1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu

81 723 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thủy điện, nhiệt điện, dầu khí, hóa dầu
Tác giả Đào Phan Long
Trường học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật cơ khí
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2.1 Thiết bị xi măng 2.2.2 Nhu cầu chế tạo thiết bị, tạo phôi và chi tiết lớn cho các nhà máy thủy điện, nhiệt điện 2.2.3 Thiết bị dầu khí, hóa dầu 2.2.4 Thiết bị khai thác khoáng sản

Trang 1

Liên hiệp các hội KHKT việt nam

Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí việt nam

báo cáo tổng kết đề tài trọng điểm cấp bộ

nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp

tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng,

thủy điện, nhiệt điện, dầu khí, hóa dầu

Trang 2

Mục lục

Phần I: Đặt vấn đề

1.Cơ sở và luận cứ của đề tài

2.Nhiệm vụ được giao

3.Phương pháp nghiên cứu

4.Các cơ quan và chuyên gia tham gia nghiên cứu xây dựng đề tài

5.Nội dung chính và giới hạn nghiên cứu

Phần II

Chương I - Thực trạng sản xuất phôi đúc, rèn và gia công các chi tiết lớn

1.1 Khái niệm và mấy nét về chế tạo phôi, chi tiết lớn của Cơ khí trên thế

giới

1.1.1 Khái niệm

1.1.2 Tóm lược thị trường tạo phôi và chế tạo chi tiết lớn trên thế giới

1.2 Thực trạng ở Việt Nam

1.2.1 Thực trang chung về sản xuất phôi và gia công chi tiết lớn

1.2.2 Hiện trạng ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ Tạo phôi đúc,

rèn và gia công chi tiết máy lớn tại Việt Nam

1.2.2.1 Tình trạng đầu tư, thiết kế, thiết bị, công nghệ của cơ khí VN để

tham gia xây dựng mới các nhà máy xi măng, năng lượng, đóng tầu, đường

sắt

1.2.2.2 Nhân lực sản xuất phôi kim loại và gia công chế tạo cơ khí

1.2.3 Thực trang sản xuất và chế tạo chi tiết, máy của các của các nhóm

thiết bị đồng bộ trong các nhà máy sản xuất xi măng, năng lượng, dầu khí,

khai khoáng

1.2.3.1 Thiết bị xi măng

1.2.3.2 Thủy điện, nhiệt điện

1.2.3.3 Dầu khí, hóa dầu

1.2.3.4 Khai thác khoáng sản

1.2.4 Tình hình nhập khẩu các chi tiết, thiết bị của 04 nhóm trên

1.2.5 Đánh giá chung: mạnh, yếu, nguyên nhân về chế tạo phôi kim loại

và gia công chi tiết lớn của cơ khí Việt Nam

Chương II Nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường tạo phôi kim

loại và gia công chi tiết lớn giai đoạn 2007-2015

2.1 Nhu cầu chung

2.2 Nhu cầu về phôi, chi tiết lớn đối với các nhóm thiết bị

Trang 3

2.2.1 Thiết bị xi măng

2.2.2 Nhu cầu chế tạo thiết bị, tạo phôi và chi tiết lớn cho các nhà máy thủy

điện, nhiệt điện

2.2.3 Thiết bị dầu khí, hóa dầu

2.2.4 Thiết bị khai thác khoáng sản

2.3 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến chế tạo và thị trường chi tiết lớn

Chương III Quan điểm và định hướng tổ chức sản xuất phôi đúc và gia

công chi tiết lớn

3.1 Quan điểm phát triển

3.2 Mục tiêu

3.2.1 Mục tiêu tổng quát

3.2.2 Mục tiêu trước mắt đến 2015

3.3 Định hướng sản phẩm

3.4 Định hướng đầu tư

Chương IV - Đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công chi tiết

lớn

4.1 Giải pháp tổ chức chế tạo phôi lớn cho các ngành công nghiệp

Phần III : Kết luận và một số kiến nghị

Phụ lục 1 Danh mục các thiết bị lớn

Phụ lục 2 Bản kê các chủng loại máy móc, trang thiết bị đồng bộ do các

Công ty cơ khí thuộc TKV chế tạo, sản xuất và đưa vào sử dụng tại Việt

Nam

Phụ lục 3 Năng lực gia công phôi lớn của ngành Cơ khí thuộc TKV

Phụ lục 4 Số lượng thiết bị khai thác (khoan, xúc, gạt)

Phụ lục 5 Dây chuyền thiết bị công nghệ chính của nhà máy xi măng công

suất 2.500-5.000- 10.000 tấn/ngày

Phụ lục 6 Các thiết bị chính trong dây chuyền sản xuất xi măng

Phụ lục 7 Đặc tính kỹ thuật các loại turbin thủy và một số chi tiết chính

Phụ lục 8 Đặc tính kỹ thuật các loại turbin nhiệt điện và một số chi tiết

Trang 4

PHẦN I Đặt vấn đề

1 Cơ sở và luận cứ của đề tài

Hiện nay nước ta đang thực hiện nhiệm vụ CNH-HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nền công nghiệp Cơ khí Việt nam đang có nhiều thuận lợi về thị trường, về du nhập công nghệ, trang thiết bị hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực để tăng cường nội lực, nhưng đồng thời các doanh nghiệp cơ khí cũng đang đứng trước những thách thức to lớn của sức ép cạnh tranh lấn chiếm thị trường của lực lượng chế tạo cơ khí nước ngoài Để đánh giá sát thực hơn về ngành cơ khí, đề tài cần điểm qua một số bước phát triển như sau:

Thành tựu của Cơ khí VN đã đạt được trong giai đoạn 2001-2007

1.1 Về giá trị SXCN: Theo số liệu thống kê, giá trị sản xuất toàn ngành

cơ khí năm 2005 đã tăng gấp 6,5 lần so với năm 1995 Nếu như năm 1995 chỉ đạt giá trị sản lượng 13.839,9 tỷ đồng thì sau 10 năm, năm 2005 đã tăng 89,780 tỷ đồng (theo giá trị cố định năm 1994) chiếm khoảng 21,9% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, đã đáp ứng được khoảng 37,16% nhu cầu thị trường trong nước Năm 2006 giá trị sản xuất toàn ngành cơ khí đạt 91.737 tỷ đồng và năm 2007 đạt 113,317 tỷ đồng, đáp ứng trên 40% nhu cầu thị trường trong nước Tốc độ tăng trưởng chung về giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành cơ khí trong giai đoạn 2001-2005 là 21,7% Tính trung bình giai đoạn 2001-2007 là 21,9%

1.2 Về Xuất khẩu: Năm 2006 giá trị xuất khẩu toàn ngành cơ khí đạt

1,174 tỷ USD Nếu tính cả mặt hàng giây và cáp điện thì giá trị xuất khẩu của ngành cơ khí năm 2007 ước đạt 2,8 tỷ USD Đây là một thành tựu vượt bậc đầy ấn tượng

1.3 Về phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm:

- Ngành đóng tầu thủy VN đến nay đã đóng mới xuất khẩu được các loại tầu có trọng tải đến 53.000 T cho các chủ tầu Anh Quốc, đóng tầu 56.200

T cho Nhật Bản, đóng tầu cho Hàn Quốc, Đức, Đan mạch,…, đóng và sửa chữa các loại tầu có tính năng phức tạp, góp phần làm tăng nhanh số lượng và trọng tải đội tầu vận tải biển trong nước: tầu chở Container 1.700 TEU (tương đương 22.000T), tầu chở dầu 13.500 T, đóng tầu hút biển 1.500 m3/h, đóng sà lan cần cẩu nổi, tầu khách biển cao tốc 200 chỗ, tầu đánh cá xa bờ 600 mã lực, tầu cao tốc vỏ thép cường độ cao, tầu cao tốc vỏ nhôm, các loại tầu vỏ composite, tầu kéo biển 6.000 sức ngựa, đóng ụ tầu nổi 8.500 T Hiện nay đang triển khai đóng các loại tầu có trọng tải trên 100.000 T và chuẩn bị đóng tầu trên 300.000 T, chế tạo các giàn khoan dầu khí Tổng hợp đồng đã ký đạt trên 12 tỷ USD VINASHIN cũng đang đầu tư phát triển các khu công nghiệp,

Trang 5

cụm công nghiệp tầu thủy ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Tập trung vào việc chế tạo các sản phẩm phụ trợ phục vụ đóng tầu như thép chế tạo, lắp ráp và dần chế tạo các loại động cơ từ 300 mã lực đến 60.000 mã lực,… để đảm bảo

tỷ lệ nội địa hóa trên 60%

-Ngành chế tạo thiết bị đồng bộ: LILAMA đã được Chính phủ giao làm Tổng thầu EPC nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1 (300 MW) Các đơn

vị trong nước chế tạo được khoảng 25.000 T trên 35.000 T thiết bị của nhà máy này, chiếm tỷ lệ trên 70% về khối lượng thiết bị Từ thành công trong việc nhận thầu EPC nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1, Chính phủ tiếp tục giao làm tổng thầu Nhiệt điện Cà Mâu 1 và 2, Nhân Trạch 1 Tổng công ty LILAMA tự đầu tư nhà máy điện Vũng Áng (1.200 MW) và một số nhà máy

xi măng công suất 2.500 T klinke/ngày,… Đồng thời LILAMA làm chủ 02

dự án khoa học công nghệ:

+Nghiên cứu thiết kế, chế tạo dây chuyền thiết bị đồng bộ sản xuất xi măng lò quay công suất 2.500 T klanke/ngày thay thế hàng nhập ngoại, thực hiện tiến trình nội địa hóa

+Nghiên cứu thiết kế, chế tạo trong nước thiết bị đồng bộ cho nhà máy nhiệt điện than công suất 300 MW

Đây là loại dự án KHCN lớn có tầm bao quát cho một dây chuyền thiết

bị đồng bộ, gắn kết quả giữa nghiên cứu, thiết kế, chế tạo nhằm nâng cao năng lực đội ngũ tư vấn thiết kế, chế tạo, nâng cao năng lực đội ngũ tư vấn thiết kế, công nghệ tiên tiến của nước ngoài, để dần làm chủ thiết kế và chế tạo trong nước

Một số Tổng công ty khác như: VINAINCON cũng làm chủ đầu tư một nhà máy xi măng có công suất 1,5 triệu tấn/năm với chương trình nội đại hóa 67,3% là một trong các dự án có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất ở VN Trong dự án này, ngoài một số vật tư được mua sắm trực tiếp ở VN, riêng phần chế tạo trong nước đạt 5.858 / 9.383 T, nhiều thiết bị quan trọng như vỏ lò quay, máy nghiền, quạt công nghiệp được chế tạo trong nước

Các viện nghiên cứu cơ khí và các doanh nghiệp cơ khí với cơ chế chỉ định thầu thiết kế chế tạo thiế bị cơ khí thủy công đã tìm được đối tác trong chuyển giao công nghệ thiết kế thủy công từ Ucraina, Nhật Bản đã tiến một bước dài trong lĩnh vực này Hàng chục công trình thủy điện lởn nhỏ trong cả nuỷcs với giá trị hàng chục ngàn tỷ đồng là sản phẩm của Viện nghiên cứu cơ khí, các doanh nghiệp cơ khí đã tự làm chủ thiết kế và chế tạo thành công đang tham gia vào thiết kế và chế tạo thủy công kể cả công trình trọng điểm quốc gia Thủy điện Sơn La

- Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) đã có chủ trương chuyển dần từ cơ khí sửa chữa sang cơ khí chế tạo với định hướng: Phát triển

cơ khí chết tạo thành ngành chính đi đôi với hiện đại hóa cơ khí sửa chữa

- Chế tạo, lắp ráp sản xuất các trang thiết bị đồng bộ phục vụ cho nhu cầu đầu tư mới trong Tập đoàn

Trang 6

- Chế tạo các phụ tùng, thiết bị đồng bộ cho các ngành, viện, hóa chất, vật liệu xây dựng

- Chế tạo sản xuất các thiết bị điện: Biến áp lực, tụ điện v.v

- Lắp ráp sản xuất xe ô tô tải, xe chuyên dụng, thiết bị khai thác mỏ EKG, máy khoan xoay cầu, máy combai đào lò

Chiếm ưu thế trên thị trường nội địa và có thể xuất khẩu sang các nước trong khu vực

Doanh số tăng so với 5 năm trước gấp 4 lần (hiện đạt khoảng 1500 tỷ VND)

Những sản phẩm chế tạo chính mà TKV làm được máy xúc EKG-10, máy combai đào lò AN-50Z (hợp tác với hãng REMAG – Balan); Dàn thủy lực di động VINA ALFA (Hợp tác với Séc) và các loại ô tô KAMAZ 65115, KrAZ 65055, 6510 – Máy khoan xoay cầu đường kính mũi khoan 150-250

mm

Từ trước năm 2000 hầu hết nghĩ rằng ngành CN ô tô Việt Nam trông chờ vào các liên doanh đã và đang có ở Việt Nam Doanh nghiệp trong nước không thể đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô

Đầu năm 2001 Tổng công ty Giao thông vận tải được giao nhiệm vụ triển khai chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm quốc gia: sản xuất lắp ráp

ô tô 5 năm sau Tổng công ty đã đầu tư hệ thổng các nhà máy sản xuất xe khách trong cả nước, với 8 nhà máy đạt khoảng 25000 xe/năm đến 35000 xe/năm

- Bình quân tăng trưởng trên 40% /năm Hàng năm sản xuất hàng chục ngàn xe khách đưa tỷ lệ nội địa hóa khoảng 30~40%

- VinaXuki, một doanh nghiệp dân doanh có hàng nghìn công nhân sản xuất lắp ráp ô tô tải từ 0,45 tấn trở lên với các mức doanh thu tăng trưởng hàng năm là 50% sản xuất được trên 30 model xe tải, pickup, bus, minibus, xe khách và hàng năm tiêu thụ sấp xỉ 10.000 xe đã đang là một mô hình doanh nghiệp phát triển hết sức năng động và có định hướng rõ ràng tăng dần tỷ lệ nội địa hóa

Cùng các doanh nghiệp khác như SAMCO, TKV, VEAM, Trường Hải… đang hình thành ngành sản xuất chế tạo ô tô Việt Nam

Trang 7

của COMA được vay vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam tổng mức đầu

tư 160 tỷ VND với các sản phẩm chính là cần trục, cần trục tháp, cần trục chân đế thang máy và các thiết bị vận chuyển khác phục vụ xây lắp các công trình đã được khởi công Đây cũng là 1 trong 24 dự án của chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Nếu 2 dự án này hoàn thành khả năng chế tạo với tỷ lệ nội địa hóa cao của các loại cần trục tới 1200T phục vụ cho ngành xây lắp năng lượng và các ngành đóng tầu Cẩu trục xích lốp các loại cẩu trục gian máy, cẩu tháp, thang máy được cung cấp một phần nhu cầu trong nước

Trong lĩnh vực cơ khí xây dựng một số sản phẩm đã có thể thay thế hàng nhập khẩu và hiện nay đang chiếm lĩnh thị trường trong nước và một số

đã được xuất sang các nước trong khu vực

- Thiết bị trạm trộn bê tông của IMI đã có thương hiệu các chủng loại từ 30m3/h-120m3/h hoàn toàn sử dụng thiết kế trong nước, tỷ lệ nội địa hóa đạt tới 80-90%

- Các trạm trộn bê tông ASFALT cũng đã được VinaMotor sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước, xuất được 1 số trạm sang nước ngoài… Các thiết bị cầu trục tháp, trạm trộn vữa và khuôn đúc bê tông đã cơ bản cung cấp cho nhu cầu trong nước

Đặc biệt các thiết bị đồng bộ của dây chuyền sản xuất gạch theo phương pháp lò nung Tuinel có công suất đến 30 triệu viên/năm đã được thị trường chấp nhận thay thế máy móc thiết bị từ Ý, Nga, Ucraina, Trung Quốc…và đạt

tỷ lệ nội địa hóa sấp xỉ 100% của Tổng công ty Cơ khí xây dựng COMA Hiện tại ngành chế tạo máy động lực Việt Nam có thể sản xuất tới 30.000 máy/năm đáp ứng được 30% nhu cầu thị trường trong nước Sản phẩm đã có tính năng cao hơn các loại động cơ thế hệ cũ và hơn hẳn động cơ cùng loại của Trung Quốc, dần chiếm lại thị phần nội địa về máy động lực đang bị hàng nhập lậu giá rẻ Trung Quốc lấn át

- Trong ngành máy động lực và máy nông nghiệp cũng có những chuyển biến tích cực như việc một doanh nghiệp thành viên đã đầu tư dây chuyền đúc sơmi, nâng cấp dây chuyền sản xuất bánh răng và xưởng nhiệt luyện mở rộng thị trường sản xuất hộp số thủy phục vụ đánh bắt xa bờ, máy sục khí phục vụ nuôi tôm, phụ tùng xe máy, trở thành nhà cung cấp phụ tùng, phụ kiện cho các hãng Toyota, Honda sản xuất hàng có chất lượng cao và phát triển ổn định, phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu

- Sản phẩm cơ khí chế tạo thiết bị vật liệu điện: đã sản xuất nhiều sản phẩm đa dạng và nhiều chủng loại: các loại động cơ đên 6KV – công suất

1000 KW, các biến áp phân phối đến 220 KV – Công suất 100 MW, các chủng loại dây và cáp điện trung hạ thế

Trang 8

- Sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp: Đã sản xuất được các loại bơm tiêu úng đến 36.000 m3/h, các loại thiết bị dùng trong công nghiệp mía đường công suất đến 8000 T/ngày, các dây chuyền sản xuất cao su mủ khô đến 6000 T/năm, các dây chuyền chế biến thủy hải sản, các máy xay sát công suất đến 50T/ca, sơ chế cà phê, thiết bị cưa xẻ gỗ, chế biến chè và nhiều máy canh tác nhỏ

Ngành chế tạo cơ khí đã đạt được một số kết quả nêu trên, tuy nhiên hàng năm công nghiệp trong nước vẫn phải nhập các thiết bị, phụ tùng thay thế, đa phần là những chi tiết cỡ lớn trong nước chưa có khả năng tạo phôi và gia công chế tạo Đề tài này nhằm đi sâu vào khảo sát thực trạng nhu cầu tạo phôi và gia công chi tiết lớn cũng như năng lực cơ khí trong nước tham gia chế tạo ở mức độ nào để đề xuất giải pháp thực hiện từ nay đến năm 2015

2 Nhiệm vụ của Đề tài được giao:

Trong giai đoạn tới ngành Cơ khí Việt Nam cần được xây dựng thành nền một nền công nghiệp phát triển, linh hoạt tạo ra sản phẩm cơ khí có giá cả phù hợp để đáp ứng nhu cầu thị trường Việt Nam giầu tiềm năng, thay thế sản phẩm cơ khí nhập ngoại và từng bước xuất khẩu

Để phát triển sản xuất, ngành cơ khí không chỉ gia công các sản phẩm

cơ khí đơn thuần như: gia công các sản phẩm kết cấu thép khối lượng lớn nhưng hàm lượng công nghệ thấp, chỉ giải quyết được khâu nhân công giá rẻ trong nước, nhưng lợi nhuận không cao Nhiệm vụ đặt ra là: ngành cơ khí cần phải xác định các loại chi tiết lớn mà lâu nay vẫn phải nhập ngoại để lắp mới

và làm phụ tùng thay thế cho các thiết bị dùng trong công nghiệp của các ngành sản xuất xi măng, năng lượng, tầu thủy, dầu khí, khai thác khoáng sản, v v

Hiện nay các cơ sở sản xuất phôi đúc, rèn, gia công chi tiết lớn tại các doanh nghiệp cơ khí trong những năm gần đây mới được được đầu tư nhỏ lẻ, chưa đồng bộ, chưa phối kết hợp được giữa các doanh nghiệp để chủ động thực hiện công nghệ từ tạo phôi đúc, rèn đến gia công, chế tạo các chi tiết máy cỡ lớn cung cấp cho các ngành công nghiệp trong nước Dẫn đến tỷ lệ nhập siêu phụ tùng, thiết bị của các ngành công nghiệp nêu trên trong nước vẫn cao Đây là bài toán khó nhưng vẫn có thể giải được nếu ngành cơ khí có định hướng, lựa chọn và vạch ra phương hướng đúng trong đầu tư để nâng cao một bước năng lực chế tạo phôi đúc, rèn và gia công chi tiết máy lớn

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Thu thập thông tin;

- Điều tra thống kê ;

- Nghiên cứu tài liệu ;

Trang 9

- Lấy ý kiến của các chuyên gia

Để xây dựng nội dung đề tài, Ban chủ nhiệm đã thực hiện gửi, thu thập phiếu khảo sát đến doanh nghiệp có nhu cầu và năng lực sản xuất phôi và gia công chi tiết lớn; Khảo sát tại chỗ điển hình; Lấy ý kiến chuyên gia; Lập báo cáo tổng hợp; Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện

Trên cơ sở các biểu mẫu khảo sát, chọn lọc để tập hợp được những thông tin chính xác và đầy đủ về hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiên cứu, đào tạo của một số doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, trực tiếp tổ chức khảo sát, chọn đơn vị làm nòng cốt để có số liệu cụ thể

Thành viên Ban chủ nhiệm đề tài gồm các chuyên gia, nhà quản lý có kinh nghiệm nhiều năm trong ngành cơ khí, hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và sản xuất của các Tập đoàn, Tổng CTy, các Viện nghiên cứu triển khai nên đã tạo điều kiện để Ban chủ nhiệm chỉ đạo và thu thập thông tin trong từng lĩnh vực cần nghiên cứu

4 Các cơ quan và chuyên gia tham gia nội dung đề tài:

Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng: Định hướng phát triển ngành công nghiệp dầu khí, năng lượng, tầu thủy ô tô, xi măng

Các Tập đoàn công nghiệp: Tập đoàn Công nghiệp tầu thủy Việt Nam, Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Than & khoáng sản Việt Nam

Các Tổng công ty: Tổng công ty máy & thiết bị công nghiệp, Tổng công ty Công nghiệp Sài gòn, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam, Tổng công ty

Cơ khí Xây dựng, Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp, Tổng công ty Công nghiệp ô tô VN, …

Các Doanh nghiệp cơ khí: Cty TNHHNN 1TV Cơ khí Hà Nội, CTy Cơ khí Đông Anh, Mai Động, Máy nông nghiệp Miền Nam, Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung NB, Nhà máy ô tô Xuân Kiên, …

5 Nội dung chính và giới hạn lĩnh vực nghiên cứu:

- Tình hình sản xuất cơ khí lớn trong nước và thế giới;

- Thực trạng chung về sản xuất phôi đúc, rèn và gia công chi tiết máy lớn ở Việt Nam:

* Thực trạng chế tạo,

* Tình trạng đầu tư, thiết kế, thiết bị, công nghệ, nhân lực,

* Tình hình nhập khẩu các chi tiết, thiết bị trên,

* Đánh giá chung: mạnh, yếu, nguyên nhân

Trang 10

Chương II

Nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường sản phẩm chế tạo phôi

và gia công các chi tiết lớn trong sản xuất thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt

điện, dầu khí, hoá dầu và khai thác khoáng sản trong giai đoạn 2007-2015

- Nhu cầu chung;

- Nhu cầu riêng đối với các nhóm thiết bị

- Tổng hợp nhu cầu chung (đầu tư, giá trị, khối lượng )

- Quan điểm phát triển;

- Định hướng đầu tư

Chương IV

Đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu và khai thác khoáng sản

Các nhóm giải pháp tổ chức chế tạo phôi lớn cho các ngành công nghiệp:

- Cơ chế, chính sách, đầu tư, phối hợp nghiên cứu phát triển sản xuất, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, các điều kiện về tổ chức thực hiện

- Kiến nghị và kết luận:

* Kết luận

* Kiến nghị

Trang 11

PHẦN II Chương I THỰC TRẠNG SẢN XUẤT PHÔI ĐÚC, RÈN

VÀ GIA CÔNG CÁC CHI TIẾT LỚN

(chủ yếu trong chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu

+ Phụ thuộc vào chức năng của các bộ phận chi tiết của một hệ thống thiết bị nhà máy và tính chất phức tạp có yêu cầu chất lượng, độ chính xác , chủ yếu được chia làm 2 nhóm: tĩnh và động (chuyển động thẳng hoặc quay -

2 nhóm chi tiết này sẽ được đề cập nhiều trong các phần sau)

1.1.2- Tóm lược thị trường tạo phôi và chế tạo chi tiết lớn thế giới

Như trên đã nêu, sản xuất các phôi kim loại và gia công các chi tiết máy lớn hầu hết nằm trong tổng thành của hệ thống dây chuyền thiết bị của một nhà máy sản xuất các sản phẩm công nghiệp Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ lựa chọn các chi tiết máy của hệ thống thiết bị của nhà máy sản xuất xi măng, thiết bị nhà máy thủy điện, nhiệt điện, thiết bị khai thác, chế biến dầu khí và khai thác, chế biến khoáng sản Các thiết bị này thường có kích thước bao quanh và khối lượng lớn Đa phần các chi tiết máy động được sản xuất ở các nước có nền công nghiệp chế tạo phát triển, đã có lịch sử phát triển ngành cơ khí tương đối sớm như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật, Nga … Một số nước công nghiệp mới phát triển như Hàn Quốc, Trung Quốc, … cũng

đã tự sản xuất được các loại phô đúc, rèn kim loại và gia công được các chi tiết máy có kích thước, trọng lượng lớn, phức tạp này

Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ và các yêu cầu bảo vệ môi trường hiện tại các loại thiết bị toàn bộ của một dây chuyền sản xuất trong các nhà máy nêu trên, đặc biệt là các thiết bị năng lượng, dầu khí ngày càng được nghiên cứu thiết kế chế tạo rất hoàn thiện trên mọi phương diện Trong điều

Trang 12

kiện toàn cầu hóa sâu rộng, các nhà cung cấp thiết bị toàn bộ có thể tổ chức sản xuất ở mọi nơi, nhưng sự độc quyền về công nghệ chế tạo lại tập trung rất cao Thực tế, số lượng các nhà cung cấp chi tiết động siêu trường, siêu trọng đạt chất lượng cao cho mỗi ngành công nghiệp chỉ tính trên đầu ngón tay Phần lớn các nhà sản xuất cơ khí còn lại thường làm thầu phụ, hoặc sản xuất những chi tiết lớn cấu thành có mức độ phức tạp từ đơn giản đến vừa phải Thường chỉ có thể làm được các chi tiết từ kết cấu thép là các chi tiết thuộc nhóm “tĩnh” trong một dây chuền TBTB

Chẳng hạn như, về thiết bị nhà máy xi măng, từ những năm giữa thế kỷ

19, sản xuất xi măng đã phát triển mạnh ở các nước Châu Âu có nền công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch v.v Do nhu cầu xây dựng phát triển, người ta đã đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất xi măng với công suất lớn Đầu tiên là các loại nhà máy xi măng lò đứng công suất nhỏ, đến nay là các nhà máy xi măng lò quay với công suất lớn trên 12.000 Tấn clinker/ngày

Thị trường máy phát điện (cả thủy và nhiệt điện) công suất lớn do các hãng General Electric, Alstom, ABB, Siemens, Mitsubishi HI chế tạo khống chế thị trường thế giới Trung bình mỗi năm, thế giới tiêu thụ số máy phát điện với tổng công suất trên 100GW (số đơn hàng đỉnh cao là năm 2001 với 200GW) Doanh số toàn cầu của các nhà chế tạo máy phát điện (bao gồm cả thiết bị phụ trợ và phụ tùng cho sửa chữa) trung bình đạt 80 tỷ USD/năm Trong số này một nửa do châu Á tiêu thụ, riêng mấy năm gần đây Trung Quốc chiếm già nửa nhu cầu của châu Á

Cùng với sự phát triển của công nghiệp sản xuất xi măng, sản xuất điện, khai thác và chế biến khoáng sản, trong đó có dầu – khí, than và các loại quặng khác, công nghiệp sản xuất cơ khí tại các nước công nghiệp cũng phát triển mạnh và luôn nghiên cứu hoàn thiện độ chính xác, tự động hóa cao để có điều kiện cạnh tranh trên thị trường toàn cầu đi trước một bước (Xem thêm phần tình hình nhập khẩu)

1.2- Thực trạng ở Việt Nam

1.2.1- Thực trạng chung về sản xuất phôi và gia công chi tiết lớn

Từ khi hoà bình được lập lại năm 1954 đến năm 1975 trước yêu cầu xây dựng nền kinh tế theo định hướng phân công sản xuất theo kế hoạch do nhà nước thống nhất quản lý, tất cả các ngành kinh tế phải có sự chỉ đạo chung theo kế hoạch của Nhà nước Công nghiệp cơ khí được tập trung đầu tư chủ yếu vào các nhà máy do Bộ Cơ khí & Luyện kim, Bộ Điện Than (Hiện nay thuộc Bộ Công Thương) quản lý Một số nhà máy này có thể chế tạo phôi

là các chi tiết gang, thép đúc và gia công được một số chi tiết lớn, tương đối chính xác Các nhà máy này phần lớn tập trung ở khu vực quốc doanh trung ương như: Cơ khí Hà Nội, Khu gang thép Thái Nguyên

Trang 13

Từ sau năm 1975 đến trước những năm 1990 Nhà nước ta đã tập trung xây dựng thêm một số nhà máy mới có khả năng sản xuất cơ khí tương đối lớn với mục đích chuyên môn hoá trong các lĩnh vực sản xuất sản phẩm như: nhà máy DIESEL Sông Công chuyên sản xuất các loại động cơ Điesel có công suất 55 HP – 85 HP làm máy động lực cho máy thủy và các loại máy kéo nông nghiệp cỡ vừa, nhà máy Cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả sản xuất các loại sản phẩm phục vụ cho sửa chữa các loại thiết bị khai thác than, một số nhà máy đóng, sửa chữa tàu thủy và một số nhà máy sản xuất các thiết bị khác

Từ sau năm 1990 đến nay khi đất nước ta từng bước chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hàng loạt các công ty tư nhân và công ty cổ phần ra đời, nhưng các doanh nghiệp đầu tư cho chế tạo tạo phôi đúc, rèn lớn và gia công được chi tiết lớn gần như không có Trong khi đó các cơ sở sản xuất cũ cũng không thể tự đầu tư thêm các lò đúc gang, thép dung tích lớn, các máy gia công áp lực mạnh, các máy công cụ gia công chi tiết lớn, cho nên có thể thấy khâu tạo phô và gia công chi tiết lớn trong nền sản xuất của ngành cơ khí Việt Nam đến nay rất yếu kém Nhưng để tồn tại, những náy cơ khí chế tạo nêu trên chỉ đầy tư chiều sâu để tăng khả năng chế tạo các chi tiết máy lớn nhưng “tĩnh”, tức làm kết cấu thép là chính

Hiện tại có, một số doanh nghiệp sản xuất cơ khí trong nước đã tham gia sản xuất được các chi tiết cơ khí lớn, thậm chí là chi tiết siêu trường, siêu trọng kích thước phi tiêu chuẩn, nằm trong cấu thành thiết bị nhà máy lớn, đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế -đáp ứng yêu cầu của tư vấn và các

cơ quan kiểm định quốc tế; Một số chi tiết và sản phẩm được xuất khẩu, lắp đặt ở nước ngoài, nhưng là các bộ phận, chi tiết tĩnh, không quay

1.2.2- Hiện trạng ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ, tạo phôi đúc, rèn và gia công chi tiết máy lớn tại Việt Nam

Nhìn chung năng lực sản xuất thiết bị đồng bộ, tạo phôi và gia công chi tiết lớn của ta đang rất khiêm tốn Hầu hết các doanh nghiệp được trang bị các thiết bị cũ, ít đầu tư mới, khả năng gia công các chi tiết có độ chính xác cao, có kích thước và khối lượng lớn, siêu trường, siêu trọng hầu như không thực hiện được

Đặc biệt hiện Việt Nam đang thiếu các nhà máy cơ khí nặng có đủ khả năng đúc, rèn, dập tạo phôi kim loại kích thước lớn và gia công các chi tiết lớn có độ chính xác cao Đây là một khó khăn rất lớn cho nền kinh tế của nước ta

Nếu xem xét năng lực chế tạo thiết bị đồng bộ, chọn 4 nhà máy có năng lực đúc phôi lớn nhất hiện nay, chúng ta biết được như:

Trang 14

TT Tên thiết bị Công suất Số lượng

5 Lò điện nấu gang 2500 Kg 01

Ngoài 4 nhà máy có lò đúc lớn nhất kể trên thì hầu hết các nhà máy cơ

khí khác trải dài cả ba miền Bắc, Trung, Nam công suất lò đúc đều nhỏ

Rõ ràng năng lực đúc phôi lớn của Việt Nam chỉ có thể đạt được vật

đúc lớn nhất về gang là 15 tấn, vật đúc lớn nhất về thép là 12 tấn

Đây là khâu yếu nhất trong công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ, tạo

phôi và gia công chi tiết lớn của nước ta

Các thiết bị gia công cơ khí cũng hầu hết là máy cũ thuộc thế hệ các

nước XHCN cũ như Liên Xô, Đức, Tiệp

Trang 15

Năng lực chế tạo cơ khí chi tiết lớn nhất:

Gia công tiện có chí tiết chiều dài 12 m đường kính đến 1.500 mm trên máy tiện ngang và chi tiết có đường kính đến 8.000 mm trên máy tiện đứng, lốc tôn dày 80 mm × 2500 mm, gia công được bánh răng tới mô đun đến 50, đường kính 5.000 mm Số lượng máy lớn này chỉ có vài ba chiếc, không đủ để gia công cung cấp chi tiết, thiết bị cho 4 ngành đã đề cập trên

` 1.2.2.1- Tình trạng đầu tư, thiết kế, thiết bị, công nghệ của cơ khí VN để

tham gia xây dựng mới các nhà máy xi măng, năng lượng, đóng tầu, đường sắt

* Nghiên cứu, thiết kế theo mẫu sản phẩm hoặc theo thiết kế công

nghệ của nước ngoài

Việc chế tạo các phôi và chi tiết lớn thời gian qua đã được thúc đẩy bởi các hoạt động nghiên cứu, triển khai ứng dụng thiết kế, công nghệ của nước ngoài Cơ khí nước ta đã thực hiện một số các dự án, đề tài sau:

- Tư vấn, thiết kế các công trình thuỷ công các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ có công suất đến 300 MW, đã thực hiện đối với thủy điện AVương, Buôn Kốp, Pleikrông, Sêsan 4 và Buôn Tua Srah

- Đề tài KC 05-03: “Nghiên cứu phối hợp công nghệ hàn và gia công áp lực để chế tạo phôi chi tiết lớn” đã tạo ra các hộp giảm tốc với các vành răng

cỡ lớn phục vụ công nghiệp xi măng, cán thép; đã chế tạo thành công máy ép thuỷ lực 800 Tấn với áp suất 250 kG /cm2

- Nghiên cứu, thiết kế tua bin hơi tâm trục (công suất 1,5 MW, H=26-37

m, Q=4,92 m3/h);

- Thiết kế, chế tạo máy cán trục 15 T /h để nghiền sơ bộ clinke

- Công nghệ chế tạo vành răng cỡ lớn có độ bền cao dùng cho HGT có A

- Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo bồn bể dung tích lớn

- Nghiên cứu công nghệ chế tạo các chi tiết của dàn không gian

- Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy cắt tôn khổ rộng 3.500x6 mm

- Nghiên cứu thiết kế chế tạo cần trục tháp

- Hoàn thiện công nghệ chế tạo cần trục tháp và thang máy

Trang 16

*Về thiết bị sản xuất phôi đúc, rèn, gia công kim loại hiện có ở Việt

Nam:

Qua khảo sát, thống kê tại các nhà máy, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam

(trừ doanh nghiệp FDI) cho thấy:

- Riêng các dây chuyền công nghệ đúc, luyện kim của một số đơn vị cơ khí thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản VN (TKV) được trang

bị khá đồng bộ và hiện đại bao gồm các phân xưởng đúc thép, gang, kim loại mầu; dây chuyền công nghệ thiết bị xử lý vật liệu làm khuôn, tạo khuôn, rót, phá khuôn, làm sạch vật đúc, nhiệt luyện; trang thiết bị kiểm tra phân tích nhanh tính chất lý-hoá của vật liệu; phân xưởng mộc mẫu…

- Lò nấu luyện: 16 cái (trong đó 2 lò 3 tấn/mẻ, còn lại là các lò 400-500kg/mẻ Vật đúc lớn nhất đến 9.000 kg/chi tiết)

- Công suất: đúc thép 7.000 tấn/năm; gang: 2.000 tấn/năm; các loại kim loại mầu: 1.000 tấn/năm

- Có một số lò nấm thép, gang có thiết bị kiểm tra phân tích nhanh bằng quang phổ phát xạ đa nguyên tố: 03 hệ thống

Với năng lực nêu trên có thể đúc các mác thép hợp kim chịu mài mòn như: Г13, thép Mn, hợp kim bimetall, các loại thép chịu nhiệt, thép làm khuôn mẫu và các mác thép hợp kim khác cho ngành chế tạo máy Các loại gang thông thường, gang biến tính, gang chịu nhiệt, chịu mài mòn làm việc trong các môi trường khắc nghiệt chịu tải trọng lớn, độ xâm thực cao Các loại kim loại mầu: đồng, nhôm và hợp kim kim loại mầu chịu mài mòn và tải trọng cao như: БРАЖ 9-4, Б 83, Б 16…; hợp kim đồng cho các trang thiết bị chịu áp lực cao…

Ngoài ra còn rất nhiều các cơ sở sản xuất khác cũng đã trang bị các loại

lò trung tần 0,5 đến 1 tấn/mẻ Với công suất của các lò hồ quang và lò trung tần như vậy các công ty cơ khí có thể đúc được các chi tiết lớn có khối lượng nhiều tấn, với kích thước khác nhau

Trang 17

+ Thiết bị rèn:

- Công ty ĐIESEL Sông Công trước đây đã được Liên Xô cũ trang bị cho 01

máy búa hơi loại đầu búa 10 tấn để rèn phôi trục khuỷu của động cơ D50 Máy búa này có thể rèn được phôi có kích thước 600x600x600, khối lượng phôi đến 1500kg

- Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam có 120 đơn vị thiết bị rèn, dập, trong đó có:

- Máy rèn búa có trọng lượng đầu rơi: 3200 kg có thể rèn sản phẩm có trọng lượng đến 2 tấn;

- Máy dập trục khuỷ 400 tấn;

- Máy sấn tạo gân: 1.000 tấn;

- Máy ép thuỷ lực đứng: 400 tấn;

- Máy ép thuỷ lực đẩy ngang: 630 tấn;

- Máy lốc tôn thuỷ lực CNC uốn lốc tôn dầy tới 45mm, rộng 3000mm

+ Thiết bị luyện, cán thép:

Từ năm 1963 đất nước ta đã đầu tư xây dựng khu liên hợp luyện, cán thép Thái Nguyên với mục đích sản xuất gang thép phục vụ cho công cuốc xây dựng đất nước Thực chất chúng ta mới sản xuất được một số loại gang và một lượng rất nhỏ thép phục vụ cho mục đích cán các loại thép xây dựng Hiện nay công ty gang thép Thái nguyên đã đầu tư mới một số thiết bị công nghệ luyện cán thép mới có khả năng nấu luyện để đúc được các chi tiết có khối lượng đến 35 tấn và rất nhiều các công ty liên doanh với nước ngoài sản xuất thép như nhà máy cán thép Việt - Úc, nhà máy cán thép Việt -Nhật, nhà máy cán thép Việt - Hàn, nhà máy cán thép Việt -Ý, nhà máy cán thép Posvina và rất nhiều các cơ sở của các doanh nghiệp tư nhân cũng đã và đang được xây dựng Nhưng thực tế các cơ sở này chỉ chú trọng mua phôi từ nước ngoài về để cán các loại thép phục vụ cho xây dựng, sản phẩm thép cán của chúng ta chủ yếu là các loại thép tròn, thép gai với kích thước =U30mm, thép góc, thép U, I cỡ nhỏ phục vụ cho xây dựng, chưa có cơ sở nào đầu tư cán thép chế tạo, thép tấm Hiện nay các loại thép này chúng ta vẫn phải nhập ngoại

Trang 18

+Thiết bị gia công cơ khí:

- Máy tiện: Rất nhiều cơ sở như nhà máy cơ khí Hà Nội, Nhà máy cơ khí gang Thép Thái Nguyên và một số cơ sở gia công cơ khí của các công ty TNHH cũng đã đầu tư các loại máy tiện nằm ngang cỡ lớn có thể gia công được các chi tiết có đường kính đến 1000mm, chiều dài gia công 6000mm khối lượng phôi đến 10 tấn Máy tiện đứng với đường kính gia công đến 3000mm, chiều cao gia công 1500mm, khối lượng phôi đến 1500kg

- Máy phay giường và máy bào giường: Các loại máy này có thể gia công được các chi tiết có kích thước 1000x2000x1000mm, khối lượng 2000kg

- Máy doa ngang: Với loại máy doa ngang 2656 do Liên Xô cũ sản xuất

có kích thước bàn máy 2000x2000 và khoảng di chuyển đầu trục chính 1500mm có thể gia công được các chi tiết hộp đến 3000kg

- Máy mài tròn: Để gia công các chi tiết sau nhiệt luyện và các chi tiết

có yêu cầu độ chính xác và độ nhẵn bề mặt lớn bắt buộc phải sử dụng các loại máy mài Các nhà máy như cơ khí Hà Nội và cơ khí Cẩm Phả được trang bị các loại máy mài tròn ngoài có thể gia công được các chi tiết có đường kính đến ứ600mm, chiều dài 3000mm, khối lượng đến 5000kg

- Riêng TVN có trên 850 máy gia công cắt gọt cơ khí; trong đó có các loại thiết bị đặc chủng như:

- Máy tiện đứng: có thể gia công các chi tiết dạng hộp, dạng đĩa, có đường kính đến 6.000mm, chiều cao 1.600mm và trọng lượng đến 15.000 kg;

- Máy tiện ren vít: gia công các chi tiết có đường kính 800mm, chiều dài 10.000mm;

- Máy phay răng ( thẳng, nghiêng): gia công bắng răng đường kính ≤6.300 mm; mô đun ≤32;

- Hệ thống máy gia công bánh răng côn cong: đường kính bánh răng

≤800mm; mô đun≤18;

- Máy mài phẳng: kích thước vật mài: 2.000mm x 500mm;

- Máy mài lỗ: gia công đường kính lỗ ≤800 mm, sâu 500 mm;

- Máy mài tròn ngoài: gia công đường kính ≤800 mm, chiều dài ≤ 6.000 mm;

- Máy mài trục khuỷu: chiều dài vật mài ≤4.000 mm; độ lệch tâm ≤180 mm;

- Máy doa ngang: gia công lỗ ≤1.000 mm; sâu ≤1.600 mm; kích thước chi tiết gia công ≤4.000 mm;

- Máy doa tạo độ: doa chính xác các lỗ có đường kính đến 1.200mm;

Với hệ thống trang thiết bị thuộc dây chuyền gia công bánh răng có thể gia công chế tạo các cặp bánh răng côn thẳng, côn cong, bánh răng hình chữ

V, bánh răng NOVICOV, bánh vít-trục vít với nhiều dạng ăn khớp và mô đun khác nhau

Trang 19

+ Thiết bị nhiệt luyện:

- Các loại lò thấm các-bon, xianua, thấm nitơ được các nhà máy chế tạo động cơ để phục vụ sản xuất các chi tiết đòi hỏi có yêu cầu kỹ thuật cao làm việc trong các điều kiện khắc nghiệt Các thiết bị tôi cao tần phục vụ cho công việc nhiệt luyện các chi tiết có yêu cầu chỉ tôi cứng bề mặt

- Riêng TVN đã trang bị trên 30 hệ thống thiết bị nhiệt luyện, trong đó

+ Thiết bị gia công kết cấu Thép:

- Máy cắt tôn: Một số cơ sở gia công thiết bị và kết cấu đã nhập các máy cắt tôn thuỷ lực có khả năng cắt tôn tấm dày đến 20mm, chiều dài 6000mm

- Máy lốc ống: Với loại máy lốc ống 4 trục của công ty lắp máy 69-3 chuẩn bị nhập về có thể lốc được các loại ống dày đến 50mm, chiều dài ống 3000mm, có thể phục vụ cho công việc chế tạo các loại vỏ lò quay của các nhà máy xi măng có công suất đến 2triệu tấn/năm

- Năng lực gia công các kết cấu sắt thép của TVN cũng được đầu tư lớn, đó là:

- Máy cắt thép cán: cắt thép có đường kính tới 500mm;

- Máy cắt tôn tấm: có thể cắt tôn chiều dầy toíư 22mm;

- Máy bào mép tôn tấm dài > 6.000mm;

- Thiết bị xử lý tôn tấm trước khi hàn bằng Plasma, thổi khí C2H2, cắt rãnh bằng que hàn graphit theo công nghệ thổi khí cháy không ngậm xỉ;

- Máy dập tạo hình các dạng prôphin đặc biệt;

- Máy uốn thép vì lò kim loại và các loại thép hình L, U, I, Z, ray;

- Máy uốn các loại ống thép;

- Thiết bị phun phủ kẽm, nhôm, đồng, bột hợp kim chịu mài mòn….;

- Máy phun sơn epoxy với áp suất trộn 374 kG/cm2;

- Trang thiết bị kiểm tra khuyết tật mối hàn nhanh, chính xác bằng từ tính, siêu âm, chụp X quang;

- Máy cắt tôn mỏng <3mm tự động theo 32 chương trình;

Trang 20

Trong thời gian gần đõy ngành Cơ khớ TKV cũn đầu tư nhiều thiết bị mới như mỏy cắt CNC Master 35, dõy chuyền cỏn thộp vỡ chống lũ kim loại

và cỏc loại thộp hỡnh đặc chủng cụng suất 80.000 - 100.000 tấn/năm, dõy chuyền sản xuất cỏc loại xi lanh thuỷ lực cú đường kớnh đến 240mm… tạo cỏc loại phụi cú trọng lượng và kớch thước lớn phục vụ cho việc gia cụng chế tạo cỏc trang thiết bị siờu trường siờu trọng

1.2.2.1- Nhõn lực sản xuất phụi kim loại và gia cụng chế tạo cơ khớ

Theo Niên giám Thống kê VN, cả nước có gần 463.000 lao động thuần cơ khí tăng 16,63%/năm trong 6 năm gần đây Trong có gần 2 vạn cán bộ kỹ thuật được đào tạo chính quy có trình độ khá và 12 viện nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thiết kế về cơ khí Đây là nguồn nhân lực hết sức quan trọng để phát triển ngành này

Riờng về chế tạo phụi và chi tiết lớn, những doanh nghiệp cú trang bị thiết bị gia cụng chuyờn dụng nờu trờn đều cú bố trớ nhõn lực đảm bảo yờu cầu này

Tuy nhiờn trỡnh độ nhõn lực cũn chưa đồng đều, khả năng gia cụng cỏc chi tiết phức tạp cũn nhiều hạn chế Nguyờn nhõn chủ yếu do khụng được cập nhật kiến thức thường xuyờn và ớt được tu nghiệp ở cỏc nước tiờn tiến

1.2.3- Thực trạng sản xuất và chế tạo chi tiết, mỏy của cỏc nhúm

thiết bị đồng bộ trong cỏc nhà mỏy sản xuất xi măng, năng lượng, dầu khớ, khai khoỏng

Với tiềm năng về thiết bị, và kinh nghiệm sẵn cú của đội ngũ nhõn lực lành nghề, cỏc cơ sở sản xuất sản phẩm cơ khớ nờu trờn cơ khớ Việt Nam cú thể tham gia cung cấp, gia cụng chế tạo, lắp đặt hiệu chỉnh và đưa vào sử dụng vận hành cỏc chi tiết, cụm chi tiết lớn, trang thiết bị đồng bộ cho cỏc cụng trỡnh dự ỏn lớn trong nước phục vụ cho cỏc ngành kinh tế quốc dõn và quốc phũng, cụ thể là:

1.2.3.1- Thiết bị xi măng

Cỏc doanh nghiệp trong nước đó cú thể thiết kế bản vẽ thi cụng , chế tạo 35 -40% thiết bị toàn bộ của cỏc nhà mỏy xi măng từ 0,9 – 1,4 triệu tấn; Chẳng hạn, chủ trỡ xõy dựng nhà mỏy xi măng Sụng Thao, Đụ Lương… riờng với tổng giỏ trị hợp đồng lờn đến 1,5 tỷ USD

1.2.3.2- Thuỷ điện, nhiệt điện

Việt Nam đó chế tạo thành cụng thiết bị cho cỏc nhà mỏy nhiệt điện và thuỷ điện, trong đú chủ yếu là cỏc thiết bị tĩnh cú phụi và chi tiết lớn: bao gồm cỏc thiết bị đồng bộ của cỏc dõy chuyền chế biến và cung cấp nguyờn, nhiờn liệu đầu vào, hệ thống thụng giú, cấp thoỏt nước, lọc bụi, thiết bị cơ khớ thuỷ cụng, đường ống cụng nghệ …; Cựng với cỏc thiết bị đường dõy và trạm đi kốm như: dõy nhụm trần tải điện A & AC, biến ỏp lực điện ỏp đến 220 kV,

Trang 21

công suất 125-150MW cùng với các tủ điện, thiết bị đóng ngắt công suất lớn….;

Đặc biệt, TCTy LILAMA đã thực hiện các Dự án Tổng thầu EPC (nhà

thầu cả gói, gồm thiết kế, mua sắm, chế tạo, xây lắp, thí nghiệm và chạy thử) với sự góp sức của nhiều nhà thầu phụ trong nước:

1 Dự án Nhà máy nhiệt điện Uông bí mở rộng, công suất 300

MW, vốn đầu tư gần 300 triệu USD

2 Dự án Nhà máy điện Cà Mau 1, công suất 750 MW, với tổng giá trị hợp đồng quy đổi là 360.020.213 USD

3 Dự án Nhà máy điện Cà Mau 2, công suất 750 MW, giá trị hợp đồng EPC xây dựng nhà máy là 330,3 triệu USD

4 Hợp đồng tổng thầu EPC Dự án Nhà máy Thuỷ điện An Điềm 2, công suất 15,6 MW Theo đó, nhà thầu LILAMA sẽ "thiết kế, chế tạo, cung cấp và lắp đặt thiết bị Nhà máy Thuỷ điện An Điềm 2" với tổng trị giá gần là

336,9 tỷ đồng

1.2.3.3- Dầu khí, hoá dầu

Gần đây, Việt Nam đã tự cung cấp phụ tùng cho các thiết bị động lực trong công nghệ khoan thăm dò và khai thác chế biến dầu khí; Các cấu kiện kim loại cho xây dựng các giàn khoan, các công trình ven biển và trên biển, đường ống dẫn dầu, dẫn khí đồng hành …

Đáng kể là, Lilama sẽ cung cấp toàn bộ phần kết cấu thép, các loại bồn

áp lực thấp, sơn, bảo ôn cho thiết bị của gói thầu 2 và 3 của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, do Technip – TPC làm tổng thầu EPC; bao gồm, chế tạo lắp đặt 50.000 tấn thiết bị và kết cấu thép trong đó bồn bể 25.000 tấn, ống 17.000 tấn

và 9.000 tấn kết cấu thép Giá trị hợp đồng này là 70,4 triệu USD

Nhà máy lọc dầu Dung Quất do Tổng công ty dầu khí Việt Nam đầu tư xây dựng với tổng vốn 2,5 tỷ USD Dự án được chia làm 7 gói thầu Trong

đó, gói 1: nhà máy chính (thiết bị nhập khẩu); gói 2: khu vực bể chứa dầu thô; gói 3: khu vực bể chứa sản phẩm, đường ống dẫn và cảng xuất sản phẩm; gói 4: cụm tiếp nhận dầu thô

1.2.3.4- Khai thác khoáng sản

Đối với các loại thiết bị này phần lớn được chế tạo từ phôi và chi tiết lớn Từ một phần chi tiết phức tạp như động lực, cơ cấu điều khiển … nhập khẩu và các chi tiết lớn khác chế tạo tại chỗ, các DN cơ khí trong nước, đứng đầu là Cơ khí TVN đã tự lắp ráp được:

- Thiết bị khai thác và vận tải mỏ lộ thiên: máy xúc từ 5 đến 18m3 gầu, máy khoan các loại có đường kính lỗ khoan từ 100-250mm; xe tải tự đổ hạng

Trang 22

nặng và siêu nặng 15-42tấn; toa xe vận tải đường sắt 30-45tấn; hệ thống vận tải hỗn hợp Trục tải - ôtô - băng tải có chiều sâu đến 600m, cung độ 5-10km;

- Thiết bị khai thác hầm lò và thi công các công trình ngầm: máy combai đào lò đá và khai thác khoáng sản, hệ thống thông gió chính và cục

bộ, hệ thống thoát nước, cấp khí nén, hệ thống vận tải đường sắt, băng tải; các trang thiết bị điện phòng nổ đồng bộ…;

- Thiết bị đồng bộ và toàn bộ của các nhà máy sàng tuyển và làm giầu than, quặng ;

- Thiết bị đồng bộ của các dây chuyền các cơ sở chế biến sâu khoáng sản như Titan, đồng, kẽm, cromit, vonfram…;

Ngoài ra, cũng với năng lực trên, các doanh nghiệp cơ khí còn chế tạo nhiều trang thiết bị và phụ tùng cho các ngành khác, như:

- Xây dựng và sản xuất VLXD, đó là thiết bị thi công cơ giới, khai thác

và chế biến đá, …;

- Giao thông vận tải: cung cấp các loại xe ôtô tải hạng trung, hạng nặng

và xe chuyên dùng cho nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá…Cung cấp các loại xe đặc dụng cho các ngành quốc phòng, công an

- Sửa chữa và đóng mới các loại phương tiện vận tải thuỷ có tải trọng đến 20.000DWT;

- Cung cấp các loại toa xe vận tải đường sắt có tải trọng từ 20-45tấn;

- Cung cấp hệ thống thiết bị đồng bộ đánh đống, bốc rót, vận chuyển vật liệu, kho tàng cho các cảng biển, ga đường sắt…

- Cung cấp các dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa sau bảo hành và cung cấp phụ tùng cho sửa chữa sau bảo hành

1.2.4- Tình hình nhập khẩu các chi tiết, thiết bị của 04 nhóm trên

Do cơ khí Việt Nam chưa có đủ năng lực chế tạo được các loại phôi gang thép và gia công các loại chi tiết bộ phận của sản phẩm máy, cơ khí lớn, cho nên Việt Nam vẫn phải nhập khẩu Điểm qua như sau:

Trước những năm 1990 các thiết bị và các chi tiết lớn, phụ tùng phục

vụ cho sản xuất xi măng, sản xuất điện, khai thác và chế biến khoáng sản, và sau này là thiết bị ngành dầu khí đều phải nhập của nước ngoài

Từ sau năm 1990 và nhất là sau năm 2002 đến nay, khi mà sản xuất cơ khí khởi sắc trở lại, một số chi tiết lớn cho các nhà máy trên đã được sản xuất trong nước Tuy nhiên các chi tiết của thiết bị chính trong các công trình thiết

bị toàn bộ, và chi tiết phục vụ sửa chữa lớn, đặc biệt là các chi tiết lớn cho máy phát điện, còn gọi là phần “ruột” phần “quay” và điều khiển vẫn phải nhập khẩu Giá trị nhập khẩu số thiết bị này hàng năm lên đến trên, dưới 10 tỷ USD

Trang 23

1.2.5- Đánh giá chung: mạnh, yếu, nguyên nhân về chế tạo phôi

kim loại và gia công chi tiết lớn của cơ khí Việt Nam

Điểm qua năng lực thiết bị sản xuất của các nhà máy cơ khí trong nước ở giai đoạn này, chung ta phải thấy là năng lực sản xuất phôi để chế tạo các thiết bị lớn phục vụ cho công nghiệp sản xuất xi măng, điện, dầu khí và khai thác khoáng sản của chúng ta còn yếu rất nhiều so với Hàn Quốc, Trung Quốc là những nước công nghiệp phát triển của khu vực Châu Á

Khâu tạo phôi vẫn dùng công nghệ đúc khuôn cát là chủ yếu, tỷ lệ phế phẩm rất cao (có nơi đến 30%), lượng dư gia công lớn, các nhà máy chưa có thiết bị phân tích nhanh nên không đảm bảo mác gang, mác thép đúng quy định, thiếu thiết bị đúc chính xác cao và chịu áp lực lớn, thiếu khả năng đúc thép hợp kim chất lượng cho các chi tiết lớn, chưa nói đến vấn đề kết hợp giữa đúc và xử lý nhiệt để tiết kiệm năng lượng và có được kết cấu tương đương mong muốn Đây là một yếu tố làm tăng giá thành đáng kể Phần lớn các nhà máy tổ chức quản lý, theo quy trình công nghệ khép kín từ A đến Z, thiếu sự hợp tác và chuyên môn hóa sản xuất

Về thiết bị gia công, thiếu nghiêm trọng các máy có khả năng gia công những chi tiết lớn để chế tạo thiết bị toàn bộ và thiếu thiết bị kiểm tra chất lượng sản phẩm Toàn ngành thiếu những nhà máy có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại, chủ lực để làm Trung tâm cho việc hình thành quá trình sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa cao đáp ứng đòi hỏi quan trọng trong tổ chức sản xuất cơ khí của công nghiệp chế tạo máy nặng

Về nghiên cứu thiết kế và tư vấn, phần lớn các chi tiết lớn đều phải thực hiện theo mẫu, thiết kế của nước ngoài Nhìn chung đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật không thiếu, nhưng một mặt do không được đào tạo lại thường xuyên theo trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật thế giới, mặt khác chưa được đầu tư đúng mức các hệ thống thiết kế tự động (CAD) nên việc thay đổi mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm chậm, không theo kịp với đòi hỏi của nền kinh

tế thị trường

Tình hình trên do một số nguyên nhân sau đây:

- Trong giai đoạn vừa qua đất nước ta trải qua mấy chục năm chiến tranh, đất nước ta còn nghèo Chúng ta chỉ ưu tiên tập trung đầu tư cho một một số lĩnh vực thiết yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sản xuất một

số mặt hàng thiết yếu, chưa có điều kiện đầu tư cho nền cơ khí lớn Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chúng ta ưu tiên mua sắm các dây chuyền công nghệ sản xuất sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu thị trường tiêu dùng mà chưa quan tâm đến lĩnh vực sản xuất thiết bị, phụ tùng phục vụ phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo nói chung, đặc biệt là sản xuất, chế tạo các chi tiết, thiết bị công nghiệp có trọng lượng, kích thước lớn

Trang 24

- Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất công nghiệp còn mới ở giai đoạn đầu phát triển, nếu đầu tư các thiết bị sản xuất lớn ngay chưa

có thị trường tiêu thụ đủ mạnh, hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng thu hồi vốn đầu tư chậm hơn so với đầu tư các lĩnh vực kinh tế khác, do vậy chưa có doanh nghiệp nào quan tâm đến việc đầu tư một nhà máy cơ khí nặng đồng bộ

có đủ khả năng sản xuất được các chi tiết có kích thước và khối lượng lớn

Trang 25

CHƯƠNG II

NHU CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG

CHẾ TẠO PHÔI KIM LOẠI VÀ GIA CÔNG CHI TIẾT LỚN

GIAI ĐOẠN 2007-2015

2.1- Nhu cầu chung

2.1.1 Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng

bộ Việt Nam giai đoạn 2008 – 2015 (có tính đến 2025)

Căn cứ quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp điện lực, ngành ximăng, quy hoạch phân vùng khai thác quặng Baurit và sản xuât Alumin

đã được chính phủ phê duyệt Giá trị đầu tư vào các ngành như sau:

2008 – 2015

Danh mục

Thủy điện

(MW)

Nhiệt điện

xuất đầu tư 10.631 23.660 30.250 5.650

(MW)

Nhiệt điện

(MW)

Nhiệt điện

Trang 26

( Số liệu lấy Bộ Công Thương)

Như vậy tổng cộng 2 giai đoạn từ nay tới 2025 chúng ta cần xây dựng

88 nhà máy nhiệt điện chạy than có công suất từ 100 MW đến 1200 MW,

75 nhà máy thủy điện có công suất từ 30 MW đến 1200MW, 30 nhà máy

xi măng có công suất từ 300.000 đến 2,5 triệu tấn ximăng/năm và đầu tư

để khai thác tới 15 triệu tấn Alumin Tổng vốn đầu tư cho thiết bị cỡ khoảng 115 tỷ USD Nếu tính cả ngành công nghiệp hóa chất như lọc hóa dầu, máy xây dựng và các ngành công nghiệp khác thì tổng vốn đầu tư cho mua sắm thiết bị trong dây chuyền thiết bị đồng bộ đạt tới 250 tỷ USD Đây là một thị trường quá lớn đối vơi ngành chế tạo cơ khí Nếu chúng

ta thực hiện được như quyết định 186/2002/TTg của Thủ tướng Chính phủ

là : “Phấn đấu đáp ứng 40% nhu cầu thiết bị toàn bộ trong nước vào năm

2010 Trước mắt tập trung cho các lĩnh vực sau: sản xuất bột giấy và giấy, sản xuất ximăng và vật liệu xây dựng, sản xuất điện và dầu khí, cấp nước sạch, công nghiệp chế biến…” có nghĩa là đên snăm 2025 chúng ta có thể chế tạo thiết bị đồng bộ có giá trị ước đạt 100 tỷ USD

Trong Nghị định trên có đề ra: “Đầu tư có trọng điểm thiết bị và công nghệ vào các khâu cơ bản, như đúcm, rèn, tạo phôi lớn để đồng bộ về thiết

bị và công nghệ đáp ứng yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp Tăng cường năng lực thiết bị của các doanh nghiệp cơ khí trong cả nước, tăng cường sự phối hợp trong việc phân công và hợp tác sản xuất thiết bị đồng bộ”

Nếu kiểm điểm thực hiện nghị quyết 186/2002/TTg thì đến nay chúng

ta thực sự chưa làm được bao nhiêu, đặc biệt về chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp Do khâu đầu tư vào đúc, rèn, tạo phôi lớn vấn như tình trạng trước năm 2002 Không có vốn, cơ chế chính sách ưu đãi cho cơ khí không nhất quán, thiếu định hướng Không bảo vệ được thị trường

Do đó trong những năm qua tuyệt đại đa số các dự án về nhiệt điện, thủy điện, ximăng, một phần công việc khai khoáng đều phải do các tập đoàn tài chính và công nghiệp nước ngoài làm tổng thầu cung cấp thiết bị trong đó chủ yếu là thiết bị từ Trung Quốc.Hàng năm nươc ta phải nhập siêu từ 10-12 tỷ USD về thiết bị đồng bộ cho các dự án công nghiệp đang được đầu tư tại Việt Nam

Chính vì lý do trên hơn lúc nào hết thấy sự cấp bách đầu tư vào công nghệ và thiết bị cho khâu đúc, rèn, tạo phôi lớn để đáp ứng yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp của thiết bị các ngành nói trên

Trang 27

Trong 4 ngành thiết bị nói trên chúng ta cần một lượng phôi lớn để

phục vụ cho việc chế tạo các máy chính trong dây chuyền thiết bị đồng bộ

như sau:

I Ngành nhiệt điện chạy than

3 Máy nghiền than Cái 15 121

II Ngành thủy điện

2 Cầu trục gian máy Cái 116 42

3 Thiết bị cơ khí thủy công Bộ 116 42

III Ngành ximăng

1 Các loại thiết bị nghiền Cái 100 100

IV Ngành khai thác và sản xuất Alumin

Để đảm bảo cung cấp đủ các nguyên liệu chính có số lượng lớn cho

ngành sản xuất thiết bị đồng bộ với giá thành cạnh tranh:

- Công nghệ đúc phải đảm bảo đúc được các vật đúc lớn với khôi lượng

100 tấn; đúc các mái thép và gang hợp kim chất lượng cao

- Công nghệ rèn dập đảm bảo rèn được phôi lớn có khối lượng đến 200

tấn (máy rèn ép thủy lực với lực ép 4000 tấn)

Làm chủ công nghệ tạo phôi kích thước và khối lượng lớn bằng công

nghệ phối kết hợp giữa đúc, rèn dập, hàn và xử lý nhiệt

2.2- Nhu cầu phôi, chi tiết lớn đối với các nhóm thiết bị

2.2.1- Thiết bị xi măng

Với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp xi măng như hiện nay

trong giai đoạn 2007 đến 2015 hàng loạt các nhà máy xi măng có công suất

lớn được đưa vào sản xuất, nhu cầu chi tiết và phụ tùng thay thế cho sửa

chữa và phục vụ sản xuất là rất lớn Các phụ tùng dự phòng cho kế hoạch

Trang 28

sản xuất ổn định của 2 năm đầu đưa vào sản xuất cần được bổ sung Các phụ tùng nhập ngoại giá cả sẽ rất đắt và cơ bản là không đảm bảo đáp ứng kịp tiến độ phục vụ sản xuất Theo Quy hoạch Công nghiệp Vật liệu xây dựng, Chương trình đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất xi măng đang được ưu tiên phát triển vào phía Nam Trung bộ Một loạt các dự án xây dựng các nhà máy xi măng đang được triển khai nghiên cứu như nhà máy

xi măng Thạch Mỹ – Quảng Nam, xi măng Quảng Trị, … Tổng công suất thiết kế của các nhà máy xi măng đến thời kỳ này nếu được đưa vào khai thác toàn bộ sẽ lên đến 65 …68 triệu tấn xi măng hàng năm Như vậy, nhu cầu thiết bị là rất lớn Trong đó các các thiết bị được chế tạo từ phôi

lớn là:

- Các loại trục máy nghiền, máy đập, quạt lò

- Các loại vỏ quạt, vỏ lọc bụi túi và lọc bụi điện

- Hệ thống tang dẫn động, tang bị động, tang căng băng và các con lăn băng tải

- Các loại cánh sới, gầu tải, vít tải liệu

- Phụ tùng thay thế cho các loại máy rải liệu, máy rút đống

Cụ thể, trong các thiết bị phục vụ cho công nghiệp sản xuất xi măng, các thiết bị cần có kích thước và khối lượng phôi lớn là các loại máy nghiền, con lăn máy nghiền liệu đường kính 2.800 x 800 mm, khối lượng

từ 30 – 40 tấn, trục máy nghiền liệu có kích thước đường kính 600 x 2.800

mm, khối lượng từ 6 - 7 tấn, đế máy nghiền liệu có khối lượng đến 100 tấn,

vỏ lò quay được chế tạo bằng thép tấm có khối lượng đến 200 tấn, các bệ

lò với khối lượng 20 - 30 tấn, v.v… Đó là các chi tiết có khối lượng và kích thước lớn tương đối khó chế tạo trong điều kiện nền cơ khí trong nước chưa thể đáp ứng được

2.2.1.1 Năng lực chế tạo dây chuyền Xi măng lò quay:

a Năng lực tư vấn thiết kế

Các công ty thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật Riêng thiết kế chế tạo thiết bị

kể cả kết cấu thép chưa làm được

b Năng lực chế tạo:

Hầu hết các thiết bị phụ trợ trong nhà máy xi măng như thiết bị vận chuyển: Gầu nâng , vít tải, máng cào, băng tải sắt, băng tải cao su, máng khí động, thiết bị đánh đống, silo, cầu trục các loại, thiết bị lọc bụi trong

đó có lọc bụi tĩnh điện và lọc bụi túi, lọc bụi nước đều đã chế tạo được trên cơ sở thiết kế của hãng cung cấp thiết bị Các thiết bị quay phần lớn chế tạo vỏ máy, thân máy như vỏ quạt, vỏ lò, thân máy nghiền, các đường ống trong hệ thống sấy sơ bộ, gió, dẫn khói, v.v…

2.2.2- Nhu cầu chế tạo thiết bị, tạo phôi và chi tiết lớn cho các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện,

Trang 29

Theo Tổng sơ đồ điện IV: Từ nay đến năm 2015, Việt Nam cần hơn

10 tổ máy nhiệt điện than 300MW, đó là chưa kể các tổ máy công suất lớn hơn và nhỏ hơn; Còn theo Quy hoạch Thủy điện nhỏ toàn quốc, Việt Nam

có 173 công trình thủy điện có thể xây dựng với công suất máy phát đện

từ 5 MW trở lên; Tổng công suất lắp máy thủy điện nhỏ là 2.296 MW Nếu tính từ quy mô công suất 1 MW trở lên có 407 công trình Đây là tiềm năng rất lớn cho chế tạo máy phát điện, trong đó có nhiều chi tiết lớn, phức tạp

2.2.2.1 Năng lực chế tạo thiết bị nhiệt điện:

a Năng lực thiết kế tư vấn:

Hiện các tổ chức tư vấn thiết kế có khả năng thiết kế công nghiệp Một phần thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và bản vẽ chế tạo còn rất hạn chế Phần này vẫn dựa vào nước ngoài

b Năng lực chế tạo:

Các thiết bị tiêu chuẩn như hộp số, hộp giảm tốc, bơm, quạt đã chế tạo được nhưng do không thể tự thiết kế kỹ thuật nên hầu như không sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện

Các thiết bị chuyên ngành như turbin hơi, máy phát, lò hơi, máy nghiền, bơm nước cấp hoàn toàn phải nhập

Các phần kết cấu thép và phi tiêu chuẩn đã chế tạo hầu hết trong nước nhưng theo thiết kế nước ngoài

2.2.2.2 Năng lực chế tạo thiết bị thủy điện

a Năng lực tư vấn thiết kế:

Các công ty tư vấn thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam: một số viện khác như Viện nghiên cứu thủy lợi và Viên nghiên cứu cơ khí có thể làm thiết kế cơ sở Việc thiết kế chế tạo mới được thực hiện trong thời gian vừa qua và sau khi thực hiện “cơ chế 797 của Bộ Công nghiệp về cơ khí thủy công” của Viện nghiên cứu cơ khí đã có sự tham gia của các chuyên gia thiết kế Ukraina

Các thiết kế về turbin thủy, máy phát có thể làm được chỉ đến tổ máy 3 MW

b Năng lực chế tạo thiết bị:

Công ty Thiết bị điện Đông Anh đã chế tạo được máy biến áp tới 220

KV công suất tới 250 MVA

Về chế tạo thiết bị cơ khí thủy công hiện có nhiều Tổng công ty, doanh nghiệp cơ khí trong nước đã chế tạo hầu hết các loại thiết bị này gồm cả cổng trục thượng lưu, hạ lưu và cầu trục gian máy đến 500T

Trang 30

Mặc dù về năng lực của máy và thiết bị chúng ta có khả năng chế tạo các tổ máy thủy điện công suất đến 50MW, song không có thiết kế và không có đơn hàng nên hầu hết các thiết bị cơ điện đều nhập từ nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc

2.2.3- Thiết bị dầu khí, hoá dầu

Theo quy hoạch ngành dầu khí đến năm 2015, và tầm nhìn đến năm

2025, toàn ngành cần số thiết bị với tổng giá trị là 36.954 triệu USD, riêng giai đoạn đến năm 2010 cần 5.423 triệu USD, và giai đoạn 2011-2015 là 8.734 triệu USD; Đó là tàu chuyên ngành, tàu dầu, kho nổi, giàn khoan các loại và các phụ tùng cơ khí khác Cụ thể, đối với phôi và các chi tiết lớn có thể cung cấp trong nước:

2.2.3.1 Phôi đúc:

- Các loại phôi đúc (chủ yếu thép và gang cầu hoặc gang hợp kim chất lượng cao) để chế tạo: một số tấm chính của thân giàn khoan, thân van; thân các gối đỡ; thanh đường trượt hạ thuỷ; phôi chế tạo thanh răng và bánh răng của cụm nâng giữ và hãm chân giàn khoan tự nâng loại có chiều cao nâng đến 100m; một số chi tiết chính lớn của cụm tháp khoan, bao gồm cả đường trượt

2.2.3.2 Thép tấm:

- Có độ dày trên 20 đến 50mm, chiều dài từ 5 đến trên 10m;

- Có độ dày trên 20 đến trên 50mm, chiều dài từ trên 10 đến trên 20m;

2.2.3.3 Thép hình kết cấu hợp kim chất lượng cao chuyên dùng các loại:

- Độ dày từ 30 đến 60mm, chiều dài từ 10 đến 30m;

- Độ dày từ 20 đến 50mm, chiều dài trên 5 đến 15m;

+Các thiết bị chế tạo cho các nhà máy lọc dầu, chế biến dầu: bình bồn

chứa, bình bồn trong các nhà máy lọc dầu, chế biến dầu, các bồn khuấy, chứa, các thiết bị khuấy, các loại bơm công suất lớn, van, hệ thống trao đổi nhiệt, đưòng ống,

Trang 31

- Các thiết bị lốc tôn có chiều dày đến và trên 20mm, chiều dài và rộng

từ 3 đến 5m; từ 5 đến 20m;

- Các thiết bị đúc các thân van, thân động cơ lớn;

- Các thiết bị hàn đường, điểm, hàn trong khí bảo vệ CO2, hàn TIG, MIG,

+ Các thiết bị chế tạo các mô đun trong các giàn khoan biển:

- Các máy lốc tôn dày trên 30 đến 60mm, ;

- Các máy cắt xấn thép tấm, các kết cấu dầm, các xương gia cường, dầy đến và trên 50mm, kích thước các chiều còn lại từ 5 và 10m;

- Các lò đúc thép và gang dẻo, gang cầu từ 15 đến 20 tấn/mẻ;

- Các thiết bị hàn đường, điểm, hàn trong khí bảo vệ CO2, hàn TIG, MIG, , để hàn các kết cấu có độ dầy từ 30 đến 60mm, chiều dài mối hàn đến và trên 10m với chất lượng cao;

- Các thiết bị gia công cơ khí: thanh răng, bánh răng của cụm nâng/ hạ

và hãm, giữ chân giàn khoan nặng khoảng 1.000 đến 1.500 tấn, các trục chuyên dụng, các gối đỡ lớn, chi tiết lắp xiết (bu lông, đai ốc, vít cấy, );

- Các thiết bị chế tạo đường trượt hạ thuỷ giàn khoan nặng đến nhiều chục ngàn tấn: lò đúc thép khoảng 15 tấn/mẻ, thiết bị gia công cơ khí siêu trường, siêu trọng, ;

2.2.4- Về Khai thác khoáng sản

2.2.4.1 Năng lực chế tạo dây chuyền thiết bị khai khoáng

a Năng lực về tư vấn thiết

Viện Cơ khí năng lượng và mỏ, Viện NARIME có khả năng thiết kế công nghệ, thiết kế cơ sở Về thiết kế kỹ thuật chưa làm được, phải mua chuyển giao công nghệ từ các hãng nước ngoài

b Khả năng chế tạo:

- Phần lớn thiết bị của ngành khai khoáng là các thiết bị tiêu chuẩn về vận chuyển như băng tải, gầu tải, đánh đống, rải liệu, các loại bơm, các loại quạt gió Thiết bị chuyên ngành gồm: máy chưng bốc, máy lọc, máy khuấy, máy cô đặc, máy kết tinh, máy nghiền

- Các kết cấu thép và thiết kế, nhận chuyển giao công nghệ thì khả năng gia công được phần lớn loại thiết bị này, trừ một số máy chuyên ngành Trong lĩnh vực khai thác khoáng sản các nhóm thiết bị lớn chủ yếu hiện nay đang được sử dụng trong các đơn vị khai thác lộ thiên thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) gồm có:

Thiết bị khai thác, bao gồm các loại máy khoan, máy xúc, xe gạt, máy xới;

Trang 32

Trang thiết bị vận tải, bao gồm chủ yếu là các loại xe ôtô tải hạng nặng và siêu nặng (tải trọng từ 15 đến 99 tấn);

Hệ thống băng tải các loại cùng với các phương tiện vận tải đường sắt (đầu tầu kéo công suất đến 1.000 mã lực và toa xe chở than đến 30 tấn)

Số lượng, chủng loại các nhóm thiết bị sử dụng trong khai thác khoáng sản xem ở phụ lục 3

Theo Quy hoạch than đến năm 2025, tổng nhu cầu thiết bị lên đến hơn 6,3 triệu tấn và 1,5 tấn phụ tùng để sửa chữa lớn

2.3 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sản xuất và thị trường chi tiết lớn

Từ phân tích ở trên có thể rút ra nhận xét tổng quát là: Phôi và chi tiết lớn, đặc biệt là dùng trong thiết bị toàn bộ có nhu cầu rất lớn và không ngừng phát triển ở Việt Nam, ngành cơ khí Việt Nam có thể và cần phải tham gia tích cực vào việc sản xuất và cung cấp chúng cho các công trình thiết bị toàn

bộ đang và sẽ được sản xuất ở Việt Nam, vì so với các thị trường hàng hoá khác, thị trường này luôn luôn ở tình trạng “cầu” lớn hơn “cung”

Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay sẽ là thiếu kinh tế nếu ngành cơ khí Việt Nam có ý định khép kín, tự tổ chức sản xuất và cung cấp các phôi và chi tiết lớn cho tất cả các ngành, với tất cả các quy mô về công suất Vì vậy, căn cứ vào nhu cầu thị trường, khả năng về đầu tư, công nghệ, chế tạo trong nước và hợp tác quốc tế, việc phát triển sản xuất chế tạo phôi và chi tiết lớn nói riêng và thiết bị toàn

bộ nói chung, phải tính đến các yếu tố:

- Sản xuất cơ khí của Việt Nam nói chung và sản xuất phôi, chi tiết lớn

có mức phụ thuộc vào nguyên, nhiên liệu (sắt thép chế tạo, xăng dầu) nhập khẩu rất cao (riêng Sản xuất máy động lực 47%, - ô tô trên 60%, thiết bị điện nói chung 60-75%, sản xuất của Lilama (chế tạo và lắp dựng) trên 60%, …);

- Công nghiệp phụ trợ cơ khí chưa phát triển, một số nhà máy vẫn sản xuất theo kiểu khép kín, chế tạo từ A-Z

Việc phụ thuộc vào nguyên liệu, chi tiết cấu thành nhập nhẩu số lượng lớn trong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng, giá cả các kim loại cơ bản biến động nhanh cho thấy các Doang nghiệp chế tạo cơ khí Việt Nam phải thích ứng với môi trường kinh doanh quốc tế; Mặt khác cũng cho thấy Việt Nam cần tự chủ chế tạo một số chi tiết lớn, đủ đảm bảo cho các ngành kinh tế kỹ thuật hoạt động bình thường trong mọi tình huống, nhất là đối với ngành cung cấp năng lượng – cấp “máu” cho cơ thể quốc gia

Trang 33

CHƯƠNG III

QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT PHÔI VÀ

GIA CÔNG CHI TIẾT LỚN

Đáp ứng nhu cầu chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá

dầu và khai thác khoáng sản trong giai đoạn 2008-2015

3.1- Quan điểm phát triển

- Việc sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phải phù hợp với Chiến

lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam nêu trong Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ

- Lĩnh vực sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn có vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá đất nước, được Nhà nước khuyến khích phát triển

- Phát triển sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn nhằm tạo cơ sở xác lập vị trí của cơ khí Việt Nam trong chuỗi giá trị sản xuất thiết bị lớn trong khu vực và quốc tế Phát huy nội lực cơ khí chế tạo trong nước là chính, nhằm tự chủ tối đa thực kế hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng, điện lực, dầu khí và khai thác chế biến khoáng sản, phù hợp Chiến lược và Quy

hoạch xây dựng các ngành công nghiệp quan trọng của đất nước

- Phát triển sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn theo hướng bền vững, khuyến khích đầu tư các công nghệ hiện đại, giảm tiêu hao năng lượng, nhiên liệu, nguyên liệu; khuyến khích sản xuất các chi tiết thân thiện môi trường

- Gắn kết chặt chẽ việc sản xuất phôi và chi tiết lớn với công nghiệp phục vụ công nghiệp quốc phòng

Phấn đấu đáp ứng 40% nhu cầu phôi và chi tiết lớn trong nước vào năm

2010 và 60% vào năm 2015; Trước mắt tập trung cho các lĩnh vực sau: sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, sản xuất điện và dầu khí, công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản

Trang 34

3.2.2- Mục tiêu cụ thể đến 2015:

Tham gia cung cấp các chi tiết lớn cho các công trình lớn của đất nước, trong đó có:

+ Nhà máy thuỷ điện Sơn La;

+ Tổ hợp công nghiệp khí -điện-đạm Cà Mau;

+ Nhà máy lọc dầu Dung Quất;

+ Tổ hợp khai thác chế biến bauxite Đắc Nông và Lâm Đồng;

+ Tổ hợp khai thác và sản xuất gang -thép Thạch Khê, Hà Tĩnh;

+ Các nhà máy xi măng công suất trên 2 triệu tấn /năm

+ Chuẩn bị tham gia xây dựng điện hạt nhân

Tuỳ thuộc vào đặc tính kỹ thuật và tính kinh tế của các công trình, các nhà sản xuất và cung cấp chi tiết lớn quyết định tỷ lệ sản xuất trong nước cho phù hợp vì bất kỳ nước nào khi chế tạo cũng cần có sự hợp tác quốc tế sâu rộng để đảm bảo có được công trình với công nghệ tiên tiến, chi phí đầu tư thấp và hiệu quả cao khi khai thác công trình Mục tiêu “nội địa hoá” hợp lý cho các nhà máy được nêu ở trên, đạt giá trị là:

- Nhà máy xi măng 1,4-2 triệu tấn /năm: 50%

- Nhà máy xi măng đến 1,4 triệu tấn/năm: 70-80%

- Nhà máy khai thác, tuyển và chế biến khoáng sản: 50=60%

- Các công trình điện và dầu khí, tùy hạng mục: 20-50%

3.3- Định hướng sản phẩm

- Đối với các công trình lớn, mục tiêu trước mắt của ngành là tham gia sâu hơn vào việc cung cấp thiết bị tĩnh, thiết bị phi tiêu chuẩn, thiết bị vận chuyển, truyền tải, (băng tải, vít tải, gầu tải…), thiết bị siêu trường, siêu trọng (bao gồm cả thiết bị chịu áp cao, thiết bị chịu ăn mòn…) Tuỳ công trình, nhưng theo đánh giá chung, với năng lực sẽ được tăng lên của ngành cơ khí,

tỷ lệ “nội địa hoá” của các công trình này có thể đạt 20-40%, cao nhất là Tổ hợp khí -điện-đạm Cà Mau, lọc dầu và khai thác, chế biến bauxite Riêng thuỷ điện Sơn La, do đặc điểm của loại thiết bị này, tỷ lệ “nội địa hoá” có thể thấp hơn 20%

- Từng bước làm chủ thiết kế, công nghệ và hợp tác quốc tế về thiết kế, công nghệ để tổng thầu được các công trình thiết bị toàn bộ còn lại, có quy

mô nhỏ hơn và cung cấp các chi tiết lớn “vừa sức hơn”, trọng tâm là các loại phôi và chi tiết lớn cho: nhà máy xi măng từ 0,9 đến 1,4 triệu tấn/năm; tổ máy

Trang 35

nhiệt điện đến 300MW, tổ máy thủy điện đến 50MW; Thiết bị khai thác, tuyển và chế biến khoáng sản

3.4- Định hướng đầu tư

- Đầu tư có trọng điểm thiết bị và công nghệ vào các khâu cơ bản, như

đúc, rèn, tạo phôi lớn để đồng bộ về thiết bị và công nghệ đáp ứng yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp

- Tận dụng năng lực thiết bị của các doanh nghiệp cơ khí trong cả nước, tăng cường sự phối hợp trong việc phân công và hợp tác sản xuất phôi và chi tiết lớn

Trang 36

CHƯƠNG IV

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT PHÔI

VÀ GIA CÔNG CHI TIẾT LỚN

Phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá

dầu và khai thác khoáng sản

4.1 Giải pháp tổ chức chế tạo phôi lớn cho các ngành công nghiệp

- Đầu tư các nhà máy chế tạo cơ khí nặng đến năm 2015 có khả năng tự chủ 80% các thiết bị chính cho các ngành công nghiệp quốc phòng; khi đầu tư nhà máy cơ khí nặng có nghĩa là ta có htể tạo được cá phôi lớn, các loại thép hợp kim đặc biệt, hệ thống máy móc gia công sản phẩm có độ phức tạp cao và đặc biệt là có đội ngũ cán bộ có trình độ cao về thiết kế và chế tạo Nâng cao năng lực về tạo phôi lớn, về nhiệt luyện ở trình độ cao mới có khả năng chế tạo vũ khí như xe tăng, tên lửa…

- Đầu tư các nhà máy chế tạo thiết bị nặng phân bổ trên 3 miền Bắc, Trung, Nam Đặc biệt ưu tiên miền Bắc xây dựng một nhà máy mới của Lilama hặc đầu tư chiều sâu vào nhà máy cơ khí trung tâm Cẩm Phả Vốn đầu

tư vào nhà máy mới theo như luận chứng của Lilama khoảng 200 triệu USD Nếu đầu tư chiều sâu tăng khả năng rèn đúc cũng như máy chính xác cỡ lớn vốn đầu tư sẽ ít hơn do đã có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật

- Đầu tư nhà máy cơ khí nặng tại miền Nam, để chuẩn bị chế tạo thiết bị ngành khai khoáng Alumin, các nhà máy lọc hóa dầu v.v… bố trí tại vùng có cảng biển thuận tiện cho việc vận chuyển thiết bị siêu trường siêu trọng

- Riêng miền Trung: đưa vào nhà máy cơ khí nặng của Tập đoàn Doosan Hàn Quốc ở khu Công nghiệp Dung Quất

Về vôn đầu tư

Theo tính toán nếu chúng ta thực hiện được 40% giá trị của thiết bị đồng bộ trong 17 năm (từ 2008-2025) khoảng 100 tỷ USD Chúng ta hoàn toàn có thể đầu tư tới 1 tỷ USD cho các nhà máy cơ khí nặng Song thực tế chỉ cần 500 triệu USD cho 2 nhà máy cơ khí nặng ở hai miền Nam, Bắc thì khả năng khấu hao thu hồi vốn hơn

Muốn thực hiện được các điều kiện cần:

1 Trước hết cần lãnh đạo các cấp, các ngành nhận thức đúng và đầy đủ

vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng phát triển ngành cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 37

Phải có quyết sách và bàn tay hữu hình của nhà nước hỗ trợ như các nước công nghiệp khác đã từng làm và đến nay họ vẫn đang tiếp tục làm

Do vậy nhà nước cần có chính sách, cơ chế tạo đơn hàng thực hiện dưới hình thức EDC là yếu tố quyết định cho việc phát triển của ngành này

2 Nhà nước cần bỏ vốn đầu tư hoặc tạo mọi điều kiện ưu đái cho vay vốn cho các tập đoàn kinh tế lớn của đất nước thực hiện đầu tư các nhà máy

cơ khí lớn này Xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước đảm đương vai trò tổng thầu, tiến tới tham gia đấu thầu quốc tế

3 Xây dựng, ban hành tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật các loại hàng hóa, nguyên vật liệu, chi tiết tiêu chuẩn phục vụ cho việc chế tạo thiết bị đồng bộ Xây dựng hàng rào kinh tế ngăn chặn hàng nhái, hàng kém phẩm chất

4 Áp dụng đồng bộ các giải pháp để nhanh chóng phát triển nhân lực có chuyên môn sâu về tư vấn thiết kế cũng như công nhân lành nghề trong công nghệ đúc, rèn tiên tiến

Trang 38

Phần III

KẾT LUÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Phát triển ngành công nghiệp cơ khí chế tạo phôi đúc, rèn và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị sản xuất ximăng, thủy điện, nhiệt điện, dầu khí, hóa dầu và khai thác khoáng sản giai đoạn 2008 – 2015 thực chất là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật trong qúa trình công nghiệp hóa, xây dựng công nghiệp nặng để chủ động sản xuất được thiết

bị đồng bộ thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế đất nước

Tại quyết định 186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020:

“Một trong những định hướng ưu tiên phát triển là phấn đấu đến năm

2010 ngành cơ khí đáp ứng 40-50% nhu cầu sảm phẩm cơ khí của cả nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng”

Mục tiêu đối với việc chế tạo thiết bị đồng bộ là nâng cao năng lực chế tạo cơ khí với những thiết bị có công nghệ tiên tiến để sản xuất được các loại thiết bị có độ phức tạp cao Mặt khác cơ khí đât nước ta mới có đủ năng lực

để tạo ra sản phẩm thay thế sản phẩm nhập khẩu và từng bước xuất khẩu Đầu tư có trọng điểm các loại thiết bị và công nghệ tiên tiến vào khâu cơ bản như đúc, rèn, chế tạo phôi lớn là nhu cầu hết sức cấp thiết cho công nghiệp cơ khí Việt Nam

- Tận dụng năng lực thiết bị của các doanh nghiệp cơ khí trong cả nước hiện có, tăng cường sự phối hợp trong việc phân công và hợp tác sản xuất thiết bị toàn bộ giữa các doanh nghiệp cơ khí sẽ phấn đấu đáp ứng 30- 40% nhu cầu thiết hị toàn bộ trong nước vào năm 2010 Trước mắt tập trung cho các linh vực sau: sản xuất bột giấy và giấy, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, sản xuất điện và dầu khí, cấp nước sạch, công nghệ chế biến

Tuy nhiên đối với sự phát triển của ngành chế tạo phôi và chi tiết lớn trong thời gian tới còn rất nhiều việc phải làm Đề tài này đặt ra việc chúng ta phải sớm đề xuất các giải pháp cấp bách để đầu tư phát triển, xây dựng được quy hoạch các giải pháp về cơ chế chính sách liên quan đến thị trường, tình hình khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực Một mặt đối với các doanh nghiệp cơ khí cẩn nỗ lực trong việc:

1 Giải pháp về tư vấn thiết kế công nghệ:

Chuyên môn hóa sâu các viện nghiên cứu cơ khí hiện có Hợp tác giữa các viện với các công ty tư vấn thiết kế công nghệ nước ngoài, thực hiện chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo

Trang 39

2 Thúc đẩy xúc tiến thương mại & Hợp tác sản xuất với các đối tác nước ngoài:

Hợp tác chặt chẽ trong khâu chuyển giao công nghệ đào tạo và quản ký sản xuất và đào tạo công nhân lành nghề, trong sản xuất Tìm kiếm nguồn hàng từ các hãng có thương hiệu trên thế giới

3 Nhanh chóng hợp tác, liên kết sản xuất giữa các doánh nghiệp

cơ khí thuộc các thành phần kinh tế trong nước

Các doanh nghiệp sản xuất phôi, đúc cần hợp tác chặt chẽ để trao đổi công nghệ sản xuất, tăng cường năng lực và ổn định đầu ra phân công sản xuất các mặt hàng chuyên môn hóa đảm bảo chất lượng, giá thành sản phẩm

có khả năng cạnh tranh Hợp tác các doanh nghiệp cơ khí đúc trong khu vực

để giảm chi phí sản xuất trong vận chuyển

4 Đào tạo nguồn nhân lực: Các doanh nghiệp cơ khí phải hết sức

coi trọng việc đào tạo kỹ sư, công nhân lành nghề và chuyên ngành để nhanh chóng và thành thục tiếp cận, vận hành tốt các thiết bị hiện đại và ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất cơ khí

Đào tạo công nhân ngành đúc kim loại có kỹ thuật, tác phong công nghiệp có trình độ cao trong công nghiệp đúc tiên tiến để sản xuất phôi kim loại có chất lượng

Một số kiến nghị về chính sách nhằm phát triển ngành đúc kim loại và gia công các chi tiết máy lớn

1 Chính sách tín dụng

1.1 Dự án đầu tư các nhà máy cơ khí nặng, trong đó có các bộ phận rèn, đúc phôi lớn phải có một cơ chế đầu tư đặc biệt nằm trong nhóm dự án “Cơ khí trọng điểm giai đoạn 2008 – 2015” Nhà nước cần giao đầu tư những nhà máy này cho các Tập đoàn, Tổng CTy cơ khí mạnh trong nước thực hiện Nếu

là các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác quan tâm đầu tư lĩnh vực này cũng cần được Chính phủ khuyến khích

1.2 Hạn mức tín dụng vay đầu tư: Được vay vốn tín dụng đầu tư từ Ngân hàng phát triển của nhà nước tối đa 85% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động) thời hạn cho vay và ân hạn từ 15-20 năm 1.3 Với các Dự án đầu tư tạo phôi đúc kim loại và mua máy công cụ cỡ lớn khi có nhu cầu sẽ được chính phủ xem xét bảo lãnh vốn vay các ngân hàng nước ngoài

Trang 40

3 Chính sách đầu tư cho nghiên cứu phát triển:

Vốn ngân sách hỗ trợ cho chi phí chuyển giao công nghệ mua bản quyền thiết kế, thuê chuyên gia, mua các phần mềm thiết kế, đào tạo nhân lực đối với các dự án đầu tư sản xuất phôi đúc, rèn kim loại và gia công các chi tiết máy lớn

Hỗ trợ kinh phí đầu tư phòng thí nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm nằm trong qúa trình sản xuất tạo phôi và gia công các chi tiết lớn

18/8/2008: “… Công nghiệp cơ khí là ngành có vai trò hết sức quan trọng đối

với sự phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sau 5 năm thực hiện kết luận số 25KL/TW ngày 17/10/2003 của Bộ Chính trị (khóa IX)

về chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, Quyết định số TTg ngày 26/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020, ngành cơ khí đã có sự phát triển nhanh đạt mức tăng trưởng cao (trên 21% /năm) đến nay đảm bảo đáp ứng được 40% nhu cầu trong nước và xuất khẩu hơn 2 tỷ USD/năm các sản phẩm cơ khí… Tuy nhiên ngành cơ khí nước ta hiện nay vẫn là quy mô còn nhỏ, trình độ phát triển còn thấp, máy móc thiết bị lạc hậu,

186/2002/QĐ-tỷ lệ đổi mới thấp, năng lực tư vấn thiết kế yế, chủ yếu là gia công lắp ráp 186/2002/QĐ-tỷ

lệ sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao còn thấp, khả năng dàn trải, hai lĩnh vực tạo phôi và công nghiệp phụ trợ chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Đóng góp của ngành cơ khí vào đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng tỷ trọng chế biến sâu, giá trị gia tăng của các ngành kinh tế khác còn hạn chế, gần đây phát triển của ngành có biểu hiện chậm lại…”

Ngày đăng: 15/05/2014, 19:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH CÁC CHI TIẾT LỚN - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu
HÌNH ẢNH CÁC CHI TIẾT LỚN (Trang 72)
Hình 2- Chi tiết  roto turbin Kaplan - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu
Hình 2 Chi tiết roto turbin Kaplan (Trang 73)
Hình 3- Chi tiết  roto turbin - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu
Hình 3 Chi tiết roto turbin (Trang 74)
Hình ảnh một số loại máy gia công - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất phôi và gia công các chi tiết lớn phục vụ lĩnh vực chế tạo thiết bị xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, dầu khí, hoá dầu
nh ảnh một số loại máy gia công (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm