1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại điệu công ty tnhh chăn nuôi sơn động, xã long sơn, huyện sơn động

67 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Và Phòng Trị Bệnh Cho Đàn Lợn Nái Tại Trại Điệu - Công Ty TNHH Chăn Nuôi Sơn Động
Tác giả Nguyễn Thị Thúy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thu Trang
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo và bạn bè Đến nay, em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ

em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến cô

giáo TS Nguyễn Thu Trang, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời

gian thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại trại Điệu - Công ty TNHH Chăn nuôi Sơn Động, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cũng như học tập rèn luyện nâng cao tay nghề

Một lần nữa, em xin chúc toàn thể các thầy, cô giáo, sức khỏe, hạnh phúc và thành công

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Thị Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.3 Cơ sở vật chất và đánh giá thuận lợi, khó khăn của trang trại 5

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 11

2.2.3 Những hiểu biết về chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con 15

2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nuôi tại cơ sở 18

2.2.5 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32

3.1 Đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

3.3 Nội dung thực hiện 32

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32

Trang 5

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 36

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Điệu - Công ty TNHH Chăn nuôi

Sơn Động qua 3 năm từ 2018 - 2020 37

4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ nuôi tại trại 38

4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 38

4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập 39

4.2.3 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản của trại qua 6 tháng thực tập 41

4.2.4 Một số thao tác kỹ thuật trên đàn lợn con theo mẹ tại trại 42

4.3 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 43 4.3.1 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 43

4.3.2 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 46

4.4 Công tác chẩn đoán bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 49

4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 49

4.4.2 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 50

4.5 Công tác điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 52

4.5.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 52

4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 53

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Điệu - Công ty TNHH chăn nuôi

Sơn Động qua 3 năm 2018 - 2020 37

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái và lợn con theo mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian thực tập 38

Bảng 4.3 Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại Điệu 39

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái tại trại 41

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện một số thao tác kỹ thuật trên đàn lợn tại trại 42

Bảng 4.6 Kết quả vệ sinh sát trùng 45

Bảng 4.7: Quy trình phòng bệnh và kết quả tiêm phòng tại trại lợn 47

Bảng 4.8: Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin 48

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 49

Bảng 4.10 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 51

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 52

Bảng 4.12 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 53

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nông nghiệp, ngành chăn nuôi đóng góp phần quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của nước ta Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất của người Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước, là nguồn thu nhập kinh tế chủ yếu cho các hộ gia đình và còn là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu hiện nay cho con người

Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc tốt thì cần phải có con giống tốt Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn lợn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn

con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo

mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn giai đoạn nuôi thịt và lợn hậu bị Vì vậy, thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản để tạo ra đàn lợn con có chất lượng tốt, khỏe

mạnh là hết sức cần thiết

Trang 9

Xuất phát từ thực tế trên chúng em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại Điệu - Công ty TNHH Chăn nuôi Sơn Động, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

nuôi tại trại

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, đồng thời

học tập bổ sung thêm kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất

- Ứng dụng các biện pháp điều trị cho lợn nái sinh sản giai đoạn nuôi con và lợn con theo mẹ có hiệu quả vào thực tiễn chăn nuôi tại địa phương

- Có mặt đầy đủ, làm việc chăm chỉ trong thời gian thực tập tại trại

- Hòa nhập tốt với cán bộ, công nhân, kĩ thuật của trại trong công việc và

cuộc sống

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi lợn của công ty TNHH Chăn nuôi Sơn Động là công

ty thuộc tập đoàn Hòa Phát Được thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2015 nằm trên địa bàn thôn Bầu, xã Long Sơn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

Sơn Động là huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm tỉnh 80km về phía Đông Bắc

- Phía Bắc giáp huyện Lộc Bình, Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn

- Phía Đông giáp huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn và huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Phía Nam giáp huyện Hoành Bồ, thành phố Uông Bí và thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

- Phía Tây giáp hai huyện Lục Ngạn và Lục Nam cùng thuộc tỉnh Bắc Giang

2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai

Đất đai của huyện khá đa dạng, phong phú với nhiều loại đất được phân

bố ở cả địa hình bằng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ sinh thái nông - lâm nghiệp, thuận lợi cho việc canh tác của nhân dân, mặt khác cơ cấu đất đa dạng nên rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau

2.1.1.3 Điều kiện khí hậu và thời tiết

Sơn Động ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên

Tử ở phía Nam nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi Hàng năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà; mùa hạ nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa

Trang 11

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 32,90C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 11,60C

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.564mm, thuộc khu vực có lượng mưa trung bình trong vùng Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5 ngày

Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên huyện Sơn Động ít chịu ảnh hưởng của bão

2.1.1.4 Điều kiện giao thông

Huyện Sơn Động là thị trấn An Châu (trước là phố An Châu thuộc xã

An Châu) được tách ra khỏi xã An Châu về mặt hành chính vào năm 1991, nằm trên quốc lộ 31, cách thành phố Bắc Giang 75 km về hướng Đông Quốc

lộ 31 theo hướng Đông Bắc đi huyện Đình Lập (Lạng Sơn), quốc lộ 279 theo hướng Đông Nam đi thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) Thị trấn An Châu được coi là đầu mối giao thông của huyện, là ngã ba giữa 3 tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

- 01 trưởng trại

- 03 trưởng khu (khu phối, khu đẻ, khu cai sữa)

- 02 phó khu (khu phối, khu đẻ)

Trang 12

2.1.3 Cơ sở vật chất và đánh giá thuận lợi, khó khăn của trang trại

2.1.3.1 Cơ sở vật chất của trang trại

Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà ở cho công nhân, bếp

ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa và chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước cho lợn tự động Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà ăn, nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại

- Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ

Trang 13

thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm 3 khu:

- Khu phối: 1 phòng Lab là nơi chứa tinh lợn và kiểm tra chất lượng tinh lợn, 1 chuồng phát triển hậu bị, 2 chuồng phối, 2 chuồng mang thai Mỗi chuồng phối gồm 4 dãy, mỗi dãy có 66 ô lợn nhỏ và 2 ô rộng để chứa lợn bị bệnh (đau chân, bỏ ăn, ) để tiện cho việc chăm sóc Mỗi chuồng mang thai gồm 6 dãy, mỗi dãy có 63 ô nhỏ và 1 ô rộng

- Khu đẻ (6 chuồng) Mỗi chuồng đẻ có 60 ô chia làm 2 dãy

- Khu cai sữa (8 chuồng) Mỗi chuồng khu cai sữa có 32 ô chia làm 2 dãy Khu đẻ và cai sữa có đầy đủ bóng sưởi và lồng úm Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động

ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát

Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas

2.1.3.2 Đánh giá thuận lợi và khó khăn

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

Trang 14

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính

- Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: Giống, chế

độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại

+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng

cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì

Trang 15

xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo

12 giờ mỗi ngày

Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của hoocmon trong

cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

- Tuổi thành thục về tính của gia súc:

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và

cs (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì

ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

Trang 16

2.2.1.2 Sự thành thục về thể vóc

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [9], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc

ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục

về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối

2.2.1.3 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể

đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bào, noãn bào thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [20], Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó

đi vào quy luật mang tính chu kỳ

Trang 17

+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h

+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h

+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp

Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

2.2.1.4 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ

Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở

3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời

kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu

Trang 18

tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân

là 114 ngày (Jose Bento và cs 2013) [24]

2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục

* Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa; là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phân chia các tế bào trong cơ thể

Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh, 2005) [12]

Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại

và tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs 2003) [11]

Theo Trần Thị Dân (2004) [3], lợn con mới đẻ trong máu không có glubulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang con qua sữa đầu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu được tổng hợp còn ít khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh

* Khái niệm phát dục

Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất,

Trang 19

chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống và tăng trọng lượng theo tuổi giảm

* Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con

Lợn con giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh Trần Văn Phùng và cs (2004) [17] cho biết: Tốc độ sinh trưởng của lợn không đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau

đó giảm So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và vào lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con thấp Do lợn có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh Lợn con 21 ngày tuổi có thể tích lũy 9 - 14g protein/1kg khối lượng cơ thể Trong khi đó lợn trưởng thành tích lũy được 0,3 - 0,4kg protein Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn thấp vì khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn sản xuất

ra 1kg thịt mỡ

2.2.2.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh: Khối lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần Lúc đầu trọng lượng dạ dày chỉ là 6 - 8g và chứa được 35 - 50g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợn con đạt 60 ngày tuổi đã nặng 150g

và chứa được 700 - 1000g sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005) [13]

Qua nghiên cứu trên cho thấy, lợn là loài sinh trưởng và phát triển nhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của chúng thì người

Trang 20

chăn nuôi cần nắm vững đặc điểm tiêu hóa của lợn để tác động đúng lúc và thu được hiệu quả kinh tế cao

2.2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng

lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [7] ở lợn con, khả năng sinh trưởng

và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả

về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương

Trang 21

thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất

lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,

do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá

và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai

đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua

đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng  - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử  - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu  - globulin kém hơn, hàm lượng  -

Trang 22

globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng

tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.

2.2.3 Những hiểu biết về chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

* Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho biết: Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức

ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc

ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột

Trang 23

ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

* Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và

cs (2004) [18], cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu

vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -

15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô

úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô

úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi ) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức

Trang 24

ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

* Quá trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho biết: Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7 cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

Trang 25

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ

2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nuôi tại cơ sở

2.2.4.1 Bệnh ở lợn nái sinh sản

* Đẻ khó

Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của gia súc mẹ vừa yếu vừa ngắn Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:

Trang 26

- Cơn co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ mạnh nhưng không có kết quả

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ

* Khô âm đạo: Đẻ kéo dài do co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát hoặc thứ phát, mà trước đó dịch ối và nước tiểu đã chảy ra hết, hoặc do nhân tạo làm vỡ bào thai trước khi cổ tử cung mở hết, thường dẫn đến khô đường sinh dục

Xương chậu hẹp bẩm sinh, thai quá to: Vì chế độ ăn uống cho lợn nái khi có chửa không đúng quy trình kỹ thuật Khi lợn chửa bị sốt cao do mắc các bệnh truyền nhiễm đã điều trị trong thời gian khá dài

* Bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [18], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ xảy ra

Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí

Trang 27

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường

Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung

co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại

vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái

- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

- Lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [3], Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: Lợn dễ bị sảy thai, bào

Trang 28

thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái

bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc

tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dạ con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [14]

- Viêm cơ: Lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu hồng hoặc nâu

đỏ và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào

tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử

- Viêm tương mạc: Lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu

rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn

Phòng bệnh: Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [15], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó

Trang 29

rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Đối với lợn nái sau khi đẻ, xảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung

bằng dung dịch iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngày đầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ Sau khi thụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml nước muối sinh lý) hay 4g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày liên tiếp vào tử cung Đồng thời tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1 lần) nhiều lần trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài Tiêm kháng sinh phổ rộng chống viêm như: Terramycin LA, Amoxi 15% 3 lần liên tiếp mỗi lần cách nhau 48 giờ

* Bệnh viêm vú

- Nguyên nhân:

Christensen và cs (2007) [21], khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy: Vi khuẩn chính gây viêm là

Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

Theo White (2013) [33] nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do

các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm vú

từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh

Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn

Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú

Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập

và gây viêm

Trang 30

Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến

vú cư trú tại đây và gây bệnh

Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng

vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm

Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

- Triệu chứng

Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: Vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C

Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [19], viêm vú thường xuất hiện ở một vài

vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 – 420C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi

có máu

- Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó

sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là

do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt

Trang 31

cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh

hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

- Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng

ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị viêm

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [10] cho biết: Trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho lợn nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 ngày

2.2.4.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con

a Bệnh phân trắng lợn con

Bệnh phân trắng lợn con là bệnh của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa Bệnh xảy ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, phát

Trang 32

triển Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa khi thời tiết ẩm thấp hay thay đổi đột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1 - 21 ngày tuổi

Nguyên nhân được xác định là do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng cho lợn con không đảm bảo Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn lợn mẹ mang thai bị thiếu chất dinh dưỡng, khoáng, nhất là sắt, canxi, vitamin B12, làm bào thai phát triển kém, do đó lợn con sơ sinh dễ

bị bệnh phân trắng Bên cạnh đó, lợn con ỉa phân trắng còn do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng, nhất là thiếu sắt lại không bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho lợn con và cũng bởi trong giai đoạn còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn dẫn đến mắc các chứng về đường ruột

Khi sức đề kháng của lợn con giảm, các vi khuẩn có sẵn trong đường ruột phát triển nhanh chóng gây bội nhiễm, tăng độc lực gây bệnh

Nguyên nhân khiến lợn con mắc bệnh còn là do đặc điểm sinh lý của lợn con Khi mới sinh hệ điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, sẽ không thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu và lượng

mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Bởi vậy, nếu khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt, khi khí hậu thời tiết thay đổi thất thường sẽ khiến lợn mắc bệnh

- Theo Lê Thị Hoài (2008) [8], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố Vì vậy, việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn Môi trường ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, mưa, nắng, điều kiện chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn đặc biệt là lợn con theo mẹ, do cấu tạo và chức năng sinh lý chưa ổn định và hoàn thiện, khi gặp các yếu tố bất lợi dễ gây stress dẫn đến nhiều bệnh trong đó có tiêu chảy

Trang 33

Triệu chứng:

Lợn con bú ít, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo

Tiêu chảy, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân

Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Màu phân lúc đầu trắng sữa sau đó chuyển sang trắng đục, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào hậu môn, vào khoeo

Bệnh tích:

Lợn bệnh chết do mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát xác con vật gầy còm, da khô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con vật khỏe mạnh Niêm mạc nhợt nhạt, máu loãng hơi đen Dạ dày giãn rộng, các bờ ở đường cong lớn bị nhồi máu, chứa sữa đông vón, màu trắng hoặc màu xám trắng Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng thành màu đỏ thẫm Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết Phổi ứ huyết, đôi khi có hiện tượng viêm phổi nhẹ

Ngày đăng: 24/04/2023, 14:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm