1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính giá trị và tin cậy của thang đo utbas 6 phiên bản tiếng việt ở người lớn việt nam nói lắp

84 11 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Giá Trị Và Tin Cậy Của Thang Đo Utbas 6 Phiên Bản Tiếng Việt Ở Người Lớn Việt Nam Nói Lắp
Tác giả Trần Thị Bích Hạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đỗ Nguyên, PGS.TS. Sally Hewat, TS. Rachael Unicomb, TS. Laura Hoffman
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ Thuật Phục Hồi Chức Năng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thang đo với 66 câuhỏi cần nhiều thời gian để thực hiện, vì vậy, phiên bản rút gọn 6 câu UTBAS-6 đượcphát triển và đã được chứng minh qua nghiên cứu là một công cụ có giá trị

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học thạc sĩ Kỹ thuật phục hồi chức năng (Chuyên ngànhNgôn ngữ trị liệu) là nhờ sự giúp đỡ của những người rất quan trọng Em xin trântrọng gửi lời cảm ơn đến:

Dự án Phát triển đào tạo Ngôn ngữ trị liệu tại Việt Nam của Ủy ban Y tế HàLan - Việt Nam (MCNV), VietHealth và USAID đã tài trợ tài chính, hỗ trợ chuyênmôn, và điều phối toàn bộ khóa học

Thầy cô, đồng nghiệp và gia đình luôn động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóahọc

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Hạnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực vàtuân theo đúng yêu cầu của một nghiên cứu Nghiên cứu này chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

BẢNG ĐỐI CHIẾU TỪ CHUYÊN MÔN VIỆT-ANH v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH ẢNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Nói lắp 3

1.2 Dịch tễ học của nói lắp 5

1.3 Ảnh hưởng của nói lắp đến con người 7

1.4 Lo âu xã hội và nói lắp 9

1.5 Thang đo những Suy Nghĩ và Niềm Tin Vô Ích về Nói Lắp 10

1.6 Phương pháp nghiên cứu đánh giá tính giá trị và tin cậy của một công cụ đo lường 14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Thiết kế nghiên cứu 17

2.2 Đối tượng nghiên cứu 17

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

2.4 Thu thập dữ kiện 18

2.5 Xử lý dữ kiện 20

2.6 Phân tích dữ kiện 20

2.7 Đạo đức nghiên cứu 23

Chương 3 KẾT QUẢ 24

3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 24

3.2 Tạo phiên bản UTBAS-6 tiếng Việt 24

3.3 Tính giá trị của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt 40

3.4 Tính tin cậy của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt 45

Trang 6

Chương 4 BÀN LUẬN 47

4.1 Những đặc tính của mẫu nghiên cứu 47

4.2 Phiên bản UTBAS-6 tiếng Việt tuân thủ đúng quy trình chuyển ngữ 47

4.3 Tính giá trị của thang đo UTBAS-6 phiên bản tiếng Việt 48

4.4 Tính tin cậy của thang đo UTBAS-6 phiên bản tiếng Việt 51

4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 53

4.6 Những điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 53

KẾT LUẬN 55

KIẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết

tắt

Diễn giải

CI Cumulative incidence Tỉ lệ mới mắc tích lũy

CVI Content validity index Chỉ số giá trị nội dung

FNE The Fear of Negative Evaluation

scale

Thang đo Nỗi sợ đánh giá tiêucực

ICC Intraclass Correlation

ICF

International Classification ofFunctioning, Disability andHealth

Phân loại quốc tế về Hoạt độngchức năng, Khuyết tật và Sứckhỏe

S-CVI Scale-level CVI Chỉ số giá trị nội dung thang đo

S-CVI/Ave The average of CVI Trung bình của chỉ số giá trị nội

dung thang đo

S-CVI/UA The Universal Agreement

among experts of S-CVI

Mức đồng thuận chung củachuyên gia về chỉ số giá trị nộidung thang đo

STAI State-Trait Anxiety Inventory Thang tự đánh giá mức độ lo

UNFPA United Nations Fund for

Population Activities Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc

UTBAS Unhelpful Thoughts and Beliefs

Thang đo Những suy nghĩ vàniềm tin vô ích về nói lắp phiênbản rút gọn

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới

Trang 8

DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT-ANH

Hệ số kappa điều chỉnh Modified kappa statistic coeffient

Hệ số tương quan nội lớp Intraclass Correlation CoefficientNghiên cứu ngôn ngữ sớm ở Victoria Early Language Victoria Study

Thang đo biểu hiện lo âu trẻ em hiệu chỉnh Revised Children’s Manifest

Anxiety ScaleThang đo lo lắng Beck Beck Anxiety Inventory

Xác suất đồng thuận tình cờ Probability of chance agreement

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thang đo UTBAS-6

Bảng 1.2 Cách tính điểm UTBAS-6

Bảng 2.1 Giá trị kappa điều chỉnh

Bảng 2.2 Nguyên tắc thực hành để diễn giải hệ số tương quan

Bảng 2.3 Nguyên tắc thực hành để diễn giải hệ số tương quan nội lớp

Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (n = 34)

Bảng 3.2 Hai phiên bản tiếng Việt dịch xuôi từ thang đo UTBAS-6 gốc bằng tiếngAnh

Bảng 3.3 Phiên bản dịch xuôi tổng hợp V3

Bảng 3.4 Thang đo UTBAS-6 tiếng Việt phiên bản V4

Bảng 3.5 Hai phiên bản dịch ngược

Bảng 3.6 Phiên bản dịch ngược tổng hợp E3

Bảng 3.7 Phiên bản dịch ngược tiếng Anh sau khi điều chỉnh E4

Bảng 3.8 Giá trị nội dung của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt

Bảng 3.9 Giá trị bề mặt của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt (n=10)

Bảng 3.10 Giá trị hội tụ và giá trị phân tán của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt

Bảng 3.11 Tương quan giữa ba thang đo của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt (n=34)Bảng 3.12 Cronbach’s alpha của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt (n=34)

Bảng 3.13 Hệ số tương quan nội lớp của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt

Bảng 4.1 Cronbach’s alpha của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt và các nghiên cứukhác

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Nói lắp và mô hình Phân loại quốc tế về Hoạt động chức năng, Khuyết tật

và Sức khỏe (ICF)

Trang 11

MỞ ĐẦU

Nói lắp là một rối loạn lời nói làm giảm khả năng tương tác xã hội của ngườinói [24] Theo báo cáo của Yairi và cộng sự (2013) về nói lắp, kết quả tổng hợp từcác nghiên cứu được thực hiện ở châu Âu và Úc cho thấy tỉ lệ hiện mắc trung bìnhcủa nói lắp là khoảng 1% [72] Đến nay chưa có chứng cứ cho thấy sự khác nhau về

tỉ lệ hiện mắc nói lắp giữa các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau [46] Theo kết quảtổng điều tra dân số và nhà ở của quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), tổng dân sốViệt Nam năm 2019 là 96,208,984 người [61] Dựa theo tỉ lệ hiện mắc trung bìnhđược đồng thuận là 1%, tỉ lệ hiện mắc của nói lắp ở dân số Việt Nam là hơn 962,000người

Trong đa phần những người nói lắp, sự lo lắng liên quan đến lời nói trở thànhđặc điểm nổi bật và giảm hiệu quả giao tiếp [58] Điều này ảnh hưởng tiêu cực đếnchất lượng cuộc sống của họ, đặc biệt là chức năng xã hội và sức khỏe tâm thần củangười nói lắp [13] Đã có những nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa lo âu xã hội vànói lắp Trong đó, thang đo những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp (TheUnhelpful Thoughts and Beliefs about Stuttering scale - UTBAS) là một công cụ đolường những suy nghĩ và niềm tin vô ích liên quan đến lo âu xã hội mà có liên quanđến lời nói ở người lớn nói lắp [27], [58] Thang đo UTBAS có tổng cộng 3 thang đothành phần, 66 câu hỏi giống nhau cho 3 thang đo này có thể lượng giá đầy đủ nhữngsuy nghĩ và niềm tin tiêu cực liên quan đến nói lắp Tuy nhiên, thang đo với 66 câuhỏi cần nhiều thời gian để thực hiện, vì vậy, phiên bản rút gọn 6 câu (UTBAS-6) đượcphát triển và đã được chứng minh qua nghiên cứu là một công cụ có giá trị và tin cậy

để đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích kết hợp với lo âu xã hội liên quan đếnlời nói ở người lớn nói lắp [24]

Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về những suy nghĩ tiêu cực liên quanđến lời nói ở người lớn nói lắp Bên cạnh đó cũng chưa có một công cụ tiếng Việtnào đo lường lĩnh vực này Thang đo UTBAS-6 là một công cụ tiếng Anh, được xâydựng trong một bối cảnh văn hóa xã hội nói tiếng Anh, và đã có một số nghiên cứu

Trang 12

chuyển ngữ sang các ngôn ngữ khác như thang UTBAS-J ở Nhật [10] và thangUTBAS-TR ở Thổ Nhĩ Kỳ [3], nhưng hiện vẫn chưa có phiên bản tiếng Việt củathang đo này Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích chuyển ngữ thang đoUTBAS-6 sang tiếng Việt và đánh giá tính giá trị và tin cậy của thang đo UTBAS-6tiếng Việt trong đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ở người lớnViệt Nam nói lắp.

Câu hỏi nghiên cứu

Thang đo UTBAS-6 tiếng Việt có tính giá trị và tin cậy như thế nào trong đolường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ở người lớn Việt Nam nói lắp?

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tính giá trị và tính tin cậy của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt trong đolường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ở người lớn Việt Nam nói lắp

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Nói lắp

Nói lắp được định nghĩa là sự gián đoạn tính nhịp nhàng của chuỗi lời nói đượcđặc trưng bởi sự lặp lại hoặc kéo dài âm, âm tiết; hoặc bởi sự do dự hoặc tạm dừngkhi nói [68]

1.1.1 Nguyên nhân

Nói lắp được phân loại thành hai dạng là nói lắp mắc phải và nói lắp phát triển[46] Nói lắp mắc phải là đề cập đến nói lắp gây ra bởi những nguyên nhân cụ thể.Nói lắp thần kinh gây ra bởi bệnh lý, các tổn thương não hoặc các bệnh thoái hóa thầnkinh khác Nói lắp tâm lý bắt nguồn từ một sang chấn tâm lý hoặc cảm xúc Nói lắp

do thuốc xảy ra do tác phụ của thuốc [63]

Nói lắp phát triển là hình thức phổ biến nhất và cũng là đối tượng của nghiêncứu này Nguyên nhân của nói lắp phát triển chưa được biết đến rõ ràng Đã có nhiềubằng chứng cho thấy tác động của yếu tố sinh học đến tình trạng nói lắp phát triển

Cụ thể, các yếu tố di truyền đã được chứng minh là có mối liên quan đến nói lắp pháttriển [72] Nhiều nghiên cứu ở người sinh đôi cho thấy mức độ tương thích ở nhữngcặp sinh đôi cùng trứng cao hơn những cặp sinh đôi khác trứng [16], [47], [49] Ngoài

ra, các nghiên cứu đã cho thấy sự đột biến ở bốn gen (GNPTAB, GNPTG, NAGPA,AP4E1) có liên quan đến những trường hợp nói lắp kéo dài suốt đời [19]

Một số nghiên cứu gần đây tập trung vào yếu tố sinh học Qua các nghiên cứunày cho thấy rằng tác động của di truyền đối với nói lắp là rất phức tạp Bên cạnhgen, còn có nhiều yếu tố khác kết hợp tương tác cùng nhau Nhiều nghiên cứu đã chỉ

ra rằng có những bất thường trong cấu trúc và chức năng ở những vùng não chịu tráchnhiệm cho ngôn ngữ nói ở trẻ em và người lớn nói lắp [46] Dường như những bấtthường này liên quan đến quá trình xử lý vận động tạo lời nói [65] Các nghiên cứuhình ảnh thần kinh cũng cho thấy những bất thường lan tỏa trong cấu trúc và chứcnăng các vùng não của trẻ em và người lớn [5], [18], [43] Đã có những báo cáo về

sự suy giảm tính toàn vẹn của chất trắng và những thay đổi hình thái ảnh hưởng đến

Trang 14

con đường ngôn ngữ - lời nói trong não [9] Sự khác biệt về cấu trúc của chất xám ởngười lớn [40], [44], [56] cũng như là ở trẻ em [20], [32] đã được ghi nhận Rõ ràngrằng một yếu tố đơn độc là không đủ để gây ra nói lắp Cho đến thời điểm hiện tại,nguyên nhân của nói lắp vẫn chưa được biết nhưng có mối liên quan giữa nói lắp vàcác yếu tố đã đề cập ở trên [46].

1.1.2 Phân loại nói lắp

Dựa vào hành vi lắp quan sát được, nói lắp được phân thành ba nhóm lớn: cửđộng lặp lại, tư thế cố định và hành vi dư thừa [46]

• Trọng tâm của cử động lặp lại là âm tiết Có ba dạng lắp thuộc nhóm này:

- Lặp âm tiết là sự lặp lại toàn bộ một âm tiết Ví dụ: “tôi – tôi – tôi – tôi”.

- Lặp một phần âm tiết khi người nói chỉ lặp lại một phần trong âm tiết Ví

dụ: “t – t – t – tôi”

- Lặp nhiều âm tiết khi nhiều hơn một âm tiết bị lặp lại Ví dụ: “tôi đang – tôi

đang – tôi đang nghĩ”

• Tư thế cố định mô tả hành vi lắp xảy ra khi các cấu trúc của hệ tạo âm bất độngtrong khi một người đang nói Các cấu trúc này là miệng, hàm và môi Đôi khi

sự bất động này diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn nhưng đôi khi nó kéodài sẽ làm gián đoạn sự giao tiếp Những tư thế cố định có thể có hoặc không đikèm luồng hơi nghe được

- Tư thế cố định với luồng hơi nghe được (còn được gọi là sự kéo dài) bao

gồm chủ yếu âm thanh đến từ sự tạo âm Tư thế cố định với luồng hơi ngheđược còn được gọi là “sự phát âm kéo dài” bởi vì dường như người nói đangkéo dài một âm Ví dụ: “aaaaaaaanh”

- Tư thế cố định với luồng hơi không nghe được (còn được gọi là sự tắc nghẽn)

khi luồng hơi không tạo âm thanh Tư thế cố định với luồng hơi không ngheđược còn được gọi là “sự tắc nghẽn” bởi vì điều này tạo ấn tượng rằng mộtthứ gì đó đang chặn lời nói Ví dụ: “h -oa”

• Hành vi dư thừa là những yếu tố không tạo nên nghĩa cho lời nói được nói ra.Chúng có thể có lời hoặc không lời

Trang 15

- Hành vi dư thừa có lời là những âm xen kẽ trong lời nói như “ah – oh - um”.

- Hành vi dư thừa không lời bao gồm mím môi, há miệng, nín thở, chớp mắt,

nhướn chân mày, nhăn nhó, cử động của mặt, đầu và thân mình, rên rỉ, nhữngtiếng ồn không phù hợp khác và sự dao động bất thường về cao độ và độ lớn.Nói lắp là một rối loạn mang tính cá thể riêng biệt nên sẽ hiếm khi thấy haingười nói lắp có cùng các hành vi dư thừa không lời

Một hoặc nhiều hoặc thậm chí cả bảy dạng hành vi lắp có thể cùng xuất hiệntrong một khoảnh khắc nói lắp Ví dụ: khoảnh khắc nói lắp là cử động lặp lại có thểbao gồm lặp lại âm tiết và lặp lại một phần âm tiết “t – t – t – tôi – tôi – tôi”

1.2 Dịch tễ học của nói lắp

1.2.1 Khởi phát nói lắp

Từ những nghiên cứu phỏng vấn cha mẹ của những trẻ nói lắp, các nhà nghiêncứu đều thống nhất rằng nói lắp thường khởi phát trong những năm đầu thời thơ ấu[46] Tuổi trung bình khởi phát của nói lắp là 3 tuổi [2], [51], [69]

Nói lắp có thể xuất hiện đột ngột sau một khoảng thời gian nói bình thường.Một nghiên cứu cho thấy 49,6% trẻ biểu hiện nói lắp trong 1-3 ngày [51] Cử độnglặp lại là nhóm thường gặp nhất của khởi phát nói lắp [46] Kết quả này tương tự vớicác kết quả nghiên cứu trước đây khi thống kê được ba dạng phổ biến nhất khi khởiphát nói lắp lần lượt là lặp lại một phần âm tiết, lặp lại một từ đơn âm tiết và xáo trộn

sự tạo âm [1], [71] Ngoài ra, các dạng khác của tư thế cố định và hành vi dư thừacũng được tìm thấy ở trẻ nói lắp [11]

1.2.2 Tỉ lệ mới mắc tích lũy

Tỉ lệ mới mắc tích lũy (CI) là một đo lường cho sự xuất hiện của một bệnh lýhoặc tình trạng sức khỏe trong một khoảng thời gian cụ thể [64]

Số trường hợp bệnh mới trong một khoảng thời gian cụ thể

Số người không mắc bệnh trong dân số nguy cơ

từ khi bắt đầu nghiên cứ

Cho đến thời điểm hiện tại, tỉ lệ mới mắc của nói lắp được cho là khoảng 5%của một đời người [38] Tuy nhiên, tỉ lệ này có thể cao hơn trong thực tế [72] Trong

Trang 16

nghiên cứu ngôn ngữ sớm ở Victoria, các tác giả báo cáo tỉ lệ mới mắc của nói lắp ởtrẻ trước 3 tuổi là 8,5% [51] Sau một năm, nhóm tác giả báo cáo tỉ lệ mới mắc là11,2% ở trẻ dưới 4 tuổi [50] Trong nghiên cứu Bornholm, tỉ lệ mới mắc ở trẻ được

3 tuổi, 8 tuổi và 12 tuổi lần lượt là 5,0%, 5,2% và 5,2% [36] Tuy nhiên, nghiên cứunày thống kê tỉ lệ mới mắc lần đầu khi trẻ được 3 tuổi nên số trẻ nói lắp trước đó cóthể đã bị bỏ qua Số liệu giữa các nghiên cứu có sự khác biệt có thể do các nhà nghiêncứu đã sử dụng các phương pháp thu thập dữ kiện khác nhau và/hoặc các định nghĩakhác nhau về nói lắp

Tỉ lệ nói lắp ở nam cao hơn nữ Ở trẻ nhỏ dưới 4 tuổi, tỉ lệ này là 2:1 hoặc thấphơn Khi càng lớn tuổi thì tỉ lệ này càng cao, tỉ lệ này có thể là 4:1 hoặc 5:1, có nghĩa

là nam mắc nói lắp cao gấp 4-5 lần so với nữ [70]

1.2.3 Tỉ lệ bệnh hiện mắc

Tỉ lệ bệnh hiện mắc (P) là tỉ lệ người trong dân số mắc một bệnh hoặc có mộtthuộc tính cụ thể tại một thời điểm xác định hoặc trong một khoảng thời gian cụ thể[64]

Số trường hợp có bệnh hoặc tình trạng cụ thể tại mộtthời điểm xác định hoặc trong một khoảng thời gian cụ thể

Số người trong dân số nguy cơ tại thời điểm cụ thể

Tỉ lệ hiện mắc của nói lắp rất khác nhau và tùy thuộc vào độ tuổi khảo sát Tỉ lệhiện mắc trung bình được thống nhất là 1% Tuy nhiên, cần lưu ý là hầu hết nói lắpxảy ra trong giai đoạn sớm thời thơ ấu nhưng hồi phục sau 3-4 năm kể từ khi khởiphát Do đó, tỉ lệ hiện mắc cao đáng kể khi trẻ dưới 6 tuổi và giảm dần theo độ tuổi[72]

Một số nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu mối liên quan giữa tỉ lệ hiệnmắc nói lắp và sự khác biệt văn hóa, ngôn ngữ cũng như là điều kiện kinh tế xã hội.Tuy nhiên, kết quả giữa các nghiên cứu có sự đối lập nên cần có thêm nhiều nghiêncứu hơn trong tương lai [72]

Trong khi có nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự thống nhất về số lượng trẻ emphục hồi tự nhiên mà không cần can thiệp là rất đáng kể [72], nhiều trẻ em không có

Trang 17

hồi phục nên phải sống cùng với tình trạng nói lắp Điều này dẫn đến những tác độngtrên nhiều khía cạnh trong cuộc sống của họ [73].

1.3 Ảnh hưởng của nói lắp đến con người

Những người nói lắp có những trải nghiệm từ những hệ quả của nói lắp [73]

Đó là những trải nghiệm khó khăn trong các tình huống giao tiếp xã hội, mức độ hàilòng với cuộc sống, khả năng đạt được mục tiêu trong cuộc sống [74] Những trảinghiệm này do sự tương tác lẫn nhau giữa các khía cạnh của mô hình Phân loại quốc

tế về Hoạt động chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) được phát triển bởi Tổ chức

Y tế thế giới (WHO) năm 2001 [66] Mô hình ICF mô tả trải nghiệm của người nóilắp thông qua sự gián đoạn lời nói quan sát được (khiếm khuyết), khó khăn giao tiếptrong cuộc sống hàng ngày (giới hạn hoạt động), ảnh hưởng của nói lắp đến chấtlượng cuộc sống (hạn chế sự tham gia) và sự tác động của các yếu tố hoàn cảnh (yếu

tố cá nhân và yếu tố môi trường) [75]

Activity Limitation Participation Restriction

Personal Factors / Reactions

Environmental Factors

Impairment

in Body Function

(Observable Stuttering Behaviors)

Presumed

Etiology

Affective

Cognitive Behavioral

Hình 1.1 Nói lắp và mô hình Phân loại quốc tế về Hoạt động chức năng, Khuyết tật

và Sức khỏe (ICF) (“Nguồn: Yaruss J.S, 2004”[75])

1.3.1 Ảnh hưởng đến lời nói

Thứ nhất, một trong những tác động rõ ràng nhưng thường không được quan

tâm của nói lắp là sự giảm số lượng từ được nói ra Trong cùng một khoảng thời gian,

người nói lắp nói ra ít từ hơn người bình thường hoặc mất nhiều thời gian hơn để nói

(hành vi lắp quan sát được)

Các yếu tố/phản ứng cá nhân

Cảm xúc

Các yếu tố môi trường

Giới hạn hoạt động Hạn chế sự tham gia

Hành vi Nhận thức

Trang 18

ra cùng số lượng từ hoặc bao gồm cả hai [46] Một nghiên cứu được thực hiện nhằm

so sánh số lượng từ được nói ra trong vòng năm phút ở một nhóm người nói lắp vàmột nhóm đối chứng Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy số lượng từ trung bìnhđược nói ra ở nhóm người nói lắp là 584 từ, trong khi đó số lượng từ trung bình ởnhóm đối chứng là 867 từ Điều này cho thấy số lượng từ được nói ra ở nhóm ngườinói lắp đã giảm 1/3 so với nhóm người không có nói lắp [57]

Thứ hai, người nói lắp thường sử dụng chiến lược tránh né từ nhằm hạn chế

một số tình huống nói lắp mà họ có thể dự đoán trước [28] Tuy nhiên, họ không thểtránh né hết tất cả các từ Ví dụ: những từ cần thiết khi giao tiếp như tên, địa chỉ hay

số điện thoại

Ngoài ra, người nói lắp hạn chế sử dụng ngữ pháp phức tạp trong lời nói của họ

[46] Nghiên cứu của Packman và cộng sự năm 2001 đã chứng minh nhóm người nóilắp ít sử dụng các mệnh đề phức tạp hơn so với nhóm đối chứng [57]

1.3.2 Ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống xuyên suốt cuộc đời

Nói lắp ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của một người [12],[31], [74] Tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của tình trạng nói lắp và tính cách củamột người mà có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống xuyên suốtcuộc đời của họ Mối liên hệ giữa rối loạn sự lưu loát lời nói và tình trạng khỏe mạnhdường như đã bắt đầu từ thời thơ ấu [14]

• Tác động đối với trẻ em

Trẻ em nói lắp có nguy cơ bị bắt nạt nhiều hơn trẻ không có nói lắp [34] Trẻ ở

độ tuổi 11-12 có nói lắp thì có nguy cơ bị bắt nạt khoảng 61% so với 22% ở nhómđối chứng [6] 59% trong 27 trẻ nói lắp trong độ tuổi từ 7-15 tuổi báo cáo bị bắt nạtbởi nói lắp [34] Báo cáo hồi cứu ở người lớn cũng cho kết quả tương tự Khoảng83% người lớn trong nghiên cứu báo cáo bị bắt nạt ở trường [22], [41] 84% ngườitrưởng thành nói lắp báo cáo khó kết bạn ở giai đoạn sau của cuộc sống vì vấn đề bắtnạt lúc đi học [41] Các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng được báo cáo ở những trẻ emtuổi tiền học đường 28% trẻ nói lắp có điểm số lo âu cao hơn đáng kể 6% trẻ nhómchứng khi đo theo Thang đo biểu hiện lo âu trẻ em hiệu chỉnh [6]

Trang 19

• Tác động đối với người vị thành niên và người lớn

Những người trẻ tuổi nói lắp đã báo cáo về những trải nghiệm xã hội tiêu cực

và thái độ tiêu cực trong giao tiếp có thể dẫn đến tăng nguy cơ lo âu [55] Ở khía cạnhgiáo dục, một nghiên cứu tổng hợp từ 13 nghiên cứu kết luận không có cơ sở để chorằng người nói lắp kém thông minh hơn khiến họ gặp các vấn đề học tập [46] Tuynhiên, một nghiên cứu khác cho thấy sự tương quan nghịch giữa độ nặng của nói lắp

và sự đạt được kết quả giáo dục [45] Nhưng đối tượng ở nghiên cứu này là nhữngngười nói lắp nặng nên chưa đủ để khẳng định nói lắp có tác động tiêu cực đến kếtquả trong giáo dục cũng như trong nghề nghiệp Nói lắp ảnh hưởng đến việc đưa raquyết định của họ [37]

Ở khía cạnh nghề nghiệp, người nói lắp thường tránh lựa chọn những nghềnghiệp có địa vị kinh tế xã hội cao vì yêu cầu khả năng giao tiếp tốt bằng lời nói [37].Thay vào đó, người nói lắp có khuynh hướng chọn nghề nghiệp ít phải sử dụng lờinói [8] 70% trong 232 người lớn nói lắp báo cáo rằng nói lắp làm giảm cơ hội việclàm hay thăng tiến trong sự nghiệp, 20% người nói lắp từ chối công việc hay sự thăngchức bởi vì nói lắp của họ [30] Những nhà tuyển dụng cũng báo cáo những ngườinói lắp thua kém hơn những người khác trong ứng tuyển việc làm và thăng tiến trong

âu toàn thể cao hơn 4,5 lần, khả năng mắc rối loạn khí sắc cao hơn 2,1 lần, khả năngmắc trầm cảm nặng cao hơn 1,9 lần và khả năng mắc rối loạn nhân cách bất kỳ dạngnào cao hơn 3,0 lần [25], [26], [46]

1.4 Lo âu xã hội và nói lắp

Rối loạn lo âu xã hội (ám ảnh xã hội) là nỗi sợ sự quan sát và đánh giá của ngườikhác dẫn đến né tránh các tình huống xã hội [67] Đối với người lớn nói lắp có rối

Trang 20

loạn lo âu xã hội, thành phần nhận thức bao gồm những suy nghĩ và niềm tin vô íchliên quan đến các kích thích kích hoạt sự lo lắng, đó là mối đe dọa từ đánh giá tiêucực của người khác; niềm tin cho rằng người khác đánh giá tiêu cực về nói lắp và sựđánh giá của người khác rất là quan trọng [58].

Khi người lớn nói lắp có mức độ lo âu đáng kể cần có sự can thiệp chuyên sâu

từ nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần Vì vậy, chuyên viên Ngôn ngữ trị liệu cần tầmsoát những người có rối loạn lo âu xã hội liên quan đến nói lắp Có một số công cụ

đo lường rối loạn lo âu xã hội ở người lớn nói lắp được sử dụng bởi những chuyênviên Ngôn ngữ trị liệu, đó là thang đo Nỗi sợ đánh giá tiêu cực (FNE), thang đo đơn

vị lo lắng chủ quan (SUDS), và thang đo những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nóilắp (UTBAS) [46] Thang đo UTBAS là trọng tâm của nghiên cứu này và được đượcthảo luận chi tiết hơn dưới đây

1.5 Thang đo những Suy nghĩ và Niềm tin vô ích về nói lắp

Những nghiên cứu về vai trò của lo âu xã hội trong nói lắp sử dụng các đo lường

lo âu xã hội được phát triển để lượng giá rối loạn lo âu xã hội mà không có liên quanđến nói lắp Trong khi đó, rối loạn lo âu xã hội có thể không liên quan đến lời nóihoặc giao tiếp Do đó, các công cụ lượng giá lo âu xã hội bao gồm nhiều mục đểlượng giá lo lắng không liên quan đến lời nói Điều này khiến các công cụ này không

có độ nhạy với lo lắng liên quan đến lời nói tiêu biểu ở người lớn nói lắp [58].Nghiên cứu của St Clare và cộng sự ở người nói lắp tại Úc năm 2009 cho thấythang UTBAS là công cụ đầy hứa hẹn để đo lường lo âu xã hội liên quan đến lời nói

ở người lớn nói lắp [58] Thang đo UTBAS là một công cụ tự đánh giá bao gồm 3thang đo thành phần, 66 câu hỏi giống nhau cho mỗi thang đo thành phần Người lớnnói lắp tự cho điểm các câu theo thang 5 điểm Chuyên viên Ngôn ngữ trị liệu sửdụng công cụ này nhằm lượng giá trước và sau can thiệp cũng như là nghĩ đến việcđưa trị liệu nhận thức - hành vi vào chương trình điều trị

Nghiên cứu của Iverach và cộng sự (2011) đã thiết lập được tính giá trị và ứngdụng của thang đo UTBAS trong việc lượng giá những nhận thức tiêu cực đi kèm với

lo lắng liên quan đến lời nói ở người lớn nói lắp tại Úc [27] Thang UTBAS có thể

Trang 21

được sử dụng để sàng lọc các dấu hiệu của rối loạn lo âu xã hội ở người lớn nói lắp.Thang UTBAS đánh giá ba lĩnh vực: tần suất xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực (gọitắt là Tần Suất), niềm tin vào những suy nghĩ tiêu cực này (gọi tắt là Niềm Tin) vàmức độ lo lắng mà những suy nghĩ này mang lại (gọi tắt là Lo Lắng).

Thang UTBAS đã được chuẩn hóa sang một số ngôn ngữ khác, trong đó hainghiên cứu mới nhất đã chuẩn hóa thang UTBAS sang tiếng Nhật (UTBAS-J) [10]

và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (UTBAS-TR) [3] Kết quả từ hai nghiên cứu trên cho thấy thangUTBAS-J, UTBAS-TR có tính giá trị và tính tin cậy trong việc lượng giá những suynghĩ và niềm tin vô ích liên quan đến nói lắp ở những ngôn ngữ khác nhau [3], [10].Thang UTBAS nguyên thủy gồm 66 câu, đo lường một cách toàn diện về nhữngsuy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp, nhưng việc hoàn thành một thang đo 66 câuphải mất nhiều thời gian Vì vậy, Iverach và cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứunhằm phát triển một thang đo UTBAS rút gọn để sử dụng trong bối cảnh lâm sàng[24] Thang đo những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp phiên bản rút gọn(UTBAS-6) có sự tương quan cao với thang đo những suy nghĩ và niềm tin vô ích vềnói lắp bản đầy đủ Vì vậy, thang đo UTBAS-6 đã được chứng minh là một công cụđáng tin cậy và hiệu quả trong việc sàng lọc những suy nghĩ và niềm tin vô ích đikèm với lo lắng liên quan đến lời nói ở người lớn nói lắp [24]

Thang đo UTBAS-6 gồm 6 câu hỏi nhằm lượng giá những suy nghĩ tiêu cực vềnói lắp Với mỗi câu hỏi, người nói lắp trả lời theo thang 5 điểm (1 = không bao giờhoặc không hề, 2 = hiếm khi hoặc rất ít, 3 = thỉnh thoảng hoặc một chút, 4 = thườngxuyên hoặc nhiều, 5 = luôn luôn hoặc hoàn toàn) cho ba nội dung:

- Tần suất xuất hiện những suy nghĩ này.

- Mức độ niềm tin vào những suy nghĩ này.

- Mức độ lo lắng mà những suy nghĩ này mang lại.

Như vậy, thang đo UTBAS-6 gồm 6 câu hỏi, và có thể được xem như có bathang đo thành phần, tất cả các thang đo thành phần hoàn toàn giống nhau về cấutrúc, số lượng câu hỏi, và nội dung của từng câu hỏi, nhưng mỗi thang đo thành phần

đo lường một nội dung tương ứng với từng suy nghĩ của người nói lắp, đó là số lần

Trang 22

xuất hiện suy nghĩ (thang Tần Suất), mức độ tin tưởng vào suy nghĩ (thang NiềmTin), và mức độ lo lắng về những suy nghĩ đó (thang Lo Lắng) Bảng 1.1 sau đâyminh họa thang UTBAS-6 với từng thang đo thành phần, các câu hỏi (nguyên bảntiếng Anh), và bảng 1.2 trình bày cách tính điểm UTBAS-6 với các câu trả lời đượctổng hợp điểm trong khoảng 18-90 và được chia theo thập phân vị Khi điểm sốUTBAS-6 lớn hơn hoặc bằng thập phân vị 5, người lớn nói lắp cần được giới thiệuđến nhà tâm lý Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi tổng điểm UTBAS-6 dướithập phân vị 5 thì loại trừ được vấn đề lo âu Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh việcquyết định chuyển người nói lắp đến nhà tâm lý phụ thuộc vào sự kết hợp từ kết quảthang đo UTBAS-6 với các lượng giá và phán xét lâm sàng khác [24].

Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về những suy nghĩ và niềm tin vô ích

về nói lắp ở người lớn tại Việt Nam Để có thể thực hiện những nghiên cứu như thếcần có một công cụ đo lường bằng tiếng Việt, và công cụ này cũng chưa có

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tính giá trị và tin cậy của thang đoUTBAS-6 tiếng Việt trong đo lường những suy nghĩ và niềm tin vô ích về nói lắp ởngười lớn Việt Nam nói lắp

Trang 23

Bảng 1.1 Thang đo UTBAS-6 (“Nguồn: Iverach L., 2016” [24] )

Using the following scale, please read each item below and circle the number whichmost accurately describes you in terms of: (1) how FREQUENTLY you have thesethoughts, (2) how much you BELIEVE these thoughts, (3) how ANXIOUS thesethoughts make you feel

1 = never or not at all

I have thesethoughts

How much

I BELIEVEthesethoughts

HowANXIOUSthesethoughtsmake me feel

1 I’ll never be successful because of

my stutter 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

2 People will think I’m incompetent

because I stutter 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

3 People will think I’m strange 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

4 I don’t want to go - people won’t

5 What’s the point of even trying to

speak - it never comes out right 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

6 I’ll never finish explaining my point

- they’ll misunderstand me 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

Bảng 1.2 Cách tính điểm UTBAS-6 (“Nguồn: Iverach L., 2016” [24] )

Thập phân vị

Thang Tần

Suất

Niềm Tin

Lo Lắng

Tổng UTBAS-6

Trang 24

1.6 Phương pháp nghiên cứu đánh giá tính giá trị và tin cậy của một công cụ đo lường 1.6.1 Chuyển ngữ thang đo UTBAS-6 sang tiếng Việt

Khi muốn sử dụng một công cụ đo lường được phát triển ở những nước nóitiếng Anh, bước đầu tiên là chuyển ngữ công cụ đó sang tiếng Việt để đạt được sựtương đồng giữa bản gốc và phiên bản ở ngôn ngữ đích của thang đo UTBAS-6 Cácmục không chỉ được dịch tốt về mặt ngôn ngữ mà còn phải được điều chỉnh phù hợp

về văn hóa để duy trì giá trị nội dung của công cụ ở cấp độ khái niệm qua những nềnvăn hóa khác nhau theo khuyến nghị của Beaton (2000) [4] Tác giả đề xuất quá trìnhdịch và chuyển ngữ gồm năm giai đoạn: dịch xuôi, tổng hợp dịch xuôi, dịch ngược,đánh giá của hội đồng chuyên gia và nghiên cứu để kiểm tra phiên bản được dịch.Quá trình dịch và chuyển ngữ thang đo UTBAS-6 từ tiếng Anh sang tiếng Việt tuântheo các bước đã đề cập ở trên Các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Một giáo viên tiếng Anh (cử nhân Anh văn) và một giảng viên Kỹ thuật

phục hồi chức năng (IELTS 7.0) dịch độc lập thang đo UTBAS-6 từ tiếng Anh sangtiếng Việt Đây là bước dịch xuôi tạo ra hai phiên bản tiếng Việt V1 và V2 của thang

đo UTBAS-6

Bước 2: Lấy hai bản dịch xuôi xem xét kỹ lại cùng người dịch nếu có sai sót thì

chỉnh sửa tổng hợp thành một bản dịch tổng hợp tiếng Việt V3

Bước 3: Dùng bản dịch tổng hợp V3 đưa cho hai du học sinh người Việt Nam

ở Phần Lan và Anh dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh ra bản E1 và E2 Hai người dịchnày chưa từng thấy qua bản gốc Bước này còn gọi là bước dịch ngược

Bước 4: Từ hai bản dịch ngược này tổng hợp thành một bản E3 Gửi bản dịch

ngược này đến các chuyên gia trong lĩnh vực Ngôn ngữ trị liệu (là những nhà Ngônngữ trị liệu Việt Nam và nước ngoài) so sánh đối chiếu bản dịch với bản gốc, chỉnhsửa và thảo luận những điểm khác biệt và đảm bảo dịch thuật phù hợp về văn hóa vàngôn ngữ Việt Nam [60]

Bước 5: Lấy bản hoàn thiện nhất để nghiên cứu và chọn ra phiên bản

UTBAS-6 tiếng Việt chung cuộc

1.6.2 Tính giá trị

Trang 25

Bước dịch thuật nhằm giúp bản dịch so với bản gốc có tính đồng nhất về nộidung một cách tốt nhất Tuy nhiên nó không chắc rằng bản dịch đo lường được cáckhái niệm như bản gốc Nguyên nhân vấn đề này là do sự khác biệt văn hóa và ngônngữ Do vậy, cần đánh giá tính giá trị và tính tin cậy của thang đo trong ngôn ngữmới trước khi muốn sử dụng bản dịch này [15].

Tính giá trị: là mức độ mà một công cụ đo lường được những gì mà nó muốn

đo Giá trị của bộ câu hỏi thang đo UTBAS-6 tiếng Việt gồm 3 loại: giá trị nội dung,giá trị bề mặt, giá trị ý niệm

Giá trị nội dung: mức độ mà thang đo bao phủ được các đặc điểm của hiện

tượng đang được nghiên cứu Giá trị nội dung của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt đượcxác định dựa trên sự đồng thuận của chuyên gia bằng cách sử dụng chỉ số giá trị nộidung (CVI) Có hai loại CVI: Chỉ số giá trị nội dung của câu (I-CVI) và chỉ số giá trịnội dung thang đo (S-CVI) [35], [76] Các chuyên gia được yêu cầu đánh giá mức độ

“Sự liên quan” và “Rõ ràng” của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt theo thang Likert 4điểm (1 = Không thể sử dụng, không liên quan/rõ ràng, 2 = Không thể sử dụng, mụccần một số chỉnh sửa, 3 = Khá liên quan/rõ ràng, có thể sử dụng với một số chỉnh sửanhỏ, 4 = Rất liên quan/rõ ràng) Các chỉ số CVI được tính toán từ những đánh giá củachuyên gia Mặc dù các nhà nghiên cứu thường xuyên sử dụng chỉ số CVI để tính giátrị nội dung, chỉ số này không xem xét đến khả năng giá trị bị thổi phồng do sự đồngthuận tình cờ Vì vậy, thống kê kappa nhiều người đánh giá được thêm vào nghiêncứu tính giá trị nội dung bởi vì, không giống như CVI, nó điều chỉnh cho đồng thuậntình cờ Sự đồng thuận tình cờ là một vấn đề cần quan tâm trong khi nghiên cứu cácchỉ số đồng thuận giữa các chuyên gia đánh giá, đặc biệt khi chúng ta sử dụng cách tínhđiểm bốn mức độ trong đó hai mức là có liên quan và hai mức là không có liên quan [76]

Giá trị bề mặt: mức độ mà một thang đo được xem là bao phủ được các khái

niệm mà thang đo đó được tạo ra để đo lường Giá trị bề mặt do người không chuyên

về phương pháp đánh giá thang đo Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu làngười đánh giá giá trị bề mặt Đánh giá dựa trên những thành phần giá trị nội dung ítmang tính kỹ thuật mà phần nhiều là giá trị “bề mặt/bên ngoài” [54]

Trang 26

Giá trị ý niệm: là mức độ mà một thang đo đo lường được những lý thuyết liên

quan đến hiện tượng đang được nghiên cứu Giá trị này được đánh giá thông qua giá

trị hội tụ và giá trị phân tán của từng thang đo thành phần Tần Suất, Niềm Tin, Lo

Lắng và thang đo chung Giá trị này còn được đánh giá thông qua mối tương quangiữa ba thang đo thành phần

Giá trị hội tụ và giá trị phân tán kiểm định liệu những câu hỏi trong bảng câuhỏi có đo lường những cấu trúc được thiết kế để đo lường hay không Giá trị hội tụkiểm định xem điểm của một câu hỏi có tương quan tốt với điểm tính được từ nhữngcâu hỏi trong cùng khái niệm hay không Giá trị phân tán kiểm định xem điểm củamột câu hỏi có tương quan kém với những điểm được tính trong những khái niệmkhác hay không [48]

Giá trị tiêu chí: là mức độ một công cụ đo lường tương quan với một đo lường

khác đã được khẳng định là tiêu chuẩn Hiện nay chưa có thang đo tiếng Việt nào vềnhững nhận thức tiêu cực ở người Việt Nam nói lắp được chấp nhận là “tiêu chuẩnvàng” Do đó nghiên cứu này không đánh giá giá trị tiêu chí

1.6.3 Tính tin cậy

Tính tin cậy của thang đo được đánh giá qua:

Tính thống nhất nội bộ: Tính thống nhất nội bộ mô tả mức độ mà tất cả các

mục trong thang đo đo lường cùng một khái niệm hay cấu trúc và do đó, nó được liênkết với mối liên hệ giữa các câu hỏi trong thang đo Tính thống nhất nội bộ thườngđược tính bằng hệ số Cronbach alpha Nó được biểu thị bằng con số trong khoảng từ

0 đến 1 Nếu các câu hỏi có mối tương quan với nhau, giá trị alpha sẽ tăng lên Hệ sốCronbach alpha >0,7 được chấp nhận là có tính thống nhất nội bộ [59]

Tính tin cậy đo-đo lại: là mức độ mà một công cụ cho điểm số ổn định theo

thời gian Hay nói cách khác, dữ kiện thu thập trên cùng một đối tượng vào hai thờiđiểm khác nhau có mối liên quan với nhau Khi số liệu hai lần tương tự nhau thì thang

đo có tính tin cậy cao Trong nghiên cứu này tính tin cậy đo-đo lại được đánh giáthông qua hệ số tương quan nội lớp (ICC), được trình bày trong phần phân tích dữkiện

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế cắt ngang mô tả

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Theo khuyến nghị, một nghiên cứu đánh giá tính giá trị và tin cậy của một thang

đo cần một cỡ mẫu gấp 5-10 lần số câu hỏi của thang đo [17], [60] Thang đo

UTBAS-6 tiếng Việt có UTBAS-6 câu hỏi nên cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 30 người Thực

tế, có 34 người đáp ứng đủ tiêu chí đưa vào

2.2.4 Kỹ thuật chọn mẫu

Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện và chọn mẫu quả bóngtuyết bởi vì người nói lắp thường có tâm lý tránh né nên hai cách chọn mẫu trên làphù hợp Chọn mẫu thuận tiện là phương pháp chọn mẫu dựa trên những đối tượngsẵn có dễ tiếp cận và thuận tiện cho nghiên cứu [29] Chọn mẫu quả bóng tuyết làphương pháp chọn mẫu áp dụng cho các nghiên cứu về các quần thể nghiên cứu khótiếp cận [53] Những người biết đến nghiên cứu sẽ giới thiệu người nói lắp mà họ biếtvào nghiên cứu và người trước sẽ tiếp tục giới thiệu người sau

Nguồn ban đầu để tuyển đối tượng nghiên cứu là nhóm Echo Việt Nam EchoViệt Nam ban đầu là một nhóm bao gồm một vài thành viên nói lắp Sau đó nhómthành lập trang facebook vào năm 2010 để kết nối nhiều hơn với cộng đồng ngườinói lắp và nhận tư vấn phương pháp tập luyện khoa học Nhóm có những buổi tậpluyện hàng tuần cùng nhau để cải thiện tình trạng nói lắp của họ Nghiên cứu này

Trang 28

tuyển chọn những người nói lắp trong nhóm Echo đồng ý tham gia nghiên cứu Sau

đó, đề nghị những người này giới thiệu nghiên cứu này đến những người nói lắp khác

2.2.5 Tiêu chí chọn mẫu

• Tiêu chí đưa vào

- Người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên nói lắp phát triển, có khả năng đọc và viếttiếng Việt

- Nói lắp được chẩn đoán đồng thuận giữa đối tượng nghiên cứu và chuyên viênNgôn ngữ trị liệu (Người nói lắp được xác định có nói lắp dựa trên 7 hành vilắp theo phân loại đã đề cập, không xét đến mức độ nói lắp hay có từng điềutrị trước đây hay không)

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

• Tiêu chí loại ra

- Nói lắp mắc phải (nói lắp thần kinh, nói lắp tâm lý)

- Người Việt Nam sống ở nước ngoài trên 12 tháng kể từ khi rời Việt Nam vìnghiên cứu này nhằm tìm hiểu về những trải nghiệm của người lớn nói lắptrong môi trường, văn hóa và ngôn ngữ cụ thể tại Việt Nam Việc thay đổinhững yếu tố này có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu nếu người ViệtNam có khoảng thời gian dài sống ở nước ngoài

2.2.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Sau khi đối tượng nghiên cứu trả lời khảo sát, nghiên cứu viên kiểm tra đốichiếu các thông tin thu được phải đáp ứng các tiêu chí chọn mẫu

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trực tuyến toàn quốc từ 01/2/2021 đến 30/4/2021dành cho người lớn Việt Nam nói lắp

2.4 Thu thập dữ kiện

Nghiên cứu này là một trong bốn nghiên cứu thuộc một dự án nghiên cứu lớn

về trải nghiệm và nhận thức về nói lắp ở người lớn Việt Nam nói lắp Cụ thể, mộtnghiên cứu định tính được thực hiện bằng cách phỏng vấn đối tượng nghiên cứu trựctiếp mặt đối mặt hoặc trực tuyến, ba nghiên cứu định lượng khảo sát đối tượng nghiên

Trang 29

cứu bằng bộ câu hỏi tự đánh giá Do đó, nội dung khảo sát của ba nghiên cứu đượctích hợp vào một bộ câu hỏi khảo sát chung, và mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ chỉ trảlời khảo sát cùng một lần cho ba nghiên cứu định lượng Điều này sẽ giảm áp lực chocác đối tượng khi tham gia nghiên cứu.

2.4.1 Quy trình tuyển chọn và thu thập dữ kiện

Bước 1: Sau khi thông qua Hội đồng đạo đức Đại học Y Dược thành phố Hồ

Chí Minh, thông tin về tuyển chọn đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 1) được đăng tảitrên trang facebook của nhóm Echo Việt Nam và của Bộ môn Kỹ thuật Phục hồi chứcnăng, Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.Đối tượng nghiên cứu được khuyến khích, và động viên những người nói lắp mà họbiết, thí dụ, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, cùng tham gia nghiên cứu

Bước 2: Đối tượng quan tâm và thấy mình phù hợp với nghiên cứu liên hệ với

nhóm nghiên cứu qua e-mail, số điện thoại hoặc tin nhắn Bác sĩ hoặc chuyên viênNgôn ngữ trị liệu gọi điện cho đối tượng nghiên cứu để xác định tình trạng nói lắpcủa họ Đối tượng nghiên cứu đáp ứng đủ các tiêu chí chọn mẫu được đưa vào nghiêncứu Nghiên cứu viên gửi phiếu chấp thuận (Phụ lục 2) đến đối tượng nghiên cứu quaemail Họ ký tên và gửi lại phiếu chấp thuận cho nghiên cứu viên qua email (bảnscan/hình chụp) hoặc trực tiếp bản giấy

Bước 3: Nghiên cứu viên gửi đường link khảo sát bao gồm phiếu thông tin cơ

bản (Phụ lục 3), thang đo UTBAS-6 tiếng Việt (Phụ lục 4) đến đối tượng nghiên cứuqua email Đối tượng nghiên cứu sẽ trả lời phỏng vấn trực tuyến Cuối cùng, khảo sátlần thứ 2 được lặp lại sau 3 tuần kể từ khảo sát lần 1 Dữ kiện thu thập được nhập vàophần mềm Epidata

2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện

- Phiếu thông tin cơ bản và thang đo UTBAS-6 tiếng Việt được chuyển đổi sangkhảo sát trực tuyến Microsoft office

- Máy tính cá nhân được cài đặt phần mềm nhập số liệu Epidata Entry Client vàphần mềm phân tích số liệu Stata 14.0

2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin

Trang 30

Nghiên cứu viên gửi thông tin về nghiên cứu cho đối tượng nghiên cứu, giảithích rõ ràng về nghiên cứu và ứng dụng của nghiên cứu, những quyền lợi nhận đượckhi tham gia nghiên cứu, tính bảo mật thông tin của đối tượng nghiên cứu.

2.5 Xử lý dữ kiện

2.5.1 Biến số định tính

- Giới tính: là biến số danh định có hai giá trị (nam và nữ)

- Trình độ học vấn: là biến số danh định được chia thành 6 giá trị:

o Không/chưa đi học: Không tham gia bất cứ một chương trình học nào

o Tiểu học: Từ lớp 1 đến lớp 5

o Trung học cơ sở: Từ lớp 6 đến lớp 9

o Trung học phổ thông: Từ lớp 10 đến lớp 12

o Cao đẳng và đại học: Trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hoặc đại học

o Sau đại học: Trình độ sau đại học

2.5.2 Biến số định lượng

- Tuổi là biến số liên tục

- Điểm số cho các mục của thang đo thành phần Tần Suất, Niềm Tin, Lo Lắngcủa người nói lắp được trả lời theo thang Likert 5 mức độ Đây là biến số thứ

tự Thang đo UTBAS-6 tiếng Việt có sáu câu tương ứng là sáu biến số thứ tựnhư sau:

o Câu 1: Tôi sẽ không bao giờ thành công bởi vì sự nói lắp của mình

o Câu 2: Mọi người sẽ cho rằng tôi kém cỏi bởi vì tôi nói lắp

o Câu 3: Mọi người sẽ nghĩ rằng tôi khác thường

o Câu 4: Tôi không muốn ra ngoài - Mọi người sẽ không thích tôi

o Câu 5: Thậm chí khi cố gắng nói cũng không có nghĩa lý gì - Sẽ khôngbao giờ nói ra được ngay

o Câu 6: Tôi sẽ không bao giờ giải thích hết quan điểm của mình - Mọingười sẽ hiểu lầm tôi

2.6 Phân tích dữ kiện

Dữ kiện được phân tích bằng phần mềm Stata 14.0

Trang 31

2.6.1 Số thống kê mô tả

- Tỉ lệ phần trăm được sử dụng để mô tả cho các biến số định tính

- Trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng để mô tả các biến số định lượng

2.6.2 Số thống kê phân tích

• Giá trị nội dung

I-CVI được tính bằng số lượng chuyên gia đưa ra đánh giá ở mức 3 hoặc 4 chomỗi câu chia cho tổng số chuyên gia Giá trị I-CVI trong khoảng từ 0 đến 1, trong đóI-CVI >0,79 thì câu hỏi đó có liên quan, 0,70≤I-ICV≤0,79 thì câu hỏi đó cần sửa đổi,

và nếu giá trị I-CVI <0,70 thì câu hỏi đó bị loại [76] Tương tự, S-CVI được tínhbằng cách dùng số lượng các mục đã được đánh giá ở mức 3 hoặc 4 Có hai cách đểtính S-CVI, một là sự đồng thuận chung của chuyên gia (S-CVI/UA) và hai là CVItrung bình (S-CVI/Ave) S-CVI/UA được tính bằng cách cộng tất cả các câu có I-CVI được đánh giá ở mức 3 hoặc 4 chia cho tổng số câu, trong khi đó S-CVI/Ave làmột cách ít chính xác hơn được tính bằng cách lấy tổng I-CVI chia cho tổng số câu.Giá trị nội dung là rất tốt khi S-CVI/UA ≥ 0,8 và S-CVI/Ave ≥ 0,9 [76]

Để tính toán thống kê kappa, xác suất của đồng thuận tình cờ được tính cho mỗimục theo công thức sau:

Pc = [N!/A!(N – A)!]*0.5N.Trong công thức này, N = số chuyên gia trong hội đồng và A = số thành viêntrong hội đồng đồng ý rằng câu hỏi đó có liên quan

Sau khi tính I-CVI cho tất cả các câu của thang đo, kappa được tính bằng cáchnhập các giá trị số của xác suất xảy ra tình cờ (Pc) và chỉ số giá trị nội dung của từngcâu I-CVI theo công thức sau:

K = (I-CVI – Pc)/(1 – Pc)

Tiêu chí đánh giá kappa là giá trị kappa lớn hơn 0,74, trong khoảng 0,60-0,74,

và trong khoảng 0,40-0,59 lần lượt được xem là rất tốt, tốt và khá (Bảng 2.1) [52]

Trang 32

Bảng 2.1 Giá trị kappa điều chỉnh

“Các câu có liên quan đến tình trạng nói lắp của bạn không?” và “Thang đo có dễhiểu đối với bạn không?” Nếu đối tượng nghiên cứu trả lời ở mức 1 hoặc 2, họ sẽđược hỏi lý do tại sao không đồng ý, và những đề nghị, nếu có, để sửa đổi thang đo

• Giá trị ý niệm

- Trong nghiên cứu này do điểm số của các thang đo có phân phối bình thường,kiểm định tương quan Pearson được sử dụng kiểm tra mối tương quan của cácthang đo thành phần của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt Hệ số tương quan củatừng hạng mục và phần còn lại (item-rest correlation coefficient) được xácđịnh giữa 2 điểm số, một là điểm số của một hạng mục, và hai là tổng điểmcủa tất cả các hạng mục của thang đo trừ đi điểm số của hạng mục đó [48]

- Giá trị ý niệm bao gồm giá trị hội tụ, và giá trị phân tán Một hạng mục có giátrị hội tụ khi một câu hỏi có hệ số tương quan hạng mục và phần còn lại >0,4[15], [21] Một hạng mục có giá trị phân biệt (thí dụ, giữa thang đo Tần Suấtvới thang đo Niềm Tin) khi hệ số tương quan của hạng mục đó và các hạngmục còn lại trong một thang đo (thí dụ, thang đo Tần Suất), là thấp hơn hệ sốtương quan của hạng mục đó và các hạng mục còn lại của thang đo Niềm Tin[48]

- Nguyên tắc thực hành để diễn giải cho mối tương quan này (Bảng 2.2) [42]

Trang 33

Bảng 2.2 Nguyên tắc thực hành để diễn giải hệ số tương quan

0,9-1 (-0,9 đến -1) Tương quan rất cao

0,7-0,9 (-0,7 đến -0,9) Tương quan cao

0,5-0,7 (-0,5 đến -0,7) Tương quan trung bình

Bảng 2.3 Nguyên tắc thực hành để diễn giải hệ số tương quan nội lớp

2.7 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện khảo sát trực tuyến Tất cả đối tượng tham gia vàonghiên cứu đều trên cơ sở tự nguyện, được giải thích rõ ràng về mục tiêu và ý nghĩanghiên cứu, được tôn trọng quyết định có hoặc không có tham gia nghiên cứu Số liệukhai thác từ đối tượng nghiên cứu chỉ dùng trong nghiên cứu, không dùng cho mụcđích khác và được bảo mật hoàn toàn Nghiên cứu này được sự chấp thuận của Hộiđồng đạo đức Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (Số 62/HĐĐĐ-ĐHYD ngày28/1/2021)

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (n=34)

* Trung bình ± độ lệch chuẩn; (giá trị nhỏ nhất - giá trị lớn nhất)

Có 36 người đăng ký tham gia nghiên cứu Khi đối chiếu với những tiêu chíloại trừ, 1 người tự nhận thấy không nói lắp, 1 người đã ở nước ngoài trên 12 tháng,

do đó, 2 người này không được chọn vào nghiên cứu; cỡ mẫu của nghiên cứu còn lại

34 người Đa số đối tượng nghiên cứu là nam giới (77%), có trình độ học vấn caođẳng/đại học (82%), là nhân viên văn phòng (50%), độc thân (79%) và sống ở khuvực thành thị (79%) Độ tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 27,2±5,4tuổi, trẻ nhất là 19 tuổi và lớn nhất là 40 tuổi (Bảng 3.1)

3.2 Tạo phiên bản UTBAS-6 tiếng Việt

3.2.1 Bước dịch xuôi sang tiếng Việt

Trang 35

• Hai bản dịch xuôi độc lập từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Hai bản dịch xuôi tiếng Việt của thang đo UTBAS-6 là V1 và V2 được thựchiện do hai người Việt Nam dịch độc lập (Bảng 3.2)

• Tạo bản dịch tổng hợp từ hai bản dịch xuôi

Nhóm nghiên cứu đã xem xét hai bản V1 và V2, sau đó tổng hợp thành một bảntiếng Việt V3 (Bảng 3.3) Cụ thể, tiêu đề của thang đo là sự kết hợp của bản V1 vàV2 Các hướng dẫn sử dụng thang đo của bản V1 được chọn vì dịch sát từ, sát nghĩavới bản gốc hơn bản V2 Phần mô tả sử dụng thang Likert của bản V2 được chọn vìdịch đầy đủ và sử dụng từ ngữ phổ biến hơn Câu 1, 3, 4 của bản V1 giống của bảnV2 Câu 2 và câu 6 của bản V2 được chọn bởi vì các từ “kém cỏi”, “quan điểm”,

“hiểu lầm” thì dễ hiểu và phổ biến hơn các từ “không có khả năng”, “luận điểm”,

“hiểu sai” ở bản V1 Câu 5 của bản V1 được chọn bởi vì nghĩa của nó gần với nghĩacủa phiên bản gốc hơn bản V2

Trang 36

Bảng 3.2 Hai bản tiếng Việt dịch xuôi từ thang đo UTBAS-6 gốc bằng tiếng Anh

Brief Version of the Unhelpful

Thoughts and Beliefs About Stuttering

Using the following scale, please read

each item below and circle the number

which most accurately describes you in

terms of: (1) how FREQUENTLY you

have these thoughts, (2) how much you

BELIEVE these thoughts, (3) how

ANXIOUS these thoughts make you

Sử dụng thang đo (tỉ lệ) sau, hãy đọcmỗi mục bên dưới và khoanh tròn vào con

số mà mô tả chính xác nhất quan điểm củabạn: (1) Bạn thường xuyên có những suynghĩ này như thế nào, (2) Bạn tin tưởngvào những suy nghĩ này bao nhiêu, (3)Những suy nghĩ này khiến bạn lo lắng nhưthế nào

How FREQUENTLY I have these

Trang 37

Bảng 3.2 Hai bản tiếng Việt dịch xuôi từ thang đo UTBAS-6 gốc bằng tiếng Anh (tiếp)

1 = never or not at all

2 = rarely or a little

3 = sometimes or somewhat

4 = often or a lot

5 = always or totally

1 = không bao giờ hoặc hoàn toàn không

2 = hiếm khi hoặc một ít

3 = thỉnh thoảng hoặc một phần nào

4 = thường xuyên hoặc rất nhiều

5 = luôn luôn hoặc hoàn toàn có

1 = không bao giờ hoặc không hề

2 = hiếm khi hoặc một ít

3 = thỉnh thoảng hoặc có một chút

4 = thường xuyên hoặc nhiều

5 = luôn luôn hoặc hoàn toàn

1 I’ll never be successful because of

5 What’s the point of even trying to

speak - it never comes out right

5 Việc cố gắng nói có nghĩa lý gì - sẽkhông bao giờ nói đúng được

5 Những vấn đề gì cố gắng để diễn đạt

sẽ không bao giờ đạt được

6 I’ll never finish explaining my point

- they’ll misunderstand me

6 Tôi sẽ không bao giờ kết thúc đượcviệc giải thích luận điểm của tôi - họ sẽ

6 Tôi sẽ không bao giờ giải thích xongquan điểm của mình - Mọi người sẽ hiểu

Trang 38

Bảng 3.3 Bản dịch xuôi tổng hợp V3

Bản rút ngắn của Thang đo Những suy

nghĩ và Niềm tin không hữu ích về nói

Sử dụng thang đo sau đây, hãy đọc mỗi

mục dưới đây và khoanh tròn vào số mô

tả về bạn chính xác nhất trên phương diện:

(1) mức độ THƯỜNG XUYÊN bạn có

những suy nghĩ này, (2) mức độ bạn TIN

vào những suy nghĩ này, (3) những suy

nghĩ này làm cho bạn cảm thấy LO LẮNG

mức độ bao nhiêu

Sử dụng thang đo (tỉ lệ) sau, hãy đọcmỗi mục bên dưới và khoanh tròn vàocon số mà mô tả chính xác nhất quanđiểm của bạn: (1) Bạn thường xuyên cónhững suy nghĩ này như thế nào, (2)Bạn tin tưởng vào những suy nghĩ nàybao nhiêu, (3) Những suy nghĩ nàykhiến bạn lo lắng như thế nào

Sử dụng thang đo sau đây, hãy đọcmỗi mục bên dưới và khoanh tròn vàocon số mà mô tả chính xác nhất quanđiểm của bạn: (1) mức độ THƯỜNGXUYÊN bạn có những suy nghĩ này, (2)mức độ bạn TIN vào những suy nghĩnày, (3) những suy nghĩ này làm cho bạncảm thấy LO LẮNG mức độ bao nhiêu

Mức độ THƯỜNG XUYÊN tôi có

Trang 39

Bảng 3.3 Bản dịch xuôi tổng hợp V3 (tiếp)

1 = không bao giờ hoặc hoàn toàn không

2 = hiếm khi hoặc một ít

3 = thỉnh thoảng hoặc một phần nào

4 = thường xuyên hoặc rất nhiều

5 = luôn luôn hoặc hoàn toàn có

1 = không bao giờ hoặc không hề

2 = hiếm khi hoặc một ít

3 = thỉnh thoảng hoặc có một chút

4 = thường xuyên hoặc nhiều

5 = luôn luôn hoặc hoàn toàn

1 = không bao giờ hoặc không hề

2 = hiếm khi hoặc một ít

3 = thỉnh thoảng hoặc có một chút

4 = thường xuyên hoặc nhiều

5 = luôn luôn hoặc hoàn toàn

1 Tôi sẽ không bao giờ thành công vì sự

nói lắp của tôi

1 Tôi sẽ không bao giờ thành công bởi

vì sự nói lắp của mình

1 Tôi sẽ không bao giờ thành công bởi

vì sự nói lắp của mình

2 Mọi người sẽ nghĩ rằng tôi không có

khả năng vì tôi nói lắp

2 Mọi người sẽ cho rằng tôi kém cỏibởi vì tôi nói lắp

2 Mọi người sẽ cho rằng tôi kém cỏi bởi

5 Việc cố gắng nói có nghĩa lý gì – sẽ

không bao giờ nói đúng được

5 Những vấn đề gì cố gắng để diễn đạt

sẽ không bao giờ đạt được

5 Việc cố gắng nói có nghĩa lý gì – sẽkhông bao giờ nói đúng được

6 Tôi sẽ không bao giờ kết thúc được việc

giải thích luận điểm của tôi – họ sẽ hiểu

6 Tôi sẽ không bao giờ giải thích xongquan điểm của mình - Mọi người sẽ

6 Tôi sẽ không bao giờ giải thích xongquan điểm của mình - Mọi người sẽ hiểu

Trang 40

• Đánh giá bản dịch xuôi tổng hợp bởi chuyên gia Việt Nam

Bản V3 của thang đo UTBAS-6 tiếng Việt được đánh giá bởi một nhà Việt ngữhọc và một chuyên viên Ngôn ngữ trị liệu Việt Nam Các chuyên gia đều đồng ý rằng

đa số mục của bản dịch V3 là rõ ràng và thể hiện đầy đủ ý nghĩa của các từ theo thang

đo gốc Tuy nhiên, một số thay đổi nhỏ đã được đề xuất để các câu được đọc trôi chảyhơn Một số từ được thay bằng từ khác nhưng có cùng nghĩa Cụ thể trong tiêu đề củathang đo, “Phiên bản rút gọn” thay cho “Bản rút ngắn” Trong phần hướng dẫn,

“từng” thay cho “mỗi”, “rất ít” thay cho “một ít”, thay đổi thứ tự các từ trong câu

“Những suy nghĩ này làm cho bạn cảm thấy LO LẮNG mức độ bao nhiêu” thành

“mức độ LO LẮNG mà những suy nghĩ gây nên cho bạn” Đối với các câu hỏi, “rangoài” thay cho “đi” trong câu 4 , “nói ra được ngay” thay cho “nói đúng được” trongcâu 5, “giải thích hết” thay cho “giải thích xong” trong câu 6 Tổng hợp các sửa đổitrên, nghiên cứu viên chỉnh sửa bản V3 thành V4 (Bảng 3.4)

Ngày đăng: 23/04/2023, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ambrose N. G. and Yairi E. (1999), "Normative disfluency data for early childhood stuttering", J Speech Lang Hear Res, 42 (4), pp. 895-909 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Normative disfluency data for early childhood stuttering
Tác giả: Ambrose N. G., Yairi E
Nhà XB: J Speech Lang Hear Res
Năm: 1999
2. Ambrose N. G., Yairi E., Loucks T. M., Seery C. H. and Throneburg R. (2015), "Relation of motor, linguistic and temperament factors in epidemiologic subtypes of persistent and recovered stuttering: Initial findings", J Fluency Disord, 45 pp. 12-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relation of motor, linguistic and temperament factors in epidemiologic subtypes of persistent and recovered stuttering: Initial findings
Tác giả: Ambrose N. G., Yairi E., Loucks T. M., Seery C. H., Throneburg R
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2015
3. Aydin Uysal A. and Ege P. (2020), "Reliability and validity of the UTBAS-TR (The Unhelpful Thoughts and Beliefs Scale-the Turkish version) in the Turkish population", Int J Speech Lang Pathol, 22 (1), pp. 24-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reliability and validity of the UTBAS-TR (The Unhelpful Thoughts and Beliefs Scale-the Turkish version) in the Turkish population
Tác giả: Aydin Uysal A., Ege P
Nhà XB: Int J Speech Lang Pathol
Năm: 2020
4. Beaton D. E., Bombardier C., Guillemin F. and Ferraz M. B. (2000), "Guidelines for the process of cross-cultural adaptation of self-report measures", Spine (Phila Pa 1976), 25 (24), pp. 3186-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for the process of cross-cultural adaptation of self-report measures
Tác giả: Beaton D. E., Bombardier C., Guillemin F., Ferraz M. B
Nhà XB: Spine (Phila Pa 1976)
Năm: 2000
5. Belyk M., Kraft S. J. and Brown S. (2015), "Stuttering as a trait or state - an ALE meta-analysis of neuroimaging studies", Eur J Neurosci, 41 (2), pp. 275-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stuttering as a trait or state - an ALE meta-analysis of neuroimaging studies
Tác giả: Belyk M., Kraft S. J., Brown S
Nhà XB: Eur J Neurosci
Năm: 2015
6. Blood G. W. and Blood I. M. (2007), "Preliminary study of self-reported experience of physical aggression and bullying of boys who stutter: relation to increased anxiety", Percept Mot Skills, 104 (3 Pt 2), pp. 1060-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preliminary study of self-reported experience of physical aggression and bullying of boys who stutter: relation to increased anxiety
Tác giả: Blood G. W., Blood I. M
Nhà XB: Percept Mot Skills
Năm: 2007
7. Blumgart E., Tran Y. and Craig A. (2010), "Social anxiety disorder in adults who stutter", Depress Anxiety, 27 (7), pp. 687-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social anxiety disorder in adults who stutter
Tác giả: Blumgart E., Tran Y., Craig A
Nhà XB: Depress Anxiety
Năm: 2010
8. Bricker-Katz G., Lincoln M. and Cumming S. (2013), "Stuttering and work life: an interpretative phenomenological analysis", J Fluency Disord, 38 (4), pp.342-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stuttering and work life: an interpretative phenomenological analysis
Tác giả: Bricker-Katz G., Lincoln M., Cumming S
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2013
9. Chang S. E. and Garnett E. O. (2019), "Functional and Neuroanatomical Bases of Developmental Stuttering: Current Insights", 25 (6), pp. 566-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Functional and Neuroanatomical Bases of Developmental Stuttering: Current Insights
Tác giả: Chang S. E., Garnett E. O
Năm: 2019
10. Chu S. Y., Sakai N., Mori K. and Iverach L. (2017), "Japanese normative data for the Unhelpful Thoughts and Beliefs about Stuttering (UTBAS) Scales for adults who stutter", J Fluency Disord, 51 pp. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japanese normative data for the Unhelpful Thoughts and Beliefs about Stuttering (UTBAS) Scales for adults who stutter
Tác giả: Chu S. Y., Sakai N., Mori K., Iverach L
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2017
11. Conture E. G. and Kelly E. M. (1991), "Young stutterers' nonspeech behaviors during stuttering", J Speech Hear Res, 34 (5), pp. 1041-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Young stutterers' nonspeech behaviors during stuttering
Tác giả: Conture E. G., Kelly E. M
Nhà XB: J Speech Hear Res
Năm: 1991
12. Craig A. (2010), "The association between quality of life and stuttering", J Fluency Disord, 35 (3), pp. 159-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The association between quality of life and stuttering
Tác giả: Craig A
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2010
13. Craig A., Blumgart E. and Tran Y. (2009), "The impact of stuttering on the quality of life in adults who stutter", J Fluency Disord, 34 (2), pp. 61-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of stuttering on the quality of life in adults who stutter
Tác giả: Craig A., Blumgart E., Tran Y
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2009
14. Cummins R. A. (2010), "Fluency disorders and life quality: subjective wellbeing vs. health-related quality of life", J Fluency Disord, 35 (3), pp. 161-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fluency disorders and life quality: subjective wellbeing vs. health-related quality of life
Tác giả: Cummins R. A
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2010
15. Devon Holli A, Block Michelle E, Moyle‐Wright Patricia, Ernst Diane M, Hayden Susan J, Lazzara Deborah J, Savoy Suzanne M and Kostas‐Polston Elizabeth (2007), "A psychometric toolbox for testing validity and reliability", Journal of Nursing scholarship, 39 (2), pp. 155-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A psychometric toolbox for testing validity and reliability
Tác giả: Devon Holli A, Block Michelle E, Moyle‐Wright Patricia, Ernst Diane M, Hayden Susan J, Lazzara Deborah J, Savoy Suzanne M, Kostas‐Polston Elizabeth
Nhà XB: Journal of Nursing scholarship
Năm: 2007
16. Dworzynski K., Remington A., Rijsdijk F., Howell P. and Plomin R. (2007), "Genetic etiology in cases of recovered and persistent stuttering in an unselected, longitudinal sample of young twins", Am J Speech Lang Pathol, 16 (2), pp. 169-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic etiology in cases of recovered and persistent stuttering in an unselected, longitudinal sample of young twins
Tác giả: Dworzynski K., Remington A., Rijsdijk F., Howell P., Plomin R
Nhà XB: Am J Speech Lang Pathol
Năm: 2007
17. Erkoc S. B., Isikli B., Metintas S. and Kalyoncu C. (2012), "Hypertension Knowledge-Level Scale (HK-LS): a study on development, validity and reliability", Int J Environ Res Public Health, 9 (3), pp. 1018-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertension Knowledge-Level Scale (HK-LS): a study on development, validity and reliability
Tác giả: Erkoc S. B., Isikli B., Metintas S., Kalyoncu C
Nhà XB: Int J Environ Res Public Health
Năm: 2012
18. Etchell A. C., Civier O., Ballard K. J. and Sowman P. F. (2018), "A systematic literature review of neuroimaging research on developmental stuttering between 1995 and 2016", J Fluency Disord, 55 pp. 6-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A systematic literature review of neuroimaging research on developmental stuttering between 1995 and 2016
Tác giả: Etchell A. C., Civier O., Ballard K. J., Sowman P. F
Nhà XB: J Fluency Disord
Năm: 2018
19. Frigerio-Domingues Carlos and Drayna D. (2017), "Genetic contributions to stuttering: the current evidence", 5 (2), pp. 95-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic contributions to stuttering: the current evidence
Tác giả: Frigerio-Domingues Carlos, Drayna D
Năm: 2017
21. Grobler Anton and Joubert Yvonne T (2018), "Psychological Capital: Convergent and discriminant validity of a reconfigured measure", South African Journal of Economic and Management Sciences, 21 (1), pp. 1-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychological Capital: Convergent and discriminant validity of a reconfigured measure
Tác giả: Grobler Anton, Joubert Yvonne T
Nhà XB: South African Journal of Economic and Management Sciences
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm