đoạn phát triển hai.Oocyst của các chủng cầu trùng khác nhau
có kích thước, hình thái, vỏ bọc, màu của vỏ bọc khác nhau, về kích thước người ta phân chia cầu trùng thành ba loại: Loại lớn đến 45µm, trung bình 25µ, loại nhỏ 15µm
Thời gian sinh sản nội sinh kết thúc, Oocyst theo phân gà ra ngoại
cảnh Thời gian sinh sản vô tính kéo dài 3 – 22 ngày tùy loại cầu trùng
Theo Shirley M W., Brown (1979) [23], có khoảng 70 – 80% Oocyst
cầu trùng được thải ra vào thời gian ban ngày và tập trung vào khoảng 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù thời gian này chỉ có 25% lượng phân được
thải ra Sự thải ra Oocyst ra môi trường ngoại cảnh tăng lên cao nhất rồi
giảm xuống và hết nếu gà không bị tái nhiễm
- Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Giai đoạn sinh sản ngoài cơ thể (giai đoạn ngoại sinh):
Theo đường bài tiết các noãn nang chưa chín lẫn trong phân và nước tiểu được thải ra ngoài Tại đây chúng bắt đầu phân chia làm 4 nguyên tiền
bào tử gọi là Sporoblast
Trang 23Quanh mỗi nguyên tiền bào tử (Sporoblast) lại hình thành 1 vỏ bọc riêng thành 4 nguyên bào tử nang nhưng cả 4 Sporoblast vẫn nằm chung 1
vỏ bọc 2 lớp rất cứng có màu nâu hoặc màu ghi đậm, có bảo vệ tốt đối với các nguyên tố gây hại cho chúng như: Các loại thuốc khử trùng, hóa chất tiêu độc, ánh sáng mặt trời, độ ẩm khí hậu thất thường Đến đây chúng biến
thành bảo tử nang hay còn gọi là cầu trùng chín (Sporocyst) kết thúc quá
trình phát triển giai đoạn 3, chỉ những bào tử nang này mới có khả năng gây bệnh từ con vật này sang con vật khác
Khi ký chủ nuốt phải noãn nang đã phân chia thành 8 bào tử con vào đường tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con ra, các bào tử con lại tiếp tục xâm nhập vào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sinh vô tính, hữu tính, vòng đời lại tiếp tục như trên
Hình 2.1 Vòng đời phát triển của cầu trùng
Trang 242.3.4 Đặc điểm dịch tễ
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh cầu trùng ở gà: thời tiết khí hậu, độ ẩm, điều kiện chuồng trại, công tác quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng…Các yếu tố trên đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình nhiễm và sự lây lan bệnh cầu trùng ở gà
Noãn nang cầu trùng ở trong đất có thể duy trì sức sống 4 – 9 tháng,
có thể sống được 15 – 18 tháng ở sân, nơi dâm mát Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là điều kiện thuận lợi nhát cho cầu trùng phát triển, nhiệt
độ 22 – 30°C chỉ mất 18 – 30 giờ cầu trùng phát triển thành những bào tử con Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương
đối yếu Khi độ ẩm 21 – 30%, nhiệt độ 18 – 40°C thì E tenella sẽ chết sau
1 – 5 ngày
Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh Noãn nang cầu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, đất, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi trở thành nguồn lây nhiễm bệnh Các loài chim, gà, gia súc, động vật gặm nhấm, côn trùng, người,… đều có thể là nguồn gieo rắc căn bệnh Người ta đã nghiên cứu thấy khi ruồi hút phải noãn nang cầu trùng vời tới ruột ruồi nó có thể duy trì sức gây nhiễm trong vòng 24 giờ
Thời gian nhiễm bệnh cầu trùng được chia ra làm 2 thời kỳ:
- Thời kỳ tiền phát kéo dài từ khi gà nhiễm phải noãn nang trứng cầu trùng cho tới khi xuất hiện noãn nang trong phân
- Thời kỳ phát bệnh: kéo dài từ khi xuất hiện noãn nang trong phân cho đến khi noãn nang hoàn toàn không có trong phân gà
Điều kiện chuồng trại chăn nuôi là yếu tố quan trọng liên quan đến dich tễ học bệnh cầu trùng gà Nuôi gà trong lồng và nuôi trên nền chuồngcó
tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng khác nhau
Trang 25Hoàng Thạch, (1999) [13] đã khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng, cho thấy:
tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng có đệm lót là trấu tỷ lệ nhiễm 22,49 – 57,38% Như vậy nuôi gà trong lồng không tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm rất thấp
Tuổi gà cũng là yếu tố 4cần chú ý trong đặc điểm dịch tễ của bệnh Lương Tố Thu và cs (1993) [15], Lê Văn Năm và Nguyễn Thị Hương (1996) [8] cho biết, gà nhiễm cầu trùng nặng nhất ở giai đoạn 20 – 56 ngày tuổi, nếu không được điều trị kịp thời có thể chết tới 100%
Điều kiện thời tiết ấm và ẩm ướt thuận lơi cho Oocyst cầu trùng phát
triển ở ngoại cảnh, làm cho bệnh cầu trùng dễ lây lan
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], Nguyễn Thị Kim Lan
va cs (1999) [4], môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của cầu trung Vì vậy, mùa xuân và mùa hè gà
bị nhiễm cầu trùng và nặng hơn các mùa khác trong năm, việc phòng bệnh cầu trùng cho gà ở mùa xuân và mùa hè cần chú ý hơn
Nguồn bệnh là những gà ốm hoặc khỏi những vẫn mang cầu trùng,
hoặc những gà lớn mang cầu trùng nhưng không phát bệnh Oocyst hàng
ngày được những gà này thải ra phân, phát tán trên nền chuồng, đệm lót, lẫn vào thức ăn, nước uống, gà dễ nuốt vào và bị bệnh
Lê Văn Năm và Nguyễn Thị Hương (1996) [8], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] đều thống nhất
rằng, gà bị bệnh cầu trùng là nguồn phát tán Oocyst cầu trùng Ngoài ra,
những gà mang cầu trùng nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng là nguồn mang căn bệnh nguy hiểm, vì chúng là đối tượng mà người chăn nuôi
ít chú ý (do không thể hiện triệu chứng lâm sàng)
Các giống gà cao sản nhập nội chưa thích nghi với các điều kiện sinh thái thường nhiễm cầu trùng, phát bệnh nặng và chết với tỷ lệ cao Gà nội
Trang 26trong cùng điều kiện nuôi dưỡng và môi trường chăn nuôi có tỷ lệ nhiễm cầu trùng thấp hơn gà ngoại và bệnh diễn ra mãn tính hoặc mang trùng Hiện tượng này đã xảy ra ở đàn gà Ri và gà lai Rhoderi (Rhod lai với gà Ri) tại các cơ sở nuôi gà công nghiệp với quy mô nhỏ hoặc nuôi trong gia đình
Vật môi giới truyền bệnh:
Một số động vật sống trong chuồng nuôi gà hoặc xung quanh chuồng
nuôi có khả năng mangOocyst cầu trùng như: ruồi, gián, kiến, chuột Chúng mang Oocyst cầu trùng ở chân, trên lông, da, cánh,…, trong khi di chuyển chúng sẽ vô tình chuyển Oocyst cầu trùng vào thức ăn, nước uống của gà
làm cho gà nhiễm cầu trùng
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], khi Oocyst bị ruồi nuốt
vào, trong đường tiêu hóa của ruồi, chúng vẫn sống và còn khả năng gây bệnh trong 24 giờ
Dụng cụ thú ý cũng là các yếu tố mang Oocyst cầu trùng, góp phần
gây nhiễm cầu trùng cho gà
Hoàng Thạch (1999) [14] đã khảo sát các mẫu thu thập từ dụng cụ
chăn nuôi, kết quả cho thấy, có 11,20% số mẫu phát hiện có Oocyst, trong
đó ủng bảo hộ của công nhân chiếm 5,60%, nhiều dụng cụ khác cũng có khả năng mang và truyền nhiễm cầu trùng từ gà bệnh sang gà khỏe
Ảnh hưởng của các tác nhân vật lý, hóa học đến sự phát triển
Oocyst ở ngoại cảnh
- Ảnh hưởng của tác nhân vật ý:
Nhiệt độ, độ ẩm và môi trường nói chung đều tác động vào Oocyst
Điều này có nghĩa cực kì lớn trong việc nghiên cứu dịch tễ học và phương
pháp phòng chống bệnh cầu trùng cho gà Oocyst có trong phân bám vào vỏ
trứng sẽ chết khi ấp trứng ở nhiệt độ 38 – 40°C, ẩm độ 40 – 85% liên tục
trong 21 ngày Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của Oocyst E tenella là 26,6
Trang 27– 32,2°C Ở nhiệt độ 48°C tong 15 phút, độc lực của Oocyst giảm rõ rệt
Oocyst bị diệt ở 400°C sau 96 giờ, 45°C sau 3 giờ và 50°C sau 30 phút Ở
nhiệt độ 12 – 20°C Oocyst có sức gây bệnh tồn tại được 14 ngày, Oocyst
chưa có sức gây bệnh chỉ tồn tại trong 56 giờ
Oocyst của loài cầu trùng E tenella có thể sống qua mùa đông lạnh
giá, nhưng không chịu được điều kiện nhiệt độ cao và ánh sáng chiếu trực
tiếp, xong cỏ dại đã che phủ và bảo vệ Oocyst Cầu trùng gà có thể tồn tại
được 14 tuần ở sân nuôi ngoài trời
Theo Kay M W (1976) [21] cho biết, Oocyst loài E tenella và E
maxima không chịu tác động của quá trình lên men và chất độn chuồng
- Ảnh hưởng của tác nhân hóa học:
Oocyst cầu trùng có sức đề kháng với một số hóa chất khử trùng, tẩy
uế chuồng trại Đây là vấn đề cần chú ý khi nghiên cứu về dịch tễ học của
bệnh cầu trùng gà Oocyst loài E tenella có sức đề kháng khá tốt với dung
dịch muối, axit, bazơ ở nồng độ tương đối cao, còn dùng dịch formol, H2SO4
NH4OH, crezol gây ảnh hưởng đến sự hình thành bào tử Tuy nhiên, một số
hóa chất có tác dụng diệt Oocyst nên đã được sử dụng tiêu độc chuồng trại,
như NH3 10 %, methyl bromid
2.3.5 Cơ chế sinh bệnh
Quá trình sinh bệnh được hình thành trước hết từ những tác động trực tiếp của mầm bệnh, các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng ở trong cơ thể gà, đồng thời cả những yếu tố thứ phát do tác động của các yếu tố trên
Cầu trùng xâm nhập vào cơ thể gà theo đường tiêu hóa Nhờ khả năng sinh sản nhanh, cầu trùng gây ra tổn thương lan tràn trên mặt niêm mạc ruột
gà Từ đó một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị hủy hoại là điều kiện thuận lợi cho các hệ vi sinh vật khác nhau phát triển và xâm nhập vào cơ thể gà làm cho bệnh càng nặng hơn và có thể
Trang 28gây bội nhiễm với các bệnh khác Nói một cách khác, niêm mạc ruột bị tổn thương là điều kiện lý tưởng để các bệnh khác phát triển, cụ thể như: Bệnh
do E.coli, Salmonella, Mycoplasma, Gumboro, Newcastle, Marek…
Quátrình sinh sản vô tính và hữu tính trong tế bào biểu mô ruột thoạt đầu gây hiện tượng sung huyết, sau đó là hoại tử và xuất huyết niêm mạc ruột Sự phá vỡ hàng loạt tế bào niêm mạc ruột gây xuất huyết lan tràn, tế bào biểu mô bong tróc Ở các giai đoạn phát triển tiếp theo, cầu trùng xâm nhập sâu vào vách ruột gây hoại tử Xuất huyết các lớp tế bào niêm mạc và
tuyến ruột Sau cùng sẽ thấy xuất hiện Oocyst trong phân
Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là các thể phân lập đời hai, phát triển thành số lượng lớn trong các vách ruột sẽ phát huy màng niêm mạc ruột, gây ra chảy máu nhiều Lớp dưới niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế báo biểu bì bị hủy hoại Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối loạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa mở cho vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân hủy các chất chứa trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiễm trùng, nhiễm độc tố
Cầu trùng sinh độc tố làm gà bị trúng độc, thể hiện ở những rối loạn
về thần kinh: sã cánh, lờ đờ, kém nhanh nhẹn Cầu trùng chiếm đoạt dinh dưỡng là dịch tổ chức tế bào biểu mô ruột làm cho gà thiếu dinh dưỡng
Gà bị nhiễm bệnh cầu trùng có thể dẫn đến kế phát các bệnh bại huyết gà ỉa ra máu tươi Nguyên nhân là do các chủng cầu trùng phá vỡ
niêm mạc ruột tạo cơ hội cho E coli có yếu tố bám dính và sinh độc tố kết
hợp gây bệnh Bệnh luôn xuất hiện ở thể cấp hoặc quá cấp theo (Lê Văn Năm, 2014) [26]
Khi tử bào tử (Sporozoit) xâm nhập vào tế bào biểu mô, sau đó dinh
dưỡng và tăng kích thước, sinh sản liệt phân tăng số lượng cầu trùng, làm hàng loạt tế bào này ở ruột bị phá hoại mạnh, gây viêm ruột, rối loạn chức
Trang 29năng tiêu hóa, không thể hấp thu đủ chất dinh dưỡng Do viêm ruột, mạch máu ruột bị vỡ, dịch thể và máu tràn vào xoang tuột (gây tụ máu ở manh tràng) Những tổn thương trên làm cho gà bị gầy còm, thiếu máu, kiết lỵ Mặt khác khi tế bào biểu mô bị phá vỡ, nhiều độc tố được sản sinh làm con vật bị trúng độc dẫn đến rối loạn thần kinh, cánh rủ xuống, con vật lờ đờ, kém hoạt bát Khi niêm mạc ruột bị tổn thương, mở đường cho vi khuẩn sẵn
có dễ dàng xâm nhập vào đường huyết gây nên nhiều bệnh thứ phát và chất độc trong ruột ngấm vào đầu độc khắp cơ thể
2.3.6 Sự miễn dịch của bệnh cầu trùng gà
Theo Lê Văn Năm (2003) [9], gà bị cầu trùng do 6 – 7 loại Eimeria
gây nên, những chủng cầu trùng ký sinh trong các tế bào biểu bì trên bề mặt
niêm mạc như Eimeria acervulina, Eimeria necastric, Eimeria mitis không
tạo được miễn dịch Trong khi các chủng cầu trùng ký sinh ký sinh trong các
tế bào biểu bì nằm sâu trong lớp của thành ruột như: E.tenella, E.maxima,
E.praecox mới có khả năng tạo được miễn dịch thực sự nhưng miễn dịch
cũng không cao lắm, không tồn tại được lâu
Vì thế mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu chế tạo vaccine chống bệnh cầu trùng gà song đến nay hiệu lực của tất cả các loại vaccine đó vẫn chưa đáp ứng thỏa mãn cho thực tế sản xuất và kết quả là trong quá trình sử dụng vaccine có đàn đã được dùng vaccine nhưng bệnh vẫn nổ ra
Đối với gà trưởng thành có sức đề kháng tốt với bệnh cầu trùng là do miễn dịch tự nhiên theo lứa tuổi kháng được cầu trùng Tại chỗ các tế bào biểu
bì niêm mạc bị cầu trùng phá hủy trước đây nay được thay bằng lớp tế bào biểu
bì mới có khả năng kháng và chịu đựng được các tác động của cầu trùng
Theo Tyzzer (1929) [24], những gà khỏi bệnh với một loại cầu trùng này thì không miễn dịch với loài cầu trùng khác
Trang 30Có 2 mức miễn dịch trong bệnh cầu trùng:
- Mức 1: miễn dịch được sinh ra khi gà bị nhiễm một số lượng ít
Oocyst có sức gây bệnh Trường hợp này ở gà có miễn dịch yếu, nếu gây
nhiễm cho chúng một lượng liều Oocyst cao thì gà sẽ mắc bệnh
- Mức 2: miễn dịch được sinh ra khi gà bị nhiễm một số lượng lớn
Oocyst có sức gây bệnh Trường hợp này ở gà có miễn dịch rõ rệt, gà không
bị bệnh khi nhiễm cầu trùng
Miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với những loài cầu trùng phát triển sâu bên trong mô bào, và kém bền vững đối với các loài cầu trùng chỉ phát triển trong lớp biểu mô niêm mạc ruột Thời gian miễn dịch kéo dài hay ngắn còn phụ thuộc vào sự tồn tại của cầu trùng trong cơ thể
Ở Việt Nam, miễn dịch ở gà với cầu trùng E tenella có thể duy trì
được 60 ngày Sức miễn dịch với cầu trùng là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu chế tạo vaccine phòng bệnh cầu trùng cho gà
2.3.7 Điều kiện gà mắc bệnh
Theo Nguyễn Như Pho (2010) [11], điều kiện mắc bệnh là gà nhiễm một lượng lớn trứng gây nhiễm, kết hợp với các yếu tố vệ sinh thức ăn, nước uống kém, thiếu dinh dưỡng nhất là các vitamin A, K…, chăm sóc kém, mật
độ nuôi nhốt quá đông, hoặc xuất phát từ các stress do tiêm phòng, chuyển chuồng hoặc do sức kháng bệnh giảm vì đang mắc một bệnh khác
2.3.8 Triệu chứng
Bệnh cầu trùng ở gà biểu hiện bằng triệu chứng đặc trưng nhất là ỉa chảy, có máu, có dịch nhầy, ủ rũ, mệt mỏi, lông xơ xác, thần kinh không vững, yếu sức, gà thường tụ lại thành nhóm Mức độ nghiêm trọng của triệu
chứng phụ thuộc vào mức độ nhiễm từ môi trường và loài Eimeria nhiễm,
trạng thái sức khỏe cơ thể gà
Trang 31Theo Lê Văn Năm (2012) [10], thời kỳ ủ bệnh từ 4 – 6 ngày do đó bệnh cầu trùng thường thấy ở gà từ 10 ngày tuổi trở lên
Triệu chứng của bệnh thường trùng với sự phát triển các thể phân lập đời 2 trong cơ thể gà bị nhiễm bệnh Bệnh có thể tiến triển là cấp tính, mãn tính hay mang trùng (không có triệu chứng điển hình) phụ thuộc chủ yếu vào khối lượng cầu trùng, chủng loại cầu trùng thâm nhập vào cơ thể và tuổi gà mẫn cảm
Thể cấp tính
Sau thời gian nung bệnh, cả quá trình diễn biến mà người ta ghi nhận được qua các biểu hiện lâm sàng kéo dài từ 3 – 7 ngày, thường thấy
ở gà con
Lúc đầu gà lờ đờ, kém nhanh nhẹn, lông dựng đứng, giảm ăn, buồn ngủ, gà
ỉa phân loãng sống (thức ăn không tiêu hóa hết), phân dính quanh hậu môn
Tiếp theo do hàng loạt tế bào biểu mô ruột bị phá hủy, cơ thể bị trúng độc nặng thêm,vận động không bình thường, mất thăng bằng, cánh
gà bị tê liệt Gà uống nhiều nước, diều có nhiều dịch thể, bỏ ăn hoàn toàn Thiếu máu, niêm mạc và mào nhợt nhạt, con vật gầy dần, phân loãng như nước, có lẫn máu Giai đoạn cuối con vật bị tê liệt, sau đó bị chết (tỷ lệ chết từ 50% trở lên) Tỷ lệ gà chết nhiều hay ít phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc quản lý, thức ăn, sức đề kháng của con vật đối với cầu trùng, cường độ nhiễm cầu trùng…
Khi vạch hậu môn gà để khám thỉnh thoảng chúng ta thấy có dính máu hậu môn
Thể cấp tính gà chết trong thời gian 3 – 4 ngày, tỷ lệ chết 70 – 80% số
gà bệnh (nếu không điều trị kịp thời), số gà còn lại chuyển sang mãn tính
Thể mãn tính bệnh cầu trùng
Thể mãn tính bệnh cầu trùng thường mắc ở các trường hợp sau:
Trang 32- Số gà ốm cấp tính còn sống chuyển sang bệnh mãn tính
- Đàn gà đã được phòng cầu trùng bằng một số loại thuốc, nhưng do dùng thuốc không đúng quy trình hoặc không đủ liều phòng…
- Thường mắc ở gà dò từ 4 – 6 tháng tuổi hoặc gà trưởng thành
Các biểu hiện thể mãn tính hoàn toàn giống như thể cấp tính nhưng ở mức độ nhẹ hơn: Gà kém ăn, uống nhiều nước, ỉa chảy loãng phân sống lúc đầu, sau đó phân màu nâu gợn máu hoặc lẫn máu
Gà thiếu máu nhợt nhạt, xù lông, hay nằm tụm đống kêu khác lạ một cách yếu ớt,gà gầy còm dần,chân và cánh bị tê liệt nhẹ, lượng trứng đẻ giảm Nếu chúng ta không kịp thời thì một phần gà (15 – 30%) sẽ chết Bệnh kéo dài từ vài tuần đến vài tháng
Thể mang trùng (không có triệu chứng điển hình)
Gà lớn mang mầm bệnh tuy nhiên các dấu hiệu bệnh ít và ít được chú
ý vìgà vẫn ăn uống bình thường nhưng thi thoảng bị ỉa chảy có vẻ như vô lý
Ở gà đẻ sản lượng trứng bị tụt 15 – 20% nhưng người chăn nuôi không rõ nguyên nhân
Gà bị nhiễm bệnh cầu trùng có thể dẫn đến kế phát bệnh bại huyết –
gà ỉa ra máu tươi Nguyên nhân là do các chủng cầu trùng phá vỡ niêm mạc
ruột tạo cơ hội choE.coli có yếu tố bám dính và sinh độc tố kết hợp gây
bệnh Bệnh luôn xuất hiện ở thế cấp hoặc quá cấp (Lê Văn Năm, 2014 [26])
2.3.9 Bệnh tích
Theo Lê Văn Năm (2003) [9], trong những trường hợp gà bị cầu
trùng quá cấp do Eimeria tenella hoặc do bị ghép với E.coli bại huyết
chủng O78 thì gà bệnh ỉa ngay ra máu tươi hoàn toàn, xác gà chết còn béo tốt, thịt trắng…
Trường hợp dưới cấp hoặc mãn tính thì xác gà ướt, xung quanh lỗ huyệt bẩn đầy phân, gà chết rất gầy và thiếu máu
Trang 33Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], xác gà gầy xơ xác, niêm mạc và mào nhợt nhạt, phân dính bết vào lông ở xung quanh hậu môn Thường chất chứa trong ruột có lẫn máu Bệnh tích chủ yếu thấy ở ruột, các
cơ quan khác không có bệnh tích rõ Mức độ và vị trí biến đổi ở ruột có liên quan tới loài cầu trùng kí sinh
Màng niêm mạc đường tiêu hóa xanh tím, phủ chất nhầy màu vàng xám Diều và dạ dày tuyến trống rỗng, màng niêm mạc phủ niêm dịch hơi vàng, vách ruột dầy lên rõ rệt, màng niêm mạc trương lên, lớp nhung mao nằm bẹt, một số chỗ thấy rõ những điểm xuất huyết
E tenella gây bệnh tích chủ yếu ở manh tràng Manh tràng viêm xuất
huyết, phình to, chứa đầy chất dịch có máu, trong đó có những cục máu nhỏ, xốp, vách mạnh tràng mỏng đi Màng niêm mạc bị phá hủy, phủ đầy nhưng vết loét từ ngoài có thể nhìn thấy rõ Ở giai đoạn cuối của bệnh, niêm mạc ruột hơi trắng, dầy và có các cục máu Ở gà con có hiện tượng ỉa chảy lẫn máu
E necatrix thường gây bệnh tích ở đoạn giữa ruột non, ruột sưng to,
thành ruột tăng sinh, chất chứa trong ruột màu hồng nhạt hoặc màu xám, thỉnh thoảng có lẫn cục máu Trên màng niêm mạc phần giữa ruột non thấy những cục nhỏ màu trắng – xám nằm sâu trong vách ruột nên có thể nhìn thấy rõ từ phía ngoài
E hagani bệnh tích thấy ở tá tràng và phần trước ruột non Trên thành
ruột có những điểm xuất huyết to bằng đầu kim hoặc có những mảng xuất huyết màu đỏ Niêm mạc bị viêm cata nặng và xuất huyết
E brunetti gây bệnh tính ở phần sau của đường tiêu hóa, cổ manh
tràng, kết tràng và trực tràng Gây viêm hóa sợi trong ruột cùng dịch xuất tiết nhầy lẫn máu, phân màu trắng có lẫn các vệt máu
Niêm mạc ruột non dày lên và quan sát thấy vố số điểm xuất huyết
hoặc dải xuất huyết Khi bị kế phát bởi E.coli O78 thì cả ruột non phình rất
Trang 34to chứa nhiều hơi, phân lẫn máu Nhìn từ ngoài vào ngay sau khi mổ bụng
gà (chưa mổ ruột) ta đã thấy ngay qua thành ruột có vô số nốt đỏ, nốt trắng Nốt đỏ là điểm xuất huyết, nốt trắng là các tụ điểm tăng sinh của tế bào bị nhiễm các thể phân lập và có rất nhiều căn nguyên tập trung tại đây
Khi chúng ta mổ những đoạn ruột có những biến đổi nói trên ta thấy: Phân gà sống, lẫn máu hoặc phân gà và niêm mạc ruột có màu nâu nhạt, đặc biệt rõ nhất là ở ruột già Các biến đổi khác của cơ thể thuộc về tình trạng còi cọc và thiếu máu
2.3.10 Chẩn đoán
Theo Lê Văn Năm (2003) [9], có 4 phương pháp chẩn đoán:
- Dịch tễ: Gà bị ốm thường sau 10 – 14 ngày tuổi và bệnh nặng nhất
từ 18 – 45 ngày tuổi, từ 45 – 49 ngày tuổi ở thể mãn tính, sau 90 ngày là thể mang trùng
- Lâm sàng: Bệnh có với những triệu chứng lâm sàng điển hình như
đã mô tả ở trên cho phép chúng ta cơ sở nghi đó là bệnh cầu trùng
- Mổ khám bệnh tích: Phụ thuộc vào chủng căn nguyên và đặc điểm khu trú của chúng, khi mổ khám chúng ta thấy rất rõ biến đổi niêm mạc và thành ruột ở những vùng đường ruột khác nhau Ruột mù phình to chứa nhiều hơi, viêm xuất huyết Phân lẫn máu, các tế bào niêm mạc bị hoại tử, thành ruột thừa và ruột non xưng dày lên, có rất nhiều nốt xuất huyết hoặc từng dải xuất huyết dọc theo đường ruột Đôi khi thấy trong ruột có dịch nhầy fibrin màu vàng nâu và một số nốt sần hoại tử màu trắng đục Các cơ quan khác không có gì biến đổi lớn ngoài các biểu hiện của sự thiếu máu Toàn bộ cơ thể khô và còi cọc
- Xét nghiệm phân: Phương pháp xét nghiệm phân dùng chủ yếu vào mục đích khẳng định bệnh và phân loại chủng cầu trùng
Trang 35Thông thường 7 – 9 ngày sau khi nhiễm bệnh hầu như không có thể phát hiện noãn nang cầu trùng trong phân Do đó chẩn đoán bệnh phải lấy ngay niêm mạc hoặc vật chất tại các vùng có biến đổi để xem xét sự có mặt
của thể phân lập (Sizont thế hệ 1 hoặc 2) hoặc nguyên bào tử trung giàn (Merozoit) Phương pháp dùng để xét nghiệm phân phổ biến nhất vẫn là
phương pháp của Fulerborn và Darling
Chẩn đoàn phân biệt với một số bệnh khác
Bệnh tụ huyết trùng: Cũng có những triệu chứng phân đỏ, có máu trong trường hợp cấp tính, nhưng chết nhanh, tỷ lên chết cao ở giai đoạn 1 tháng tuổi Bệnh tích ở mỡ vành tim xuất huyết, không sưng manh tráng, điều trị bằng Streptomycin, Kanamycin bệnh khỏi nhanh, còn cầu trùng không khỏi
Bệnh Gumboro: triệu chứng lông xù, phân lúc đầu loãng có màng nhầy và trắng sau nâu đỏ, nhưng bệnh xảy ra trong vòng 3 – 7 ngày và tỷ lệ chết cao, bệnh tích không sưng manh tràng mà sưng túi fabricius
Bệnh nhiễm độc tố nấm mốc Aflatoxin: Phân cũng màu đỏ do xuất huyết ruột, bệnh tích gan sưng và xuất huyết giai đoạn cấp tính, sau đó khối
u nổi sần sùi và dai chắc, không sưng manh tràng
Bệnh bạch lỵ, bệnh thương hàn và E.coli: Triệu chứng phân tiêu chảy
trắng như là cầu trùng ruột non, bệnh tích mổ ra ruột không sưng to và có điểm trắng như vệt cầu trùng, điều trị bằng kháng sinh chlotetracylin, neomycin… thì khỏi còn cầu trùng không khỏi
2.3.11 Điều trị bệnh
Theo Lê Văn Năm (2003) [9], trong bối cảnh bệnh cầu trùng ngày càng
đa dạng và khả năng kháng thuốc ngày càng tăng của căn nguyên gây bệnh làm cho hiệu quả phòng và trị bệnh sút kém, đòi hỏi phải thay thuốc sử dụng liên tục Bên cạnh đó một số thuốc ví dụ như Furazolidon, sau một thời gian dài ngừng sử dụng, người ta vẫn tìm thấy một hàm lượng nhất định tích tụ
Trang 36trong thịt và trứng Mà chính Furazolidon lại là một yếu tố gây ung thư ác tính cho con người Vì thế tại một số nước tiên tiến như Mỹ, Israel, Pháp… người
ta đã cấm dùng Furazolidon và ở nước ta cũng cấm sử dụng từ năm 2002
Ở nước ta, thuốc Rigecoccin (clopydon, meticlopydol, methylchlorpindol, coyden) được dùng rất phổ biến trong việcphòng và trị bệnh cầu trùng cho gà từ 5 – 60 ngày tuổi, liều phòng 2,5g/10kg thức ăn, liều chữa là 5g/10kg thức ăn
Để tránh những tác hại cho con người và tránh khả năng kháng thuốc của cầu trùng, những năm đầu của thập kỷ 90 trên thế giới người ta đang có
xu hướng dùng các loại thuốc thuộc nhóm kháng khuẩn (Sulfonamid hay quen gọi là Sulfamid) và kháng sinh (Antibiotic) Các loại thuốc đó được kết hợp với nhau trong cùng một nhóm hoặc giữa nhóm này với nhóm khác tạo
ra hàng trăm chế phẩm đặc trị, không độc, có phổ tác dụng rộng, hoạt tính tác dụng cao
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], điều trị bệnh cầu trùng tùy từng cơ sở chăn nuôi mà chọn thuốc phù hợp, tránh tình trạng sử dụng một loại thuốc lâu ngày mà tạo ra thói quen và có thể gây ngộ độc cho gà Một số loại thuốc được sử dụng như sau:
- Amprolium: thuốc ở dạng bột trắng hay vàng nhạt, tan trong nước (tên thương phẩm: Ampron, Ampronmic) Thuốc có tác dụng chủ yếu với
cầu trùng E tenella ở manh tràng, ít tác dụng với các loại cầu trùng ở ruột
non Amprolium tác dụng theo cơ chế ngăn cản sự tổng hợp protein của cầu
trùng ở gia đoạn Schizont (tương ứng với ngày thứ 2 – 4 sau khi nhiễm)
Hiện nay, cầu trùng đã xuất hiện tính kháng lại Amprolium, thể hiện ở
sự giảm hiệu lực khi sử dụng
- Rigecoccine: (tên thương phẩm: Chlopidon, Meticlopodoc,
Coyden) Thuốc có phổ tác dụng rộng, tác động vào giai đoạn Schizont của
Trang 37loài E tenella, E brunetti, E necatrix, E acervulina Ngoài ra, thuốc còn có
tác dụng kích thích sinh trưởng và tăng khả năng tận dụng của gà Liều điều trị trộn thức ăn tỷ lệ 0,005%, hoặc hòa chung với nước uống liều 1 gram pha trong 2 lít nước, dùng liên tục trong 3 – 5 ngày
- Sacox (hãng Hoechst, Đức sản xuất): thuốc này thuộc nhóm kháng cầu khuẩn thế hệ mới, tác động theo cơ chế làm thay đổi sự vận chuyển và trao đổi ion ở màng tế bào cầu trùng
Sacox – 120 là một loại thuốc dùng bổ sung vào thức ăn, dạng hạt nhỏ màu nâu xám, trong 1 kg sản phẩm có chứa 120 gram hoạt chất salinomycine solium, có phổ hoạt lực với nhiều loại cầu trùng
Sacox có ưu điểm: tác động lên tất cả các loại cầu trùng đang kháng các thuốc chống cầu trùng khác
Liều phòng bệnh: 50 gram trộn trong 100 kg thức ăn
Không sử dụng Sacox điều trị bệnh cầu trùng
Baycox (hãng Bayer, Đức sản xuất): thuốc có thành phần chính là toltrazuril: 25mg
Baycox tác dụng lên tất cả các giai đoạn của cầu trùng, kể cả giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính, đồng thời có tác dụng kích thích và tăng cường
hệ thống miễn dịch của cơ thể gà
Liều điều trị: 1ml pha trong 1 lít nước, uống liên tục trong 2 ngày
Avicoc: trong 100 gram thuốc có: sulfadimerazine (sodic): 20,4 gram; diaveridine: 2,6 gram; tá dược vừa đủ 100 gram
Liều điều trị: 1 gram pha trong 1 lít nước, dùng liên tục trong 3 ngày
Anticoccid: trong20 gram thuốc có: diaveridine: 5,45 gram; sulfaquinoxalin: 5,46 gram; trimethoprim: 2,0 gram
Thuốc có tác dụng đặc trị cầu trùng ở gà, thỏ,…và phòng các bệnh về rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy