Các biến chứng của bó bột [13]: Bó bột có thể gây ra một số biến chứng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quá trình lành lại của xương và sức khỏe tổng thể.. Một số khuyến nghị nhằm cải thiệ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ LÝ
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC 24 GIỜ ĐẦU SAU BÓ BỘT NGƯỜI BỆNH GÃY XƯƠNG CHI DƯỚI TẠI TRUNG TÂM
Y TẾ HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ LÝ
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC 24 GIỜ ĐẦU SAU BÓ BỘT NGƯỜI BỆNH GÃY XƯƠNG CHI DƯỚI TẠI TRUNG TÂM
Y TẾ HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH NĂM 2022
Chuyên ngành: Điều dưỡng Ngoại người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: TTƯT.ThS.BS Trần Việt Tiến
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ rất tận tình của quý Thầy Cô Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề Đặc biệt là TTƯT.ThS.BSCKI Trần Việt Tiến, người Thầy kính mến đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo và toàn thể nhân viên khoa Ngoại Tổng hợp Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đã nhiệt tình giúp
đỡ, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn quỷ Thầy Cô trong Hội đồng chấm chuyên đề tốt nghiệp và rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để tôi hoàn thành chuyên đề tốt hơn
Sau cùng xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên chia sẻ về tinh thần, công sức, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện và hoàn thành chuyên đề này
Ninh Bình, ngày tháng 11 năm 2022
Học viên
Nguyễn Thị Lý
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là chuyên đề của riêng tôi và được sự hướng dẫn của TTƯT.ThS.BSCKI Trần Việt Tiến Tất cả các nội dung trong báo cáo này là trung thực chưa được báo cáo trong bất kỳ hình thức nào trước đây Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung chuyên đề của mình
NGƯỜI LÀM BÁO CÁO
Nguyễn Thị Lý
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Khung chậu ………3
Hình 2: Khung chậu ………3
Hình 3: Xương chày……… 4
Hình 4: Xương chày ………5
Hình 5: Bó bột đùi cẳng bàn chân ………8
Hình 6: Bàn kéo nắn bó bột ………10
Hình 7: Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình ……… 15
Hình 8: Người ĐD theo dõi dấu hiệu sinh tồn cho NB 20
Hình 9: Chi bó bột được gác lên khung Braune 21
Hình 10: Kiểm tra bột cho NB 22
Hình 11: Tập vận động cho NB 23
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Phân bố NB theo tuổi ………17
Bảng 2: Phân bố NB theo giới ………17
Bảng 3: Các vị trí gãy xương ……… 17
Bảng 4: Kết quả chăm sóc……… ……….…19
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
NGƯỜI LÀM BÁO CÁO ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG iv
MỤC LỤC v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Giải phẫu chi dưới [3], [7], [16] 3
2 Triệu chứng gãy xương [2], [5], 12] 5
3 Tiến triển và biến chứng [10], [14] 6
4 Các loại bó bột [9] 7
5 Các biến chứng của bó bột [13]: Bó bột có thể gây ra một số biến chứng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quá trình lành lại của xương và sức khỏe tổng thể 10
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
1 Hướng điều trị [8], [15] 10
2 Nghiên cứu ngoài nước và trong nước 11
3 Quy trình chăm sóc người bệnh chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột cho người bệnh gãy xương chi dưới 13
Chương 2 15
LIÊN HỆ THỰC TIỄN 16
1 Thông tin chung Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình 16
2 Thực trạng chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột cho người bệnh gãy xương chi dưới tại Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2022 17
Chương 3 21
BÀN LUẬN 21
Trang 81 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 21
2 Thực trạng chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột cho người bệnh gãy xương chi dưới tại Khoa ngoại Tổng hợp Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm2022 21
3 Ưu, nhược điểm: 25
KẾT LUẬN 27
1 Một số đặc điểm chung của người bệnh 27
2 Thực trạng chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột cho người bệnh gãy xương chi dưới tại Khoa ngoại Tổng hợp Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bìnhnăm2022: 27
3 Một số khuyến nghị nhằm cải thiện công tác chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột cho người bệnh gãy xương chi dưới tại Khoa ngoại Tổng hợp Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình: 27
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 29
1 Đối với bệnh viện 29
2 Đối với khoa phòng 29
3 Đối với điều dưỡng viên 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG KIỂM THỰC HÀNH CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH GÃY XƯƠNG CHI DƯỚI SAU BÓ BỘT
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy xương gặp ở các mọi đối tượng và mọi lứa tuổi Nguy cơ gãy xương phụ thuộc một phần vào lứa tuổi Ở trẻ em, gãy xương thường xảy ra tuy nhiên ít phức tạp hơn so với người lớn Ở người già, xương bị lão hóa trở nên giòn, dễ gãy nhất là khi ngã.Gãy xương chi dưới thường gặp bao gồm: gãy cổ xương đùi, liên mấu chuyển, thân xương đùi, vùng gối, cẳng chân, vùng cổ chân [2]
Gãy xương chi dưới có thể gây lên các biến chứng cấp tính như: mất máu, đau
có thể dẫn đến sốc Từ gãy xương kín dẫn đến gãy xương hở do cố định không tốt, thăm khám thô bạo làm đầu xương chọc ra ngoài dẫn đến nhiễm trùng viêm xương.Tổn thương mạch máu thần kinh do đầu xương gãy chọc vào, tổn thương mạch máu có thể làm hoại tử chi, thiếu máu nuôi dưỡng chi Tắc mạch do mỡ, rối loạn dinh dưỡng, hội chứng chèn ép khoang [6]
Phương pháp điều trị bằng bó bột sau gãy xương vẫn chiếm một phần lớn Đây là phương pháp nhằm bất động xương gãy, giữ cho xương tránh di chuyển, thúc đẩy quá trình liền xương và hồi phục phần mềm, ngăn ngừa hoặc giảm các cơn co thắt cơ bắp, hạn chế tổn thương thêmTuy nhiên, để đạt được hiệu quả tốt sau bó bột thì cần quá trình điều trị, chăm sóc và theo dõi một cách chu đáo [4]
Chức năng của bột là để bảo vệ và bất động vững chắc vùng xương hay khớp chấn thương Nó giúp giữ các xương bị gãy ở trục thích hợp theo giải phẫu bình thường Từ đó giúp xương lành ở hình dạng thích hợp để thực hiện được các hoạt động thường ngày.Bột cũng có tác dụng làm giảm đau vùng xương hay khớp chấn thương Bởi vì chúng ngăn cản vận động vùng tổn thương, giúp vùng mô không bị căng quá mức khi di chuyển [1]
Nhìn chung, bó bột là kỹ thuật phổ biến và hiệu quả nhưng cần tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt nếu không có thể dẫn đến biến chứng do bó bột Các biến chứng này có thể nhẹ hoặc nặng tùy theo thời gian bó bột: Loét do tì đè; vết loét có thể xuất hiện trên vùng da dưới vị trí được bó bột; điều này có thể xảy ra do bó bột quá chặt hoặc không vừa vặn, gây áp lực quá mức lên một vùng cơ thể Hội chứng chèn ép khoang: Đây là một trong những biến chứng chính xảy ra do bó bột quá chặt hoặc quá cứng, từ đó làm co các chi bị sưng; khi áp lực phía dưới chỗ bó bột tăng lên, các cơ, dây thần kinh và mạch máu ở vùng bó bột dễ bị tổn thương; tổn thương
Trang 10này có thể tồn tại vĩnh viễn nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời Một
số biểu hiện của hội chứng chèn ép khoang: Tê hoặc ngứa ran ở chi bị ảnh hưởng; da lạnh, nhợt nhạt hoặc có màu hơi xanh; cảm thấy bỏng rát hoặc châm chích; đau và sưng nhiều [11]
Về triệu chứng, phương pháp điều trị bệnh đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến Tuy nhiên nghiên cứu về công tác chăm sóc NB sau bó bột gãy xương chi dướicòn được ít đề cập Chính vì vậy để đóng góp vào sự thành công của quá trình điều trị, giảm biến chứng sau bó bột chúng tôi tiến hành chuyên đề:
“Thực trạng chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột người bệnh gãy xương chi dưới tại Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2022” với 2 mục tiêu:
1 Thực trạng chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột người bệnh gãy xương chi dưới tạiTrung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc 24 giờ đầu sau bó bột người bệnh gãy xương chi dưới tại Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Trang 11Hình 1: Khung chậu 1.2 Xương đùi: Xương đùi là một xương dài gồm có thân và hai đầu
- Thân xương: Hình lăng trụ tam giác gồm ba mặt: trước, trong, ngoài; ba bờ: trong, ngoài và sau Bờ sau lồi và sắc gọi đường ráp có nhiều cơ bám
- Ðầu trên: Có chỏm đùi, cổ đùi, mấu chuyển lớn và mấu chuyển bé
- Ðầu dưới:Ðầu dưới có lồi cầu trong và lồi cầu ngoài Mặt ngoài lồi cầu ngoài có mỏm trên lồi cầu ngoài; mặt trong lồi cầu trong có mỏm trên lồi cầu trong và củ cơ khép
Hình 2: Xương đùi
Trang 121.3 Xương bánh chè: Là một xương dẹt hình tam giác, đáy ở trên đỉnh ở dưới Xương bánh chè được bọc trong gân cơ tứ đầu đùi nên được gọi là xương vừng Có vai trò trong động tác duỗi cẳng chân
1.4 Xương chày: Là xương chính của cẳng chân, chịu gần toàn bộ sức nặng cơ thể từ trên dồn xuống Xương chày là một xương dài có một thân và hai đầu
Hình 3: Xương chày 1.5 Xương mác: Xương mác là xương dài, mảnh nằm ngoài xương chày
1.6 Các xương bàn chân: Các xương bàn chân gồm có: các xương cổ chân, các xương đốt bàn chân, các xương đốt ngón chân
1.7 Các xương cổ chân: Gồm 7 xương sắp xếp thành hai hàng
- Hàng sau: có hai xương là xương sên và xương gót
- Hàng trước: có 5 xương là xương ghe, xương hộp và ba xương chêm
1.8 Xương đốt bàn chân: Có 5 xương đốt bàn kể từ trong ra ngoài là Xương đốt bàn I,… Ðốt bàn V Mỗi xương có nền, thân và chỏm
1.9 Các xương đốt ngón chân: Mỗi ngón chân có ba xương: xương đốt ngón gần, đốt ngón giữa và đốt ngón xa Ngoại trừ ngón I chỉ có hai xương là xương đốt ngón gần
và đốt ngón xa Mỗi xương cũng có ba phần là nền đốt ngón, thân đốt ngón và chỏm đốt ngón
Trang 13Hình 4: Các xương cổ chân
2 Triệu chứng gãy xương [2], [5], 12]
2.1 Triệu chứng cơ năng
Đau chói vùng ổ gãy sau chấn thương, đau giảm đi khi được bất động Giảm hoặc mất vận động chi bị gãy
2.2 Triệu chứng thực thể
2.2.1 Thể điển hình
Là các trường hợp gãy xương hoàn toàn, có di lệch: Biểu hiện biến dạng trục chi, tiếng lạo xạo xương gãy, chi gãy có những cử động bất thường Ngoài ra còn có các triệu chứng khác như sưng nề, bầm tím, điểm đau chói
2.2.2 Thể không điển hình
Đối với các trường hợp gãy rạn xương, gãy dưới màng xương, gãy không di lệch thì chỉ có các triệu chứng đau, giảm vận động sau chấn thương Tại chỗ có sưng nề, bầm tím, ấn có điểm đau chói
2.3 Toàn thân
Có thể có hội chứng sốc: Mạch nhanh nhỏ huyết áp tụt da xanh nhợt, chân tay lạnh hốt hoảng, lo sợ, vã mồ hôi Có thể xuất hiện hội chứng nhiễm trùng - nhiễm độc: Sốt cao, mạch nhanh, vẻ mặt hốc hác, môi khô, lưỡi bẩn hơi thở hôi, đau đầu
Trang 142.4 Triệu chứng cận lâm sàng
X quang: Chụp phim ở 2 tư thế thẳng và nghiêng, trên một khớp, dưới một khớp
để xác định vị trí gãy, đường gãy, hướng di lệch để giúp cho chẩn đoán và điều trị, ngoài ra còn để kiểm tra kết quả điều trị
Xét nghiệm công thức máu có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ mất máu khi người bệnh có sốc
3 Tiến triển và biến chứng [10], [14]
3.1 Tiến triển:Liền xương tiến triển qua 4 giai đoạn
- Giai đoạn tụ máu tại ổ gãy: Ngay sau khi gãy xương, tại ổ gãy máu chảy ra tụ lại thành ổ máu tụ ở giữa hai đầu gãy và tổ chức xung quanh Nó có vai trò quan trọng cấu tạo thành xương sau này từ màng lưới fibrin
- Giai đoạn can xương liên kết: Các tế bào liên kết ở tuỷ xương, ở ống Havers và màng xương xâm nhập vào khối máu tụ, tạo thành màng lưới tổ chức liên kết thay thế máu tụ
- Giai đoạn can xương nguyên phát: Từ màng lưới tổ chức liên kết, muối vôi sẽ lắng đọng dần, tạo thành xương non nguyên phát (gọi là can non) vào khoảng ngày thứ 20-30 sau khi gãy xương
- Giai đoạn can xương vĩnh viễn: Ống tuỷ lập lại nguyên vẹn, hệ thống Havers lập lại dần, tạo thành can xương vĩnh viễn, ổ gãy được liền tốt sau 8- 10 tháng
3.2 Biến chứng
3.2.1 Biến chứng sớm
- Gãy xương mất nhiều máu, đau có thể dẫn đến sốc Từ gãy xương kín dẫn đến gãy xương hở do cố định không tốt, thăm khám thô bạo làm đầu xương chọc ra ngoài dẫn đến nhiễm trùng viêm xương
+ Thuyên tắc phổi do mỡ: xảy ra trong 72 giờ sau chấn thương, do sự xuất hiện những hạt mỡ nhỏ trong máu (palmitin và stearine ở trẻ em, olein ở người lớn) đi vào nhu mô phổi và tuần hoàn ngoại vi khi xương dài bị gãy Nó thường khởi phát trong 24 đến 48 giờ nhưng đôi khi có thể xuất hiện muộn sau nhiều ngày Đây là một biến chứng đáng sợ thường gặp ở bệnh nhân gãy nhiều xương, gãy xương lớn, gãy xương chậu, tổn thương nhiều cơ quan như lồng ngực, bụng, đầu, …Thuyên tắc mỡ gặp khoảng 10 đến 45% ở bệnh nhân gãy nhiều
Trang 15xương và là nguyên nhân hàng đầu gây nên mức độ nguy kịch và tỷ lệ tử vong cao(11%) ở bệnh nhân gãy nhiều xương và đa chấn thương
+ Chèn ép khoang là sự tăng áp lực trong khoang kín (khoang này được tạo ra bởi xương, cân, vách gian cơ), hậu quả của những tổn thương mạch máu và có thể do tổn thương không hồi phục của những cấu trúc bên trong khoang Hội chứng chèn ép khoang thường gặp ở cẳng chân, cẳng tay, bàn chân, …
3.2.2 Biến chứng muộn
Cứng khớp và teo cơ do bất động kéo dài, không tập vận động phục hồi chức năng Khớp giả do nơi gãy xương không có can xương dẫn đến xương không liền tạo ra cử động bất thường Ngoài ra còn các biến chứng toàn thân do NB nằm lâu: Loét vùng
tỳ đè, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm phổi
4 Các loại bó bột [9]
Bó bột là phương pháp cố định xương trong khi lành, sử dụng vật liệu rắn quấn quanh khu vực tổn thương Phương pháp này giúp giữ cho xương ở tư thế giải phẫu, giảm sưng đau Đồng thời thúc đẩy quá trình liền xương và giúp xương lành lại đúng cách.Thông thường bó bột được chỉ định cho những NB bị gãy xương/ nứt xương nhẹ hoặc dùng sau phẫu thuật gãy xương hở Trong nhiều trường hợp khác, phương pháp này được áp dụng để bất động tạm thời xương gãy trong khi chờ phẫu thuật
Bó bột thường được chỉ định cho những trường hợp chấn thương gây gãy xương kín và sau phẫu thuật gãy hở Phương pháp này giúp cố định chi, giữ xương ở
vị trí đúng để lành lại đúng cách Đồng thời hạn chế đau nhức do các chuyển động không cần thiết
Tùy thuộc vào vị trí tổn thương mà bó bột được thực hiện với nhiều hình thức và nhiều vật liệu khác nhau
4.1 Phân loại theo loại bột: Các vật liệu được dùng khi bó bột
- Bột làm từ nhựa: Bột từ nhựa không thấm nước và rất nhẹ
- Bột làm từ sợi thủy tinh: Loại bột này nhẹ và không thấm nước Bột có nhiều màu sắc, kiểu dáng và hoa văn Bên trong có vật liệu tổng hợp và miếng lót bông làm lớp đệm xung quanh khu vực tổn thương, mềm mại và có khả năng hỗ trợ Ngoài ra dưới lớp sợi thủy tinh còn có lớp lót chống thấm đặc biệt
Trang 16- Bột làm từ thạch cao: Bột làm từ thạch cao được dùng cho hầu hết các trường hợp Đây là một loại bột thông thường, có màu trắng, cố định tốt và không thấm nước
Trong những loại bột nêu trên, bột thạch cao và bột từ sợi thủy tinh được dùng phổ biến nhất
4.2 Phân loại theo hình thức bó bột
Dưới đây là những hình thức bó bột có thể được thực hiện:
- Máng bột/ nẹp bột sâu: Nẹp bột được dùng cho những NB bị sưng nề nhiều Hình thức bó bột này ôm 2/3 chu vi chi thể, không gây chèn ép bột Tuy nhiên khả năng vững chắc không đạt tối đa
- Bột tròn kín: Hình thức bó bột này này được dùng khi kết thúc giai đoạn sưng nề, NBcần cố định vững chắc xương gãy
Hình 5: Bó bột đùi cẳng bàn chân
- Bột rạch dọc: Bột tròn, toàn bộ các lớp bột có rạch dọc Hình thức này thường được dùng trong giai đoạn sưng nề, giúp hỗ trợ giảm sưng và đau ở NB bị chấn thương Ngoài ra bột rạch dọc cũng được dùng cho những NB gãy xương mới, không thể theo dõi tại bệnh viện Khi thực hiện có thể tránh được hiện tượng chèn ép bột Tuy nhiên
độ vững chắc của hình thức này không quá cao
- Bột mở cửa sổ: Bột mở cửa sổ được chỉ định cho những NB gãy xương hở/gãy xương có kèm theo vết thương phần mềm Hình thức này giúp người bệnh tiện chăm sóc vết thương phần mềm
- Bột Whitmann: Đây là hình thức bó ngực, chậu và bàn chân Bột Whitmann được chỉ định cho những trường hợp gãy cổ xương đùi trên
4.3 Các nguyên tắc khi bó bột: Để đạt hiệu quả cao nhất và hạn chế các tai biến
Trang 17(biến chứng sau bó bột), những nguyên tắc dưới đây sẽ được áp dụng
- Nắn chỉnh sớm:NB bị gãy xương cần được nắn chỉnh càng sớm càng tốt, trước khi các cơ co kéo nhiều và sưng nề lớn Không nắn chỉnh cho những trường hợp gãy xương trên 2 tuần Vì lúc này ổ gãy đã hình thành can non, không mang đến hiệu quả khả quan khi nắn
- Thực hiện vô cảm tốt: Dùng Lindocain 2% tiêm vào ổ gãy để gây tê trong xương, làm tê đám rối thần kinh hoặc gây tê vùng Điều này giúp giảm đau, giảm co cứng
cơ cho bệnh nhân Đồng thời giúp người bệnh không giãy giụa, tránh làm ảnh hưởng đến quá trình nắn chỉnh và bó bột Gây mê có thể được áp dụng cho trẻ nhỏ
- Nắn chỉnh ở tư thế trùng cơ: Nắn chỉnh ở tư thế trùng cơ, những khớp gần ổ gãy
ở tư thế trung bình
+ Chi dưới: Gối gấp 10 độ, háng gấp 15 độ, bàn chân gấp gan chân 10 độ
+ Chi trên: Dạng cánh tay 45 độ, khớp khuỷu gấp 90 độ, cánh tay đưa ra phía trước10 độ, cẳng tay nửa sấp nửa ngửa, bàn tay gấp 10 – 15 độ, cổ tay duỗi 20 độ Nắn chỉnh đoạn ngoại vi dựa trên tình trạng di lệch của đoạn trung tâm Chữa di lệch
và kiểm tra kết quả bằng X-quang trước khi bó bột
- Cố định ổ gãy sau khi nắn chỉnh: Cố định dưới ổ gãy 1 khớp và trên ổ gãy 1 khớp (không bao gồm di lệch ít và gãy thấp)
- Bất động tuyệt đối khi bó bột: Người bệnh cần đảm bảo bất động tuyệt đối trong khi bó bột để tránh xương di lệch.Ngoài ra NB cần bó bột và cố định liên tục cho đến khi xương liền
- Thay bột khi cần thiết: Cần thay bột mỗi khi bột lỏng để tránh phát sinh tình trạng không vững chắc dẫn đến sự di lệch thứ phát
- Luôn để đầu chi hở:Luôn luôn để đầu chi hở khi bó bột để theo dõi tình trạng
- Bó bột có độn:Bó bột không độn hoặc dùng độn mỏng và rạch dọc ngay ở những trường hợp gãy xương mới Đối với những trường hợp bó bột sau nắn chỉnh hoặc có bệnh lý về xương khớp, NB cần tiến hành bó bột có độn, không rạch dọc
- Theo dõi sau bó bột:Cần theo dõi liên tục 24 – 72 tiếng sau bó bột Tiếp tục chú
ý đến các biểu hiện trong 3 tháng tiếp theo để đảm bảo bó bột tốt nhất
Trang 185 Các biến chứng của bó bột [13]: Bó bột có thể gây ra một số biến chứng
nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quá trình lành lại của xương và sức khỏe tổng thể 5.1 Biến chứng thường gặp
- Chèn ép bột: Chèn ép bột xảy ra do tình trạng sưng nề Để phòng ngừa cần nâng chi cao hơn tim và nới bột khi có chèn ép
- Viêm loét da: Biểu hiện gồm sốt, đau tại vị trí tỳ dè, dịch thấm qua bột Cần liên
hệ với bác sĩ nếu bị viêm loét da
- Lỏng bột: Bột di chuyển khi cử động Những trường hợp này cần được thay bột
để phòng ngừa tình trạng di lệch thứ phát
5.2 Biến chứng tức thì
- Biến chứng tức thì thường do thuốc, tổn thương mạch máu/ da do xương gãy hoặc đau đớn nghiêm trọng
- Choáng: Thường do đau khi gãy xương hoặc trong quá trình nắn và bó bột
- Choáng phản vệ: Biến chứng này chủ yếu do thuốc mê và thuốc tê
- Các biến chứng khác:Co thắt khí phế quản, hiện tượng trào ngược khi gây mê, hội chứng xâm nhập khi gây mê, ngừng thở, ngừng tim và tử vong
5.3 Biến chứng sớm: Tổn thương thần kinh và mạch máu, đầu xương gãy chọc ra dẫn đến gãy hở thứ phát, gãy thêm xương, rối loạn dinh dưỡng, phù nề, hội chứng chèn ép khoang cấp dẫn đến hoại tử chi, gãy cột sống không vững, liệt tủy
5.4 Biến chứng muộn:Rối loạn dinh dưỡng bán cấp, rối loạn dinh dưỡng từ từ, thiếu máu bán cấp và mãn tính, can lệch xảy ra do bất động không đúng quy cách, nắn không tốt, khớp giả, thường gặp ở người bất động không đủ thời gian, nắn không tốt, tuổi cao, không có chế độ ăn thích hợp, viêm xương, thường do tụ máu nhiễm trùng, gãy xương hở, loét do tỳ đè…
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Hướng điều trị [8], [15]
1.1 Phương pháp chỉnh hình bằng bảo tồn
1.1.1 Phương pháp kéo nắn bó bột
Trang 19Hình 6: Bàn kéo nắn bó bột 1.1.2 Phương pháp kéo liên tục
Xuyên kim Kirschner qua xương, dùng tạ kéo Đối với chi trên trọng lượng tạ = 1/14 - 1/10 trọng lượng cơ thể, đối với chi dưới trọng lượng tạ = 1/8 - 1/6 trọng lượng
cơ thể, với cột sống cổ trọng lượng tạ từ 2- 2,5 kg
1.2 Phương pháp kết hợp xương
1.2.1.Mục đích của kết hợp xương
- Sửa nắn di lệch tốt: Nắn sửa xương người lớn cần thực hiện tốt hơn xương trẻ em (do xương trẻ em còn có thể bình chỉnh được trong quá trình phát triển) Bất động tốt nơi gãy xương: Xương gãy dù ít hay nhiều cũng cần được bất động tốt nhằm giảm đau và sưng nề, tạo điều kiện xương nhanh liền, tránh di lệch
- Tập vận động sớm: Sự tập luyện rất cần thiết để tránh teo cơ, cứng khớp và loãng xương Tập luyện càng sớm càng tốt và càng hạn chế được di chứng Tập luyện cần thực hiện ngay sau phẫu thuật và tập liên tục mỗi ngày, trong quá trình tập luyện đòi hỏi người bệnh phải kiên trì và phải phối hợp tốt
- Thời gian phục hồi chức năng thường lâu hơn thời gian liền xương, cần cho người bệnh biết để họ yên tâm và phối hợp trong điều trị
1.2.2 Các phương pháp:Đóng đinh nội tuỷ, nẹp vít, buộc vòng chỉ thép tuỳ theo từng chỉ định khác nhau
2 Nghiên cứu ngoài nước và trong nước
2 2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, đã có những nghiên cứu về phương pháp điều trị bảo tồn về gãy xương Phương pháp này đã được chứng minh là một phương pháp mang lại hiệu quả cao, an toàn, đơn giản Nhưng bên cạnh đó, khi sử dụng phương pháp này thì cũng
Trang 20có một số biến chứng
- Năm 1998, Moses T và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 32 trẻ em bị gãy xương đùi được điều trị bảo tồn, sau 12-20 tháng theo dõi, không ai bị đau, tất cả đều được đi học mà không gặp vấn đề gì Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, điều trị bảo tồn là một phương pháp an toàn, đơn giản và thiết thực để điều trị gãy xương đùi đối với trẻ nhỏ
- Nghiên cứu của Flynn JM (2004) tiến hành nghiên cứu so sánh trên 83 trẻ em từ
6 đến 16 tuổi điều trị gãy thân xương đùi giữa phương pháp điều trị bảo tồn và phương pháp đinh nội tủy Trong đó, 35 trẻ được điều trị bằng phương pháp bảo tồn với độ tuổi trung bình là 8,7 Tất cả các đều được chữa lành và không có trường hợp nào bị biến chứng hoặc bị khuyết tật vĩnh viễn Tuy nhiên, sau 1 năm điều trị, 12 người bệnh (chiếm 34%) được điều trị bằng phương pháp bảo tồn xảy ra biến chứng như can lệch Trong khi đó, 48 người bệnh điều trị bằng phương pháp đinh nội tủy titan có 10 người bệnh (21%) xảy ra biến chứng như nhiễm trùng
- Năm 2013, nghiên cứu của Yaron Sela và cộng sự trên 212 người bệnh trong độ tuổi từ 0 đến 16 tuổi tiến hành điều trị nhóm có đối chứng Trong đó, 151 trẻ được điều trị bảo tồn có tuổi trung bình là 3,5 tuổi Tỷ lệ liền xương là 100%, tỷ lệ chân dài bình thường là 92,7% và tỷ lệ không biến chứng 85,4% Có 7 BN ngắn chi >2cm (4,6%), 4 BN dài chi >1cm (2,7%), 10 BN chèn ép bột phải thay bột (6,6%), 10 BN viêm da tiếp xúc (6,6%) và 2 BN có sốt (1.3%)
1.2.2 Tại Việt Nam
Điều trị bảo tồn là một trong những phương pháp ưu tiên hàng đầu trong điều trị gãy xương Tại Việt Nam, năm 2014, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 199/QĐ-BYT về Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Ngoại khoa – chuyên khoa Nắn chỉnh hình, bó bột, đây vừa là hướng dẫn chuyên môn được thống nhất trong nước vừa là yêu cầu pháp lý trong cung cấp dịch vụ y tế đến người bệnh, trong đó đưa ra quy trình điều trị bảo tồn gãy thân xương đùi là phương pháp ưu tiên được lựa chọn
- Nguyễn Thanh Sơn và cộng sự (2004) nghiên cứu trên 237 người bệnh từ 0 – 15 tuổi, bị gãy kín thân xương đùi, được điều trị bảo tồn tại Khoa ngoại chấn thương, Bệnh viện trẻ em Hải Phòng trong 5 năm, từ tháng 12/1997 đến tháng 12/2001 cho kết quả: 79% xương liền tốt sau 2 tháng bó bột, có 21% phải chuyển phẫu thuật sau