1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xây dựng quy trình chiếu xạ kiểm dịch trái nhãn trên máy gia tốc chùm tia điện tử uerl 10 15s2 phục vụ mục đích xuất khẩu

134 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng quy trình chiếu xạ kiểm dịch trái nhãn trên máy gia tốc chùm tia điện tử UELR 10-15S2 phục vụ mục đích xuất khẩu
Tác giả Nguyễn Trần Diễm Hà, Trần Hoa Trúc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Lý
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Công Nghệ Hóa Học Và Thực Phẩm
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 8,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU (27)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (27)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (28)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (28)
    • 1.4. Nội dung nghiên cứu (28)
    • 1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (29)
    • 1.6. Bố cục của báo cáo (29)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN (30)
    • 2.1. Tổng quan về trái nhãn (30)
      • 2.1.1. Giới thiệu (30)
      • 2.1.2. Thành phần dinh dưỡng (31)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn chất lượng trái nhãn tươi (32)
      • 2.1.4. Các loại mầm bệnh trên trái nhãn tươi (33)
      • 2.1.5. Các biến đổi của nhãn sau thu hoạch (33)
    • 2.2. Tổng quan về kiểm dịch thực vật (34)
    • 2.3. Tổng quan về công nghệ chiếu xạ (35)
      • 2.3.1. Giới thiệu về công nghệ chiếu xạ (35)
      • 2.3.2. Nguồn bức xạ (36)
      • 2.3.3. Quy định về liều lượng chiếu xạ đối với thực phẩm (37)
      • 2.3.4. Tính an toàn của thực phẩm chiếu xạ (38)
      • 2.3.5. Tìm hiểu chiếu xạ trên máy gia tốc chùm tia điện tử UELR-10-15S2 (38)
        • 2.3.5.1. Cơ chế bức xạ ion (38)
        • 2.3.5.2. Ưu và nhược điểm khi chiếu xạ trên máy gia tốc chùm tia điện tử (39)
        • 2.3.5.3. Ảnh hưởng của chiếu xạ chùm tia điện tử đến trái nhãn (39)
    • 2.4. Tổng quan các phương pháp tiền xử lý nhãn (40)
    • 2.5. Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước (42)
      • 2.5.1. Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước (42)
      • 2.5.2. Tình hình nghiên cứu đề tài trên thế giới (43)
  • CHƯƠNG 3. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (44)
    • 3.1. Nguyên liệu và thiết bị (44)
      • 3.1.1. Nguyên liệu (44)
      • 3.1.2. Hóa chất (44)
      • 3.1.3. Dụng cụ và thiết bị sử dụng (44)
    • 3.2. Bố trí thí nghiệm (45)
      • 3.2.1. Thí nghiệm 1 (45)
      • 3.2.2. Thí nghiệm 2 (47)
      • 3.2.3. Thí nghiệm 3 (47)
      • 3.2.4. Thí nghiệm 4 (48)
    • 3.3. Phương pháp phân tích (48)
      • 3.3.1. Xác định tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên (48)
      • 3.3.2. Xác định màu sắc của vỏ quả (48)
      • 3.3.3. Xác định độ cứng của vỏ quả (49)
      • 3.3.4. Xác định tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS) và hàm lượng acid tổng (TA) (49)
      • 3.3.5. Xác định hàm lượng phenolic của vỏ quả (49)
      • 3.3.6. Xác định hàm lượng ascorbic acid (vitamin C) (50)
      • 3.3.7. Xác định chỉ số hóa nâu BI và mức độ hư hỏng (51)
      • 3.3.8. Xử lý số liệu (52)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN (53)
    • 4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của quy cách đóng gói nhãn Edor đến độ đồng đều liều (DUR=Dmax/Dmin) trong rổ đựng nhãn xuất khẩu (53)
      • 4.2.1. Tỷ lệ hao hụt khối lượng (54)
      • 4.2.2. Giá trị màu sắc (55)
      • 4.2.3. Tổng hàm lượng chất rắn hoà tan (TSS) và hàm lượng acid tổng (TA) (57)
      • 4.2.4. Hàm lượng vitamin C (59)
    • 4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại hóa chất khác nhau đến chất lượng của trái nhãn Edor (61)
      • 4.3.1. Tỷ lệ hao hụt khối lượng (61)
      • 4.3.2. Mức độ hư hỏng (62)
      • 4.3.3. Độ cứng (63)
      • 4.3.4. Giá trị màu màu sắc và chỉ số hóa nâu (64)
      • 4.3.5. Hàm lượng phenolic (67)
      • 4.3.6. Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS) và hàm lượng acid tổng (TA) (68)
      • 4.3.7. Hàm lượng vitamin C (70)
    • 4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp kết hợp tiền xử lý hóa chất với chiếu xạ tại liều tối thiểu 0,4 kGy đến chất lượng nhãn Edor khi bảo quản ở chế độ giả định bằng đường biển và đường bay (72)
      • 4.4.1. Tỷ lệ hao hụt khối lượng (72)
      • 4.4.2. Mức độ hư hỏng (73)
      • 4.4.3. Độ cứng (75)
      • 4.4.4. Giá trị màu sắc, hàm lượng phenolic và chỉ số hóa nâu (76)
      • 4.4.5. Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS) và hàm lượng acid tổng (TA) (81)
      • 4.4.6. Hàm lượng vitamin C (83)
    • 4.5. Quy trình chiếu xạ kiểm dịch trái nhãn trên máy gia tốc chùm tia điện tử UELR-10- (85)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ (92)
    • 5.1. Kết luận (92)
    • 5.2. Kiến nghị (93)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (94)
  • PHỤ LỤC (106)

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp kết hợp tiền xử lý SO2 với chiếu xạ chùm tia điện tử ở dải liều thấp đến chất lượng trái nhãn Edor .... Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp kết hợp

TỔNG QUAN

Tổng quan về trái nhãn

Cây nhãn (Dimocarpus longan) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc và chủ yếu được trồng ở Đông Nam Á Loại cây ăn trái này có hương thơm đặc trưng và vị ngọt, được người tiêu dùng ưa chuộng nhờ vào nhiều lợi ích sức khỏe và hoạt tính dược lý cao Trái nhãn có đặc điểm sinh trưởng và chín vào mùa nóng, với màu xanh khi còn non và màu vàng đục khi chín.

Trái nhãn chín có đường kính từ 15 đến 30 mm, với lớp vỏ mỏng, láng và dai bao quanh thịt quả mọng nước màu trắng trong, ít dính hạt Hạt nhãn có hình tròn, màu đen và kích thước thay đổi tùy theo giống.

Hình 2.1 Cấu tạo trái nhãn

Trái nhãn là loại quả non-climacteric, không có đỉnh hô hấp đột biến, nên sau khi thu hoạch, trái không thể tiếp tục chín Cường độ hô hấp giảm dần trong quá trình sinh trưởng và sau thu hoạch, do đó thời gian thu hoạch cần được tính toán hợp lý Nếu thu hoạch quá sớm, trái sẽ không đạt độ chín thích hợp, dẫn đến giảm chất lượng Sau khi thu hoạch, quả nhãn có thể kéo dài tuổi thọ từ 15 – 30 ngày khi bảo quản ở nhiệt độ thấp, nhưng chỉ từ 3 – 5 ngày ở nhiệt độ môi trường khoảng 32 – 35 ℃.

The longan fruit is classified into four main species: Dimocarpus longan var echinatus found in Borneo and the Philippines, Dimocarpus longan var longgaiolatus native to Vietnam, Dimocarpus longan var malesianus prevalent in Southeast Asia, and Dimocarpus longan var obtusus located in Indo-China (Willem, 1971).

Nhãn được trồng thương mại ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Úc và một số vùng cận nhiệt đới ở Mỹ, với mỗi quốc gia có giống nhãn đặc trưng riêng Giống nhãn Edor, có nguồn gốc từ Thái Lan, đã trở nên phổ biến tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam trong những năm gần đây Nhãn Edor nổi bật với quả to, hạt nhỏ, vị ngọt và thơm Giống nhãn này không bị ảnh hưởng bởi bệnh chổi rồng, tuy nhiên, trái không thể giữ lâu trên cây và hạt có thể mọc mầm trong trái.

Bảng 2.1 Giống nhãn của một số nước (Tôn Nữ Minh Nguyệt và cộng sự, 2009)

Nước Giống thương mại phổ biến Vùng sản xuất tập trung

Nhãn lồng, nhãn cùi, nhãn tiêu da bò, nhãn xuồng cơm vàng, nhãn long, nhãn Edor Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam

Trung Quốc Đại ô viên, thạch hiệp, Fuyan, hắc long đính, hắc vương, trữ lương

Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Đồng bằng sông Châu Giang

Thái Lan Edor, daw, dang, chompoo, biew kiew, baidum, haew

Chiang mai, Lamphun, Lampang, một số tỉnh Đông Bắc

Thịt quả nhãn tươi chứa carbohydrate (12% – 23%), kali (196,5 mg/100g), ascorbic acid (43,12 – 163,7 mg/100g) và nước (khoảng 80%) Đây là phần ăn được, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe và được sử dụng trong y học cổ truyền, mặc dù không phải là phần chứa polysaccharides cao nhất Trong thịt quả có 28 acid amin tự do, bao gồm 8 acid amin thiết yếu, với lượng lớn phenylalanine, alanine và glutamic acid Thịt quả cũng rất giàu kali, hỗ trợ hệ thần kinh và cơ bắp hoạt động bình thường, cùng với các khoáng chất như sắt, đồng, kẽm và boron Tổng hàm lượng đường trong quả nhãn tăng theo quá trình chín, chủ yếu là sucrose, fructose và glucose Ngoài ra, quả nhãn còn chứa nhiều thành phần hoạt tính sinh học như polysaccharides, polyphenols (chủ yếu là phenolic 4-methylcatechol, chlorogenic acid, vanillic acid, gallic acid) và flavonoids.

6 acid hữu cơ, alkaloids, chất diệt khuẩn (soyacerebrosides I và II, Longan cerebroside I và II, Momor-cerebroside I, Phytolacca cerebroside) (Zhang và cộng sự, 2020)

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng trên 100 g thịt quả nhãn tươi (Wall, 2006)

Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng

Tổng lượng carbohydrate 12,38 – 22,55 Vitamin C (mg/100 g) 43,12 – 163,7

Vitamin K (mg/100 g) 196,5 Nicotinic acid (mg/100 g) 1,3 Đường khử (%) 3,85 – 10,16 Khoáng chất (g/100 g) 0,7

2.1.3 Tiêu chuẩn chất lượng trái nhãn tươi

Chất lượng nhãn cần đạt các yêu cầu tối thiểu sau (Codex, 2011):

Quả phải nguyên vẹn, không bị thối rữa, dập nát hay hư hỏng, đảm bảo đủ tiêu chuẩn sử dụng Ngoài ra, quả không có sâu bệnh ảnh hưởng đến hình thức và không bị hư hỏng do sinh vật gây hại.

Không có hiện tượng ẩm bất thường bên ngoài vỏ, ngoại trừ sự ngưng tụ nước khi vừa mới lấy ra từ thiết bị bảo quản lạnh Sản phẩm không bị hư hỏng do nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao.

Quả nhãn tươi có ngoại hình đẹp, không có vết thâm rõ rệt và không có mùi hoặc vị lạ Màu sắc của vỏ và thịt quả nhãn có thể khác nhau tùy theo giống, và vỏ quả có thể nhạt màu hơn khi được xử lý bằng khí sulphur dioxide.

Nhãn phải sạch, không có tạp chất lạ nhìn thấy bằng mắt thường Mỗi thị trường có tiêu chuẩn riêng để đánh giá chất lượng nhãn Tại Úc, Bộ Nông nghiệp, Nước và Môi trường yêu cầu nhãn phải có chứng nhận kiểm dịch thực vật và điều trị bằng chiếu xạ với liều tối thiểu 400 Gy và tối đa 1000 Gy Ở Mỹ, theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), cũng có các tiêu chuẩn riêng để đảm bảo chất lượng nhãn.

2014) yêu cầu phải có chứng nhận chiếu xạ kiểm dịch và liều chiếu xạ không vượt quá 1000

Để tiêu diệt các loài côn trùng gây hại cho thực vật, cần sử dụng đúng liều lượng, đặc biệt là đối với nhộng và con trưởng thành thuộc bộ Lepidoptera Đồng thời, việc sử dụng chất bảo quản sulfite trên trái nhãn tươi là hoàn toàn cấm.

2.1.4 Các loại mầm bệnh trên trái nhãn tươi

Sau khi thu hoạch, trái nhãn dễ bị nhiễm các loại mầm bệnh do điều kiện thời tiết nắng nóng và mưa nhiều, cùng với các tác động từ thu hoạch và côn trùng Các sinh vật gây bệnh trên quả nhãn bao gồm 36 chủng vi khuẩn, 63 chủng nấm và 7 chủng nấm men Bệnh thối chua do Geotrichum spp và Botryodiplodia spp là phổ biến nhất, cùng với sương mai từ Perenophythora litchi Các nấm tiềm ẩn như Phomopsis longanae và Colletotrichum gloeosporioides Penz cũng gây hại Lasiodiplodia sp., Pestalotiopsis sp và Phomopsis sp là nguyên nhân chính gây bệnh sau thu hoạch, trong đó Lasiodiplodia theobromae gây thối trái nghiêm trọng, làm giảm năng lượng tích điện và hỏng cấu trúc màng vỏ quả, dẫn đến tình trạng nâu vỏ quả.

Tripospermum porosporiferum gây ra nấm mốc trên vỏ quả nhãn (Rico, 2014)

Hình 2.2 Pestalotiopsis sp gây thối quả Hình 2.3 Tripospermum porosporiferum gây mốc

Hình 2.4 Lasiodiplodia theobromae gây nấm và thối quả (Rico, 2014)

2.1.5 Các biến đổi của nhãn sau thu hoạch Độ chín: Quả nhãn thuộc loại quả non-climacteric (hô hấp thường) do đó quá trình chín chỉ xảy ra trên cây (Paull & Chen, 1987) Nhãn khi thu hoạch phải lựa chọn thời điểm

Để đạt được chất lượng tối ưu, việc thu hoạch nhãn cần tuân theo nhiều quy định khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện sản xuất và giống cây trồng (Pan và cộng sự, 1996) Thực tế cho thấy, độ chín của nhãn thường được xác định dựa trên màu sắc của quả và vỏ quả (Lin và cộng sự, 2003).

Thành phần hóa học: Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS), hàm lượng acid tổng

Trong quá trình chín, đường tổng (TA) tăng lên nhưng sau khi thu hoạch lại giảm dần (Han và cộng sự, 2008) TSS và TA của trái nhãn sau thu hoạch thường ít thay đổi hơn so với các loại trái cây hô hấp đột biến như táo và đào Bên cạnh đó, hai hợp chất dễ bay hơi trong thịt quả, allo-ocimene và 3,4-dimethyl-2,4,6-octatriene, cũng giảm trong quá trình bảo quản (Zhang và cộng sự, 2008).

Tổng quan về kiểm dịch thực vật

Xử lý kiểm dịch thực vật (KDTV) là quy trình chính thức nhằm tiêu diệt, vô hiệu hóa hoặc loại bỏ sinh vật gây hại, theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2009) Các phương pháp xử lý kiểm dịch bao gồm hóa chất như nhúng, xịt hoặc xông.

Các biện pháp xử lý KDTV hiệu quả nhất nên đạt được hoặc vượt qua hiệu quả Probit 9, yêu cầu tỷ lệ tử vong tối thiểu 99,9968% đối với các loài gây hại (Baker, 2014) Phương pháp vật lý như xử lý nhiệt lạnh, nóng và chiếu xạ cũng được đề xuất (Gordh & McKirdy, 2014).

1939) Nói cách khác, ở mức tin cậy 95%, sau khi xử lý KDTV 93,600 loài gây hại không còn sống sót (Heather & Hallman 2008)

Phương pháp hóa học: Thường sử dụng phương pháp xông hơi hóa chất để xử lý Ở

Tại Mỹ, methyl bromide và phosphine là hai chất duy nhất được phép sử dụng để xông thực phẩm tươi sống Tuy nhiên, việc loại bỏ methyl bromide ngày càng trở nên phổ biến sau khi quốc tế thông qua Nghị định về các chất làm suy giảm tầng ozone Phosphine có tính ăn mòn cao đối với đồng, vàng và bạc, và ở độ ẩm cao, nó còn có thể ăn mòn nhẹ các kim loại khác (Gordh & McKirdy, 2014).

Phương pháp xử lý nhiệt lạnh là một kỹ thuật hiệu quả để kiểm soát ruồi giấm Địa Trung Hải, C capitata, như đã được nghiên cứu bởi Heather & Hallman (2008) Mặc dù hiếm khi được áp dụng trong kiểm dịch thực vật, phương pháp này thường được sử dụng như một biện pháp khẩn cấp khi phát hiện các loài gây hại không nằm trong danh sách kiểm dịch (Denlinger & Lee, 1998).

Phương pháp xử lý nhiệt nóng là lựa chọn tối ưu cho các loại rau quả nhiệt đới và các loài gây hại bề mặt Tuy nhiên, trái cây được xử lý bằng phương pháp này thường có hình thức bên ngoài kém hấp dẫn hơn so với trái cây đã qua chiếu xạ hoặc không được xử lý.

Phương pháp chiếu xạ là một giải pháp an toàn và hiệu quả để xử lý KDTV, ngày càng được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Việc sử dụng chiếu xạ giúp vô hiệu hóa nhiều loài gây hại, trở thành lựa chọn tối ưu thay thế cho methyl bromide theo khuyến nghị của ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPPC, 2003).

Tổng quan về công nghệ chiếu xạ

2.3.1 Giới thiệu về công nghệ chiếu xạ Định nghĩa

Chiếu xạ thực phẩm là công nghệ sử dụng bức xạ ion để kiểm soát mầm bệnh, giảm vi sinh vật và côn trùng, ức chế sự nảy mầm của củ, đồng thời kéo dài thời gian sử dụng của sản phẩm dễ hư hỏng (Codex, 2014).

Thực phẩm chiếu xạ (CX) cần phải có biểu tượng chiếu xạ quốc tế Radura và dòng chữ “TREATED BY IRRADIATION” hoặc “TREATED WITH RADIATION” trên nhãn sản phẩm, theo quy định của FDA năm 2014.

Hình 2.5 Biểu tượng chiếu xạ Radura

Việc áp dụng chiếu xạ trong kiểm dịch thực vật đã gia tăng đáng kể trong 10 năm qua, bắt đầu với thiết bị chiếu xạ đầu tiên được xây dựng ở Hilo, Hawaii vào năm 2000 Năm 2007, Hoa Kỳ khởi động chương trình thông quan chiếu xạ đầu tiên tại Ấn Độ Đến cuối năm 2010, các quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và Mexico đã thiết lập chương trình này, với hơn 16 triệu kg trái cây được xử lý.

2014) Ngày nay, tổng khối lượng hàng hóa tươi sống được xử lý kiểm dịch thực vật ngày càng tăng, với khối lượng tăng 10% mỗi năm (Hallman, 2017)

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chiếu xạ thực phẩm

Liều lượng chiếu xạ: tỷ lệ thuận với mức độ tiêu diệt vi sinh vật

Thành phần thực phẩm như acid và nước, cùng với các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH và thành phần không khí, có thể gây hại cho sự phát triển của vi sinh vật Những yếu tố này làm giảm khả năng chống lại tia điện tử của vi sinh vật, khiến chúng dễ bị tiêu diệt hơn với liều chiếu xạ thấp.

Các loài vi sinh vật có khả năng chịu đựng khác nhau trước các liều chiếu xạ Trong điều kiện bình thường, vi khuẩn gram dương cho thấy sức đề kháng mạnh hơn so với vi khuẩn gram âm, trong khi sinh vật nhân sơ được cho là có sức đề kháng cao hơn sinh vật nhân thực (Moosekian và cộng sự, 2012).

Có ba nguồn bức xạ được phép sử dụng để chiếu xạ thực phẩm theo Codex 106-2003, bao gồm tia gamma phát ra từ quá trình phóng xạ của các đồng vị phóng xạ như 60 Co (1,17 và 1,33 MeV) và 137 Cs (0,66 MeV).

+ Tia X được phát ra bằng cách bắn một dòng electron vào kim loại nặng, làm việc ở mức năng lượng nhỏ hơn hoặc bằng 5 MeV

+ Chùm tia điện từ (Electron-beam) là một dòng các electron được bắn ra từ máy gia tốc electron, làm việc ở mức năng lượng nhỏ hơn hoặc bằng 10 MeV

Bức xạ ion hóa được tạo ra từ ba nguồn chiếu xạ, trong đó tia gamma và tia X có khả năng xâm nhập sâu vào các lô hàng lớn, cho phép chiếu xạ lượng lớn trái cây trong pallet Ngược lại, chùm tia điện tử, mặc dù có khả năng xuyên sâu thấp hơn, thường được sử dụng cho các thùng, rổ trái cây nhỏ Tuy nhiên, chùm tia điện tử có nhiều ưu điểm như tỷ lệ đồng đều về liều chiếu xạ và tốc độ hấp thụ liều cao hơn so với tia X và gamma, giúp giảm thời gian chiếu xạ và chi phí vận hành Bức xạ từ chùm tia điện tử và tia X có thể dễ dàng điều chỉnh, trong khi tia gamma tạo ra bức xạ liên tục do quá trình phân rã phóng xạ tự nhiên, làm cho việc sử dụng chùm tia điện tử an toàn hơn và giảm lo ngại về an ninh liên quan đến nguồn phóng xạ.

Bảng 2.3 Sự khác nhau giữa các nguồn tia chiếu xạ (Odueke và cộng sự, 2016)

Tham số Tia gamma E-beam Tia X

Nguồn năng lượng Chất đồng vị phóng xạ Điện Điện

Tính chất photons electrons photons

Sự thâm nhập 300mm 38mm cho 10MeV 400mm

Tốc độ hấp thụ 2,8.10 -3 kGy/s 100 kGy/s 0,27 kGy/s

Dòng phát ra Đẳng hướng Một chiều Một chiều

2.3.3 Quy định về liều lượng chiếu xạ đối với thực phẩm

Hiệu quả của việc xử lý chiếu xạ phụ thuộc vào liều hấp thụ, một thông số kỹ thuật quan trọng trong bất kỳ quy trình chiếu xạ nào (Sommers & Fan, 2008) Liều hấp thụ D (Absorbed dose) được định nghĩa là tỷ số giữa de và dm, trong đó de là năng lượng hấp thụ trung bình mà bức xạ ion hóa truyền cho khối vật chất có khối lượng dm (TCVN 7249:2003).

D = de - /dm Tên gọi riêng của đơn vị đo liều hấp thụ là Gray (Gy): 1Gy=1J kg -1

Trước đây, đơn vị đo liều hấp thụ là rad: 1 rad = 10 -2 J Kg -1 = 10 -2 Gy

Bảng 2.4 là “Quy định vệ sinh an toàn đối với thực phẩm bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ” do Bộ Y tế ban hành (Quyết định số 3616/2004/QĐ-BYT)

Bảng 2.4 Quy định liều hấp thụ tối thiểu và tối đa đối với rau, quả tươi đã qua chiếu xạ

Loại thực phẩm Mục đích chiếu xạ Liều hấp thụ (kGy)

Làm chậm quá trình chín Diệt côn trùng, ký sinh trùng Kéo dài thời gian bảo quản

2.3.4 Tính an toàn của thực phẩm chiếu xạ

Năm 1983, Ủy ban Codex Alimentarius xác nhận rằng thực phẩm chiếu xạ với liều lượng lên đến 10 kGy là an toàn Đến năm 1988, FAO, IAEA, WHO và UNCTAD/GATT đã tổ chức hội nghị quốc tế tại Geneva để thảo luận về việc chấp nhận vận chuyển và buôn bán thực phẩm chiếu xạ Một nhóm chuyên gia từ 57 quốc gia đã nghiên cứu tính an toàn của thực phẩm chiếu xạ ở liều dưới 10 kGy và khẳng định rằng thực phẩm có thể được xử lý mà không gây ảnh hưởng xấu đến an toàn Năm 1986, FDA đã ban hành quy định cho phép chiếu xạ để khử trùng và làm chậm quá trình chín của trái cây Hiện nay, ít nhất 36 quốc gia đã chấp thuận sử dụng chiếu xạ cho hơn 50 loại thực phẩm khác nhau.

2.3.5 Tìm hiểu chiếu xạ trên máy gia tốc chùm tia điện tử UELR-10-15S2

2.3.5.1 Cơ chế bức xạ ion

Chiếu xạ chùm tia điện tử (EB) ức chế sự phát triển của vi sinh vật bằng cách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình chuyển hóa sinh lý và các phản ứng hóa học bên trong Khi tiếp xúc với chùm tia điện tử, các liên kết hóa học và phân tử bị phá hủy, dẫn đến sự tổn thương cấu trúc DNA, RNA, và các cầu nối base G - C, T - A Điều này làm biến tính các enzyme và protein màng, khiến tế bào không còn khả năng thực hiện các hoạt động chuyển hóa sinh.

Chùm tia điện tử có khả năng ion hóa nước, tạo ra các gốc tự do như OH •, H •, HO2 •, dẫn đến tổn thương màng tế bào và làm mất chức năng sao chép của vi sinh vật (Miller, 2006) Một số vi sinh vật như Deinococcus radiodurans có thể sống sót sau chiếu xạ liều thấp, nhưng để tiêu diệt chúng, cần chiếu xạ ở liều cao Tuy nhiên, chiếu xạ ở liều cao có thể làm hỏng chất lượng dinh dưỡng và đặc tính cảm quan của thực phẩm Do đó, việc hiểu rõ cơ chế khử trùng của chùm tia điện tử là cần thiết để đạt hiệu quả chiếu xạ tối ưu trong điều kiện thích hợp (Tahergorabi và cộng sự, 2012).

2.3.5.2 Ưu và nhược điểm khi chiếu xạ trên máy gia tốc chùm tia điện tử Ưu và nhược điểm khi sử dụng máy gia tốc chùm tia điện tử thể hiện ở Bảng 2.5

Bảng 2.5 Ưu và nhược điểm của phương pháp chiếu xạ trên máy gia tốc chùm tia điện tử (Sugranes, 2005) Ưu điểm Nhược điểm

Hiệu quả sử dụng cao

Thanh trùng và tiệt trùng thực phẩm

Tỷ lệ liều hấp thụ cao

Thời gian xử lý ngắn

Dễ dàng kiểm soát (bật/tắt bất cứ lúc nào)

Không có dư lượng hóa chất

Chi phí thấp hơn các công nghệ chiếu xạ khác

Thân thiện với môi trường

Có thể gây ra quá trình oxy hóa chất béo trong các sản phẩm sữa Độ sâu thâm nhập ngắn

Phụ thuộc vào thành phần thực phẩm Chiếu xạ thực phẩm để bảo quản vẫn chưa được người tiêu dùng đánh giá cao

2.3.5.3 Ảnh hưởng của chiếu xạ chùm tia điện tử đến trái nhãn

Chiếu xạ làm thay đổi một số thành phần hóa học của nhãn, trong đó vitamin C là chất nhạy cảm nhất, với mức tổn thất phụ thuộc vào liều bức xạ, nhiệt độ và nồng độ oxy Để giảm thiểu sự mất mát vitamin C, việc bảo quản trong môi trường có nhiệt độ và nồng độ oxy thấp là cần thiết Lượng carbohydrate thường không bị ảnh hưởng sau khi chiếu xạ, chỉ khi liều bức xạ cao mới có thể gây ra phản ứng oxy hóa và phân hủy Sự thay đổi hàm lượng pectin ảnh hưởng đến độ cứng của quả, và sau khi chiếu xạ, sự phân hủy pectin diễn ra chậm hơn, giúp duy trì độ cứng của thịt quả.

Chiếu xạ không làm thay đổi hàm lượng đường, acid tổng và các hợp chất tạo mùi trong quả Khi sử dụng liều chiếu xạ thích hợp bằng chùm tia điện tử, quá trình sinh trưởng của quả được ức chế, giúp giữ cho quả tươi lâu hơn Phương pháp này làm chậm quá trình trưởng thành, hạn chế sự thối rữa và hóa nâu, đồng thời duy trì màu sắc của quả, tiêu diệt vi sinh vật và kéo dài thời gian bảo quản.

Tổng quan các phương pháp tiền xử lý nhãn

Nguyên nhân chính làm giảm chất lượng trái nhãn xuất khẩu là vi sinh vật gây hại và hiện tượng hóa nâu do enzyme polyphenol oxidase (PPO) gây ra PPO xúc tác hai phản ứng: hydroxyl hóa monophenol thành diphenol và oxy hóa diphenol thành quinone, dẫn đến sự hình thành melanin làm nâu vỏ quả Enzyme này chủ yếu nằm trong màng thylakoid của lục lạp, và các phản ứng chỉ xảy ra khi tế bào bị tổn thương và có oxy Để ngăn chặn hiện tượng hóa nâu, có thể sử dụng hóa chất khử hoạt tính của PPO hoặc duy trì cấu trúc tế bào thực vật Nghiên cứu này tập trung vào hiệu quả của các phương pháp tiền xử lý hóa chất như SO2, ClO2, HCl và axit oxalic kết hợp với axit ascorbic trong việc giảm hóa nâu.

Phương pháp xử lý bằng SO 2

Phương pháp xông hơi SO2 là biện pháp xử lý sau thu hoạch hiệu quả nhất để kiểm soát chất lượng trái nhãn, giúp ức chế sự hóa nâu và vi khuẩn, đồng thời tiêu diệt mầm bệnh trên bề mặt trái cây SO2 tạo thành phức hợp quinone-sulphite không màu với vỏ quả, ức chế hoạt độ của polyphenol oxidase và ngăn chặn sự hình thành quinone Ngoài ra, SO2 còn có tác dụng tẩy màu, tạo màu vàng tươi cho vỏ và giảm quá trình hô hấp, kéo dài thời gian sử dụng của trái nhãn.

Quá trình xử lý SO2 được thực hiện bằng cách xông hơi trong không gian kín trong 45 phút, với khí SO2 được tạo ra từ phản ứng giữa hydrochloric acid và metabisulfit sodium Theo quy định, dư lượng SO2 sau khi xông phải dưới 30 mg/kg (Sing, 1994; Thông tư 24/2019/TT-BYT) Khi thực hiện đúng kỹ thuật, vỏ nhãn sẽ có màu vàng đẹp hơn, trong khi nếu xông quá liều, màu thịt quả có thể chuyển sang màu trắng đục (Tongdee, 1994).

Phương pháp xử lý bằng HCl

Phương pháp xử lý bằng HCl cho thấy tiềm năng thay thế SO2 trong việc kiểm soát quá trình hóa nâu của vỏ nhãn, giúp kéo dài thời gian sử dụng, giảm thối rữa và duy trì chất lượng trái (Apai, 2010a) HCl làm giảm sự hóa nâu bằng cách hạ pH của lớp vỏ, trong khi enzyme PPO bị bất hoạt ở pH dưới 3,0, và H3O+ có tác dụng tẩy màu lớp vỏ (Lichter et al., 2000) Phương pháp này cũng kiểm soát sự phát triển của bệnh so với trái cây không được xử lý, đồng thời có chi phí thấp và an toàn hơn so với SO2 HCl, một sản phẩm bài tiết tự nhiên của dạ dày, được FDA công nhận là an toàn (GRAS) và có giới hạn sử dụng là GMP mg/kg (Codex, 2019) Nghiên cứu của Apai cho thấy việc nhúng nhãn vào dung dịch HCl 1,5N trong 20 phút có thể ứng dụng thương mại để kéo dài thời hạn sử dụng, giảm thối rữa và duy trì chất lượng trái nhãn sau 7 ngày bảo quản ở 25°C và 45 ngày bảo quản lạnh ở 5°C, 85% RH.

Phương pháp xử lý bằng ClO 2

ClO2 được FDA phê duyệt để sử dụng trên bề mặt trái cây và rau quả tươi, cho thấy khả năng kiểm soát vi sinh vật và giảm hóa nâu vỏ quả hiệu quả Cơ chế giảm hóa nâu của ClO2 là thông qua việc làm giảm hoạt độ của enzyme PPO, bằng cách oxy hóa các liên kết disulfide và acid amin tại vị trí hoạt động của enzyme này Ngoài ra, ClO2 còn giúp giảm tổn thương tế bào và ngăn chặn sự tiếp xúc của enzyme PPO với cơ chất phenolic Điều này xảy ra nhờ ClO2 làm tăng hoạt tính của các enzyme như superoxide dismutase (SOD), catalase (CAT), ascorbate peroxidase (APX) và duy trì hàm lượng các chất phi enzyme như ascorbic acid, glutathione, carotenoids và α-tocopherol, tạo thành hệ thống phòng thủ chống lại sự oxi hóa.

Nghiên cứu cho thấy việc nhúng nhãn vào ClO2 với nồng độ 1,5% trong 5 phút giúp giảm hiện tượng hóa nâu và thối rữa sau thu hoạch, kéo dài thời gian bảo quản lên đến 42 ngày ở 5°C Dư lượng ClO2 trên cùi nhãn là 0,04 - 0,17 mg/kg và trong vỏ là 0 - 0,03 mg/kg, thấp hơn nhiều so với mức giới hạn 3 mg/kg của FDA Hơn nữa, ClO2 không làm thay đổi chất lượng dinh dưỡng và cảm quan, đồng thời làm chậm tốc độ hô hấp và sinh tổng hợp ethylene, giúp quả chậm chín và giữ được độ cứng của một số loại trái cây tươi.

Phương pháp xử lý bằng oxalic acid kết hợp với ascorbic acid

Acid ascorbic (AA) và acid oxalic (OA) là hai loại acid hữu cơ được công nhận là an toàn (GRAS) và phổ biến trên thị trường Giới hạn sử dụng của acid ascorbic là 500 mg/kg và acid oxalic là 378 mg/kg Cả hai acid này đều có tác động tích cực trong việc làm chậm quá trình hóa nâu và duy trì chất lượng của trái cây Quá trình hóa nâu giảm do pH của trái cây giảm, từ đó ức chế hoạt tính của enzyme PPO Acid ascorbic còn có khả năng khử quinon trở lại thành diphenol, ngăn chặn quinon tham gia vào các phản ứng tiếp theo để tạo thành sắc tố Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp của Ali và cộng sự.

Năm 2021, nhãn được rửa sạch bằng nước máy, sau đó nhúng vào dung dịch acid ascorbic 40mM trong 2 phút Tiếp theo, nhãn được nhúng vào dung dịch acid oxalic 2mM trong 3 phút và để ráo ở nhiệt độ phòng trong 2 giờ.

Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước

2.5.1 Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước

Từ năm 2021 đến nay, mỗi khi vào mùa vụ, sản lượng nhãn thu hoạch được rất lớn

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cấp 2,264 ha vùng trồng nhãn, dự kiến sản lượng đạt 22,000 tấn cho xuất khẩu Tuy nhiên, nghiên cứu về phương pháp xử lý trái nhãn sau thu hoạch tại Việt Nam còn hạn chế Một số nghiên cứu cho thấy việc nhúng nhãn trong chitosan nồng độ 0,2% (pH = 3,3) kết hợp với citric acid 0,3N có thể giảm sự thay đổi màu sắc vỏ quả Nhãn được xử lý bằng chitosan 0,2% (pH = 3,3) vẫn giữ chất lượng chấp nhận được sau 26 ngày bảo quản (Man và cộng sự, 2017).

Dịch carbendazim 0,1% kết hợp với dung dịch acid oxalic 4mM, được bảo quản trong túi polypropylene có diện tích đục lỗ khoảng 0,008% ở nhiệt độ 4 ± 1 o C và độ ẩm 95%, giúp hạn chế sự hóa nâu và bệnh do vi sinh vật, đồng thời giữ ổn định chất lượng (Trần Thị Định và cộng sự, 2015) Tuy nhiên, carbendazim đã bị loại khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 03/QĐ-BNN-BVTV, 2017) Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam kết hợp xử lý hóa chất với chiếu xạ trái nhãn bằng chùm tia điện tử hoặc các nguồn bức xạ khác để đảm bảo chất lượng và đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật cho xuất khẩu đến các thị trường khó tính như Úc, Mỹ.

2.5.2 Tình hình nghiên cứu đề tài trên thế giới

Hiện nay, nhiều nghiên cứu khoa học đang tìm kiếm các phương pháp thay thế cho việc xông sulfur dioxide (SO2) nhằm bảo quản chất lượng nhãn, do những lo ngại về an toàn và kiểm soát dư lượng SO2 Một số kỹ thuật hiệu quả bao gồm xử lý nhãn với nitric oxide để giảm hoạt độ của PPO và ức chế quá trình hóa nâu (Duan và cộng sự, 2007), xông nhãn với ClO2 để tăng cường hệ thống chống oxy hóa (Chomkitichai và cộng sự, 2014), nghiên cứu tác dụng ức chế của propyl gallate đối với hóa nâu và mối quan hệ của nó với chuyển hóa oxy trong vỏ nhãn (Lin và cộng sự, 2015), và phủ tinh dầu thymol 4% lên bề mặt nhãn để ngăn ngừa mất nước và giảm hóa nâu (Khan và cộng sự).

Nghiên cứu về xử lý chiếu xạ nhãn cho thấy chiếu xạ gamma với liều 300 Gy duy trì chất lượng tốt hơn so với xử lý lạnh ở 1,1 °C trong 15 ngày (McGuire, 1998) Ngoài ra, nhãn chiếu xạ bằng tia X với liều hấp thụ tối thiểu 400 Gy vượt trội hơn so với mẫu ngâm trong nước nóng và mẫu không xử lý (Follett, 2003) Hơn nữa, nhãn được xử lý bằng chiếu xạ gamma ở liều 440 - 960 Gy không có sự khác biệt đáng kể về chất lượng so với trái nhãn không xử lý (Uthairatanakij và cộng sự, 2009) Tuy nhiên, việc xông acetic acid trước khi chiếu xạ bằng tia gamma không hiệu quả trong việc duy trì chất lượng trái nhãn (Boonpok và cộng sự, 2012).

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu và thiết bị

Nguyên liệu nhãn Edor được cung cấp bởi Công Ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu tại Bến Tre, đạt tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP Nhãn bao gồm hai loại: đã qua xử lý SO2 và chưa qua xử lý hóa chất Nhãn đã xử lý SO2 có vỏ màu vàng nhạt, không bị hóa nâu hay hư hỏng do vi sinh vật Quá trình đóng gói bao gồm việc loại bỏ cành, lá và đóng vào rổ 5kg với kích thước 43 x 36 x 11 cm, có thể đóng theo hai quy cách: đổ xá hoặc đóng túi 500g Nhãn chưa xử lý hóa chất được đóng trong thùng xốp cách nhiệt 12kg Trong suốt quá trình vận chuyển về trung tâm Vinagamma, nhãn được bảo quản lạnh để đảm bảo chất lượng.

Hình 3.1 Nguyên liệu nhãn Edor đầu vào

Các hóa chất được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm Ethanol (C2H5OH), thuốc thử Folin-Ciocalteu (FCR), Natri carbonate (Na2CO3), Gallic acid (C₆H₂(OH)₃COOH), 2,6-dichlorophenolindophenol (DCIP), Ascorbic acid (C6H8O6), Oxalic acid (C2H2O4.2H2O), Hydrochloric acid (HCl), Chlorine dioxide (ClO2), Sodium hydroxide (NaOH) và chỉ thị màu phenolphthalein Tất cả các hóa chất này đều có nguồn gốc từ Đức và được mua tại Công ty KD hóa chất thiết bị PTN Hóa Nam, địa chỉ 239/4 Lý Thường Kiệt, Phường 5, Quận 11, TP Hồ Chí Minh.

3.1.3 Dụng cụ và thiết bị sử dụng

Dụng cụ: Bình tam giác erlen, cốc thủy tinh beaker, bình định mức fiol, ống đong, pipette, buret,

Các thiết bị quan trọng bao gồm: thiết bị sấy, máy xay, cân điện tử, bể điều nhiệt, thiết bị ly tâm, máy quang phổ UV-Vis, máy gia tốc chùm tia điện tử UELR-10-15S2 (CORAD Service Co.Ltd, Nga), máy đo màu Minolta Chroma Meters (Model CR400, Konica Minolta Co., Nhật Bản), máy đo độ cứng (LUTRON FR-5120, Đài Loan) và khúc xạ kế đo độ brix (TI-RBX0032, Trans Instruments Pte Ltd., Singapore).

Bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu ảnh hưởng của quy cách đóng gói nhãn Edor đến độ đồng đều liều (DUR=Dmax/Dmin) trong rổ đựng nhãn xuất khẩu

Thí nghiệm được bố trí theo 2 nghiệm thức, với 3 lần thí nghiệm lặp lại

Nghiệm thức 1.1: Nhãn được đóng gói theo quy cách đổ xá

Nghiệm thức 1.2: Nhãn được đóng gói theo quy cách đóng túi rút

Nhãn được đóng gói theo hai quy cách tại Công ty Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, tỉnh Bến Tre, và sau đó được vận chuyển bằng xe lạnh chuyên dụng.

Tại Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ, chúng tôi đã tiến hành gắn liều kế B3 WINdose và liều kế Alanine (do công ty Aerial, Pháp cung cấp) theo hai mô hình khác nhau Mô hình Hình 3.2 (A) được áp dụng cho trường hợp nhãn đóng gói theo quy cách đổ xá, trong khi mô hình Hình 3.2 (B) được sử dụng cho trường hợp nhãn đóng túi rút Mục tiêu là xác định liều kế tham chiếu gắn bên ngoài rổ.

Sau khi gắn liều kế, chiếu xạ nhãn với liều ước lượng 0,4 kGy Liều kế B3 WINdose được đo tại Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ, trong khi liều kế Alanine được gửi đến phòng thí nghiệm Công ty Aerial (Pháp) để kiểm tra độ hấp thụ liều chiếu xạ Kết quả đo được sử dụng để tính toán độ đồng đều liều DUR Dmax/Dmin, với tiêu chí nếu DUR ≤ 2,5 thì có thể chấp nhận để kiểm dịch thực vật (FDA, 2012).

Hình 3.2 Sơ đồ vị trí gắn liều kế ở nghiệm thức đổ xá (A) và đóng túi rút (B)

Hình 3.3 Gắn liều kế bên ngoài rổ để xác định liều kế tham chiếu

Sau khi thực hiện thí nghiệm 1 bố trí thí nghiệm 2, 3, 4 theo quy trình Hình 3.4

Hình 3.4 Quy trình thí nghiệm khảo sát chất lượng nhãn

- Bảo quản ở chế độ giả định vận chuyển:

+ Bảo quản ở chế độ giả định vận chuyển bằng đường bay: nhãn Edor được bảo quản ở tủ lạnh trong 3 ngày ở nhiệt độ 15 – 20 o C, 80 – 90% RH

+ Bảo quản ở chế độ giả định vận chuyển bằng đường biển: nhãn Edor được bảo quản ở container trong 23 ngày ở nhiệt độ 5 ± 1 o C, 80 – 90% RH

Bảo quản sản phẩm ở chế độ giả định bán trên thị trường là rất quan trọng Sau thời gian bảo quản trong chế độ vận chuyển, nhãn sẽ được chuyển đến phòng chứa với nhiệt độ 25 ± 1 °C và độ ẩm 75 – 80% RH.

- Định kỳ kiểm tra chất lượng nhãn:

Chế độ giả định vận chuyển bằng đường bay yêu cầu kiểm tra chất lượng nhãn vào ngày đầu tiên, đánh dấu thời điểm bắt đầu bảo quản trong điều kiện giả định bán trên thị trường, sau 3 ngày bảo quản trong tủ lạnh Tiếp theo, cần thực hiện kiểm tra định kỳ cho đến khi nhãn xuất hiện dấu hiệu mốc hoặc thối trái.

Chế độ giả định vận chuyển bằng đường biển yêu cầu kiểm tra chất lượng nhãn vào ngày đầu tiên, đánh dấu thời điểm bắt đầu bảo quản trong điều kiện giả định bán trên thị trường, sau 23 ngày bảo quản trong container Tiếp theo, cần thực hiện kiểm tra định kỳ cho đến khi nhãn xuất hiện hiện tượng mốc hoặc thối trái.

Nhãn Loại bỏ cành, lá

Kiểm tra chất lượng (Ngày 0)

Bảo quản ở chế độ giả định vận chuyển

Bảo quản ở chế độ giả định bán trên thị trường Định kỳ kiểm tra chất lượng

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động của phương pháp kết hợp tiền xử lý SO2 và chiếu xạ chùm tia điện tử với liều thấp đến chất lượng trái nhãn Edor xuất khẩu Mục tiêu là xác định hiệu quả của phương pháp này trong việc bảo quản trái nhãn trong điều kiện giả định vận chuyển bằng đường bay.

Nhãn được xử lý theo 5 nghiệm thức tương ứng với 5 dải liều chiếu xạ (0; 0,4; 0,6; 0,8; 1 kGy) như sau:

Nghiệm thức 2.1: Mẫu xông SO2 (không chiếu xạ)

Nghiệm thức 2.2: Mẫu xông SO2 + chiều xạ liều 0,4 kGy

Nghiệm thức 2.3: Mẫu xông SO2 + chiều xạ liều 0,6 kGy

Nghiệm thức 2.4: Mẫu xông SO2 + chiều xạ liều 0,8 kGy

Nghiệm thức 2.5: Mẫu xông SO2 + chiều xạ liều 1 kGy

Thí nghiệm được thực hiện với khoảng 0,2 kg nhãn nhằm đo các chỉ tiêu quan trọng như màu sắc, độ cứng, tổng hàm lượng chất rắn hòa tan, hàm lượng acid tổng, hàm lượng phenolic và hàm lượng vitamin.

C và 1,5 kg nhãn cố định để đo các chỉ tiêu tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên, chỉ số hóa nâu

BI, mức độ hư hỏng

Khối lượng nhãn sử dụng cho thí nghiệm 2 là: 5NT x (1,5kgKTKLcố định + 0,2 kg20trái/NT x 5lần kiểm tra) = 12,5 kg

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp tiền xử lý hóa chất như HCl, ClO2, axit oxalic kết hợp với axit ascorbic và SO2 đến chất lượng trái nhãn xuất khẩu Các phương pháp này được áp dụng trong điều kiện bảo quản giả định khi vận chuyển bằng đường bay.

Xử lý nhãn theo 5 nghiệm thức như sau:

Nghiệm thức 3.1: Mẫu đối chứng (không xử lý hóa chất)

Nghiệm thức 3.2: Mẫu xông SO2

Nghiệm thức 3.3: Mẫu nhúng HCl 1,5N/20'

Nghiệm thức 3.4: Mẫu nhúng ClO2 1,5%/5'

Nghiệm thức 3.5: Mẫu nhúng acid ascorbic 40mM/2'+ acid oxalic 2mM/3'

Khối lượng nhãn dùng để kiểm tra chất lượng cho từng nghiệm thức tương tự như thí nghiệm 2

Khối lượng nhãn sử dụng cho thí nghiệm 3 là: 5NT x (1,5kgKTKLcố định + 0,2 kg20trái/NT x 7lần kiểm tra) = 14,5 kg

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động của phương pháp kết hợp tiền xử lý hóa chất và chiếu xạ chùm tia điện tử với liều tối thiểu 0,4 kGy đến chất lượng trái nhãn Edor xuất khẩu Đặc biệt, nghiên cứu xem xét hiệu quả của phương pháp này trong việc bảo quản trái nhãn khi vận chuyển bằng đường hàng không và đường biển.

Xử lý nhãn theo 6 nghiệm thức như sau:

Nghiệm thức 4.1: Mẫu đối chứng (NT1) không xử lý hóa chất và không chiếu xạ Nghiệm thức 4.2: Mẫu nhúng HCl 1,5N/20' (NT2)

Nghiệm thức 4.3: Mẫu nhúng HCl 1,5N/20' + chiếu xạ liều 0,4 kGy (NT3)

Nghiệm thức 4.4: Mẫu xông SO2 (NT4)

Nghiệm thức 4.5: Mẫu đóng túi xông SO2 + chiếu xạ liều 0,4 kGy (NT5)

Nghiệm thức 4.6: Mẫu đổ xá xông SO2 + chiếu xạ liều 0,4 kGy (NT6)

Khối lượng nhãn dùng để kiểm tra chất lượng cho từng nghiệm thức tương tự như thí nghiệm 2

Khối lượng nhãn sử dụng cho thí nghiệm 4 là: 6NT x (2 x 1,5kgKTKLcố định + 0,2 kg20trái/NT x 8lần kiểm tra x 1đườngbay +0,2 kg20trái/NT x 7lần kiểm tra x 1đườngbiển) = 36 kg.

Phương pháp phân tích

3.3.1 Xác định tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên

Tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên được xác định bằng cách so sánh sự thay đổi khối lượng của các nghiệm thức tại thời điểm ban đầu với khối lượng tại mỗi thời điểm lấy mẫu Mỗi nghiệm thức được đo lặp lại 3 lần Tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên được tính theo công thức (3.1) (Fisk và cộng sự, 2008).

M 1 x 100 (3.1) Trong đó: X: Tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên (%)

M1: Khối lượng mẫu xác định tại thời điểm ban đầu (g)

M2 : Khối lượng mẫu xác định tại thời điểm lấy mẫu (g)

3.3.2 Xác định màu sắc của vỏ quả

Màu sắc vỏ quả được đo tại ba điểm ngẫu nhiên đối diện nhau trên đường kính ngang lớn nhất của trái, sử dụng máy đo màu Minolta CR-400 Mỗi nghiệm thức tiến hành đo 3 quả, và số liệu được thể hiện trong không gian màu CIE Lab với các giá trị L*, a*, b* Màu sắc vỏ quả được biểu thị qua góc màu Hue (º), với góc màu Hue 0º được xác định từ góc 0º.

(màu đỏ) đến 90 o (màu vàng), 180 o (xanh lục), 270 o (xanh lam) và trở lại góc 0 o (Wilms & Oberfeld, 2018), được tính theo công thức sau (Trần Thị Định và cộng sự, 2015):

𝑎 ∗ ) (3.2) Trong đó: a*- chỉ số thể hiện dải màu xanh lá cây (- 60) đến đỏ (+60) b*- chỉ số thể hiện dải màu xanh nước biển (-60) đến vàng (+60)

L* biểu thị độ sáng, chỉ số thể hiện dải màu đen (0) đến trắng (100) (Apai, 2010a) Cường độ màu Chroma C* tính theo Fisk và cộng sự (2008): 𝐶 ∗ = √𝑎 ∗2 + 𝑏 ∗2 (3.3)

3.3.3 Xác định độ cứng của vỏ quả Độ cứng của vỏ và thịt quả được đo bằng máy LUTRON FR-5120 Một pít tông đường kính 3 mm được sử dụng để chọc thủng trái đến độ sâu 5 mm tại nơi có đường kính lớn nhất Lực tối đa để xuyên qua quả được ghi lại là Newton Tiến hành đo 3 trái cho một nghiệm thức

3.3.4 Xác định tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS) và hàm lượng acid tổng (TA) Để xác định hàm lượng TSS và TA cần tiến hành xay thịt quả của 20 trái nhãn Hỗn hợp sau xay được xác định hàm lượng TSS bằng máy đo khúc xạ kế cầm tay (Duan và cộng sự, 2007) Xác định hàm lượng TA theo phương pháp AOAC 22.060 (1980) bằng cách lấy 10g thịt quả đã xay và pha loãng với 100 ml nước cất, rồi đem 10ml hỗn hợp sau pha loãng chuẩn độ với dung dịch NaOH 0,1N Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

3.3.5 Xác định hàm lượng phenolic của vỏ quả

Xác định hàm lượng phenolic theo phương pháp của Tang và cộng sự (2019) bao gồm việc chuẩn bị dịch chiết từ vỏ nhãn Vỏ nhãn được phơi khô hoặc sấy ở 60 °C trong 12 giờ, sau đó xay thành bột Tiếp theo, cân 1g bột vỏ và cho vào bình erlen chứa 40ml ethanol 50%, sau đó đặt bình erlen lên nồi cách thủy để tiến hành chiết xuất.

Dịch chiết được thực hiện ở nhiệt độ 70 độ C trong 1,5 giờ Sau đó, dịch chiết được li tâm trong 15 phút với tốc độ 3000 vòng/phút Tiến hành lọc và thu thập dịch, trong khi phần cặn bã được chiết với 40ml Ethanol 50% và tiếp tục li tâm để thu dịch lần 2 Cuối cùng, hợp nhất các dịch chiết lại với nhau.

2 lần chiết, lọc rồi pha loãng thành 100ml trong bình định mức bằng Ethanol 50% Xác định hàm lượng phenolic tổng theo quy trình sau:

+ Lấy 1 ml dịch chiết hoặc 1ml dung dịch gallic acid (ở các nồng độ 0.001- 0.005mg/ml) cho vào bình erlen 25 ml có chứa sẵn 5 ml nước cất

+ Thêm 1 ml thuốc thử Folin-Ciocalteu vào bình lắc trong 5 phút, rồi cho thêm 3 ml

Na2CO3 20% vào hỗn hợp Sau đó thêm nước để dung dịch trong bình đạt 25ml

+ Lắc rồi ủ hỗn hợp 60 phút ở nhiệt độ phòng trong bóng tối

+ Đo độ hấp thụ ở bước sóng 765nm bằng máy UV-Vis Mẫu trắng dùng H2O + Thí nghiệm lập lại 3 lần

+ Ghi nhận lại giá trị độ hấp thụ quang OD

Hàm lượng phenolic được xác định thông qua đường chuẩn của axit gallic với nồng độ từ 0,001 đến 0,005 mg/mL (r² > 0,99) Kết quả được biểu thị dưới dạng mg GAE/100g vỏ.

3.3.6 Xác định hàm lượng ascorbic acid (vitamin C)

Xác định hàm lượng vitamin C trong thịt quả được thực hiện bằng phương pháp indophenol 2,6 dichlorophenol theo tiêu chuẩn ISO 6557/2 (1984) Phương pháp này dựa trên nguyên tắc chiết ascorbic acid từ mẫu thử bằng dung dịch oxalic acid Sau đó, dịch chiết được chuẩn độ bằng 2,6 diclorophenolindophenol cho đến khi xuất hiện màu hồng nhạt, từ đó xác định hàm lượng vitamin C.

- Chuẩn bị dung dịch chiết: Oxalic acid 2%

- Chuẩn bị mẫu trái cây: Cân 10g trái cây, sau đó nghiền bằng cối sứ với 10ml Oxalic acid Hỗn hợp sau nghiền được định mức lên 100ml bằng Fiol

Để chuẩn bị dung dịch chuẩn, cần cân chính xác 50mg acid ascorbic (đến 0,01mg) và cho vào bình định mức dung tích 50ml, sau đó thêm dung dịch chiết cho tới vạch.

Để chuẩn bị dung dịch thuốc nhuộm, hòa tan 50mg muối natri của 2,6 diclorophenolindophenol trong 150ml nước có chứa 42mg natri hydro cacbonat trong bình định mức 200ml, sau đó thêm nước cất đến vạch và tiến hành lọc Dung dịch này cần được bảo quản trong chai màu nâu sẫm và để trong tủ lạnh, vì nó sẽ bị phân hủy theo thời gian, do đó cần pha dung dịch mới định kỳ.

+ Chuẩn bị các mẫu cần chuẩn độ như sau:

Mẫu chuẩn acid ascorbic: 5 ml hỗn hợp dung dịch oxalic acid và 5 ml ascorbic acid Mẫu trắng: 10 ml dung dịch oxalic acid

Mẫu trái cây: 10ml dịch chiết trái cây

+ Chuẩn độ nhanh các mẫu bằng dung dịch thuốc nhuộm cho đến khi xuất hiện màu hồng bền ít nhất trong 5 giây Lưu ý: Thí nghiệm lập lại 3 lần

Khối lượng của ascorbic acid khi chuẩn với 1,0ml dung dịch thuốc nhuộm

V c − V 1 (3.4) Hàm lượng ascorbic acid, biểu thị bằng miligam trên 100g sản phẩm theo công thức sau:

Công thức tính nồng độ ascorbic acid được xác định bằng biểu thức \((V_0 - V_1) \times \frac{m_1}{m_0} \times 100\), trong đó \(m_1\) là khối lượng ascorbic acid chuẩn khi chuẩn với 1,0 ml dung dịch thuốc nhuộm, tính bằng miligam; và \(m_c\) là khối lượng ascorbic acid thực tế được sử dụng để pha dung dịch ascorbic acid chuẩn, cũng tính bằng miligam.

Vc là thể tích trung bình dùng để chuẩn độ dung dịch ascorbic acid chuẩn, tính bằng mililit;

V1 là thể tích trung bình dùng để chuẩn độ mẫu trắng, tính bằng mililit;

Thể tích trung bình dùng để chuẩn độ mẫu trái cây được ký hiệu là \$V_o\$ và tính bằng mililit; khối lượng của phần mẫu trái cây được lấy để xác định vitamin C được ký hiệu là \$m_o\$ và tính bằng gam.

3.3.7 Xác định chỉ số hóa nâu BI và mức độ hư hỏng

Chỉ số hóa nâu BI và mức độ hư hỏng của quả được đánh giá thông qua việc quan sát tổng diện tích màu nâu trên bề mặt và đếm số lượng trái bị bệnh (Apai, 2010a) Mức độ hư hỏng được phân loại thành các cấp độ: không hư hỏng, 0 – 5% hư hỏng, 5 – 10% hư hỏng, 10 – 25% hư hỏng, 25 – 50% hư hỏng, và trên 50% hư hỏng Thang điểm đánh giá chỉ số hóa nâu được trình bày trong Bảng 3.1 Chỉ số hóa nâu được xác định theo công thức BI = (∑ mức độ hóa nâu x số lượng trái ở mức độ hóa nâu)/tổng số trái (Khan và cộng sự, 2012).

Bảng 3.1 Thang điểm đánh giá chỉ số hóa nâu (Khan và cộng sự, 2012) Điểm Chỉ số hóa nâu

1 Vỏ quả không hóa nâu

3 10 – 25% Vỏ quả nâu vừa phải

5 50 – 75% Vỏ quả bị nâu hóa

6 > 75% Vỏ quả bị hóa nâu

Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Excel 2019 và xử lý thống kê thông qua kiểm định ANOVA trong SPSS phiên bản 20.0 Sự khác biệt giữa các giá trị trung bình của các chỉ tiêu được đánh giá bằng thử nghiệm Duncan với mức độ tin cậy 95%.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Nghiên cứu ảnh hưởng của quy cách đóng gói nhãn Edor đến độ đồng đều liều (DUR=Dmax/Dmin) trong rổ đựng nhãn xuất khẩu

Độ đồng đều liều ở rổ nhãn trong hai trường hợp đổ xá và đóng túi được thể hiện ở Bảng 4.1

Bảng 4.1 Độ đồng đều liều ở rổ nhãn trong hai trường hợp đổ xá và đóng túi

Bảng 4.1, Hình 4 và Hình 5 (Phụ lục C) cho thấy rằng phân bố liều ở rổ nhãn với liều kế Alanine và B3 WINdose trong hai trường hợp đổ xá và đóng túi đều nằm trong giới hạn cho phép DUR ≤ 2,5, với độ đồng đều DUR của hai nghiệm thức này chênh lệch không đáng kể Liều kế Alanine có độ đồng đều liều DUR thấp hơn so với B3 WINdose ở cả hai nghiệm thức, nhưng giá trị DUR của B3 WINdose vẫn chấp nhận được Hình 4 và Hình 5 chỉ ra rằng Dmax và Dmin có xu hướng nằm ở vị trí khác nhau trong các rổ nhãn đã đo liều chiếu xạ, gây khó khăn trong việc xác định vị trí cố định Dmax và Dmin Kết quả này tương đồng với thực tế chiếu xạ tại Trung tâm VINAGAMMA, cho thấy việc xác định vị trí Dmax và Dmin cố định trong thùng là khó khăn đối với sản phẩm không đồng nhất Do đó, cần xác định liều tham chiếu cho chiếu xạ công nghiệp, với giá trị trung bình cho trường hợp đổ xá là 0,611 ± 0,003 (kGy) và đóng túi là 0,619 ± 0,09 (kGy) Trong thực tế chiếu xạ, chỉ cần dán liều kế gần với giá trị liều tham chiếu trung bình (bên ngoài rổ) và chia cho hệ số Dref (0,87 cho đổ xá và 0,81 cho đóng túi) để tìm vị trí Dmin trong rổ nhãn mà không cần mở túi Điều này giúp giảm số lượng liều kế và ngăn ngừa khả năng tái nhiễm chôn trùng trong quá trình mở túi tháo liều kế sau chiếu xạ.

DUR Đổ xá Đóng túi rút

Liều tham chiếu (Dref) (kGy) 0,611 ± 0,003 0,619 ± 0,09

Hệ số Dmin TB/Dref TB 0,87 0,81

Hệ số Dref TB/Dmin TB 1,15 1,24

Cả hai quy cách đóng gói đều phù hợp cho chiếu xạ trên máy gia tốc chùm tia điện tử UELR – 10 -15S2 Liều kế B3 WINdose có thể được sử dụng để kiểm tra độ hấp thụ liều chiếu xạ trong rổ nhãn thay cho liều kế Alanine Kết quả này đồng nhất với nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2021) về thùng xoài.

Thùng xoài 'Hòa Lộc' có kích thước 42 x 31,5 x 12 (cm) đạt độ đồng đều liều chiếu xạ DUR = 1,59, nằm trong giới hạn chấp nhận Nghiên cứu của Moreno Tinjaca (2007) cho thấy thùng xoài kích thước 50,8 x 60,9 x 10,2 (cm) đạt DUR = 2,4 khi đo bằng liều kế B3 WINdose Ngoài ra, vị trí Dmax và Dmin giữa các thùng việt quất kích thước 9 x 9 x 4 (cm) cũng cho thấy sự khác biệt trong độ đồng đều liều chiếu xạ.

4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp kết hợp tiền xử lý SO 2 với chiếu xạ chùm tia điện tử ở dải liều thấp đến chất lượng trái nhãn Edor

4.2.1 Tỷ lệ hao hụt khối lượng

Tỷ lệ hao hụt khối lượng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng trái cây sau thu hoạch (Lin và cộng sự, 2020) và liên quan đến sự phân hủy màng tế bào, nơi các hợp chất phenolic tiếp xúc với enzyme gây nâu hóa (Khan và cộng sự, 2021) Ảnh hưởng của chiếu xạ chùm tia điện tử đến tỷ lệ hao hụt khối lượng được thể hiện trong Hình 4.1.

Hình 4.1 Ảnh hưởng của xử lý SO 2 kết hợp chiếu xạ EB đến tỷ lệ hao hụt khối lượng của nhãn Edor

Trong cùng thời gian bảo quản, những cột có chữ cái khác nhau (a,b,c) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) a a a a a a a a a a a a a a b b a a b c

H ao h ụt kh ối lượ ng (% )

Thời gian (ngày) Đối chứng 0,4 kGy 0,6 kGy 0,8 kGy 1 kGy

Kết quả từ Hình 4.1 cho thấy hao hụt khối lượng của nhãn tăng theo thời gian bảo quản trong điều kiện thương mại giả định vận chuyển bằng đường bay (t – 20 o C, 80 – 90% RH), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa nghiệm thức 0,8 kGy và 1 kGy so với các nghiệm thức còn lại từ ngày thứ 13 Cụ thể, vào ngày 13, tỷ lệ hao hụt khối lượng của các nghiệm thức lần lượt là 10,72% (đối chứng), 11,18% (0,4 kGy), 11,45% (0,6 kGy), 12,69% (0,8 kGy) và 13,01% (1 kGy) Nghiệm thức 1 kGy có tỷ lệ hao hụt khối lượng cao nhất, với mức tăng 15,61% vào ngày thứ 17 so với ngày thứ 2, trong khi nghiệm thức đối chứng chỉ tăng 12,93% Giảm mạnh khối lượng khi chiếu xạ liều 1 kGy có thể do kích thích hô hấp và tăng cường hoạt động trao đổi chất, dẫn đến mất nước nhiều Sự hao hụt khối lượng cũng có thể do trái nhãn tươi tiếp tục quá trình trao đổi chất sau khi rời khỏi cây mẹ, cùng với hiện tượng mất nước tự nhiên Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Follet và cộng sự (2003), cho thấy tỷ lệ hao hụt khối lượng của trái nhãn xử lý chiếu xạ tia X ở liều 0,4 kGy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sau 14 ngày bảo quản ở 10 o C.

(2015) cũng chỉ ra rằng, nho xử lý SO2 kết hợp chiếu xạ chùm tia điện tử liều 0,4 kGy không làm ảnh hưởng đến khối lượng trái

Màu sắc vỏ trái cây là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng (Trần Thị Định và cộng sự, 2015) Sự thay đổi màu sắc bên ngoài của vỏ quả được thể hiện qua các giá trị độ sáng (L*), cường độ màu (C*) và góc biểu thị màu (Hue o) như được nêu trong Bảng 4.2.

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của xử lý SO 2 kết hợp chiếu xạ EB đến giá trị màu sắc của nhãn Edor

Các số có chữ cái trong cùng một cột (a,b) và trong cùng một hàng (x,y,z) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Thông số Nghiệm thức Thời gian bảo quản

Ngày 0 Ngày 2 Ngày 6 Ngày 13 Ngày 17

L* SO 2 51,32 ± 0,64 ax 51,30 ± 0,32 ax 51,09 ± 0,20 ax 49,54 ± 1,20 ay 49,11 ± 1,18 ay

SO 2 + 0,4 kGy 51,35 ± 0,98 ax 51,15 ± 0,40 ax 50,92 ± 0,29 ax 49,51 ± 1,04 ay 49,00 ± 0,16 ay

SO 2 + 0,6 kGy 51,26 ± 0,70 ax 51,19 ± 0,32 ax 50,96 ± 0,18 ax 49,46 ± 0,75 ay 49,07 ± 0,17 ay

SO 2 + 0,8 kGy 51,01 ± 0,32 ax 51,09 ± 0,34 ax 50,97 ± 0,24 ax 49,41 ± 0,74 ay 49,02 ± 0,11 ay

SO 2 + 1 kGy 51,11 ± 0,58 ax 51,12 ± 0,47 ax 50,93 ± 0,17 ax 49,44 ± 1,14 ay 48,92 ± 0,43 ay

C* SO 2 24,27 ± 0,40 ax 23,91 ± 0,35 ax 23,85 ± 0,18 ax 23,33 ± 0,23 ay 22,86 ± 0,16 ay

SO 2 + 0,4 kGy 24,21 ± 0,43 ax 23,71 ± 0,20 axy 23,58 ± 0,50 axy 23,28 ± 0,43 ayz 22,80 ± 0,27 az

SO 2 + 0,6 kGy 24,18 ± 0,40 ax 23,72 ± 0,20 axy 23,72 ± 0,40 axy 23,21 ± 0,17 ayz 22,88 ± 0,26 az

SO 2 + 0,8 kGy 24,15 ± 0,49 ax 23,65 ± 0,25 axy 23,59 ± 0,28 axy 23,19 ± 0,16 ayz 22,71 ± 0,30 az

SO 2 + 1 kGy 24,09 ± 0,53 ax 23,80 ± 0,15 ax 23,78 ± 0,41 ax 23,15 ± 0,29 ay 22,92 ± 0,07 ay

Hue( o ) SO 2 77,48 ± 0,17 ax 77,32 ± 0,23 ax 77,21 ± 0,13 ax 75,18 ± 0,50 ay 72,76 ± 0,92 az

SO 2 + 0,4 kGy 77,42 ± 0,27 ax 77,17 ± 0,29 ax 77,08 ± 0,27 ax 75,10 ± 0,44 ay 72,84 ± 0,88 abz

SO 2 + 0,6 kGy 77,45 ± 0,14 ax 77,19 ± 0,07 ax 77,03 ± 0,37 ax 74,92 ± 0,20 ay 72,93 ± 0,66 abz

SO 2 + 0,8 kGy 77,38 ± 0,14 ax 77,23 ± 0,23 ax 77,12 ± 0,21 ax 74,76 ± 0,27 ay 73,21 ± 0,21 abz

SO 2 + 1 kGy 77,45 ± 0,05 ax 77,32 ± 0,14 ax 77,24 ± 0,36 ax 75,22 ± 0,71 ay 74,11 ± 0,27 bz

Giá trị L*, C*, và Hue o giảm khi thời gian bảo quản tăng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) bắt đầu từ ngày thứ 13 so với các ngày trước Tuy nhiên, trong cùng một thời điểm bảo quản, giá trị L* và C* giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2020) về trái vú sữa xử lý chiếu xạ chùm tia điện tử ở các liều 0; 0,4; 0,6; 0,8.

Giá trị L* giảm dần và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa các nghiệm thức qua các ngày kiểm tra Nghiên cứu của Palekar và cộng sự (2004) cho thấy trái dưa lưới chiếu xạ bằng chùm tia điện tử ở liều 0; 0,7; 1,4 kGy không có sự thay đổi màu sắc rõ ràng, và giá trị C* không bị ảnh hưởng bởi liều chiếu xạ Giá trị góc màu Hue o ở nghiệm thức chiếu xạ có xu hướng cao hơn so với nghiệm thức đối chứng, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, vào ngày cuối cùng, nghiệm thức 1 kGy có giá trị Hue cao hơn (74,11) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng (72,76) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Yoon và cộng sự (2020) về trái dâu tây được chiếu xạ bằng chùm tia điện tử ở các liều 0; 0,15; 0,4; 0,6.

Chiếu xạ ở liều 1 kGy không ảnh hưởng đến màu sắc của trái cây, giúp ngăn chặn sự suy giảm giá trị góc màu Hue o Các nghiên cứu cho thấy, sự suy giảm màu sắc không bị ảnh hưởng bởi chiếu xạ ở dải liều thấp (0 đến 1 kGy), mà có thể do quá trình oxy hóa phenolic do enzyme polyphenol oxidase (PPO) gây ra, dẫn đến hiện tượng hóa nâu vỏ quả (Queiroz và cộng sự, 2008) Nghiên cứu của Wang & Meng (2016) cũng chỉ ra rằng trái việt quất chiếu xạ bằng tia gamma ở liều thích hợp (0; 0,5; 1; 1,5; 2; 2,5; 3 kGy) có khả năng ngăn cản sự suy giảm màu sắc Tương tự, nghiên cứu của Boynton và cộng sự (2005) cho thấy trái dưa lưới xử lý chiếu xạ EB ở liều 0,1 đến 0,7 kGy không có sự khác biệt thống kê về giá trị màu sắc L*, a*, b* và Hue o so với trái không xử lý (p < 0,05).

4.2.3 Tổng hàm lượng chất rắn hoà tan (TSS) và hàm lượng acid tổng (TA)

TSS và TA là các chỉ số quan trọng để đánh giá hương vị của trái nhãn (Suiubon và cộng sự, 2017) Ảnh hưởng của chiếu xạ chùm tia điện tử với liều lượng từ 0 đến 1 kGy đến TSS (o Bx) và giá trị TA (%) được minh họa qua các đồ thị trong Hình 4.2 và Hình 4.3.

Hình 4.2 thể hiện ảnh hưởng của việc xử lý SO2 kết hợp với chiếu xạ EB đến tổng chất rắn hòa tan (TSS) của nhãn Edor Trong suốt thời gian bảo quản, các cột có chữ cái giống nhau (a) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Hình 4.3 thể hiện ảnh hưởng của việc xử lý SO2 kết hợp với chiếu xạ EB đến tính chất TA của nhãn Edor Trong thời gian bảo quản, các cột có chữ cái giống nhau (a) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Giá trị TSS của nhãn giảm khi thời gian bảo quản tăng, với giá trị TSS ngày 0 lần lượt là 21,53; 21,70; 21,67; 21,60; 21,67 (o Bx) cho các nghiệm thức đối chứng và các mức bức xạ từ 0,4 kGy đến 1 kGy Sau 17 ngày, giá trị TSS giảm còn 19,33; 19,57; 19,33; 19,37; 19,53 (o Bx) Theo nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2020), hiện tượng này có thể do trái nhãn không có đỉnh hô hấp đột biến, yêu cầu trái phải đạt độ chín ăn được trước khi thu hoạch, thời điểm mà hàm lượng TSS cao nhất.

Ngày 0 Ngày 2 Ngày 6 Ngày 13 Ngày 17

Thời gian (ngày) Đối chứng 0,4 kGy 0,6 kGy 0,8 kGy 1 kGy a a a a a a a a a a a a a a a a a a a a a a a a a

Ngày 0 Ngày 2 Ngày 6 Ngày 13 Ngày 17

Thời gian (Ngày) Đối chứng 0,4 kGy 0,6 kGy 0,8 kGy 1 kGy

Mặc dù giá trị TSS không tăng, quá trình trao đổi chất của trái cây vẫn tiếp tục diễn ra, nhưng sự khác biệt về giá trị TSS giữa các nghiệm thức tại cùng một thời điểm bảo quản không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Wall & Khan (2008), cho thấy giá trị TSS của trái thanh long không bị ảnh hưởng bởi chiếu xạ tia X với liều dưới 0,8 kGy Tương tự, Mathaba và cộng sự (2014) cũng chỉ ra rằng chiếu xạ gamma ở dải liều từ 0 đến 1,2 kGy không làm ảnh hưởng đến TSS của vải đã được xông SO2 Ngoài ra, Nam và cộng sự (2019) cũng khẳng định rằng chiếu xạ chùm tia điện tử với liều nhỏ hơn 1 kGy không ảnh hưởng đến hàm lượng TSS của quýt trong quá trình bảo quản.

Giá trị TA giảm khi thời gian bảo quản tăng, nhưng sự khác biệt giữa các nghiệm thức tại cùng một thời điểm không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (Hình 4.3) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Najafabadi và cộng sự (2017), cho thấy TA không thay đổi ở liều chiếu xạ gamma từ 0 đến 5 kGy Ngoài ra, báo cáo của Follett & Sanxter (2003) cũng chỉ ra rằng TA không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức chiếu xạ 400 Gy với các giống táo ‘Chompoo’ và ‘Biew Kiew’.

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại hóa chất khác nhau đến chất lượng của trái nhãn Edor

4.3.1 Tỷ lệ hao hụt khối lượng Ảnh hưởng của các loại hoá chất xử lý đến tỷ lệ hao hụt khối lượng của nhãn Edor được thể hiện ở Hình 4.5

Hình 4.5 Ảnh hưởng của các loại hóa chất xử lý khác nhau đến tỷ lệ hao hụt khối lượng của nhãn Edor

Trong cùng thời gian bảo quản, những cột có chữ cái khác nhau (a,b,c) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Sự hao hụt khối lượng trong các nghiệm thức tăng dần theo thời gian bảo quản, với mẫu đối chứng có tỷ lệ hao hụt cao nhất là 10,48% sau 9 ngày, tăng 11,22 lần so với ngày đầu Sau ngày thứ 9, các mẫu đối chứng và ascorbic acid kết hợp oxalic acid bị hư hỏng hoàn toàn Hai mẫu xử lý HCl và SO2 được theo dõi đến ngày thứ 20, ghi nhận hao hụt khối lượng lần lượt là 20,27% và 21,09%, không có sự khác biệt thống kê giữa hai nghiệm thức (p < 0,05) Hao hụt khối lượng có thể do mất nước tự nhiên và quá trình hô hấp, phù hợp với nghiên cứu của Ali và cộng sự (2021) cho thấy tỷ lệ hao hụt của trái vải nhúng ascorbic acid hoặc oxalic acid thấp hơn mẫu đối chứng trong 28 ngày bảo quản Nghiên cứu của Saito và cộng sự (2020) trên trái việt quất cũng hỗ trợ kết quả này.

SO2 duy trì khối lượng tốt hơn và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng sau 3 tuần bảo quản ở 1 °C Nghiên cứu của Ramma (2004) cũng hỗ trợ kết quả này.

Ngày 3 Ngày 6 Ngày 9 Ngày 13 Ngày 16 Ngày 20

H ao h ụt kh ối lượ ng (% )

Thời gian (ngày) Đối chứng AA+AO ClO2 HCl SO2

36 chỉ ra nhúng vải với 3,5% HCl sau 5 tuần bảo quản ở 2°C, 85 - 95% RH có sự tổn thất khối lượng ít hơn so với nghiệm thức đối chứng

4.3.2 Mức độ hư hỏng Ảnh hưởng của các loại hoá chất xử lý đến mức độ hư hỏng của nhãn Edor được thể hiện ở Hình 4.6

Hình 4.6 Ảnh hưởng của các loại hóa chất xử lý khác nhau đến mức độ hư hỏng của nhãn Edor

Xử lý trái nhãn bằng các loại hóa chất khác nhau trước khi bảo quản cho thấy sự khác biệt rõ rệt về mức độ hư hỏng Cụ thể, nghiệm thức xông SO2 cho thấy ít hoặc không có hư hỏng sau 9 ngày bảo quản, với tỷ lệ hư hỏng chỉ dưới 5,5%.

Nghiệm thức xông SO2 (4,67%) và HCl (5,33%) cho thấy mức độ hư hỏng thấp hơn đáng kể so với nghiệm thức đối chứng (87,33%), ClO2 (67,33%) và ascorbic acid kết hợp oxalic acid (70,67%) Sau 9 ngày bảo quản, cả hai nghiệm thức vẫn duy trì chất lượng tốt để tiếp tục khảo sát Đến ngày thứ 20, mức độ hư hỏng của nghiệm thức HCl (44,67%) cao hơn so với SO2 (40%), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Việc HCl làm giảm pH môi trường (pH ˷ 3) có thể gây biến tính protein và enzyme, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và trao đổi chất, từ đó tiêu diệt và ức chế một số loài vi sinh vật Đồng thời, SO2 cũng làm biến đổi DNA của vi sinh vật, gây ức chế và tiêu diệt vi khuẩn mạnh Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Mahajan và cộng sự (2014), cho thấy hiệu quả bảo quản sau 28 ngày ở nhiệt độ 2 ± 1 °C và độ ẩm 90 – 95% RH.

Thời gian (ngày) Đối chứng AA+OA ClO2 HCl SO2

37 vải không xử lý có mức độ hư hỏng cao nhất là 40%, sau đó đến nghiệm thức xử lý HCl 9% và thấp nhất là SO2 6%

4.3.3 Độ cứng Ảnh hưởng của các loại hoá chất xử lý đến mức độ hư hỏng của nhãn Edor được thể hiện ở Hình 4.7

Hình 4.7 Ảnh hưởng của các loại hóa chất xử lý khác nhau đến độ cứng của nhãn

Trong thời gian bảo quản, các cột có chữ cái khác nhau (a,b,c,d) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Độ cứng của vỏ quả giảm theo thời gian, đặc biệt ở các nghiệm thức đối chứng, ClO2, và ascorbic acid kết hợp oxalic acid Từ ngày thứ 6 trở đi, độ cứng của ba nghiệm thức này giảm mạnh do sự xuất hiện của vi sinh vật gây hư hỏng trái Cụ thể, vào thời điểm này, độ cứng ở nghiệm thức đối chứng là 12,82N, ClO2 là 13,95N, và ascorbic acid kết hợp oxalic acid là 15,33N, giảm lần lượt 30,90%; 24,80%; 18,01% so với ngày 0 Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2021) trên nhãn ‘Fuyan’ cũng cho thấy nghiệm thức chủ động cấy nấm L Theobromae có độ cứng thấp hơn đáng kể so với nghiệm thức đối chứng Trong khi đó, nghiệm thức xử lý HCl và SO2 duy trì độ cứng ổn định trong suốt thời gian bảo quản, với độ cứng mẫu nhúng HCl là 16,02N giảm 15,35% và mẫu xông SO2 là 16,34N giảm 15,24% so với ngày đầu tiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Ngày 0 Ngày 3 Ngày 6 Ngày 9 Ngày 13 Ngày 16 Ngày 20 Độ c ứn g (N)

Thời gian (ngày) Đối chứng AA+OA ClO2 HCl SO2

Nghiên cứu của Apai và cộng sự (2010b) cho thấy độ cứng của mẫu nhãn xông SO2 và nhúng HCl không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê từ ngày bảo quản thứ 5 đến ngày thứ 60, ở nhiệt độ 3 ± 1 o C và độ ẩm 85% RH.

4.3.4 Giá trị màu màu sắc và chỉ số hóa nâu

Hiện tượng hóa nâu do enzyme trên trái cây đang được chú trọng để ngăn ngừa, vì nó gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể Chỉ số hóa nâu (BI) là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ nâu hóa của vỏ quả (Khan và cộng sự).

2021) Ảnh hưởng của các loại hoá chất xử lý đến giá trị màu màu sắc và chỉ số hóa nâu của nhãn Edor được thể hiện ở Hình 4.8 và Bảng 4.3

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các loại hóa chất xử lý khác nhau đến giá trị màu sắc của nhãn Edor

Các số có chữ cái trong cùng một cột (a,b,c,d) và trong cùng một hàng (x,y,z,u,v) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p

Ngày đăng: 24/04/2023, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Tùng, Ngô, H. V., &amp; Đỗ. (2017). Xác định thời điểm thu hoạch cho nhãn Edor trong mùa mua và mùa nắng. Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 15(6):826-833 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thời điểm thu hoạch cho nhãn Edor trong mùa mua và mùa nắng
Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng, Ngô, H. V., Đỗ
Nhà XB: Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2017
3. Tôn Nữ Minh Nguyệt, Lê Văn Việt Mẫn, &amp; Trần Thị Thu Trà. (2009). Nguyên liệu và công nghệ bảo quản sau thu hoạch. In NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (p.578) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên liệu và công nghệ bảo quản sau thu hoạch
Tác giả: Tôn Nữ Minh Nguyệt, Lê Văn Việt Mẫn, Trần Thị Thu Trà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2009
4.Trần Thị Định, N. T. Q., &amp; Khoa. (2015). Ảnh Hưởng Của Xử Lý Sau Thu Hoạch Đến Sự Biến Đổi Chất Lượng Của Nhãn Hương Chi Trong Quá Trình Bảo Quản Lạnh. Tạp Chí Khoa Học và Phát Triển 2015, Tập 13, Số 8: 1464-1473, 13(8), 1464–1473 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh Hưởng Của Xử Lý Sau Thu Hoạch Đến Sự Biến Đổi Chất Lượng Của Nhãn Hương Chi Trong Quá Trình Bảo Quản Lạnh
Tác giả: Trần Thị Định, N. T. Q., Khoa
Nhà XB: Tạp Chí Khoa Học và Phát Triển
Năm: 2015
5. Vietrade (2016). EVFTA và rào cản từ EU với hoa quả Việt Nam: Tình hình sản xuất trái cây của Việt Nam. Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam.Tài liệu tham khảo tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam
Tác giả: Vietrade
Năm: 2016
1. Ajibola, V. O., Babatunde, O. A., &amp; Suleiman, S. (2009). The Effect of Storage Method on the Vitamin C Content in Some Tropical Fruit Juices. In Trends in Applied Sciences Research, 4(2), 79–84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effect of Storage Method on the Vitamin C Content in Some Tropical Fruit Juices
Tác giả: Ajibola, V. O., Babatunde, O. A., Suleiman, S
Nhà XB: Trends in Applied Sciences Research
Năm: 2009
2. Ali, S., Sattar Khan, A., Ullah Malik, A., Anwar, R., Akbar Anjum, M., Nawaz, A., Shafique, M., &amp; Naz, S. (2021). Combined application of ascorbic and oxalic acids delays postharvest browning of litchi fruits under controlled atmosphere conditions.Food Chemistry, 350(January) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Combined application of ascorbic and oxalic acids delays postharvest browning of litchi fruits under controlled atmosphere conditions
Tác giả: Ali, S., Sattar Khan, A., Ullah Malik, A., Anwar, R., Akbar Anjum, M., Nawaz, A., Shafique, M., Naz, S
Nhà XB: Food Chemistry
Năm: 2021
3. AOAC (1980) Titratable Acidity in Official Methods of Analysis, 13th edn. Washington, DC: Association of Official Agricultural Chemists Sách, tạp chí
Tiêu đề: Titratable Acidity in Official Methods of Analysis
Tác giả: AOAC
Nhà XB: Association of Official Agricultural Chemists
Năm: 1980
4. Apai, W. (2010a). Effects of fruit dipping in hydrochloric acid then rinsing in water on fruit decay and browning of longan fruit. Crop Protection, 29(10), 1184–1189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of fruit dipping in hydrochloric acid then rinsing in water on fruit decay and browning of longan fruit
Tác giả: W. Apai
Nhà XB: Crop Protection
Năm: 2010
5. Apai, W., Huntavee, M., &amp; Likhittragulrung, S. (2010b). Effects of acid dips on pericarp browning and fruit quality of longan fruits during cold storage. Acta Horticulturae, 875, 213–222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of acid dips on pericarp browning and fruit quality of longan fruits during cold storage
Tác giả: W. Apai, M. Huntavee, S. Likhittragulrung
Nhà XB: Acta Horticulturae
Năm: 2010
6. Arias, E., González, J., Oria, R., &amp; Lopez-Buesa, P. (2007). Ascorbic acid and 4- hexylresorcinol effects on pear PPO and PPO catalyzed browning reaction. Journal of Food Science, 72(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ascorbic acid and 4- hexylresorcinol effects on pear PPO and PPO catalyzed browning reaction
Tác giả: E. Arias, J. González, R. Oria, P. Lopez-Buesa
Nhà XB: Journal of Food Science
Năm: 2007
7. Baker, A. C. (1939). The basis for treatment of products where fruit flies are involved as a condition of entry into the United States, U.S. Department of Agriculture, 551 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The basis for treatment of products where fruit flies are involved as a condition of entry into the United States
Tác giả: A. C. Baker
Nhà XB: U.S. Department of Agriculture
Năm: 1939
8. Bhowmik, S. R., &amp; Pan, J. C. (1992). Shelf life of mature green tomatoes stored in controlled atmosphere and high humidity. Journal of Food Science, 57(4), 948-953 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shelf life of mature green tomatoes stored in controlled atmosphere and high humidity
Tác giả: Bhowmik, S. R., Pan, J. C
Nhà XB: Journal of Food Science
Năm: 1992
9. Boonpok, N., Uthairatanakij, A., Srilaong, V., Photchanachai, S., &amp; Jitareerat, P. (2012). Effects of acetic acid fumigation on suppressing postharvest decay of gamma irradiated Longan fruit. I International Conference on Postharvest Pest and Disease Management in Exporting Horticultural Crops-PPDM2012 973, 97-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of acetic acid fumigation on suppressing postharvest decay of gamma irradiated Longan fruit
Tác giả: Boonpok, N., Uthairatanakij, A., Srilaong, V., Photchanachai, S., Jitareerat, P
Nhà XB: International Conference on Postharvest Pest and Disease Management in Exporting Horticultural Crops-PPDM2012
Năm: 2012
11. Codex Alimentarius. (2003). Codex general standard for Irradiated Foods. Codex Stan 106-1983, Rev. 1-2003, 1–3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Codex general standard for Irradiated Foods
Tác giả: Codex Alimentarius
Nhà XB: Codex Stan 106-1983, Rev. 1-2003
Năm: 2003
13. Codex Alimentarius. (2014). Code of Practice for Radiation Processing of Food. CAC/RCP 19-1979. November 2006, 1– 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Code of Practice for Radiation Processing of Food
Tác giả: Codex Alimentarius
Nhà XB: CAC/RCP 19-1979
Năm: 2014
14. Codex Alimentarius. (2019). Codex general standard for Food Additives. Codex Stan 192-1995, Rev. 2019, 1– 490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Codex general standard for Food Additives
Tác giả: Codex Alimentarius
Nhà XB: Codex Stan 192-1995, Rev. 2019
Năm: 2019
15. Contreras‐Oliva, A., Pérez‐Gago, M.B., Palou, L., Rojas‐Argudo, C., (2011). Effect of insecticidal atmosphere and low dose X‐ray irradiation in combination with cold quarantine storage on bioactive compounds of clementine mandarins cv.‘Clemenules’. Food Sci. Technol. 46, 612–619 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of insecticidal atmosphere and low dose X‐ray irradiation in combination with cold quarantine storage on bioactive compounds of clementine mandarins cv.‘Clemenules’
Tác giả: Contreras‐Oliva, A., Pérez‐Gago, M.B., Palou, L., Rojas‐Argudo, C
Nhà XB: Food Sci. Technol.
Năm: 2011
16. Chen L., Chen M. Y., Lin H. T., Chen Y. H., Lin Y. F. &amp; Chen S. J. (2009). Effects of uncouple agent DNP treatment on browning and active oxygen metabolism in pericarp of harvested longan fruit. Sci Agric Sin, 42, 4019 – 4026 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of uncouple agent DNP treatment on browning and active oxygen metabolism in pericarp of harvested longan fruit
Tác giả: Chen L., Chen M. Y., Lin H. T., Chen Y. H., Lin Y. F., Chen S. J
Nhà XB: Sci Agric Sin
Năm: 2009
17. Chen, B. J. (2013). Sulfur dioxide detected in Longan imported from Thailand by 5 times higher than the Standard. World Tropical Agriculture Information, 4, 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sulfur dioxide detected in Longan imported from Thailand by 5 times higher than the Standard
Tác giả: Chen, B. J
Nhà XB: World Tropical Agriculture Information
Năm: 2013
18. Chen, Y., Zhang, S., Lin, H., Lu, W., Wang, H., Chen, Y., Lin, Y., &amp; Fan, Z. (2021). The role of cell wall polysaccharides disassembly in Lasiodiplodia theobromae- induced disease occurrence and softening of fresh longan fruit. Food Chemistry, 351 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of cell wall polysaccharides disassembly in Lasiodiplodia theobromae- induced disease occurrence and softening of fresh longan fruit
Tác giả: Chen, Y., Zhang, S., Lin, H., Lu, W., Wang, H., Chen, Y., Lin, Y., Fan, Z
Nhà XB: Food Chemistry
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w