1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 2 BÁO CÁO GIẢI PHÁP THI GIÁO VIÊN GIỎI MÔN NGỮ VĂN 9 Tên sáng kiến Biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N[.]

Trang 1

Tên sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

, ngày 26 tháng 3 năm 2021

BÁO CÁO SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận

về đoạn thơ, bài thơ

Họ và tên:

Đơn vị công tác:

Cá nhân, tổ chức phối hợp: Cá nhân

Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ năm học 2020 – 2021

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

1 Tên sáng kiến hoặc đề tài, đề án, giải pháp công tác, giải pháp tác nghiệp

Biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

2 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến

Như chúng ta đã biết môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong trường phổ thông nói chung và cấp THCS nói riêng Nói về điều này nhà thơ

Tố Hữu đã từng nói: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương” Môn học Ngữ văn còn là bộ môn khoa học dạy về ngôn ngữ và tác phẩm văn chương nhằm hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm ở con người Trong thời đại ngày nay, môn học Ngữ

Trang 2

văn còn có vai trò quan trọng hơn trong nhiệm vụ giữ gìn sự sống cho ngôn ngữ dân tộc và phát huy nó tốt đẹp hơn nữa trước đời sống công nghệ ngày càng thay thế dần rất nhiều thứ khác

Riêng với phân môn tập làm văn giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sản sinh văn bản (nói và viết) Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy -chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động Ngôn ngữ (dưới dạng nói -ngôn bản, và dưới dạng viết - văn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại

và phát triển xã hội Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Vấn

đề đặt ra là: người giáo viên dạy tập làm như thế nào để học sinh viết tốt bài văn của mình? Cách thức tổ chức, tiến hành tiết dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn?

Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Ngữ văn Do đặc trưng phân môn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả,

kể chuyện, biểu cảm, nghị luận, Đối với lớp 9, các em đã làm quen với kiểu bài nghị luận văn học trong đó có nghị luận về đoạn thơ, bài thơ Trong thực

tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứng được những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường Bài văn của các em vẫn còn nhiều hạn chế như: chưa biết bắt đầu từ đâu, chưa biết cách phân tích, các em chỉ biết diễn xuôi theo nội dung bài thơ Vì vậy bài viết thường sơ sài, lủng củng hoặc lan man, xa đề Bên cạnh đó là việc giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết

Trang 3

Do đó tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt giúp học sinh làm tốt bài văn nghị luận về tác phẩm thơ Cũng chính xuất phát từ

đó tôi đã tiến hành tìm tòi nghiên cứu và vận dụng vào thực tế giảng dạy:

“Biện pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ”

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN HOẶC ĐỀ TÀI, ĐỀ ÁN, GIẢI PHÁP CÔNG TÁC, GIẢI PHÁP TÁC NGHIỆP

1/ Kiến thức cần có khi nghị luận bài thơ.

Để học sinh có kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học yêu cầu người giáo viên cần phải truyền thụ đúng, đầy đủ, chính xác để học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về các văn bản thơ cũng như cách làm bài “Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” Trên cơ sở đó giáo viên tiếp tục hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn cách khai thác chi tiết và phương thức diễn đạt cho học sinh để bài văn đạt kết quả tốt nhất

Đối với học sinh cần phải năm vững kiến thức cơ bản Vì kiến thức cơ bản là “bột”, “có bột mới gột nên hồ” Để phân tích được một bài thơ thì các

em cần có được kiến thức ở các phương diện: nắm vững nội dung và nghệ thuật một văn bản thơ và kỹ năng làm bài văn nghị luận tác phẩm thơ

Đối với bài thơ thì các em buộc phải thuộc thơ Vì có thuộc mới phân tích được những ảnh hình, từ ngữ, biện pháp tu từ trong bài thơ đó

Với nghị luận về đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình

về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu

Khi làm bài văn dạng này phải kết hợp nhuẫn nhuyễn các thao tác như lập luận, giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng, bình luận về mạch cảm xúc, hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ ca Nói vậy cũng có nghĩa nghị luận thơ là kiểu bài đòi hỏi tính tổng hợp của tri thức, của kĩ năng Muốn làm được một bài nghị luận về bài thơ hay, cùng với kiến thức, năng lực cảm thụ,

Trang 4

người viết cần có kĩ năng kết hợp đồng thời, linh hoạt nhiều phép lập luận để làm sáng tỏ vấn đề, để trình bày một cách thuyết phục, hấp dẫn ý kiến, nhận định của mình

Kiểu bài nghị luận về bài thơ như thế đã bao hàm đòi hỏi tính tích cực, năng lực, bản sắc cá nhân của người làm bài Đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh

2 Những nhiệm vụ cụ thể khi nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào ý đồ sáng tác của nhà văn mà

phân tích, làm sáng tỏ các tầng lớp nội dung, ý nghĩa trong ngôn từ, trong hình ảnh nơi văn bản Mọi nhận xét, đánh giá về tác phẩm chỉ thực sự có ý nghĩa khi xuất phát từ sự hiểu đúng, hiểu sâu nó Bài nghị luận văn học tối kị lối phát biểu ý kiến một cách chung chung hoặc chỉ diễn nôm “nội dung” Muốn bình đúng, bình hay trước tiên phải phân tích đúng, giảng sâu Giảng

có nghĩa là khám phá, giảng giải nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, là giải thích, khẳng định tính đúng đắn của văn bản Nó có nhiệm vụ chỉ ra các tầng lớp nội dung và chứng minh một cách thuyết phục rằng nội dung ấy tất phải được thể hiện qua hình thức nghệ thuật và ngược lại

Bài văn nghị luận cần có hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, những luận cứ đúng đắn, sinh động và lập luận thuyết phục

Lời văn của một bài nghị luận cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết

Khi viết một bài văn, cần xác định viết như thế nào, bằng thái độ, tình cảm ra sao Cần cân nhắc từ cách dùng từ đến cách ngắt câu Ngôn từ phải làm sao diễn tả sát, trúng bản chất của đối tượng, điều mình muốn nói Giọng văn làm sao phải hợp với vấn đề, với nội dung, nhiều khi như có hình khối,

có nhịp điệu và giàu cảm xúc Có như vậy, bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ của các em mới khơi gợi sự đồng cảm về cảm xúc của nhân vật trữ tình, của nhà thơ hay ngợi ca trước vẻ đẹp của hình tượng văn học và bài văn ấy mới thuyết phục được người đọc

Trang 5

Như vậy, một bài văn nghị luận hay vừa đòi hỏi sự thâm nhập, thẩm bình sâu tác phẩm vừa yêu cầu kĩ năng tổng hợp, khái quát thành nhận định, đánh giá riêng

3 Các bước hướng dẫn học sinh viết bài văn

Bước 1: Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề:

Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải xác định phạm vi đối tượng mà đề yêu cầu (Nghị luận về một bài thơ hay một đoạn thơ) Cần xác định được đề tài và nội dung của đề bài Hướng nghị luận (do

đề quy định hay do người viết lựa chọn)

Cần hiểu đúng, đầy đủ nội dung yêu cầu của đề, tránh sai lạc, xác định được giới hạn phạm vi yêu cầu của đề (chứng minh, bình luận, giải thích hay phân tích ) Để từ đó lựa chọn lí lẽ, dẫn chứng cụ thể ,tiêu biểu cho bài làm

Đưa đối tượng phải bàn bạc (nhân vật, chủ đề, nội dung, nghệ thuật ) gắn câu hỏi tìm ý để có những ý kiến cụ thể (Điều nổi bật nhất, nét tiêu biểu

cụ thể? Chi tiết nào biểu hiện? Ý nghĩa xã hội như thế nào? Giá trị tiêu biểu

ra sao? )

Đối với từng đối tượng phải bàn cần có thêm những dạng câu hỏi tìm ý phù hợp

*VD: Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh.(lớp 8)

- Đề bài này, các em phải gạch chân được hai từ (Phân tích và nêu cảm nghĩ)

thuộc thể loại nghị luận về bài thơ

- Giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu đề bài đưa ra thuộc loại có chỉ định hay không có chỉ định về nội dung cần bàn luận? Vậy đề bài trên thuộc loại

có chỉ định (phân tích và nêu cảm nghĩ về bài thơ Quê hương của Tế Hanh) Nếu dạng đề chưa có chỉ định thì các em phải suy nghĩ tìm ra yêu cầu mà nội dung của đề bài cần đạt? Chẳng hạn, đề bài “ Những đặc sắc trong bài thơ

“Viếng lăng Bác” của Viễn Phương”, đề bài này chưa cho chúng ta biết nét đặc sắc ở phương diện nào của tác phẩm Vậy, giáo viên phải gợi mở cho các

em hiểu và xác định được đây là tác phẩm thơ, mà nét đặc sắc trong thơ phải

là nội dung và nghệ thuật ( ngôn từ, hình ảnh, cấu trúc, mạch cảm xúc, cảm hứng bao trùm…)

Trang 6

- Việc xác định kiến thức phục vụ cho nội dung bàn luận là một yêu cầu tất yếu giáo viên giúp các em tìm được phạm vi kiến thức trọng tâm phục vụ cho vấn đề bàn luận

- Bài nghị luận văn học đòi hỏi người viết phải tìm được hệ thống luận điểm, luận cứ để phân tích, đánh giá, bình luận làm nổi bật nội dung nghị luận Vậy, phải dựa vào đâu để tìm ý?

- Đề nghị luận về đoạn thơ, bài thơ, người viết phải tìm ra nét đặc sắc về nội dung (dựa vào bố cục của bài thơ- nếu có- và nội dung khái quát từng phần trong bố cục); nghệ thuật bài thơ (ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, thể thơ, nhịp thơ….)

Bước 2: Hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm có vai trò rất quan trọng khi cần đánh giá nhận xét một tác phẩm văn học Đặt tác phẩm vào hiện thực xã hội lúc đó,

ta sẽ hiểu rõ và nhìn nhận đúng hơn về tâm trạng, hành động suy nghĩ của nhân vật trong một tác phẩm (hoặc đoạn trích) hay tình cảm, cảm xúc của nhân vật được thể hiện trong một bài thơ Từ đó có thể làm rõ các vấn đề: Tại sao đối tượng lại có những hành động, suy nghĩ như vậy? Hành động suy nghĩ đó bộc lộ tâm trạng cảm xúc như thế nào? Tâm trạng cảm xúc đó nói lên phấm chất gì của đối tượng

VD: Khi làm bài văn nghị luận với đề: Cảm nhận bài thơ "Mùa xuân nho

nhỏ” của Thanh Hải.

Học sinh cần phải nắm rõ hoàn cảnh sáng tác bài thơ là: Năm 1978, cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Tác giả nằm trên giường bệnh tại Huế Để thấy được cảm xúc của nhà thơ đối với mùa xuân, đất nước Nhiều hình ảnh thơ đẹp và gợi cảm, ngôn ngữ bình dị sâu lắng cùng với giọng điệu tha thiết tác giả muốn gởi gắm điều nhắn nhủ đầy ý nghĩa khi sắp đi xa

Bước 3 Xác định luận điểm rõ ràng

Đây là điều khó nhất với học sinh hiểu nội dung trong giờ học văn bản

ở phần “Đọc- hiểu văn bản” nhưng nêu câu luận điểm cho bài văn thế nào cho đúng? Giáo viên cho ví dụ bài thơ cụ thể đề tìm luận điểm thứ nhất,

Trang 7

luận điểm thứ hai và hướng dẫn học sinh Để có luận điểm rõ ràng phải đọc kĩ yêu cầu của đề bài, xác định giới hạn phạm vi yêu cầu của đề và trả lời các câu hỏi tìm ý: Điều nổi bật nhất để có thể làm rõ vấn đề là gì ? Điều

đó được biểu hiện qua những chi tiết cụ thể nào? Có luận điểm rõ ràng, bài văn sạch sẽ mạch lạc, các ý trình bày không bị chồng chéo, lủng củng Khi triển khai các luận điểm sẽ dễ tìm luận cứ, luận chứng và lí lẽ Cụ thể :

Thứ nhất, dựa vào vấn đề đã nêu( nội dung hoặc nghệ thuật đặc sắc của

bài thơ, hoặc nhan đề…) ở phần mở bài mà các em đã tìm ý được để triển khai luận điểm

Thứ hai, nếu vấn đề nghị luận là phân tích nội dung cả bài thơ thì giáo

viên cho học sinh dựa vào bố cục bài thơ để tìm ý lớn Vậy bố cục của bài thơ gồm mấy phần? Hãy nêu nội dung khái quát của từng phần? Khi tìm ra nội dung khái quát từng bài có nghĩa là các em đã tìm ra các luận điểm Có trường hợp bài thơ có dấu ấn đặc biệt thì giáo viên phải cho học sinh phân tích và bình luận để thấy được nét phong cách độc đáo của nhà thơ Dấu ấn bài thơ có thể nằm ở nhan đề, có thể nằm ở câu đề từ, có thể ở một từ khóa nào đó…Chẳng hạn, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh khác với một số bài thơ khác ở chỗ có câu thơ đề từ Câu thơ đề từ nằm ở đầu bài thơ Hoặc bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” có nhan đề mang ấn tượng đặc sắc Giáo viên cho học sinh hiểu được ý nghĩa nhan đề bài thơ Hoặc bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh lại có một từ khóa, đó là năm sáng tác (1977) để giúp giáo viên và học sinh khám phá tác phẩm được sâu hơn

+Luận điểm 1: Cần phân tích khổ thơ nào? Nội dung khổ thơ đó là gì? (hình ảnh quê hương trong hồi tưởng của nhà thơ qua ba khổ thơ đầu)

+Luận điểm 2: Khổ thơ nào tương ứng với luận điểm 2? Nội dung khái quát khổ thơ đó là gì? (Nỗi nhớ quê hương da diết - 4 câu cuối)

+ Bài thơ có một câu thơ đề từ rất gợi cảm “Chim bay dọc biển đem tin cá”

Bước 4 Lựa chọn các chi tiết hình ảnh tiêu biểu

Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ quan trọng nhất biết phân tích sự sáng tạo độc đáo các chi tiết, ngôn ngữ hình ảnh giọng điệu, đặc biệt là các yếu tố nghệ thuật để làm rõ từng luận điểm cụ thể

VD: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ “Đồng chí”

của Chính Hữu

-Kết bài bằng 3 câu thơ dựng lên bức tranh đẹp về tình đồng chí trong chiến

Trang 8

đấu Biểu tượng đẹp về cuộc đời chiến sĩ: ba hình ảnh người lính, khẩu súng vầng trăng trong cảnh rừng hoang sương muối trong đêm phục kích đợi giặc Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh đêm trăng mùa đông vô cùng lạnh giá trên trường

- Hình ảnh sáng tạo: “Đầu súng trăng treo” đầy ấn tượng, cô đọng và gợi hình, gợi cảm Ngoài hình ảnh còn có nhịp điệu như nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì đó lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát

Khi phân tích chỉ phân tích một vài chi tiết chính còn lại có thể phân tích lướt để đảm bảo bài văn vừa có chỉnh thể, vừa có trọng tâm, có điểm sáng, gây được ấn tượng

Bước 5 Lựa chọn từ ngữ phù hợp

Ngôn ngữ giọng điệu của lời văn có vai trò rất quan trọng trong việc diễn tả các trạng thái cảm xúc, thái độ của người viết Vì vậy khi viết văn cần lựa chọn từ ngữ và sắp xếp lời vănn để đạt được hiệu quả diễn đạt cao nhất Có thể sử dụng từ ngữ mang sắc thái trang trọng, dùng cách nói giảm, nói tránh, sử dụng từ ngữ có giá trị biểu cảm cao (tượng thanh, tượng hình) kết hợp sử dụng các cách nói tu từ ẩn dụ với cá điệp từ, điệp ngữ, so sánh nhân hoá, đặc biệt lời văn phải gợi cảm, thể hiện sự rung động chân thành

Bước 6 Bố cục chặt chẽ hợp lí

Mở bài, thân bài, kết bài tách bạch rõ ràng.Trình bày các ý dứt khoát, tránh lan man đi quá xa đề, trình tự các ý phải theo một lôgic hợp lí Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phân tích thẩm bình (cảm thụ) theo mạch cảm xúc của bài thơ, đoạn thơ

Bước 7 Luyện viết

a Hướng dẫn viết đoạn mở bài:

- Mở bài trực tiếp: Đó là mở bài theo kiểu giới thiệu ngay vấn đề sẽ trình

bày trong phần thân bài Ta có thể viết mở bài với các yếu tố như sau:

1 Giới thiệu tác giả

2 Giới thiệu tác phẩm (Hoàn cảnh sáng tác)

3 Đánh giá sơ bộ nội dung (nghệ thuật)

- Mở bài gián tiếp: Kiểu mở bài này:

Trang 9

- Không đi thẳng trực tiếp vào vấn đề mà gợi mở vào đề bằng biện pháp so sánh, tương phản, nghi vấn, giả định… bằng cách đưa ra:

+ Một câu chuyện rồi dẫn vào vấn đề

+ Mở bài gián tiếp theo kiểu so sánh

+ Đưa ra một vài câu thơ, lời hát (Lưu ý câu thơ, lời hát ấy phải gắn với điều định bàn, phải sinh động, hấp dẫn)

- Ta có thể chọn một trong các kiểu gợi mở vào đề đã giới thiệu kết hợp với các yếu tố ở phần mở bài trực tiếp (ở trên) để viết đoạn mở bài gián tiếp đúng và hay

Ví dụ 1 : Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.

Nói đến Chính Hữu không thể khong nói đến bài thơ “Đồng chí”.Bài thơ như một điểm sáng trong tập “Đầu súng trăng treo”- tập thơ viết về đề tài người lính của ông

Ví dụ 2 : Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải

Mùa xuân luôn là nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân Nguyễn Bính

đã từng đánh thức người nhà quê trong mỗichúng ta bằng “Mùa xuân

xanh”,Hàn Mạc Tử thì bâng khuâng xao xuyến nơi đất khách quê người với

“Mùa xuân chín” Còn ‘‘Mùa xuân xuân nho nhỏ’’của Thanh Hải lại là tâm nguyện sau cùng của ông về tình yêu cuộc sống,về khát vọng được cống hiến sức lực của mình cho đất nước khi ông sắp lâm chung

b Định hướng triển khai luận điểm thành đoạn văn phần thân bài:

+ Đoạn diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể Câu chủ

đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội dung chi tiết cụ thể ý tưởng của câu chủ đề đó Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh Phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết

+ Đoạn quy nạp: cách trình bày ý ngược lại với đoạn diễn dịch- đi từ các

ý chi tiết, cụ thể đến khái quát; câu chủ đề nằm ở cuối đoạn

+ Đoạn tổng- phân- hợp: (là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp)

Ví dụ: Phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh.

“Ngay từ khổ thơ đầu, Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc những tín hiệu riêng của mùa thu Không phải là những rừng phong sắc đỏ, giậu cúc

vàng, lá ngô đồng rơi hay ao sen tàn lạnh… như trong thơ cổ Cũng không phải là màu trời xanh ngắt hay làn nước biếc trong thơ thu Nguyễn Khuyến… Tín hiệu của mùa thu này là làn hương ổi “phả vào trong gió se” Phải có “gió se” thì mới có hương thơm nồng đậm thế Làn gió heo may trong mát với thoáng chớm lạnh đầu mùa như biết thanh lọc, chắt chiu để có được mùi

Trang 10

hương ấy Gió đưa làn hương đi theo khắp nẻo, như để “thông báo” với đất

trời, với hồn người một tín hiệu vui: mùa thu đang tới! Chỉ bằng vài nét vẽ, nhà thơ đã nắm bắt, tái hiện được vẻ đẹp mơ hồ, tinh tế của khoảnh khắc giao mùa.”

Mô hình đoạn văn:

- Câu đầu (tổng): Nêu lên nhận định khái quát về khổ đầu bài “Sang thu”

của Hữu Thỉnh mang đến cho người đọc những tín hiệu riêng của mùa thu.

- Năm câu tiếp (phân): Phân tích để chứng minh những tín hiệu riêng đó.

- Câu cuối (hợp): Khẳng định, nâng cao: chỉ bằng vài nét vẽ, nhà thơ đã nắm bắt, tái hiện được vẻ đẹp mơ hồ, tinh tế của khoảnh khắc giao mùa.

c Viết Phần kết bài:

- Kết bài là phần đánh giá chung tác phẩm (nội dung, nghệ thuật) và rút ra bài học (hoặc mở rộng) Một kết bài thường có các yếu tố sau:

1 Tác giả, tác phẩm

2 Nội dung , nghệ thuật

Rút ra bài học (Tình cảm, Hành động…)

VD: Tiếng hát và ánh sang tràn ngập trong bài thơ chính là những sang tạo

nghệ thuật góp phần biểu đạt trọng vẹn tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm

“Đoàn thuyền đánh cá”

* Ngoài ra, chúng ta có thể nâng cao phần kết bài bằng biện pháp so sánh,

tương phản, câu hỏi tu từ…

Bước 8: Kiểm tra, đánh giá:

- Kiểm tra thường xuyên (sau mỗi buổi học) để củng cố kiến thức đồng thời

ra đề cụ thể để HS luyện tập, vận dụng kiến thức đã học vào bài viết, rèn kĩ năng viết văn

- GV nhận xét cụ thể, rõ ràng, khách quan những ưu điểm, khuyết điểm của từng bài viết

- Nêu ra hướng khắc phục, sửa chữa phù hợp cho từng khuyết điểm trong bài làm của HS

- Biểu dương, khuyến khích, động viên kịp thời để các em phát huy ưu điểm của bản thân

Ngày đăng: 24/04/2023, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w