1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây lôi khoai (gymnocladus angustifolia (gagn ) j e vid ) tại huyện na hang, tỉnh tuyên quang

72 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Một Số Đặc Điểm Sinh Học Của Cây Lôi Khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) Tại Huyện Na Hang, Tỉnh Tuyên Quang
Tác giả Moong Bá Khiểu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Tuấn Hùng
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (10)
    • 1.1. Đặt vấn đề (10)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (10)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (11)
      • 1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học (11)
      • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn (11)
  • Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Cơ sở khoa học (12)
    • 2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước (13)
      • 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (13)
      • 2.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam (14)
    • 2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu (19)
      • 2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (19)
      • 2.3.2: Điều kiện kinh tế - xã hội (20)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (22)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (22)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 3.4.1. Phương pháp luận (22)
      • 3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu (23)
      • 3.4.3. Xử lý số liệu (24)
  • Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1. Một số đặc điểm hình thái của loài Lôi khoai (32)
      • 4.1.1. Đặc điểm hình thái thân (32)
      • 4.1.2. Đặc điểm hình thái lá cây (33)
      • 4.1.3: Đặc điểm hình thái hoa, quả (34)
    • 4.2. Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ rừng có loài Lôi khoai phân bố (34)
      • 4.2.1. Tổng hợp thông tin trên các OTC đã lập (34)
      • 4.2.2. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ (36)
      • 4.2.3. Đặc điểm cây bụi thảm tươi và dây leo nơi có loài Lôi khoai phân bố (41)
      • 4.2.4. Đặc điểm đất nơi loài cây Lôi khoai phân bố (43)
    • 4.3: Đặc điểm tái sinh rừng có loài Lôi khoai phân bố (44)
      • 4.3.1: cấu trúc tổ thành cây tái sinh (44)
      • 4.3.2: Mật độ cây tái sinh (45)
      • 4.3.3. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh (46)
    • 4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Lôi khoai tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (47)
      • 4.3.1. Nhóm các giải pháp về kỹ thuật lâm sinh (0)
      • 4.3.2 Nhóm các giải pháp về chính sách pháp luật (0)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (50)
    • 5.1. Kết luận (50)
    • 5.2. Tồn tại (51)
    • 5.3. Đề nghị (51)

Nội dung

Dù sao cũng phải tiếp tục theo dõi, đến lúc cây trưởng thành mới kết luận chắc chắn được mức độ thích nghi của nó.Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng, tái sinh trong

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của loài là cơ sở quan trọng để đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng Các nhà khoa học đang chú trọng áp dụng lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc và tái sinh rừng trong việc nghiên cứu đặc điểm của từng loài cụ thể.

Odum E.P (1971) đã phát triển học thuyết về hệ sinh thái dựa trên thuật ngữ "hệ sinh thái" của Tansley A.P, phân chia thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể tập trung vào nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, đặc biệt chú trọng đến chu kỳ sống, tập tính và khả năng thích nghi với môi trường.

Nghiên cứu sinh học loài cây, bao gồm các đặc điểm hình thái và vật hậu, đã được thực hiện từ lâu và là nền tảng cho các môn khoa học khác Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung vào mô tả và phân loại các loài cây, với những ví dụ tiêu biểu như Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ (1874), Thực vật chí Ấn Độ (1872 – 1897), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), và Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập).

Sự phát triển của các bộ thực vật chí đã tạo nền tảng quan trọng cho nghiên cứu về hình thái, phân loại và đánh giá sự đa dạng sinh học ở các khu vực khác nhau.

Vật hậu học nghiên cứu hoạt động sinh học có tính chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng một loài được phân bố một cách đồng nhất.

Trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống, có bốn yếu tố cần thiết Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài cũng như nhóm loài.

Việt Nam hiện có khoảng 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ, theo nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) Dự đoán, số loài thực vật ở nước ta có thể lên đến 15.000 loài Trong số đó, khoảng 7.000 loài là thực vật có mạch, với 30% loài thực vật đặc hữu ở miền Bắc và 25% trên toàn quốc Đặc biệt, có ít nhất 1.000 loài cây đạt kích thước lớn và 354 loài có thể được sử dụng để sản xuất gỗ thương phẩm.

Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Lôi Khoai là một chi thực vật đa dạng với hơn 300 loài và nhiều biến chủng khác nhau, mang lại nhiều tác dụng hữu ích.

Lôi Khoai, lần đầu tiên được phát hiện ở Quảng Tây, Trung Quốc vào những năm 60 của thế kỷ XX, đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học nhờ vào những công dụng đặc biệt của nó Loài cây này ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở những nơi có đất tơi xốp, bên bờ suối có bóng râm và thoát nước tốt Phạm vi phân bố tự nhiên của Lôi Khoai rất hẹp, chỉ xuất hiện hoang dã ở vùng đồi gò cao từ 100-200m tại huyện Ung Nhinh, Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc Hiện nay, Lôi Khoai đã được đưa vào danh sách các loài cây bảo hộ cấp.

Lá của Lôi Khoai chứa nhiều nguyên tố vi lượng quan trọng như Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn) và Vanadium Các hoạt chất trong lá và hoa của Lôi Khoai có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, giảm mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ Đặc biệt, Germanium có hoạt tính sinh lý cao, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Germanium hữu cơ giúp tăng cường khả năng hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo cung cấp dưỡng khí cho cơ thể và hỗ trợ trao đổi chất Nó cũng nâng cao sức đề kháng, chống lại sự phát triển của tế bào u bướu và tăng cường khả năng miễn dịch, có tác dụng phòng ngừa ung thư Selenium có khả năng chống oxy hóa, loại bỏ các gốc tự do có hại, từ đó nâng cao khả năng tự bảo vệ và kéo dài tuổi thọ Vanadium thúc đẩy quá trình tạo máu và giảm cholesterol trong huyết tương Nghiên cứu lâm sàng cho thấy Lôi Khoai giúp giảm mỡ máu hiệu quả hơn alpha-Napthothiourea, một loại thuốc đã được công nhận toàn cầu về công dụng này.

Các hợp chất từ Lôi Khoai có khả năng ức chế sự phát triển của khối u lên đến 33,8%, vượt qua ngưỡng 30% được coi là thành công trong điều trị ung thư Ngoài ra, Lôi Khoai giúp giảm 35% cholesterol trong máu, trong khi các loại thuốc khác chỉ giảm 33,2% Chất chiết xuất từ Lôi Khoai còn làm giảm 36,1% lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp tân dược hiện tại Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, đã khẳng định rằng Lôi Khoai "có những công dụng y học vô giá".

Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Lôi Khoai (trên

Nghiên cứu 20 loài và biến chủng của Lôi Khoai tập trung vào các khía cạnh như cấu tạo gỗ, nhiễm sắc thể, đặc trưng hình thành phấn hoa, cũng như các phương pháp lai giống và nhân giống.

Nhiều bộ sách chuyên khảo đã đóng góp quan trọng vào nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật tại Việt Nam, đặc biệt là các tài liệu về cây gỗ rừng, được xuất bản bởi Viện điều tra quy hoạch và Bộ Lâm nghiệp trong giai đoạn 1971 - 1988.

[1], Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990) [14], Cây tài nguyên (Trần

Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà,

Các tài liệu như "Cây cỏ có ích ở Việt Nam" (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999) và "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" (Trần Hợp, 2002) đã đóng góp quan trọng vào nghiên cứu thực vật tại Việt Nam Gần đây, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật đã biên soạn 11 tập chuyên khảo về các họ thực vật riêng biệt, tạo ra nguồn tư liệu quý giá cho lĩnh vực này.

Nguyễn Kim Đào (2003) đã tiến hành nghiên cứu toàn diện về họ Long não, tập trung vào sự đa dạng và phân bố của các loài thuộc họ Lauraceae trên khắp Việt Nam Kết quả nghiên cứu được tổng hợp và giới thiệu trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”, bao gồm 265 loài và 21 chi.

Lê Phương Triều (2003) đã nghiên cứu các đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương Tác giả đã trình bày kết quả nghiên cứu về hình thái, vật hậu và sinh thái của loài này Ngoài ra, tác giả cũng kết luận rằng hàm khoảng cách có thể được sử dụng để biểu thị sự phân bố của loài.

N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3 Đặng Kim Vui (2002) [16], đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ

Trong giai đoạn 1 – 2 tuổi, thảm thực vật chủ yếu là cây bụi với 72 loài thuộc 36 họ Họ Hòa thảo (Poaceae) chiếm ưu thế với 10 loài, tiếp theo là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 6 loài, và các họ Trinh nữ (Mimosaceae) cùng Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài Bốn họ khác có 3 loài bao gồm họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Similacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Mặc dù có số lượng cá thể cao nhất trong OTC, cấu trúc thảm thực vật cây bụi này lại đơn giản với độ che phủ thấp nhất từ 75 – 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi.

Nguyễn Toàn Thắng (2008) [10], đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã có

Bài viết đưa ra 7 kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố và giá trị sử dụng của tổ thành tầng cây gỗ, cho thấy sự biến đổi theo đai cao với 17 - 41 loài Các loài ưu thế trong nghiên cứu bao gồm Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa và Du sam.

Võ Đại Hải (2008) đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Trần Minh Tuấn (1997) đã nghiên cứu các đặc tính sinh vật học của loài Phỉ ba mũi nhằm bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội Nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin về hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, mà còn đề xuất các định hướng kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng cho loài cây này.

Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Na Hang là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, cách thị xã Tuyên Quang 113 km Nằm trong hệ toạ độ từ 22 0 14’ đến

Huyện Nà Hang nằm ở vị trí địa lý với tọa độ 22° 0' 42" vĩ Bắc và 105° 08' đến 105° 36' kinh Đông Phía Bắc, huyện Nà Hang giáp với huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng), huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và huyện Bắc Mê (tỉnh Hà Giang) Phía Nam, huyện giáp với huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang) Phía Đông, huyện Nà Hang giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn), trong khi phía Tây giáp với huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang).

Điều kiện địa hình của Na Hang thuộc cánh cung Sông Gâm, với đặc trưng là địa hình đồi núi và nhiều núi đá vôi Khu vực này có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam và được chia thành ba tiểu vùng khác nhau.

Tiểu vùng khu A, ở phía Nam của huyện gồm 3 xã và 1 thị trấn, so với

2 khu B, C, giao thông ở khu A thuận lợi hơn

Tiểu vùng khu B, ở phía Bắc của huyện gồm 5 xã, địa hình có nhiều núi đá cao, xã xa nhất là Xuân Lập, cách trung tâm huyện 51 km

Tiểu vùng khu C, ở phía Đông và Bắc của huyện gồm 8 xã, địa hình chủ yếu là núi cao

Na Hang nằm trong lưu vực của hai sông lớn: Sông Gâm, dài 53 km, chảy từ Trung Quốc qua núi Đổ vào Na Hang theo hướng Bắc xuống Nam, và Sông Năng, dài 25 km, bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng, chảy qua hồ Ba Bể và Thác Đầu Đẳng trước khi đến Na Hang Hai sông này hợp nhất tại chân núi Pắc Tạ, cách thượng lưu đập thủy điện 2 km.

2 con sông Gâm và sông Năng, Na Hang còn có nhiều khe, lạch, suối nhỏ và trung bình

2.3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết:

Khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng với mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, trong khi mùa đông lại lạnh, khô hanh và ít mưa, thường có sương muối cục bộ Nhiệt độ trung bình đạt 26°C, với mức cao nhất lên tới 40°C và thấp nhất là 0°C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, trong khi độ ẩm không khí trung bình là 85%.

2.3.2: Điều kiện kinh tế - xã hội

2.3.2.1 Về Diện tích và dân số

Năm 2009, huyện Na Hang có số dân 59.951 người Sau khi chia tách 5 xã về huyện mới Lâm Bình, dân số của huyện năm 2001 còn 41.868 người

Na Hang được chia thành 3 khu: A, B, C

Na Hang là nơi sinh sống của các dân tộc như Tày (57,52%), Dao (23,38%), Kinh (9,72%) và H’Mông (5,31%) Người Tày chủ yếu sống bằng nghề nông và chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng bông, dệt vải, cũng như trồng khoai môn và đậu tương trên các vùng đất đồi dốc Họ thường ở trong những ngôi nhà sàn độc lập, có khuôn viên bằng nứa đan và thường có vườn nhỏ trồng rau, cây gia vị và cây thuốc Dưới gầm sàn, họ nuôi trâu, bò, lợn, gà, và sử dụng để chứa củi, đặt cối giã gạo, cối xay, cùng các loại nông cụ và phương tiện đi lại.

Người dân tộc ở Na Hang rất yêu thích các loại hình dân ca, trong đó người Tày thường hát Lượn, Cọi, Then, Bụt và quan Làng; người Dao ưa chuộng hát Páo dung, Phủng dung, ái dung; còn người H’Mông thích thổi khèn lá, đàn môi và hát dân ca Mông.

2.3.2.2 Về du lịch Đến Na Hang du khách có thể tham quan núi Pắc Tạ ̣, đền Pắc Tạ, thác Pắc Ban, thác Khuổi Súng, thác Nậm Mìa, 99 Ngọn Núi, cầu Da, hang Cốc Táy, chùa Phúc Lâm

Vào tháng giêng và tháng hai âm lịch hàng năm, Na Hang tổ chức nhiều lễ hội đặc sắc như hội Lồng tồng, hội xuống đồng, hội ném còn và chơi đánh Pam Bên cạnh đó, Na Hang còn nổi bật với nhà máy thủy điện Tuyên Quang, là nhà máy có công suất lớn thứ ba ở miền Bắc.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiến cứu: Loài cây Lôi Khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E Vid.)

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các đặc điểm hình thái cấu trúc và khả năng tái sinh của loài cây Lôi Khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E Vid.) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

 Đề tài được tiến hành từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020

 Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Thượng Nông, xã Sinh Long và xã Hồng Thái - huyện Na Hang Tỉnh – tỉnh Tuyên Quang.

Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm hình thái loài Lôi khoai

- Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ rừng có loài Lôi khoai phân bố

- Đặc điểm tái sinh rừng có loài Lôi khoai phân bố

- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và phát triển loài Lôi khoai tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), thảm thực vật rừng phản ánh trung thành các điều kiện tự nhiên thông qua sinh vật, hình thành nên các quần thể thực vật Thảm thực vật tái sinh tự nhiên thể hiện ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố sinh thái đối với quá trình phục hồi rừng thứ sinh Đề tài áp dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện tại các khu vực nghiên cứu.

14 thái thảm thực vật rừng có loài Lôi khoai xuất hiện, số liệu đảm bảo tính đại diện, khách quan và chính xác

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.2.1 Phương pháp kế thừa Đề tài có kế thừa một số tư liệu:

- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng

- Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội

Nghiên cứu về cây Lôi khoai đã được thực hiện cả trong và ngoài nước, tập trung vào các đặc điểm sinh thái, phân bố, cấu trúc và điều kiện lập địa của loài cây này Những kết quả này cung cấp cái nhìn sâu sắc về môi trường sống và sự phát triển của cây Lôi khoai, từ đó hỗ trợ cho các ứng dụng trong nông nghiệp và bảo tồn.

3.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp Để thu thập số liệu ngoài hiện trường, đề tài áp dụng phương pháp điều tra thực nghiệm sinh thái thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn tạm thời và bán định vị được bố trí trên các điều kiện lập địa khác nhau để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành lâm phần có loài Lôi khoai phân bố tự nhiên Tại xã lập 12 ô tiêu chuẩn có diện tíchh 1.000m 2 kích thước 25 m 2 x 40 m 2 trên điều kiện địa hình khác nhau (2 OTC ở vị trí chân đồi, 3 OTC ở vị trí sườn)

Trong ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra các chỉ tiêu về tầng cây gỗ, tầng cây tái sinh, tầng cây bụi, đặc điểm đất… a Điều tra tầng cây gỗ

Trong mỗi ô tiêu chuẩn tạm thời, tiến hành điều tra tầng cây gỗ với các nội dung sau: xác định tên loài cho tất cả các cây có đường kính từ 6cm trở lên; đo đường kính ngang ngực (D1,3) của những cây có D ≥ 6cm bằng cách đo chu vi và quy đổi ra đường kính; đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước sào có chia vạch đến 20cm với sai số ± 10cm; đo đường kính hình chiếu tán (Dt) bằng thước dây theo hướng ĐT, NB và lấy giá trị bình quân với sai số ± 10cm; phân cấp phẩm chất cây thành tốt, trung bình và xấu.

15 b Điều tra cây tái sinh

Trên mỗi ô tiêu chuẩn điều tra tầng cây gỗ lớn, thiết lập 5 ô dạng bản kích thước 25m² (5x5m), bao gồm 4 góc và 1 ô ở trung tâm Các nội dung điều tra bao gồm: xác định tên loài, nguồn gốc (chồi, hạt), chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu) và đo chiều cao cây tái sinh.

Trên mỗi OTC điều tra khoảng cách giữa các cây tái, tiến hành đo khoảng cách một cây tái sinh bất kỳ với cây tái sinh gần nhất

Để nghiên cứu sự tái sinh của cây Lôi khoai xung quanh gốc cây mẹ, chúng tôi đã thiết lập các ô hình vuông có kích thước 25m² (5x5m), bao gồm 4 ô nằm trong tán và 4 ô nằm ngoài tán của cây mẹ Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành điều tra tầng cây bụi và thảm thực vật xung quanh.

Xác định thành phần loài của lớp cây bụi, dây leo và thảm tươi, bao gồm việc xác định tên và chiều cao của cây bụi Đánh giá độ che phủ của cây bụi và thảm tươi theo tỷ lệ phần trăm độ che phủ mặt đất cho toàn bộ ô tiêu chuẩn Ngoài ra, cần thực hiện điều tra đất để có cái nhìn tổng quan về môi trường sống.

Tại khu vực nghiên cứu, ba phẫu diện đại diện cho ba dạng địa hình (chân đồi, sườn đồi) đã được đào với kích thước 1,2x0,8x1,0m, gần nơi có cây Lôi khoai phân bố Việc mô tả được thực hiện theo hướng dẫn trong “Sổ tay điều tra quy hoạch rừng” (1995), bao gồm các yếu tố như loại đất, độ dày tầng đất, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới và độ ẩm.

3.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng a Công thức tổ thành tầng cây gỗ

Hệ số tổ thành được tính theo công thức của Curtis, J T (1959) như sau:

- Ni% là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài i so với tổng số cây trên ô tiêu chuẩn;

- Gi% là phần trăm tiết diện ngang của loài i so với tổng tiết diện ngang trong ô tiêu chuẩn

Theo Daniel Marmillod, các loài cây có chỉ số IV% lớn hơn 5% có ý nghĩa sinh thái quan trọng trong lâm phần Thái Văn Trừng (1978) cho rằng, nếu một nhóm loài cây chiếm hơn 50% tổng số cá thể của tầng cây cao trong một lâm phần, thì nhóm đó được xem là nhóm loài ưu thế Dựa trên những tiêu chí này, việc xác định loài và nhóm loài ưu thế được thực hiện bằng cách tính tổng giá trị IV% của các loài có trị số lớn hơn 5%, sắp xếp từ cao đến thấp.

Công thức xác định mật độ như sau: 10.000

- n: Tổng số cá thể của loài trong các OTC;

Để xác định trạng thái rừng cho khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã dựa vào quy định về hệ thống phân chia các kiểu trạng thái rừng và đất không có rừng theo Qui phạm Thiết kế Kinh doanh rừng (QPN 6 – 84) Tổng diện tích các OTC được tính bằng hecta (ha).

Đất không có rừng, hay còn gọi là đất trống đồi núi trọc, là loại đất hiện tại chưa hình thành rừng, chỉ có cỏ, cây bụi hoặc gỗ, tre mọc rải rác với độ tàn che của cây gỗ, tre dưới 0,1 Tùy thuộc vào hiện trạng thực bì và đặc điểm sinh thái, đất không có rừng được phân loại thành nhiều loại khác nhau.

(1) Đối với đất trống chưa có rừng trong vùng sinh thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh và nửa rụng lá:

- Kiểu IA - Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cỏ, lau lách hoặc chuối rừng

- Kiểu IB - Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cây bụi, cũng có thể có một số cây gỗ, tre mọc rải rác

Kiểu IC được xác định bởi sự hiện diện đáng kể của cây gỗ tái sinh, với yêu cầu tối thiểu là 1000 cây/ha có chiều cao trên 1 mét.

Đất trống chưa có rừng trong vùng sinh thái rừng lá rộng rụng lá (rừng khộp) được kí hiệu là RI, bao gồm các loại như đất trống trảng cỏ, đất trống cây bụi, hoặc có cây tái sinh, cây gỗ, tre nứa mọc rải rác nhưng chưa đủ tiêu chuẩn thành rừng.

(3) Đối với đất cát ven biển: Kí hiệu C

(4) Đối với các loại đất chưa có rừng khác được quy hoạch cho lâm nghiệp (đất lầy thụt, ngập mặn, ): Kí hiệu IK

Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, rừng được định nghĩa là những khu vực có cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng với độ che phủ tán rừng từ 0,1 trở lên Trong Chương trình ĐTĐG&TĐBTNR toàn quốc giai đoạn 2006-2010 (Chu kỳ IV), diện tích tối thiểu cho một lô rừng được quy định là 0,5 ha.

Phân chia trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh và nửa rụng lá

Toàn bộ rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá được phân chia theo hệ thống sau đây:

 Nhóm 2: Nhóm rừng phục hồi

 Nhóm 3: Nhóm rừng thứ sinh, rừng đã bị tác động

 Nhóm 4: Nhóm rừng nguyên sinh, rừng ổn định

Nhóm rừng phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ Tuỳ theo hiện trạng và nguồn gốc phân thành các kiểu sau:

Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh đều tuổi, 1 tầng

Rừng phục hồi sau khai thác kiệt thường bao gồm các quần thụ non với những loài cây ưa sáng, có thành phần loài phức tạp và không đồng đều về tuổi Trong những khu rừng này, có thể còn sót lại một số cây của quần thụ cũ, nhưng trữ lượng rất hạn chế Các quần thụ này chỉ được xếp vào loại khi đường kính phổ biến không vượt quá 20cm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Một số đặc điểm hình thái của loài Lôi khoai

4.1.1 Đặc điểm hình thái thân

Kết quả đo kích thước D1.3 và Hvn của thân cây Lôi khoai tại khu vực nghiên cứu được tổng hợp ở bảng sau:

Bảng 4.1 Kích thước cây lôi khoai tại khu vực nghiên cứu

TB Max Min TB Max Min

Kết quả từ bảng 4.1 cho thấy cây lôi khoai trong khu vực nghiên cứu có chiều cao dao động từ 4.3 đến 17m, với đường kính thân cây từ 8.3 đến 28.07 cm Trung bình đường kính tại D1.3 của cây là 14.02 cm, trong khi chiều cao trung bình (Hvn) của cây đạt 9.87 m.

Bài viết tổng hợp tài liệu nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài cây Lôi Khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E Vid.) trong và ngoài nước, kết hợp với điều tra thực địa tại các xã Thượng Nông, Sinh Long và Hồng Thái thuộc huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Dưới đây là những đặc điểm nổi bật của loài Nghiến.

Lôi khoai là cây gỗ lớn với thân thẳng và phân cành cao, có thể đạt chiều cao lên tới 17 m và đường kính thân từ 8.2 đến 28.07 cm Vỏ cây có màu xám tro, dễ bóc, trong khi cành non nhẵn và không có lông, trở nên sần sùi khi cây già đi.

4.1.2 Đặc điểm hình thái lá cây

Kết quả đo kích thước độ dài (cm), độ rộng (cm) của lá lôi khoai tại khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.2 Kích thước lá cây lôi khoai tại khu vực nghiên cứu

Lá Chiều dài cuống lá (cm) Chiều dài lá (cm) Chiều rộng lá (cm)

Hình 4.2 Hình ảnh lá cây Lôi khoai (mặt trên và dưới)

Lá Lôi khoai có kích thước chiều dài từ 1.5 đến 3.7 cm, với trung bình là 2.5 cm Chiều rộng lá dao động từ 0.9 đến 1.5 cm, trung bình là 1 cm Cuống lá có chiều dài từ 1 đến 2 cm, với trung bình là 1.5 cm.

4.1.3: Đặc điểm hình thái hoa, quả

Vào mùa hè, hoa có đơn tính khác gốc, mọc ở đầu cành với màu trắng ánh xanh lục Đài hoa hình ống, có lông tơ, với 10 gân và 5 thùy Quả có dạng quả đậu, dài từ 10-12 cm và rộng 2-3 cm, hơi cong với mép dày, màu nâu ánh đỏ sẫm, có phấn ở vỏ quả, chứa từ 6-9 hạt được bao bọc trong lớp cùi thịt dày có vị ngọt.

Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ rừng có loài Lôi khoai phân bố

4.2.1 Tổng hợp thông tin trên các OTC đã lập

Kết quả điều tra trên 12 OTC có loài cây Lôi khoai phân bố, với các thông tin cụ thể như sau:

Bảng 4.3: Kết quả điều tra trên 12 OTC có loài cây lôi khoai phân bố Địa

Hình OTC Tọa độ Độ cao

Số cá thể lôi khoai

Số loài khác Ghi chú

Hình OTC Tọa độ Độ cao

Số cá thể lôi khoai

Số loài khác Ghi chú

(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu điều tra ngoài thực địa)

Cây lôi khoai chủ yếu phân bố ở các vị trí chân và sườn, với số lượng ít, chỉ từ 1 - 5 cá thể trên mỗi ô tiêu chuẩn diện tích 1000m² Độ cao phân bố của cây nằm trong khoảng từ 240m đến 827m, và có từ 30-43 loài thực vật xuất hiện, chủ yếu trong trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác.

4.2.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ

4.2.2.1 Công thức tổ thành tầng cây gỗ

Tổ thành rừng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và giá trị của rừng Việc xác định tổ thành rừng được thực hiện theo phương pháp đã trình bày trong phần 3 của khóa luận Kết quả tổng hợp từ 12 OTC về tổ thành tầng cây gỗ được trình bày trong bảng 4.3 dưới đây.

Bảng 4.4 Tổ thành tầng cây gỗ khu vực có loài cây Lôi khoai phân bố

Vị trí OTC Hệ số tổ thành Chỉ số IVI% lôi khoai

Vị trí OTC Hệ số tổ thành Chỉ số IVI% lôi khoai

Kết quả từ bảng 4.4 cho thấy tổ thành tự nhiên nơi Lôi khoai có sự đa dạng cao, với các loài chủ yếu như Mán đỉa, dẻ gai, bướm bạc, và vối thuốc Tại vị trí chân núi, số loài tham gia vào công thức tổ thành dao động từ 4 đến 8 loài, trong khi ở vị trí sườn núi, số loài này biến động từ 4 đến 9 loài.

Kết quả cho thấy số loài tại sườn núi có sự biến động cao nhất, với chỉ số IVI của lôi khoai thay đổi đáng kể Cụ thể, chỉ số IVI thấp nhất là 2.5% tại otc 6,7, trong khi cao nhất đạt 3.03% tại otc 2.

4.2.2.2 Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và lôi khoai

Mật độ tầng cây gỗ, được tính bằng số cây trên một hecta (N cây/ha), là một đặc trưng quan trọng của quần thể Nó phản ánh mức độ tận dụng dinh dưỡng của quần thể và chỉ tiêu biểu thị mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây cùng loài hoặc khác loài, cũng như khả năng thích nghi của chúng.

Mật độ cây rừng phản ánh sự thay đổi điều kiện sống, thể hiện khoảng cách giữa các cây trong quần thể và mức độ tác động của quần thể đối với quần xã Nghiên cứu mật độ giúp đánh giá tiềm năng sản xuất của điều kiện lập địa.

Bảng 4.5 Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và lôi khoai

OTC Số lượng cây trong OTC

Số cây lôi khoai trong OTC

Mật độ lôi khoai (cây/ha)

Kết quả ở bảng 4.5 cho thấy, mật độ của tầng cây gỗ và lôi khoai trong các otc khác nhau, cụ thể:

Trong các khu vực OTC, mật độ cây gỗ và cây lôi khoai có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, tại OTC 1, mật độ cây gỗ đạt 360 cây/ha với 20 cây lôi khoai/ha; tại OTC 11, mật độ cây gỗ là 350 cây/ha và 60 cây lôi khoai/ha; trong khi đó, OTC 12 ghi nhận 440 cây gỗ/ha nhưng chỉ có 10 cây lôi khoai/ha.

4.2.2.3 Thành phần đi kèm với Lôi khoai

Rừng tự nhiên ở Việt Nam là rừng hỗn loài với hàng trăm loài trên mỗi hecta Các nhà khoa học đã ghi nhận 11.373 loài thực vật tại đây, cho thấy sự đa dạng sinh học phong phú Cấu trúc tổ thành của rừng cũng liên quan đến nhiều khái niệm quan trọng khác.

Có 30 dạng sống của thực vật, chủ yếu bao gồm nhóm thực vật ưu thế là cây chồi cao (Phanerophyte) Tiếp theo là dạng sống cây chồi thấp (Hemicryptophyte), bao gồm các loài cây bụi Ngoài ra, còn có dạng sống cây chồi ẩn (Geophyte) và chồi mùa Hè (Therophyte), chủ yếu là các loài thảm tươi.

Trong hệ sinh thái rừng, các loài thực vật có mối quan hệ hỗ trợ hoặc cạnh tranh lẫn nhau, phản ánh sự thích ứng và chọn lọc tự nhiên Sự tồn tại của các loài cây không chỉ là kết quả của sự thích nghi mà còn là sản phẩm của quá trình tương tác phức tạp với môi trường Nghiên cứu các loài cây đi kèm với Nghiến giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ cạnh tranh, từ đó tạo cơ sở cho việc chọn lựa cây trồng phù hợp trong bảo tồn và phát triển bền vững.

Bảng 4.6 Thành phần loài cây gỗ đi kèm với loài Lôi khoai tại khu vực nghiên cứu

OTC Loài cây chủ yếu

Mán đỉa, Sơn, Bời lời, Dẻ gai, Nhội, Dàng dàng, Nóng, Lòng mang, Bướm bạc, Hoắc quang, Dẻ xanh, Thôi ba, Vối thuốc, Sảng, Kháo, Chẹo, Thần linh lá to, Ngăm, Màng tang, Chân chim, Ba bét, Mộc cọng, và Găng trâu là những loại cây thuốc quý, mỗi loại mang lại những lợi ích sức khỏe riêng biệt Việc tìm hiểu và sử dụng đúng cách các loại thảo dược này có thể giúp cải thiện sức khỏe và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý.

Gạo, Máu chó, Dẻ gai, Bứa, Dẻ xanh, Sảng, Mán đỉa, Chẹo, Kháo, Xoan nhừ, Vối thuốc, Sơn, Chân chim, Bời lời đắng, Kháo hoa nhỏ, Trẩu, Ba bét, Ngát, Dàng dàng, và Cốm lá to là những loại cây và thực phẩm quý giá, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe và đời sống.

Kết quả từ bảng 4.6 chỉ ra rằng các loài cây gỗ lớn, có tầng tán phức tạp và ưa sáng thường phân bố tại khu vực có loài cây lôi khoai Trong khu vực nghiên cứu, loài lôi khoai thường đi kèm với các loài cây gỗ như Mán đỉa, Dẻ gai, Ba bét, Chẹo, Vối thuốc và Kháo.

4.2.2.4 Độ tàn che của tất cả các ô tiêu chuẩn có Lôi khoai phân bố Độ tàn che là mức độ che kín của tán cây rừng theo phương thẳng đứng trên một đơn vị diện tích rừng được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười Bảng tổng hợp độ tàn tre của tầng cây gỗ ở các OTC tại khu vực nghiên cứu được thể hiện tại bảng sau:

Bảng 4.7 tổng hợp độ tàn che của tầng cây gỗ ở các OTC có Lôi khoai phân bố

TT OTC Độ tàn che TB của OTC

Kết quả ở bảng 4.7 cho thấy: OTC có độ tàn che thấp nhất là 11, OTC số 10 có độ tàn che lớn nhất là 0.67, độ tàn che bình quân là 0,42

Từ kết quả trên cho thấy loài Lôi khoai là loài cây ưa sáng, thường phân bố tại những khu vực có độ tàn che TB

4.2.3 Đặc điểm cây bụi thảm tươi và dây leo nơi có loài Lôi khoai phân bố Điều tra cây bụi ở ngoài thực địa được tiến hành như sau: Trong một OTC lập 5 ODB để điều tra cây bụi theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở 4 góc của ô tiêu chuẩn Diện tích mỗi ODB là 25 m 2 (5m x 5m) Kết quả của quá trình điều tra cây bụi được tổng hợp ở bảng sau:

Bảng 4.8 Thành phần loài cây bụi thảm và dây leo có loài Lôi khoai phân bố ở các ODB

OTC Dạng sống Loài cây Độ che phủ TB (%)

Cây bụi, thảm tươi và dây leo

Đặc điểm tái sinh rừng có loài Lôi khoai phân bố

4.3.1: cấu trúc tổ thành cây tái sinh

Kết quả điều tra trên về đặc điểm tái sinh tự nhiên trên các ô tiêu chuẩn ở 2 vị trí chân đồi, sườn đồi, được tổng hợp ở bảng sau:

Bảng 4.10: Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh

Kết quả bảng 4.10 cho thấy: Ở vị trí chân đồi:

Có 44 loài thực vật phân bố, trong đó chỉ có 6 loài tham gia vào công thức tổ thành là: Mán đỉa, Bứa, Hoắc quang, Dẻ gai, Chẹo, Dẻ xanh với chỉ số N%>5% Trong đó Mán đỉa có chỉ số N% cao nhất là 13.47 Công thức tổ thành loài ở vị trí chân như sau:

13.47Mdi+7.25Bu+6.74Hoq+6.22Dga+5.70Che+5.18Dxa+55.44Lk

Có 52 loài thực vật phân bố, trong đó chỉ có 4 loài tham gia vào công thức tổ thành là: Mán đỉa, chẹo, Thôi ba, Bời lời, với chỉ số N%>5%; trong đó Mán có chỉ số N% cao nhất là 10.26% Công thức tổ thành loài ở vị trí sườn như sau:

10.26Mdi+5.64Che+5.64Thba+5.13Blo+73.33Lk

4.3.2: Mật độ cây tái sinh

Mật độ cây tái sinh là chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự tương tác giữa các cây tái sinh và tầng cây cao, đồng thời phản ánh khả năng sinh trưởng và phát triển của chúng trong môi trường sống.

Nghiên cứu về mật độ cây tái sinh giúp xác định số lượng và chất lượng của chúng trong lâm phần, từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để thích nghi với những thay đổi của điều kiện sống.

Bảng 4.11: Cấu trúc mật độ tầng cây tái sinh và nguồn gốc tái sinh của cây nơi có Lôi khoai phân bố

Số lượng cây trong OTC

Mật độ (cây/ha) N/ha

Chất lượng (Cây/ha) Chồi Hạt Tốt TB Xấu

Kết quả từ bảng 4.11 cho thấy mật độ cây ở vị trí chân đạt 1930 cây/ha, với tỷ lệ tái sinh hạt cao hơn so với tái sinh chồi Phần lớn cây tái sinh có chất lượng trung bình, trong khi cây tái sinh xấu chỉ chiếm tỷ lệ ít nhất là 192 cây/ha Ở vị trí sườn, mật độ cây là 1950 cây/ha, và tỷ lệ tái sinh hạt cũng lớn hơn tái sinh chồi, với cây xấu chiếm tỷ lệ ít nhất là 227 cây/ha.

4.3.3 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh

Việc điều tra cây tái sinh loài Lôi khoai đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch phát triển cho loài cây này Quá trình xác định chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh của các OTC tại khu vực nghiên cứu là khâu then chốt, và kết quả điều tra được trình bày rõ ràng trong bảng dưới đây.

Bảng 4.12 trình bày kết quả điều tra và xử lý về chất lượng, nguồn gốc và mật độ cây lôi khoai tái sinh dưới tán cây mẹ.

Vị trí Loài Số cây

Tỷ lệ chất lượng (%) Nguồn gốc

Kết quả từ bảng 4.12 cho thấy tỷ lệ cây tái sinh chất lượng tốt chiếm 33.34%, trong khi cây trung bình (TB) là 66.66% Đa số cây tái sinh có chất lượng từ trung bình trở lên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi rừng tự nhiên Mặc dù mật độ tái sinh thấp, nhưng chất lượng cây tái sinh lại cao, tuy nhiên số lượng cây tái sinh vẫn rất ít.

Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Lôi khoai tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

4.4.1 Nhóm các giải pháp về kỹ thuật lâm sinh

Mật độ của loài Lôi khoai ở mức độ trung bình thấp từ 10-50 cây/ha Giải pháp có thể trồng bổ sung thêm, cần bảo vệ rừng ở những nơi này

Thiết lập các ô tiêu chuẩn định vị là cần thiết để theo dõi sự sinh trưởng của loài Lôi khoai, nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và phục hồi rừng trong tương lai Qua đó, chúng ta có thể xác định khả năng sinh trưởng và phục hồi của rừng, từ đó đề xuất các biện pháp cụ thể để tác động vào rừng, đạt hiệu quả cao nhất.

Mô hình hóa quy luật cấu trúc cho thấy, phần lớn số cây Lôi khoai tập trung ở kích thước đường kính nhỏ, dao động từ 8.2 đến 28.07 cm.

>28.07cm rất ít có thể những cây lớn đã bị khai thác, vì vậy cần phải bảo vệ,

Chỉ nên chặt tỉa những cá thể có phẩm chất kém và các loài ít giá trị kinh tế, nhằm tạo ra không gian dinh dưỡng cho các loài có giá trị hơn phát triển.

Trong một số điều kiện nhất định, việc tái sinh rừng có thể được thực hiện thông qua việc phát dọn thực bì nhằm tăng cường ánh sáng cho cây dưới tán rừng Đồng thời, chặt vệ sinh rừng để loại bỏ các cây già cỗi, bệnh tật và rỗng ruột cũng rất quan trọng, giúp tạo đủ ánh sáng cho lớp cây phía dưới phát triển mạnh mẽ.

Cần điều chỉnh độ tàn che để tạo điều kiện cho cây tái sinh phát triển tốt, đồng thời điều tiết tổ thành cây tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh và nuôi dưỡng các loài cây có giá trị, loại bỏ những cây kém chất lượng Việc phát triển dây leo, cây bụi và thảm tươi cũng rất quan trọng, giúp tạo không gian dinh dưỡng cho cây tái sinh Tuy nhiên, quá trình điều tiết cần đảm bảo mật độ cây tái sinh có triển vọng và giá trị.

Xác định và đánh dấu các loại cây như cây mục đích, cây phù trợ và cây đa mục đích trong lâm phần là rất quan trọng để áp dụng các biện pháp chăm sóc và bảo vệ phù hợp.

Nguồn gốc tái sinh Lôi khoai 100% tái sinh từ hạt.Tại khu vực điều tra, số lượng cây Lôi khoai tái sinh là rất ít

Khu vực nghiên cứu cho thấy cây tái sinh chủ yếu phân bố theo hình thức cụm, do đó cần thực hiện việc nhổ hoặc trồng bổ sung ở những khu vực thiếu cây tái sinh để đảm bảo mật độ phù hợp Bên cạnh đó, cần phát dây leo và bụi rậm, cũng như điều chỉnh độ tàn che cho từng loài cây dựa trên đặc điểm sinh trưởng của chúng, nhằm tạo ra cấu trúc rừng phù hợp với các mục đích cụ thể.

Khoanh nuôi phục hồi rừng là giải pháp lâm sinh hiệu quả, tận dụng khả năng tái sinh và diễn thế tự nhiên để tái tạo vốn rừng Phương pháp này không chỉ phát huy chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường mà còn cung cấp gỗ củi Thảm thực vật trong khu vực này sẽ tự phục hồi theo các quy luật tự nhiên.

40 quản lý nhằm ngăn ngừa những tác động bất lợi từ bên ngoài vào rừng và những biện pháp kỹ thuật nhằm đẩy nhanh quá trình phục hồi rừng

Tăng cường công tác nghiên cứu về phân bố và đặc điểm của loài Lôi khoai từ đó có thể nhân giống cây

4.4.2 Nhóm các giải pháp về chính sách pháp luật

Kết quả điều tra đã xác định các tiểu khu nơi Lôi khoai phân bố, từ đó giao cho cán bộ quản lý bảo vệ rừng tăng cường công tác tuần tra và kiểm tra Cần bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực này và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương cùng người dân thôn bản trong việc tuyên truyền, kiểm soát để mọi người nhận thức rõ vị trí của Lôi khoai và nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm, phá hoại.

Tăng cường hợp tác giữa các ban quản lý rừng và người dân địa phương là cần thiết để thực hiện quản lý bền vững Đồng thời, việc xử phạt nghiêm khắc các hành vi khai thác trái phép tài nguyên rừng cũng cần được thực hiện để bảo vệ môi trường.

Tăng cường phổ biến luật pháp chính sách cho cán bộ kiểm lâm, chính quyền địa phương và người dân

Ngày đăng: 24/04/2023, 14:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm