1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỉ ệ sa sút trí tuệ của bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của gia đinh tại khoa lão tại khoa lão bệnh viện nguyễn trãi

98 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỉ lệ sa sút trí tuệ của bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của gia đình tại khoa lão bệnh viện Nguyễn Trãi
Tác giả Phạm Huỳnh Quế Thanh
Người hướng dẫn TS.BS. Thân Hà Ngọc Thể
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (15)
    • 1.1. Sa sút trí tuệ (15)
    • 1.2. Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới (17)
    • 1.3. Chẩn đoán sa sút trí tuệ và MCI (20)
      • 1.3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán MCI và SSTT (20)
      • 1.3.2. Đánh giá phụ thuộc chức năng (23)
    • 1.4. Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ (24)
    • 1.5. Đánh giá gánh nặng người chăm sóc (25)
    • 1.6. Đánh giá nhu cầu các dịch vụ hỗ trợ (26)
    • 1.7. Một số nghiên cứu về tỉ lệ sa sút trí tuệ (27)
      • 1.7.1. Tỉ lệ SSTT trong bệnh viện (27)
      • 1.7.2. Tỉ lệ SSTT trong nhà chăm sóc (30)
      • 1.7.3. Tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ trong bệnh viện (31)
    • 1.8. Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ (33)
      • 1.8.1. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tuổi (33)
      • 1.8.2. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính (33)
      • 1.8.3. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cư trú (34)
      • 1.8.4. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp (35)
      • 1.8.5. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường (36)
      • 1.8.6. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não (38)
    • 1.9. Các nghiên cứu về gánh nặng và nhu cầu của người chăm sóc (38)
      • 1.9.1. Nghiên cứu về gánh nặng của người chăm sóc (38)
      • 1.9.2. Nghiên cứu về nhu cầu của người chăm sóc (39)
  • CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (41)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 2.1.1. Dân số mục tiêu (41)
      • 2.1.2. Dân số chọn mẫu (41)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn chọn mẫu (41)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (41)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (41)
      • 2.2.2. Phương pháp chọn mẫu (41)
      • 2.2.3. Cỡ mẫu (42)
      • 2.2.4. Phương pháp tiến hành ngiên cứu (42)
      • 2.2.5. Công cụ thu thập số liệu: Phiếu thu thập số liệu đã thống nhất (43)
      • 2.2.6. Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu (0)
    • 2.3. Xử lý và phân tích số liệu (45)
    • 2.4. Đạo đức trong nghiên cứu (46)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (47)
      • 3.1.1. Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi (47)
      • 3.1.2. Một số đặc điểm về dịch tễ của mẫu nghiên cứu (48)
      • 3.2.1. Tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người (49)
      • 3.2.2. Một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân SSTT (50)
      • 3.2.3. Tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) theo tuổi (51)
      • 3.2.4. Phân bố tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ theo nhóm tuổi (52)
      • 3.2.5. Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và giới tính (53)
      • 3.2.6. Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và nơi cư trú (54)
      • 3.2.7. Tỉ lệ tăng huyết áp của các đối tượng nghiên cứu (0)
      • 3.2.8. Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và đái tháo đường (55)
      • 3.2.9. Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não (55)
    • 3.3. Gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân (56)
      • 3.3.1. Gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ (56)
      • 3.3.2. Nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ (57)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (60)
    • 4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (60)
      • 4.1.1. Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi (60)
      • 4.1.2. Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới (61)
      • 4.1.3. Phân bố mẫu nghiên cứu theo nơi ở (61)
      • 4.1.4. Đặc điểm mẫu nghiên cứu về học vấn và tình trạng bệnh đi kèm (61)
    • 4.2. Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ và một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân sa sút trí tuệ cao tuổi tại khoa Lão bệnh viện Nguyễn Trãi (62)
      • 4.2.1. Tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ (62)
      • 4.2.2. Tỉ lệ mắc suy giảm nhận thức nhẹ (65)
      • 4.2.3. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tuổi (67)
      • 4.2.4. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính (68)
      • 4.2.5. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cư trú (69)
      • 4.2.6. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp (70)
      • 4.2.7. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường (71)
      • 4.2.8. Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não (74)
    • 4.3. Gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân (75)
      • 4.3.1. Gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ (75)
      • 4.3.2. Nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ (76)
  • KẾT LUẬN (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (83)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ .... Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ và một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân sa sú

TỔNG QUAN

Sa sút trí tuệ

Sa sút trí tuệ là một rối loạn mắc phải với suy giảm đáng kể ở một hoặc nhiều chức năng nhận thức:

- Tập trung: duy trì, chọn lọc, phân tán và tốc độ xử lý

- Điều hành: lên kế hoạch, ra quyết định, trí nhớ công việc, đáp ứng với phản hồi, kiềm chế và linh hoạt.

- Học tập và trí nhớ: tự nhớ, gợi nhớ, trí nhớ mô tả, trí nhớ ngữ nghĩa và hình ảnh, trí nhớ dài hạn, kỹ năng nội sinh.

- Ngôn ngữ: định danh, tìm từ, trôi chảy, ngữ pháp và cấu trúc câu, hiểu lời hoặc chữ viết.

- Vận động trí tuệ: nhận biết thị giác, phân tích cấu trúc bằng thị giác, kết hợp vận động trí tuệ.

- Nhận thức xã hội: nhận biết cảm xúc, lý giải suy nghĩ, phán đoán.

Việc suy giảm nhận thức phải đủ cản trở sự độc lập về chức năng của bệnh nhân [17]

SSTT chủ yếu ảnh hưởng đến người cao tuổi, nhưng không phải là một quá trình lão hóa bình thường Có nhiều thể SSTT liên quan đến tổn thương não như bệnh Alzheimer, thể hỗn hợp, thể Lewy, sa sút trí tuệ trán-thái dương, bệnh Creutzfeldt-Jacob và bệnh Huntington Ngoài ra, SSTT cũng có thể do các nguyên nhân chuyển hóa, bệnh lý tuyến giáp, thiếu vitamin B12 và nhiễm trùng.

Bệnh Alzheimer là nguyên nhân chính gây ra suy giảm trí tuệ, chiếm từ 50-60% tổng số trường hợp Bệnh lý này đặc trưng bởi sự hình thành các mảng thoái hóa, bao gồm -amyloid, cùng với sự thoái hóa của các tế bào sao và sự xuất hiện của các đám rối vi sợi thần kinh, chủ yếu là do protein tau và các vi ống phosphoryl.

Sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu và thể hỗn hợp giữa Alzheimer và mạch máu là nguyên nhân phổ biến thứ hai của sa sút trí tuệ ở các nước Châu Á, chiếm khoảng 20-30% các trường hợp Nguyên nhân chính bao gồm hẹp các mạch máu nuôi não, thiếu oxy não, đột quị não, nhồi máu lỗ khuyết, và thoái hóa myelin.

Sa sút trí tuệ thể Lewy chiếm khoảng 10% các trường hợp, với đặc điểm là sự hiện diện của các thể Lewy dưới kính hiển vi Bệnh diễn tiến nhanh chóng và có thể xuất hiện các triệu chứng như hội chứng Parkinson, té ngã và dao động nhận thức Tại Mỹ và châu Âu, sa sút trí tuệ thể Lewy là nguyên nhân phổ biến thứ hai sau Alzheimer, trong khi ở các nước Châu Á, tình hình có sự khác biệt.

Biểu đồ 1.1: Nguyên nhân sa sút trí tuệ [79]

Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới

Hình 1.1: Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới [68]

Theo báo cáo năm 2015 của hiệp hội Alzheimer, tỉ lệ sa sút trí tuệ cao nhất được ghi nhận ở Bắc Phi và Trung Đông (8.7%) cũng như Châu Mỹ La Tinh (8.4%) Ngược lại, tỉ lệ này thấp nhất ở vùng hạ Saharan (4.67%) và Trung Âu (4.7%) Các khu vực khác có tỉ lệ sa sút trí tuệ dao động từ 5.6% đến 7.6%.

Châu Mỹ Châu Phi Châu Âu Châu Á Thế giới

Bảng 1.1 Tỉ lệ sa sút trí tuệ các khu vực trên thế giới theo giới và nhóm tuổi

Nhóm tuổi Tỉ lệ ở người trên

Dương, những nước có thu nhập cao

Bắc Phi/Trung Đông Tất cả 2.2 3.6 6.0 9.7 16.4 29.4 29.4 8.67

Nguồn: World Alzheimer Report 2015: The Global Impact of Dementia [68]

Theo ước tính năm 2015, Đông Á dẫn đầu về số lượng bệnh nhân SSTT với 9,8 triệu người, tiếp theo là Tây Âu với 7,4 triệu Nam Á và Bắc Mỹ lần lượt có 5,1 triệu và 4,8 triệu bệnh nhân Trong số các quốc gia, Trung Quốc có số lượng bệnh nhân cao nhất với 9,5 triệu, tiếp theo là Mỹ (4,2 triệu), Ấn Độ (4,1 triệu), Nhật Bản (3,1 triệu), và Brazil (1,6 triệu) Các quốc gia khác có hơn một triệu bệnh nhân bao gồm Đức, Nga, Ý, Indonesia và Pháp, mỗi nước có từ 1,2 triệu đến 1,6 triệu bệnh nhân.

Mặc dù tỷ lệ suy giảm sức khỏe tâm thần (SSTT) ở các nước phát triển cao hơn, nhưng phần lớn người mắc SSTT lại sống ở các nước đang phát triển Tỷ lệ gia tăng số bệnh nhân bị SSTT dao động rất lớn theo vùng, với tỷ lệ ở các nước đang phát triển gấp đôi so với các nước phát triển Hậu quả là, tỷ lệ người bị SSTT ở các nước thu nhập trung bình thấp và thấp tăng lần lượt 223% và 264%, trong khi ở các nước có thu nhập cao chỉ tăng 116%.

Biểu đồ 1.2: Số người SSTT (triệu người) ở các nước có thu nhập cao, thấp, trung bình trong khoảng thời gian 2015-2050

Nguồn: World Alzheimer Report 2015: The Global Impact of Dementia [68]

Chẩn đoán sa sút trí tuệ và MCI

1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán MCI và SSTT

Trong nghiên cứu này, tiêu chuẩn DSM-5 được áp dụng để chẩn đoán sa sút trí tuệ, được phát triển bởi Hội Tâm Thần Hoa Kỳ vào năm 2013 DSM-5 không sử dụng thuật ngữ sa sút trí tuệ mà thay vào đó là “Các rối loạn nhận thức thần kinh”, nhằm nhấn mạnh những thay đổi nhận thức sớm, được định nghĩa là “Rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ” (MCI) “Rối loạn nhận thức thần kinh điển hình” trong DSM-5 tương ứng với SSTT trong DSM IV, và tình trạng này không xuất hiện từ khi sinh ra hoặc trong giai đoạn đầu đời, mà là sự giảm chức năng so với trước đây Mặc dù có sự thay đổi trong thuật ngữ, nghiên cứu này vẫn sử dụng các thuật ngữ sa sút trí tuệ và giảm nhận thức nhẹ (MCI) để phù hợp với thói quen và tính phổ biến.

Sau 60 tuổi, tần suất SSTT tăng gấp đôi sau mỗi 5 năm, tỉ lệ bệnh ở người lớn hơn 85 tuổi trong cộng đồng từ 25-45% [41] Giảm nhận thức nhẹ(MCI) cuối cùng có nguy cơ tiến triển thành Alzheimer hoặc các dạng sa sút trí tuệ khác Mỗi năm, 10-15% giảm nhận thức nhẹ tiến triển thànhAlzheimer, so với nhóm chứng cùng tuổi là 1-2% [41].

Bảng 1.2 Chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh điển hình

A Bằng chứng của giảm nhận thức nặng so với trước đây ở một hoặc nhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý, học tập và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận- vận động hoặc nhận thức xã hội) dựa trên:

1- Sự giảm chức năng nhận thức nặng mà bản thân người bệnh hoặc một người cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩ phát hiện và

2- Một sự giảm nhận thức đáng kể được phát hiện qua các test tâm thần thần kinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng.

B Tình trạng giảm nhận thức cản trở sự độc lập của người bệnh trong các hoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong các hoạt động hữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men).

C Giảm nhận thức không xảy ra trong bệnh cảnh sảng.

D Giảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảm nặng hoặc tâm thần phân liệt).

Nguồn: American Psychiatric Association (2013) Diagnostic and statistical manual of mental disorders, fifth edition Washington.

Bảng 1.3 Chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ

A Bằng chứng của giảm nhận thức mức độ vừa so với trước đây ở một hoặc nhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý, học tập và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận- vận động hoặc nhận thức xã hội) dựa trên :

1- Sự giảm chức năng nhận thức mứa độ vừa mà bản thân người bệnh hoặc một người cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩ phát hiện và

2- Một sự giảm nhận thức vừa được phát hiện qua các test tâm thần thần kinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng

B Tình trạng giảm nhận thức không cản trở sự độc lập của người bệnh trong các hoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong các hoạt động hữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men

C Giảm nhận thức không nằm trong bệnh cảnh sảng

D Giảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảm nặng hoặc tâm thần phân liệt).

Nguồn: American Psychiatric Association (2013) Diagnostic and statistical manual of mental disorders, fifth edition Washington

Việc phát hiện sớm sự suy giảm nhận thức và trí nhớ có thể được thực hiện thông qua các phương tiện đánh giá chuẩn Trong số nhiều bài kiểm tra tầm soát, Mini Mental State Examination (MMSE) là thang điểm phổ biến nhất được sử dụng để đánh giá nhận thức.

Thang đo này có độ chính xác cao và chỉ mất khoảng 5-10 phút để thực hiện Nó bao gồm 30 điểm đánh giá các chức năng như định hướng về thời gian và không gian (10 điểm), trí nhớ tức thời (3 điểm), trí nhớ ngắn hạn (3 điểm), sự tập trung/tính toán (5 điểm), và ngôn ngữ cùng chức năng định hình (9 điểm).

24 trở lên là bình thường và dưới 24 cho thấy có tình trạng suy giảm nhận thức Trường hợp bệnh nhân mù chữ điểm dưới 17,5 là bất thường [37].

MMSE ra đời năm 1975 bởi Marshall F Folstein, Susan E Folstein và Paul R McHugh, độ nhạy và độ đặc hiệu của test lần lượt là 81% và 89%

[88] Năm 2005, tác giả Nguyễn Kinh Quốc thuộc bộ môn Nội Thần Kinh Đại Học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đã dịch và chuẩn hóa sang tiếng Việt [3].

1.3.2 Đánh giá phụ thuộc chức năng

Khái niệm hoạt động hàng ngày, được đề xuất bởi Katz và phát triển bởi Lawton, chia thành hai loại: hoạt động cơ bản (ADL) và hoạt động sinh hoạt hàng ngày (IADL), với IADL yêu cầu nhiều nhận thức hơn Đánh giá sự độc lập của người bệnh dựa vào khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (IADL).

ADLs (hoạt động cơ bản hàng ngày) là những chức năng thiết yếu giúp cá nhân tự chăm sóc bản thân Tuy nhiên, những hoạt động này không đủ để đảm bảo một cuộc sống độc lập hoàn toàn.

IADL (Hoạt động sinh hoạt hàng ngày) bao gồm những hoạt động phức tạp cần thiết để duy trì cuộc sống độc lập trong cộng đồng, như sử dụng điện thoại, đi mua sắm, nấu ăn, giữ nhà, giặt đồ, di chuyển bằng phương tiện giao thông, và quản lý thuốc men cũng như tài chính Nếu bệnh nhân cần hỗ trợ trong bất kỳ hoạt động nào, điều này cho thấy họ bị giảm chức năng Những người phụ thuộc vào chức năng ở cấp độ này cần được hỗ trợ tại nhà hoặc thông qua các dịch vụ chăm sóc cộng đồng.

Hình 1.2: Các hoạt động IADL

(Instrument activity of daily living)

Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ

Hình 1.3: Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ

Đánh giá gánh nặng người chăm sóc

Người chăm sóc và gia đình của bệnh nhân sa sút trí tuệ thường phải đối mặt với thách thức trong việc cân bằng giữa việc chăm sóc người bệnh và các nhu cầu cá nhân như nuôi dạy con cái, công việc và các mối quan hệ xã hội Họ có nguy cơ cao gặp phải gánh nặng, căng thẳng, trầm cảm và các vấn đề sức khỏe khác.

63% người chăm sóc cho biết họ cảm thấy gánh nặng, trong khi 47% gặp vấn đề tâm lý khi chăm sóc bệnh nhân Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ trải qua mức độ stress cao hơn so với người chăm sóc bệnh nhân mắc các bệnh lý khác.

Bảng câu hỏi Gánh nặng Zarit (Zarit Burden Interview) là bộ câu hỏi được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về gánh nặng của người chăm sóc.

Bộ câu hỏi gồm 22 câu, mỗi câu có 5 thang điểm, từ 0-4 điểm:

Bảng câu hỏi Gánh nặng Zarit có tổng điểm tối đa là 88, với 4 mức độ gánh nặng: 0-20 điểm (không có gánh nặng), 21-40 điểm (gánh nặng nhẹ), 41-60 điểm (gánh nặng trung bình), và 61-88 điểm (gánh nặng nặng) Hai câu hỏi được chọn trong bảng hỏi này phù hợp với văn hóa người Việt, giúp đánh giá gánh nặng cả về mặt tinh thần lẫn thể chất.

- “Bạn có cảm thấy căng thẳng khi chăm sóc người thân của mình không?”

- “Bạn có cảm thấy sức khỏe của mình bị ảnh hưởng khi chăm sóc người thân không?”

Đánh giá nhu cầu các dịch vụ hỗ trợ

Chăm sóc bệnh nhân cao tuổi bị sa sút trí tuệ tạo ra gánh nặng lớn về thể chất, tâm lý, xã hội và kinh tế cho người chăm sóc Những bệnh nhân này thường lớn tuổi hơn, cần nhiều thuốc và hỗ trợ trong việc đi lại, ăn uống và quản lý thuốc men Người chăm sóc thường không có thời gian nghỉ ngơi và cần sự hỗ trợ từ bên ngoài Các dịch vụ hỗ trợ có thể giúp giảm bớt căng thẳng và gánh nặng cho họ.

Hiệp hội Alzheimer đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp nhằm hỗ trợ người chăm sóc, bao gồm giáo dục và hỗ trợ tùy theo nhu cầu gia đình và giai đoạn bệnh Các chương trình này bao gồm đào tạo, cung cấp thông tin qua mạng và điện thoại, lập kế hoạch chăm sóc cá nhân hóa, nhóm hỗ trợ, trung tâm chăm sóc ban ngày và nhà dưỡng lão Một đánh giá từ 44 nghiên cứu cho thấy can thiệp giáo dục có tác động tích cực đến tỉ lệ mắc bệnh tâm lý của người chăm sóc.

Nghiên cứu này khảo sát nhu cầu thông tin của người chăm sóc về tình trạng giảm chức năng của bệnh nhân và cách xử lý trong quá trình chăm sóc Kết quả nghiên cứu có thể giúp xây dựng các chương trình giáo dục và dịch vụ hỗ trợ cho gia đình bệnh nhân, nhằm giảm gánh nặng cho người chăm sóc Câu hỏi về nhu cầu thông tin bao gồm việc người chăm sóc có muốn học về sa sút trí tuệ/Alzheimer hay không, và họ muốn học qua phương tiện nào, với các lựa chọn như giáo dục cộng đồng, khóa huấn luyện, TiVi, báo chí, và tờ rơi.

Trong phần khảo sát nhu cầu dịch vụ hỗ trợ, câu hỏi đầu tiên xác định xem gia đình có cần hỗ trợ hay không Tiếp theo, câu hỏi thứ hai tìm hiểu về đối tượng mà gia đình mong muốn nhận sự hỗ trợ, với các lựa chọn như “người thân, người thuê, người làm công tác xã hội.” Cuối cùng, câu hỏi thứ ba đề cập đến nhu cầu về nơi chăm sóc bệnh nhân SSTT, hỏi “Bạn muốn người thân của mình được chăm sóc ở đâu?” với các lựa chọn “tại nhà, nhà dưỡng lão, trung tâm chăm sóc ban ngày.”

Một số nghiên cứu về tỉ lệ sa sút trí tuệ

1.7.1 Tỉ lệ SSTT trong bệnh viện

Nghiên cứu của Thân Hà Ngọc Thể trên 367 bệnh nhân từ 60 tuổi tại ba bệnh viện ở TP Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ suy giảm chức năng nhận thức (SSTT) ở các khoa Lão là 24,2% Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 77 ± 9,2, và không có sự khác biệt giữa nam và nữ Tác giả đã sử dụng tiêu chuẩn DSM-5 cùng với thang điểm MMSE, IADL, và FAQ để đánh giá tình trạng nhận thức.

Molaschi [54] đã tiến hành đánh giá 1745 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên (971 nam và 774 nữ) tại khoa Lão của một bệnh viện ở Ý bằng thang điểm Short Portable Mental Status Questionnaire (SPMSQ) Kết quả cho thấy có 26,8% bệnh nhân mắc suy giảm trí tuệ (SSTT) và 15,8% mắc rối loạn nhận thức nhẹ (MCI) Thang điểm này được công nhận có độ chính xác cao và có mối liên hệ chặt chẽ với thang điểm MMSE [49].

Tuổi trung bình của bệnh nhân sa sút trí tuệ (SSTT) là 80,7 ± 8, cao hơn so với bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) là 79,5 ± 7,8 và không suy giảm nhận thức nghiêm trọng (SGNT) là 75,3 ± 8,3 Trong số bệnh nhân SSTT, có 15,6% cần hỗ trợ trước khi nhập viện, tỷ lệ phụ thuộc vào các hoạt động hàng ngày đạt 70,9%, và tỷ lệ tử vong trong bệnh viện là 21,2% Nghiên cứu của Orsitto năm 2005 trên 179 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên tại một bệnh viện ở Ý cho thấy tỷ lệ sa sút trí tuệ là 40,8% và MCI là 19,6%, được đánh giá bằng thang điểm MMSE và CDR Nghiên cứu của Clare Bowler năm 1994 tại Anh trên 153 bệnh nhân trên 65 tuổi cho kết quả tỷ lệ SSTT là 26,8%, sử dụng các tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá nhận thức như ICD-10, MMSE, CAMCOG, và SCAN.

Nghiên cứu của Dina Zekry [29] năm 2007 tại bệnh viện phục hồi Lão khoa Geneva đã khảo sát 349 đối tượng trên 75 tuổi, với tuổi trung bình là 85.2 ± 6.7 Kết quả cho thấy 43.3% trong số họ mắc chứng suy giảm trí tuệ (SSTT) và 10.6% mắc rối loạn nhận thức nhẹ (MCI), không có sự khác biệt về giới tính (p=0.129) Tỷ lệ tai biến mạch máu não (TBMMN) cao hơn ở nhóm bệnh nhân SSTT so với hai nhóm còn lại, trong khi tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường (ĐTĐ) phổ biến hơn ở nhóm không suy giảm nhận thức Để đánh giá nhận thức, tác giả đã sử dụng thang điểm Short Cognitive Evaluation Battery (SCEB) và MMSE.

Bảng 1.4 Mối liên quan giữa nhận thức và bệnh đi kèm tại BV lão khoa

Bệnh đồng thời SSTT MCI Không suy giảm nhận thức p

Nguồn: Demented versus non-demented very old inpatients: the same comorbidities but poorer functional and nutritional status [29]

Nghiên cứu của Suzanne Timmons năm 2015 tại Ireland đã khảo sát 598 bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên, bao gồm 5 bệnh viện công và 1 bệnh viện tư Nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, sử dụng bài kiểm tra đánh giá MMSE và bộ câu hỏi IQCODE để đánh giá suy giảm nhận thức ở người cao tuổi.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sa sút trí tuệ chung là 24,9%, trong đó tỉ lệ ở bệnh viện công là 28,9%, cao hơn ở nông thôn (37,1%) so với thành phố (26,9%) Tỉ lệ sa sút trí tuệ ở bệnh viện tư là 7,9%, trong khi ở những bệnh nhân tại trại dưỡng lão lên tới 77,1% Đặc biệt, tỉ lệ sa sút trí tuệ ở khoa cấp cứu cao hơn so với các khoa khác, với tỉ lệ 28,6% so với 16,0%.

P < 0.001) Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về giới (p= 0.08), BN

SSTT có tuổi trung bình cao hơn (84 với 78,3) và tỉ lệ ở người hơn 90 tuổi là 63%.

Nghiên cứu của tác giả Travers [23] năm 2013 trên 493 bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên tại 4 bệnh viện ở Queensland (Úc) cho thấy tỉ lệ sa sút trí tuệ chung là 20,7% Sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, MMSE và bộ câu hỏi IQCODE, nghiên cứu không phát hiện sự khác biệt về giới (P= 0,22) Tỉ lệ sa sút trí tuệ tăng theo độ tuổi, cụ thể là 8,5% ở nhóm 70-79 tuổi, 30,1% ở nhóm 80-89 tuổi và 47,4% ở nhóm 90 tuổi trở lên Tuổi trung bình của bệnh nhân mắc sa sút trí tuệ là 84,7, cao hơn so với 79,3.

Tác giả Elizabeth [30], [30]lại cho kết quả cao hơn 42,4% Nghiên cứu được thực hiện tại Anh năm 2009, mẫu nghiên cứu gồm 617 người cao tuổi từ

Tại một bệnh viện, có hơn 70 bệnh nhân được điều trị tại khoa cấp cứu Tiêu chuẩn chẩn đoán được áp dụng bao gồm DSM-IV, MMSE và thang điểm đánh giá chức năng Functional Assessment Staging Scale (FAST) Tỷ lệ bệnh nhân tăng theo độ tuổi, đặc biệt là ở nữ giới.

Biểu đồ 1.3: Tỉ lệ SSTT ở khoa cấp cứu theo giới và nhóm tuổi trong 1 bệnh viện tại Anh

Nguồn: Dementia in the acute hospital [30]

Holmes [36] đã tiến hành đánh giá 731 bệnh nhân trên 65 tuổi sau phẫu thuật gãy xương hông tại Anh, cho thấy tỷ lệ mắc SSTT là 40% Trong số những bệnh nhân này, 39.2% sống tại viện dưỡng lão.

Trong cuốn sách "Who Cares Wins" của hiệp hội Alzheimer, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ SSTT trong bệnh viện dao động từ 5% đến 45%, với mức trung bình là 31% Bên cạnh đó, tỷ lệ SGNT thay đổi từ 7% đến 88%, trung bình là 22%.

Cuốn The Right Care [80] cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ trong khoảng 10-40%, nhiều nhất là 25%.

Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Mai Trúc trên 313 bệnh nhân cao tuổi mắc ĐTĐ2 tại bệnh viện 30-4 cho thấy tỷ lệ suy giảm chức năng nhận thức (SSTT) là 19,2% và tỷ lệ rối loạn nhận thức nhẹ (MCI) là 42,5% Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng nhận thức ở bệnh nhân ĐTĐ2 bao gồm tuổi tác, giới tính, trình độ văn hóa, loại thuốc điều trị, mức đường huyết và huyết áp.

Lê Nguyễn Nhựt Tín và Vũ Anh Nhị đã nghiên cứu 218 bệnh nhân từ 32 đến 86 tuổi tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy, cho thấy tần suất suy giảm chức năng tâm thần (SSTT) sau đột quỵ là 40,4% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng SSTT sau đột quỵ có mối liên hệ đáng kể với các yếu tố dịch tễ như tuổi tác, giới tính, và trình độ học vấn, cũng như các yếu tố nguy cơ mạch máu như hút thuốc lá, tiểu đường, tăng huyết áp và tăng cholesterol.

Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng [12] nghiên cứu bệnh chứng trên

104 bệnh nhân nhồi máu não và 104 bệnh nhân nhóm chứng không nhồi máu não cho thấy tỉ lệ SSTT sau nhồi máu não chiếm 25%, tỉ lệ ở nhóm chứng là 19,2%

1.7.2 Tỉ lệ SSTT trong nhà chăm sóc

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ sức khỏe tâm thần trong viện dưỡng lão rất cao, với 75% người cao tuổi tại đây gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, và khoảng 33% trong số đó sống tại viện dưỡng lão.

Theo Macdonald [47], tỉ lệ SSTT trong viện dưỡng lão tại Anh là 74%,38% bị sa sút nặng.

Theo Sarah E Goldberg [78], 27% BN SSTT sống trong nhà chăm sóc.

Theo báo cáo của Hiệp hội Alzheimer năm 2014, 80% người chăm sóc tại nhà gặp phải tình trạng suy giảm trí nhớ hoặc rối loạn tâm thần Trong số bệnh nhân mắc rối loạn tâm thần, 2/3 sống trong cộng đồng, trong khi 1/3 còn lại sống tại các cơ sở chăm sóc.

1.7.3 Tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ trong bệnh viện

Nghiên cứu của tác giả Molaschi tại khoa Lão của một bệnh viện ở Ý cho thấy tỷ lệ MCI là 15,8% Trong khi đó, tác giả Orsitto ghi nhận tỷ lệ này là 19,6% khi thực hiện đánh giá tại một đơn vị Lão khoa khác ở Ý.

Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ

1.8.1 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tuổi

Tuổi được biết là yếu tố nguy cơ mạnh nhất của SSTT [8], [3], [6],

[10], [30] Trong khi tổn thương có thể phát triển từ trước đó (khoảng 1 trong

Nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer hoặc SSTT mạch máu tăng gấp đôi mỗi 5 năm sau độ tuổi 65 Hiện nay, ước tính có 1 trong 14 người trên 65 tuổi bị ảnh hưởng bởi SSTT, và con số này tăng lên 1 trong 6 người ở độ tuổi cao hơn.

80 Điều này có thể do các yếu tố liên quan đến lão hóa, chẳng hạn như [15]:

 Tăng nguy cơ bệnh tim mạch (bệnh tim và đột quỵ)

 Thay đổi các tế bào thần kinh, DNA và cấu trúc tế bào

 Sự suy yếu của hệ thống sửa chữa tự nhiên của cơ thể

 Những thay đổi trong hệ thống miễn dịch.

1.8.2 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính

Phụ nữ có nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer cao hơn nam giới, có thể liên quan đến sự thiếu hormone estrogen sau mãn kinh Tuy nhiên, liệu pháp thay thế hormone nữ không cho thấy hiệu quả trong việc giảm nguy cơ bệnh Alzheimer Thời điểm bắt đầu sử dụng liệu pháp này có thể ảnh hưởng đến kết quả Hormone nữ chủ yếu được kê đơn để giảm triệu chứng mãn kinh, không được khuyến cáo để giảm nguy cơ bệnh Alzheimer Đối với bệnh mạch máu, nam giới có nguy cơ cao hơn do tỉ lệ đột quỵ và bệnh tim cao hơn, là những yếu tố nguy cơ chính Hầu hết các nguyên nhân khác của bệnh mạch máu, nam và nữ có nguy cơ tương tự.

Kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới tính và nguy cơ sa sút trí tuệ (SSTT) vẫn còn gây tranh cãi Một số nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ có nguy cơ cao hơn nam giới, như nghiên cứu của Lê Nguyễn Nhựt Tín và Elizabeth Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác, bao gồm các tác giả như Nguyễn Kinh Quốc, Lương Chí Thành, và Lê Văn Tuấn, không tìm thấy mối liên quan rõ ràng giữa giới tính và tỉ lệ mắc SSTT Các nghiên cứu gần đây cho thấy nam giới có thể là yếu tố làm tăng nguy cơ SSTT khi phân tích đa biến, đồng thời gợi ý rằng các yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ này.

1.8.3 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cƣ trú

Cư dân nông thôn và thành thị có những đặc điểm khác biệt về giáo dục, lối sống, kinh tế và hệ thống y tế, dẫn đến tỷ lệ SSTT không giống nhau Nghiên cứu của Jianping Jia trên 10.000 người tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ SSTT ở nông thôn cao hơn đáng kể so với thành thị (6,05% so với 4,40%, P 0,001) Cụ thể, tỷ lệ bệnh Alzheimer ở nông thôn là 4,25%, trong khi ở thành thị chỉ là 2,44% (P 0,001), nhưng tỷ lệ SSTT mạch máu không có sự khác biệt (1,28% so với 1,61%, P 5,166) Tác giả cho rằng sự chênh lệch về tỷ lệ Alzheimer giữa hai khu vực chủ yếu do khác biệt về trình độ học vấn.

Nhiều nghiên cứu khác cho thấy tỉ lệ SSTT ở khu vực nông thôn cao hơn so với thành thị [61], [84] Nghiên cứu của tác giả Suzanne Timmons

Năm 2015, một nghiên cứu tại 6 bệnh viện ở Ireland (5 bệnh viện công và 1 bệnh viện tư) đã khảo sát 598 bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên Kết quả cho thấy tỷ lệ sa sút trí tuệ chung là 24,9%, trong đó tỷ lệ ở bệnh viện công là 28,9% Đặc biệt, tỷ lệ sa sút trí tuệ ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành phố, với 37,1% so với 26,9%.

Theo tổng hợp từ 21 nghiên cứu tại Nhật Bản, tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ ở khu vực nông thôn cao hơn so với thành thị Nghiên cứu của Lê Văn Tuấn năm 2010 tại hai quận, huyện Hà Nội với 1680 người từ 60 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ ở hai xã ngoại thành là 5,06%, cao hơn so với 3,56% ở hai phường nội thành, tuy nhiên sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê.

1.8.4 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp

Hệ thống tự điều hòa ở não giúp duy trì lượng máu não ổn định trong phạm vi huyết áp dao động Ở người cao tuổi, hệ thống này chuyển từ đường cong sigma sang đường thẳng, dẫn đến việc bất kỳ thay đổi đột ngột nào về huyết áp đều có thể gây ra sự thay đổi nhanh chóng và đáng kể trong lưu lượng máu não Huyết áp cao có thể làm tăng nguy cơ tổn thương chất trắng quanh não thất và dưới vỏ Những người bị tăng huyết áp (THA) kiểm soát kém có nguy cơ cao hơn về tổn thương chất trắng nghiêm trọng so với những người kiểm soát tốt hoặc không bị THA.

Cao huyết áp được xác định là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sa sút trí tuệ, bao gồm sa sút trí tuệ do mạch máu và đôi khi là bệnh Alzheimer Tuy nhiên, một số nghiên cứu, đặc biệt là trong môi trường bệnh viện, không tìm thấy mối liên hệ giữa cao huyết áp và sự phát triển của sa sút trí tuệ.

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc điều trị và kiểm soát huyết áp (HA) tốt có tác động tích cực đến sức khỏe Một nghiên cứu cắt ngang tại Bắc Kinh, Trung Quốc với 2065 người cao tuổi cho thấy tỷ lệ suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) cao hơn ở nhóm bị tăng huyết áp (THA) (16,5%) so với nhóm có huyết áp bình thường (13,1%, P = 0,043) Đặc biệt, trong số bệnh nhân THA, tỷ lệ MCI thấp hơn ở những người được điều trị (14,9%) so với những người không được điều trị (19,9%, P = 0,019, OR: 0,60).

Nghiên cứu trên 3.734 đàn ông tại Hawaii, với tuổi trung bình 78, cho thấy rằng mỗi khi huyết áp tâm thu tăng thêm 10 mmHg, nguy cơ suy giảm nhận thức tăng 9% Nếu huyết áp tâm thu vượt quá 140 mmHg, nguy cơ mắc suy giảm nhận thức tăng hơn gấp đôi sau 20 năm theo dõi Các thử nghiệm lâm sàng đã đề xuất việc kiểm soát huyết áp bằng thuốc hạ áp để giảm nguy cơ này.

Intervention studies with control groups, such as the Systolic Hypertension in Europe study (Syst-Eur) and the Perindopril Protection Against Recurrent Stroke Study (PROGRESS), have demonstrated the effectiveness of antihypertensive medications in reducing the incidence of cognitive decline The Syst-Eur study found that active treatment with nitrendipine, enalapril, and/or hydrochlorothiazide reduced the rate of dementia by 50% compared to placebo Similarly, the PROGRESS study indicated that active treatment with perindopril and indapamide was associated with a decreased risk of cognitive impairment compared to placebo.

1.8.5 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường

Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh tiểu đường (ĐTĐ) có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer và rối loạn tâm thần mạch máu Một phân tích tổng hợp gần đây chỉ ra rằng nguy cơ tương đối mắc bệnh Alzheimer ở những người bị ĐTĐ là 1,5 (95% CI).

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sa sút trí tuệ mạch máu, với tỷ lệ 2,5 (95% CI, 2.1-3.0) Cơ chế sinh bệnh của ĐTĐ có thể làm hỏng các mạch máu nhỏ trong não, dẫn đến giảm lưu lượng máu và có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh Alzheimer Nghiên cứu gần đây cho thấy các tế bào não không thể sử dụng insulin hiệu quả trong bệnh Alzheimer, và đường huyết cao có thể gây tổn hại trực tiếp cho tế bào não Mặc dù các yếu tố như tăng huyết áp, cholesterol, thời gian mắc ĐTĐ và yếu tố di truyền như alen APOE ε4 đều có thể ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa ĐTĐ và nhận thức ở người cao tuổi, nhưng vẫn chưa rõ ràng Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa đường huyết và suy giảm nhận thức, với ĐTĐ không kiểm soát làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer Kết quả từ nghiên cứu ACCORD-MIND cho thấy nồng độ HbA1c cao là yếu tố độc lập gây suy giảm chức năng nhận thức, với mỗi 1% HbA1c tăng làm giảm 0,14 điểm MMSE và ảnh hưởng đến các chức năng nhận thức khác như tốc độ thần kinh vận động, trí nhớ và chức năng điều hành.

Nghiên cứu của Lê Văn Tuấn và Phạm Thắng chỉ ra rằng bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) có nguy cơ cao mắc rối loạn tâm thần (SSTT) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác, như nghiên cứu cắt ngang của Lương Chí Thành trên 5892 người cao tuổi tại cộng đồng và nghiên cứu của Dina Zekry trên 349 bệnh nhân tại Bệnh viện Lão khoa Geneva, không tìm thấy mối liên quan giữa ĐTĐ và SSTT.

Nghiên cứu của MacKnight [48] đã theo dõi 5 năm trên 5574 người cao tuổi tại Canada [4], trong khi một nghiên cứu khác trên 639 bệnh nhân nội viện tại Hòa Lan cho thấy sự khác biệt có thể xuất phát từ thiết kế và địa điểm nghiên cứu.

1.8.6 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não

Các nghiên cứu về gánh nặng và nhu cầu của người chăm sóc

1.9.1 Nghiên cứu về gánh nặng của người chăm sóc Đối với BN SSTT, người chăm sóc có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của họ Người chăm sóc cũng thường được coi là bệnh nhân thứ hai khi phải cân bằng việc chăm sóc với những nhu cầu khác như công việc, quan hệ xã hội, việc nhà, chăm sóc con cái Họ có nguy cơ phải chịu nhiều gánh nặng, áp lực, trầm cảm và nhiều vấn đề sức khỏe [34].

Nghiên cứu của Etters [31] từ tài liệu tổng hợp tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc (1996-2006) chỉ ra rằng việc chăm sóc bệnh nhân SSTT có tác động đến sức khỏe của người chăm sóc và dẫn đến việc bệnh nhân phải nhập viện dưỡng lão sớm Nhiều yếu tố như văn hóa, giới tính, tính cách của người chăm sóc và mối quan hệ với bệnh nhân đều ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc.

Nghiên cứu của tác giả Sanders năm 2005 trên 85 người chăm sóc tại Mỹ cho thấy 81% cho rằng việc chăm sóc mang lại cả căng thẳng lẫn lợi ích, trong khi 19% chỉ cảm thấy căng thẳng Căng thẳng của người chăm sóc chủ yếu xuất phát từ lo lắng, áp lực phải cân bằng nhiều nhu cầu khác nhau và cảm giác quá tải trong việc chăm sóc Ngược lại, tinh thần trách nhiệm, ý thức cá nhân và kiến thức chăm sóc lại giúp mang lại những lợi ích tích cực.

Theo nghiên cứu tại Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Mỹ La Tinh [67] trên

Kết quả nghiên cứu của tác giả Prince cho thấy 673 người chăm sóc có điểm số Zarit Burden dao động từ 17.1 đến 27.9, cho thấy mức độ gánh nặng từ nhẹ đến trung bình Các yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng của người chăm sóc bao gồm rối loạn hành vi và tâm thần, giai đoạn bệnh, cũng như nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân.

Nghiên cứu tại Thái Lan năm 2010 của tác giả Muangpaisan [56] trên

Kết quả đánh giá gánh nặng thể chất và tinh thần của 88 người chăm sóc chủ yếu dao động từ 0-2, trong khi gánh nặng về xã hội và tình cảm từ 0-1 (thang điểm từ 0-4) Các yếu tố như văn hóa, mối quan hệ với người bệnh, quan điểm sống và hỗ trợ xã hội đều có ảnh hưởng đáng kể đến gánh nặng của người chăm sóc.

Tác giả Midori Nishio [53], nghiên cứu trên 274 người chăm sóc nam, điểm trung bình của thang điểm Zarit Burden là 32.8 (SD 17.4)

1.9.2 Nghiên cứu về nhu cầu của người chăm sóc

Theo nghiên cứu của Thân Hà Ngọc Thể, 48,3% người chăm sóc mong muốn nhận thông tin về SSTT qua Tivi, trong khi 18% chọn báo chí và 14,6% thông qua giáo dục cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Black [21] cho thấy hơn 85% người chăm sóc có nhu cầu được hỗ trợ và giáo dục về cách chăm sóc.

Nghiên cứu của tác giả Lee [44] chỉ ra rằng người Hàn Quốc có ý thức trách nhiệm cao hơn so với người Mỹ da trắng, điều này cho thấy sự khác biệt văn hóa giữa hai chủng tộc ảnh hưởng đến cách chăm sóc bệnh nhân.

Theo nghiên cứu của Henry, tại Mỹ, khoảng 70-81% bệnh nhân sa sút trí tuệ sống tại cộng đồng, trong đó 75% được chăm sóc bởi gia đình và bạn bè Sự khác biệt lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển là bệnh nhân ở các nước đang phát triển thường sống trong các hộ gia đình lớn với nhiều thế hệ.

Theo nghiên cứu của Midori Nishio, 13,5% bệnh nhân cần sự hỗ trợ từ người khác, trong khi 40% có nhu cầu ở viện dưỡng lão và 6,4% cần chăm sóc đặc biệt Những người chăm sóc thường gặp vấn đề về sức khỏe và xã hội, bao gồm trầm cảm, căng thẳng và cảm giác không hài lòng, với nhu cầu của họ không được đáp ứng Họ thường không tìm kiếm được sự tư vấn hoặc hỗ trợ từ bạn bè và có thể rơi vào tình trạng cô lập.

Từ kết quả của Muang Paisan [56], các nhu cầu của người chăm sóc từ nhiều đến ít là:

1) Đào tạo về cách chăm sóc

2) Đường dây điện thoại tư vấn cách chăm sóc

3) Hệ thống đặc biệt tại bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân SSTT

4) Mạng lưới kết nối giữa các người chăm sóc BN SSTT trong BV

5) Cung cấp các tài liệu như sổ tay để giáo dục người chăm sóc

6) Nhà dưỡng lão hay trung tâm chăm sóc ban ngày

7) Những chuyến thăm tại nhà từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe

8) Các tổ chức để gặp gỡ trao đổi kiến thức và kinh nghiệm chăm sóc giữa những người chăm sóc

9) Hỗ trợ cộng đồng cho các BN SSTT

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, mô tả có phân tích.

Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện.

2.2.3 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu: n = cỡ mẫu tối thiểu dựa vào công thức trên

Tỉ lệ sa sút trí tuệ được xác định là \$P = \frac{11}{36} = 0.306\$ từ mẫu pilot gồm 36 bệnh nhân tại khoa Lão của bệnh viện Nguyễn Trãi Độ chính xác tuyệt đối mong muốn, ký hiệu là \$d\$, thường được lấy là 0,05 (5%).

Z : Z score tương ứng với mức ý nghĩa thống kê mong muốn, thường lấy 95% - 95% CI, 2-side test Z = 1.96

Vậy n tính được là 328 người.

2.2.4 Phương pháp tiến hành ngiên cứu Đến phòng bệnh, chọn bệnh nhân ≥ 60 tuổi đang điều trị tại khoa Lão bệnh viện Nguyễn Trãi, đồng ý tham gia nghiên cứu, không có tiêu chuẩn loại trừ. Đối tượng tham gia được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn Các bước thức hiện:

- Tầm soát giảm nhận thức Dùng thang MMSE tìm ra các bệnh nhân có điểm

Ngày đăng: 23/04/2023, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Anh Nhị, Diệp Trọng Khải. (2012) "Đánh giá suy giảm nhận thức và tổn thương não bằng cộng hưởng từ ở người lớn tuổi". Hội thần kinh học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá suy giảm nhận thức và tổn thương não bằng cộng hưởng từ ở người lớn tuổi
Tác giả: Vũ Anh Nhị, Diệp Trọng Khải
Nhà XB: Hội thần kinh học Việt Nam
Năm: 2012
2. Vũ Anh Nhị, Nguyễn Linh (2013) "Khảo sát kiểu gien apo e4 trên người suy giảm nhận thức nhẹ&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiểu gien apo e4 trên người suy giảm nhận thức nhẹ
Tác giả: Vũ Anh Nhị, Nguyễn Linh
Năm: 2013
3. Nguyễn Kinh Quốc (2005) "Khảo sát thang điểm Mini Mental State Examination ". Y học, 9 (1), tr. 121-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thang điểm Mini Mental State Examination
Tác giả: Nguyễn Kinh Quốc
Nhà XB: Y học
Năm: 2005
4. Nguyễn Kinh Quốc (2012) Nghiên cứu dịch tễ bệnh lý sa sút trí tuệ tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ bệnh lý sa sút trí tuệ tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Kinh Quốc
Nhà XB: Đại học Y Dược TP HCM
Năm: 2012
5. Phạm Thắng (2010) "Hợp tác nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của hội chứng sa sút trí tuệ ở người cao tuổi và đề xuất biện pháp can thiệp dự phòng ". Bệnh viện lão khoa trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của hội chứng sa sút trí tuệ ở người cao tuổi và đề xuất biện pháp can thiệp dự phòng
Tác giả: Phạm Thắng
Nhà XB: Bệnh viện lão khoa trung ương
Năm: 2010
6. Phạm Thắng, Lương Chí Thành (2010) "Nghiên cứu dịch tễ về sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng". y hoc thực hành, 715 (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ về sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng
Tác giả: Phạm Thắng, Lương Chí Thành
Nhà XB: y hoc thực hành
Năm: 2010
7. Thân Hà Ngọc Thể, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí, Peggy L.Mc Farland et al (2016) "Tần suất sa sút trí tuệ và kiến thức người chăm sóc tại các khoa Lão". Tạp chí Y học TPHCM, 20 (1), tr. 105-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tần suất sa sút trí tuệ và kiến thức người chăm sóc tại các khoa Lão
Tác giả: Thân Hà Ngọc Thể, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí, Peggy L.Mc Farland
Nhà XB: Tạp chí Y học TPHCM
Năm: 2016
8. Lê Nguyễn Nhựt Tín, Vũ Anh Nhị (2008) "Tần suất và yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị: Khảo sát tiền cứu 218 bệnh nhân tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy". Y học, 12 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tần suất và yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị: Khảo sát tiền cứu 218 bệnh nhân tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Lê Nguyễn Nhựt Tín, Vũ Anh Nhị
Nhà XB: Y học
Năm: 2008
9. Tống Mai Trang (2010) Đánh giá chức năng nhận thức đái tháo đường ở người lớn tuổi, Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chức năng nhận thức đái tháo đường ở người lớn tuổi
Tác giả: Tống Mai Trang
Nhà XB: Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
10. Bùi Thị Mai Trúc và cộng sự (2012 ) "Khảo sát mối liên quan giữa chức năng nhận thức và biến đổi hình ảnh học CT scan ở người đái tháo đường type 2 cao tuổi". Y học TP HCM, 16 (4), tr. 1859-1779 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát mối liên quan giữa chức năng nhận thức và biến đổi hình ảnh học CT scan ở người đái tháo đường type 2 cao tuổi
Tác giả: Bùi Thị Mai Trúc, cộng sự
Nhà XB: Y học TP HCM
Năm: 2012
11. Lê Văn Tuấn (2014) Đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại hai quận, huyện Hà Nội, Luận án tiến sĩ, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại hai quận, huyện Hà Nội
Tác giả: Lê Văn Tuấn
Nhà XB: Viện vệ sinh dịch tễ trung ương
Năm: 2014
12. Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng (2009) "SSTT sau nhồi máu và các YTNC". y học thực hành, 1, tr. 641-642.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: SSTT sau nhồi máu và các YTNC
Tác giả: Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng
Nhà XB: y học thực hành
Năm: 2009
13. A Peter Passmore (2016) "The Journal of Quality Research in Dementia".Alzheimer's society, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Quality Research in Dementia
Tác giả: A Peter Passmore
Nhà XB: Alzheimer's society
Năm: 2016
14. Alzheimer's Association (2003) "Tools for Early Identification, Assessment and Treatment for People with Alzheimer’s Disease and Dementia". National Chronic Care Consortium Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tools for Early Identification, Assessment and Treatment for People with Alzheimer’s Disease and Dementia
Tác giả: Alzheimer's Association
Nhà XB: National Chronic Care Consortium
Năm: 2003
15. Alzheimer's society (2016) Risk factors for dementia, https://www.alzheimers.org.uk/site/scripts/documents_info.php?documentID=102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors for dementia
Tác giả: Alzheimer's society
Năm: 2016
16. Alzheimers.org.uk (2014) Dementia 2014 report statistics, https://www.alzheimers.org.uk/site/scripts/documents_info.php?documentID=341 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dementia 2014 report statistics
Nhà XB: Alzheimers.org.uk
Năm: 2014
17. American Psychiatric Association (2013) Diagnostic and statistical manual of mental disorders, fifth edition, Washington Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and statistical manual of mental disorders, fifth edition
Tác giả: American Psychiatric Association
Nhà XB: Washington
Năm: 2013
18. Andrea Slachevsky (2013) "The CRUIDEME Study: determinants of Burden in Chilean Primary Caregivers of Patients with Dementia".Journal of Alzheimer's Disease, (35), pp. 297-306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The CRUIDEME Study: determinants of Burden in Chilean Primary Caregivers of Patients with Dementia
Tác giả: Andrea Slachevsky
Nhà XB: Journal of Alzheimer's Disease
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm