Sự điều hòa ngược âm tính từ tinh hoàn lên vùng hạ đồi - tuyến yên Khi nồng độ tăng cao trong máu, testosteron sẽ tạo ra tác dụng điều hòa ngượclên trục hạ đồi - tuyến yên, làm giảm bài
TỔNG QUAN
1.1.1 SINH TỔNG HỢP VÀ SỰ CHUYỂN HÓA TESTOSTERON
The normal development of males requires the presence of three essential hormones: testosterone, dihydrotestosterone, and Mullerian inhibiting factor (MIF) Among these, testosterone is regarded as the most important androgen for male sex characteristics.
Testosteron, hormon chủ yếu của tinh hoàn, được tổng hợp chủ yếu từ cholesterol trong tế bào Leydig dưới sự kích thích của LH từ tuyến yên, với một lượng nhỏ cũng được sản xuất tại lớp lưới của vỏ thượng thận.
Ở nam giới trưởng thành, lượng testosteron được bài tiết khoảng 4-9 mg trong 24 giờ Nghiên cứu của Tổ chức nghiên cứu lão khoa Mexico cho thấy testosteron giảm 110 ng/dL trong mỗi 10 năm, và ở độ tuổi 70, mức testosteron chỉ còn khoảng 60-70% so với độ tuổi 20 Phần lớn testosteron sẽ ở lại tinh hoàn để hỗ trợ quá trình sinh tinh từ các tế bào mầm, trong khi một lượng nhỏ hơn sẽ vào máu để duy trì các đặc tính sinh dục thứ phát.
Hầu hết hormon testosteron trong huyết tương tồn tại dưới dạng gắn kết với protein vận chuyển, với khoảng 98% tổng lượng testosteron Trong đó, 65% gắn với globulin gắn hormone sinh dục (SHBG) và 33% gắn với albumin Chỉ có khoảng 2% testosteron tự do, không gắn kết, có hoạt tính sinh học Ở nam giới trưởng thành, nồng độ testosteron toàn phần dao động từ 10,4 đến 24,3 nmol/L.
Khoảng 7% lượng testosterone được chuyển hóa thành 5a-DHT (5a-dihydrotestosteron), một chất chuyển hóa có tác dụng mạnh hơn testosterone Ngoài ra, chỉ khoảng 0,3% testosterone được chuyển đổi thành estradiol, một hormone sinh dục nữ với hoạt động hoàn toàn khác biệt so với testosterone.
Testosteron được sản xuất chủ yếu từ vỏ thượng thận dưới dạng DHEA và các este sulfuric của nó, với khoảng 15-30mg DHEA được sản xuất mỗi ngày DHEA chuyển đổi thành androgenstenedione, từ đó tạo ra testosteron Androgen có vai trò quan trọng trong việc phát triển các đặc tính sinh dục thứ phát của nam giới, tăng cường đặc tính sinh dục nam và ức chế hoạt tính sinh dục nữ Mặc dù các androgen từ vỏ thượng thận có tác động yếu, nhưng chúng có thể được chuyển hóa thành testosteron, làm tăng hoạt tính của chúng ACTH kích thích giải phóng androsterone từ tuyến thượng thận, trong khi gonadotropin không có ảnh hưởng đến quá trình này.
Hình 1 1 Sơ đồ chuyển hóa testosteron [29]
1.1.2 HỆ TRỤC HẠ ĐỒI – TUYẾN YÊN ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG CỦA TINH HOÀN
1.1.2.1 Hoạt động của trục hạ đồi - tuyến yên trên tinh hoàn
Trước tuổi dậy thì, tế bào mầm sinh dục ở trạng thái yên lặng do sự tương tác giữa vùng hạ đồi, tuyến yên và tinh hoàn không diễn ra Ở người trưởng thành, trục hạ đồi - tuyến yên đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa chức năng tạo tinh trùng và nội tiết của tinh hoàn.
Từ tuổi dậy thì, vùng hạ đồi bắt đầu tiết hormon GnRH theo nhịp điệu, điều này kích thích tuyến yên sản xuất và giải phóng hai hormon sinh dục FSH và LH.
Cả hai hormon này tác động gián tiếp lên tế bào mầm (spermatogonium) thông qua tế bào Sertoli và tế bào Leydig.
Hormon FSH đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và kích hoạt tế bào Sertoli, góp phần vào quá trình sinh tinh Điều này được thể hiện qua việc sản xuất protein ABP (androgen-binding protein) và hình thành hàng rào máu - tinh hoàn Protein ABP cần thiết để duy trì nồng độ cao testosteron trong tinh hoàn, từ đó khởi đầu và duy trì hoạt động sinh tinh liên tục Hơn nữa, FSH còn giúp ngăn chặn sự chết theo chương trình (apoptosis) của các tế bào mầm tip Ad, là tiền thân của các tinh bào sơ cấp.
Hormon LH nuôi dưỡng và kích thích tế bào Leydig tiết testosteron, trong khi testosteron phối hợp với hormon FSH từ tuyến yên để kích hoạt tế bào Sertoli, thúc đẩy quá trình giảm phân và biệt hóa tế bào mầm sinh dục thành tinh trùng Nếu chỉ giảm FSH mà không ảnh hưởng đến testosteron, quá trình sinh tinh vẫn diễn ra nhưng số lượng tinh trùng giảm đáng kể, mặc dù hình thái tinh trùng vẫn bình thường.
1.1.2.2 Sự điều hòa ngƣợc âm tính từ tinh hoàn lên vùng hạ đồi - tuyến yên
Khi nồng độ testosteron trong máu tăng cao, nó sẽ ức chế trục hạ đồi - tuyến yên, làm giảm bài tiết LH mà không ảnh hưởng nhiều đến FSH Tế bào Sertoli tiết ra Inhibin B để ức chế phóng thích FSH Để sinh tinh diễn ra bình thường, nồng độ testosteron tại tế bào Sertoli phải cao gấp 25 - 100 lần so với huyết tương Việc lạm dụng thuốc hoặc thực phẩm chứa testosteron ngoại sinh sẽ làm tăng nồng độ hormon này trong huyết tương, gây ức chế hoạt động của trục hạ đồi - tuyến yên - tinh hoàn Hệ quả là sự bài tiết LH bị hạn chế, làm giảm testosteron nội sinh từ tế bào Leydig, dẫn đến thiếu hụt testosteron tại chỗ và giảm số lượng tinh trùng, có thể gây vô sinh.
1.1.3 VAI TRÒ CỦA TESTOSTERON TRONG CƠ THỂ
1.1.3.1 Tác động lên sự ham muốn tình dục
Testosteron có vai trò quan trọng trong việc kích thích ham muốn tình dục Nghiên cứu cho thấy, khi những người có vấn đề về tình dục được điều trị bằng liệu pháp testosteron thay thế, hoạt động tình dục của họ tăng lên Ngoài ra, hoạt động tình dục cũng giảm khi nồng độ testosteron dưới 5-8 nmol/l.
1.1.3.2 Tác động lên hiện tượng cương dương
Testosteron kích thích ham muốn tình dục bằng cách tác động lên vỏ não, từ đó truyền mệnh lệnh xuống hệ thần kinh phó giao cảm, dẫn đến giãn mạch và cương cứng dương vật.
Testosteron có tác dụng tích cực đối với sự cương cứng, thông qua việc kích thích trung tâm ham muốn tình dục và hoạt động tình dục, đồng thời tác động trực tiếp lên dương vật.
NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dâm dương hoắc, sản phẩm của công ty cổ phần dược phẩm Thành Phát, đã được kiểm nghiệm dược liệu với số phiếu kiểm nghiệm DLTP-1053/21.
Ba kích đƣợc cung cấp bởi công ty cổ phần dƣợc liệu Việt Nam với số đăng kýi kiểm nghiệm là 235DL-G-2021 (xem thêm phụ lục IV)
Mỗi dƣợc liệu đƣợc chuẩn hóa theo quy định về kiểm tra chất lƣợng thuốc theo Dƣợc điển Việt Nam V.
Tơm trơng đƣợc cung cấp bởi Hội Đông Y tỉnh Đắk Lắk – đƣợc đối chiếu và kiểm định bởi Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam.
Andriol Testocaps TM 40mg, manufactured by Caỉalent France Beinheim S.A in France, are soft gelatin capsules that are transparent and glossy with an orange color Each capsule is marked with the white letters "ORG DV3" and contains a yellow liquid inside.
Mỗi viên nang chứa 40 mg Testosteron Undecanoate và các tá dƣợc nhƣ: dầu thầu dầu, Propylen Glycol Laurat, Glycerin, màu vàng cam (Sunset Yellow [E110, FD&C yellow số 6]) và Gelatin.
Kit định lƣợng testosteron ELISA 96 test (Human, Đức).
Chất chuẩn châm dƣợc liệu Epimedin C, Icarrin (Xem phụ lục V)
Bản mỏng sắc ký Silica gel F254 (Merck, Đức).
Cloroform, ethy acetat, methanol, ethanol 96%, H 2 SO 4 10%, acid fomic.Một số dụng cụ khác: rây số 32
The article highlights essential laboratory equipment, including the Elisa ELx50 washer and ELx808 reader from BioTek and BioTel, respectively It also features the Mikro 185 centrifuge by Hettich, the CPA224S analytical balance from Sartorius, and the Mettler Toledo moisture analyzer from Switzerland Additionally, it mentions the Lenton furnace, Stuart water bath, and electric stove, all crucial for various scientific applications.
Trong quá trình thí nghiệm và nghiên cứu, các dụng cụ như lồng nuôi chuột, ống đong, bình nón, bình định mức, và bình lắng gạn là rất cần thiết Ngoài ra, đũa thủy tinh, ống nghiệm, ống tiêm lml, kim tiêm có đầu tù, dao lam, bình hút ẩm, chén nung, cối chày cùng một số dụng cụ thông thường khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của các thí nghiệm.
Chuột nhắt trắng đực (chủng Swiss albino, trọng lượng trung bình 25 g ± 2 g) được cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang và đã được ổn định trong 1 tuần trước khi thực nghiệm Chúng được nuôi bằng thực phẩm viên và có nước uống đầy đủ, với điều kiện độ ẩm và nhiệt độ được duy trì ổn định trong suốt quá trình thử nghiệm tại Viện Sâm và Dược Liệu Thể tích mẫu thử cho uống hoặc tiêm phúc mạc là 10 ml/kg thể trọng chuột, và thuốc được cho vào buổi sáng, trong khoảng thời gian từ 8-9 giờ.
2.2.1.1 Dược liệu Dâm dương hoắc, Ba kích
Khảo sát màu, mùi, thể chất dƣợc liệu thô.
Khảo sát bột dược liệu bằng kính hiển vi giúp xác định các đặc điểm vi học đặc trưng, từ đó hỗ trợ việc định danh và xác định độ tinh khiết của dược liệu Phương pháp này cũng giúp phân biệt dược liệu với các loại dễ nhầm lẫn và phát hiện sự giả mạo nếu có.
Chuẩn bị bột để soi
Để chuẩn bị dược liệu, cần cắt nhỏ, sấy ở nhiệt độ khoảng 60°C, sau đó tán nhỏ hoặc nghiền nát bằng máy xay Tiến hành rây qua rây số 32 để thu được bột mịn, phần còn lại trên rây cần được tán hoặc xay tiếp cho đến khi tất cả dược liệu đạt độ mịn mong muốn Lưu ý không được bỏ qua phần còn lại trên rây.
Trước khi sử dụng kính hiển vi, cần tiến hành quan sát bột bằng các giác quan như màu sắc, mùi vị, độ mịn, độ nhám và cấu trúc xơ để thu thập thêm thông tin cho quá trình kiểm nghiệm.
Lên tiêu bản bột soi:
Cho một giọt nước vào giữa phiến kính và dùng que sạch để trộn đều bột Sau đó, cho một ít bột vào giữa chất lỏng và khuấy nhẹ bằng góc lá kính để phân tán bột Dùng ngón tay di nhẹ trên lá kính để các phần tử bột tách rời và phân tán đều Cuối cùng, loại bỏ phần bột và nước thừa bên ngoài lá kính bằng giấy thấm, và lau sạch mặt trên phiến kính và lá kính trước khi soi kính hiển vi.
Tiến hành theo Dƣợc điển Việt Nam V, PL 9.6. Độ tro
Thực hiện 3 mẫu, lấy kết quả trung bình.
Tiến hành theo Dƣợc điển Việt Nam V, PL 9.8. Định tính
Bản mỏng: silica gel F254, Merck.
Dung môi triển khai: EtOAC - H 2 O - HCOOH (8: 1: 1)
Phát hiện vết: quan sát ở UV 254 nm, 365 nm, phun thuốc thử H 2 SO 4 10%/ ethanol, sấy ở 105°C trong 5 phút, quan sát dưới ánh sáng thường.
Chấm riờng biệt lờn bản mỏng khoảng 30 àl mỗi dung dịch sau:
Dung dịch đối chiếu được chuẩn bị bằng cách lấy khoảng 1 g bột dược liệu đã rây qua rây 355 mm cho vào ống nghiệm Sau đó, thêm 3 ml methanol và thực hiện chiết siêu âm trong 10 phút Tiếp theo, ly tâm ở 1500 vòng trong 3 phút và lấy lớp trên làm dung dịch thử.
Lấy 1g bột dược liệu đã rây qua rây 355 mm cho vào ống nghiệm, sau đó thêm 3ml methanol Tiến hành chiết siêu âm trong 10 phút và ly tâm ở 1500 vòng trong 3 phút Cuối cùng, lấy lớp trên để làm dung dịch thử.
Dung dịch thử có vết cùng màu và R f trùng với vết của chất chuẩn tương ứng với từng dƣợc liệu.
2.2.2 Phương pháp chiết xuất cao đặc
Sắc dược liệu với nước theo tỉ lệ 1:10 bằng máy sắc thuốc tự động và cô cao bằng phương pháp thủy Quá trình chiết xuất dược liệu sử dụng dung môi nước và được thực hiện theo sơ đồ cụ thể Sau khi thu được dịch chiết, cần tiến hành lọc và cô đặc để tạo ra cao đặc.
Với liều thông thường sắc uống cho người là: Dâm dương hoắc 3 g, Ba kích 9 g, Tơm trơng 15 g.
Hình 2 1: Sơ đồ chiết xuất cao đặc 2.2.3 Khảo sát một số chi tiêu của cao đặc
Quan sát, mô tả, đánh giá về thể chất, màu sắc, mùi vị.
Thực hiện 3 mẫu, lấy kết quả trung bình.
Tiến hành theo Dƣợc điển Việt Nam V, PL 9.6.
Sử dụng dụng cụ sấy bằng thủy tinh có miệng rộng và đáy bằng, có nắp mài để đựng mẫu thử Đầu tiên, làm khô bì trong 30 phút ở nhiệt độ 70 °C cho đến khi đạt khối lượng không đổi Cân chính xác khoảng 1g mẫu và dàn mỏng thành lớp dày khoảng 5 mm Tiến hành sấy trong tủ sấy ở 70 °C, sau đó để nguội trong bình hút ẩm và cân để xác định khối lượng Tiếp tục sấy cho đến khi khối lượng không đổi, với chênh lệch khối lượng sau khi sấy thêm 1 giờ hoặc trong bình hút ẩm 6 giờ không vượt quá 0,5 mg.
Thực hiện 3 mẫu, lấy kết quả trung bình.
Tiến hành theo Dƣợc điển Việt Nam V, PL 9.8.
Cho 2 – 3 g mẫu thử vào chén sứ hoặc chén platin đã nung và cân bì Nung ở nhiệt độ tối đa 450 o C cho đến khi không còn carbon, sau đó làm nguội và cân lại Nếu tro vẫn còn carbon, thêm một ít nước nóng vào khối chất đã than hoá, khuấy đều bằng đũa thuỷ tinh, rồi lọc qua giấy lọc không tro Rửa đũa thuỷ tinh và giấy lọc, tập trung nước rửa vào dịch lọc Đặt giấy lọc và cặn vào chén nung, nung cho đến khi thu được tro màu trắng hoặc gần như trắng Hợp dịch lọc vào cặn trong chén nung, bốc hơi đến khô, rồi nung ở nhiệt độ tối đa 450 o C cho đến khi khối lượng không đổi Tính tỷ lệ phần trăm của tro toàn phần theo dược liệu đã làm khô trong không khí.
Mẫu cao bài thuốc: Cân 200 mg cao bài thuốc vào bình định mức 25 ml.
Thêm 23 ml methanol và siêu âm trong 15 phút, sau đó để nguội đến nhiệt độ phòng và bổ sung methanol đến vạch Lọc dịch chiết vào chén sứ và cô đến cắn Cuối cùng, thêm 2 ml methanol vào chộn sứ để hòa tan cắn và lọc qua màng lọc 0,22 µm.