BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ THANH THỦY KHẢO SÁT VI TRÙNG VÀ KHÁNG SINH ĐỒ TRÊN MẪU BỆNH PHẨM AMIDAN CỦA BỆNH NHÂN CẮT AMIDAN DO VIÊM TẠ
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát vi trùng và kháng sinh đồ trên mẫu bệnh phẩm amidan của bệnh nhân cắt amidan do viêm được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Cần Thơ trong khoảng thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng 8/2021.
Mục tiêu chuyên biệt
- Khảo sát đặc điểm lâm sàng viêm amidan có chỉ định phẫu thuật.
- Khảo sát vi khuẩn trên mẫu mô amidan của bệnh nhân cắt amidan do viêm.
- Khảo sát kháng sinh đồ vi khuẩn phân lập được trên mẫu mô amidan của bệnh nhân cắt amidan do viêm
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu mô tả.
Thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân viêm amidan có chỉ định điều trị cắt amidan.
Từ tháng 8/2020 đến tháng 8/2021, bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Cần Thơ đã thực hiện phẫu thuật cắt amidan cho nhiều bệnh nhân viêm amidan.
Tuổi: 18- 60 tuổi Không phân biệt nơi cư ngụ, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, …
Từ tháng 8/2020 đến tháng 8/2021, có chỉ định cắt amidan được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Cần Thơ.
Amidan được cắt bằng phương pháp bóc tách, bằng dao điện cao tần lưỡng cực (lấy gọn, không rách bao trong).
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Chống chỉ định cắt amidan.
Amiđan còn một phần hoặc sót sau lần cắt trước.
Các trường hơp cắt amidan rách bao trong, sót amidan, mô amidan bị mủn nát trong quá trình cắt.
Amiđan được chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ ác tính: u sùi hoặc loét kèm theo thâm nhiễm.
Bệnh nhân không trả lời đầy đủ các câu hỏi, không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân suy giảm trí tuệ.
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Với n là cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý.
Z: mức nghĩa thống kê Chọn mức tin cậy mong muốn 95%, Z = 1,96. p: tỷ lệ vi khuẩn mọc trong các mẫu amindan (theo nghiên cứu của tác giả Trương Kim Tri [26] thì tỷ lệ vi khuẩn mọc ghi nhận là 65,6% nên chọn p = 0.656) d: chấp nhận mức sai số cho phép của nghiên cứu là 15% vì nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19.
Từ đó ta có số mẫu cần nghiên cứu là: 38,5 Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi đã chọn được 39 bệnh nhân.
Tiến hành nghiên cứu
Bệnh nhân chỉ định cắt amidan trong nghiên cứu đã được khai thác bệnh sử và khám trước mổ, với đầy đủ chi tiết trên bệnh án Tất cả các xét nghiệm tiền phẫu, bao gồm hồng cầu, công thức bạch cầu, sinh hóa, X quang tim phổi và đo điện tim, đều có kết quả bình thường.
2.5.2 Phương tiện, dụng cụ Đèn Clar, banh miệng nâng lưỡi Boyie Davis, đè lưỡi cong, Kelly cong 18,kẹp phẫu tích có mấu Allis, kéo Mayo, chỉ Soire số 3, kẹp kim, máy hút, dao điện cắt đốt cao tần lưỡng cực, thòng lọng Tyding, bóc tách vén trụ.
2.5.3 Cách thu thập số liệu
Bệnh nhân có mặt tại bệnh viện và không ăn uống ≥ 6 giờ trước khi cắt Bệnh nhân trước mổ đánh răng, súc miệng bằng Betadin 3 lần.
Mẫu bệnh phẩm amidan được lấy ngẫu nhiên từ bên trái hoặc bên phải Sau khi tách khối amiđan khỏi thành họng bằng phương pháp bóc tách hoặc dao điện cao tần lưỡng cực mà không làm rách bao, khối amidan sẽ được rửa sạch bằng nước muối sinh lý 0,9% và ngâm trong dung dịch Betadine 1% trong 10 phút Sau đó, khối amidan được rửa lại bằng nước muối sinh lý 0,9% trước khi được mổ xẻ dọc và lấy mẫu phết từ trung tâm mặt cắt.
Mẫu bệnh phẩm cần ghi đầy đủ họ tên, tuổi, ngày và giờ lấy mẫu, và phải được gửi đến phòng xét nghiệm vi sinh trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong vòng 24 giờ Mỗi mẫu bệnh phẩm cũng phải kèm theo một phiếu kết quả kháng sinh đồ.
2.5.4 Kỹ thuật nuôi cấy và định danh vi khuẩn ái khí
Các dụng cụ lấy bệnh phẩm và môi trường chuyên chở do phòng xét ghiệm vi sinh cung cấp.
Môi trường chuyên chở: Stuart- Amies, được bác sĩ lâm sàng gơi ngay tới phòng xét nghiệm.
Tiến hành phân lập vi khuẩn trên các hộp thạch như sau:
- Thạch máu, thường gọi là BA (Blood Agar).
- Thạch nâu, thường gọi là CA (Chocolate Agar).
- Thạch chọn lọc trực khuẩn gram âm dễ mọc, thường gọi là MC (Mac Conkey).
- Cấy dự phòng vào một ống nghiệm môi trường lỏng BHI (Brain- Heart- Infusion).
Các hộp thạch BA, CA được ủ trong bình nến.
Các môi trường khác được ủ trong khí trường bình thường.
Tất cả các môi trường đều được ủ tủ từ 35°c- 37°c và quan sát mỗi ngày, liên tiếp trong 3 ngày.
Các khúm vi khuẩn mọc trên hộp thạch phân lập đều phải được tiến hành định danh tùy từng loại vi khuẩn và làm kháng sinh đồ.
Sau khi thực hiện nuôi cấy để phết nhuộm Gram, chúng tôi ghi nhận sự hiện diện của các vi khuẩn trong mẫu xét nghiệm và sẽ cung cấp thông tin cho bác sĩ lâm sàng nếu cần thiết.
2.5.5 Nuôi cấy một số loại vi khuẩn tiêu biểu có thể gặp trong bệnh phẩm
(các xét nghiệm vi sinh được thực hiện tại bộ môn vi sinh trường đại học y dược Cần Thơ)
Liên cầu tiểu huyết nhóm A là vi khuẩn gram dương, có đường kính từ 0,5 đến 1 µm, thường xếp thành chuỗi dài hoặc ngắn, và có thể tạo thành đụi Vi khuẩn này được cấy trên hộp thạch máu có chứa Gentamycin (BAGE) và có thể bổ sung thêm hộp thạch BA hoặc BA có nalidixic acid (BANE) Để thu được mẫu cấy hiệu quả, có thể đặt một đĩa Bacitracin và một đĩa Co-trimoxazol tại vùng có mẫu cấy nhiều nhất Hộp thạch cần được ủ trong bình nến ở nhiệt độ 35ºC qua đêm.
Nếu có nhiếu khúm liên cầu tiêu huyết β mọc trên hộp thạch, có thể biết ngay liên cầu thuộc nhóm nào:
- Nhóm A: nếu nhạy cảm với Bacitracin, kháng Co- trimoxazol.
- Nhóm B, D: nếu kháng Bacitracin, nhạy Co-trimoxazol.
Nếu ít khúm liên cầu mọc, tiến hành cấy thuần khiết rồi định danh sau.
Trên hộp thạch máu có thể tìm được Staphylococci, S pnemoniae.
Trực khuẩn gram âm nhỏ, ngắn Cấy trên hộp tha ch CAHI (CA có Isovitex và Bacitracin).
Là cầu khuẩn gram dương, có hình dạng hơi thon dài giống như ngọn nến hoặc mũi giáo, với đường kính từ 0.5 đến 1.3 micromet Chúng thường sắp xếp thành các đụi đặc sắc và có thể xếp thành chuỗi ngắn.
Cầu khuẩn gram dương đường kính 0.5-1 um thường xếp thành từng nhóm haythànhchùm giống chùm nho.
2.5.6 Kỹ thuật kháng sinh đồ
Môi trường Mueller Hinton là lựa chọn hàng đầu cho việc thử nghiệm kháng sinh đồ đối với các vi khuẩn ái khí không khó mọc, sử dụng phương pháp khuếch tán kháng sinh trong thạch.
Pha thạch Mueller Hinton: được pha từ môi trường khô có sẵn trên thị trường, theo chỉ dẫn của nhà sản xuất.
Pha huyền dịch vi khuẩn bằng cách pha trực tiếp khúm vi khuẩn với nước muối sinh lý, sử dụng các khúm vi khuẩn đã được nuôi cấy trên môi trường thạch không chọn lọc như thạch máu trong khoảng thời gian 18-24 giờ Đảm bảo điều chỉnh huyền dịch đạt độ đục chuẩn 0.5 MeFarland.
Trải mẫu cấy trên mặt thạch:
Trong vòng 15 phút sau khi pha huyền dịch vi khuẩn, hãy sử dụng một que gòn vô khuẩn để nhúng vào huyền dịch vi khuẩn Sau đó, lấy que gòn ra và ép, xoay nhẹ que gòn trên thành ống nghiệm.
Trải đều vi khuẩn từ que gòn lên mặt thạch Mueller Hinton và để cho mặt thạch khô tự nhiên trong khoảng 3-5 phút, nhưng không quá 15 phút Sau đó, đặt đĩa kháng sinh đã được chọn lọc cho từng loại vi khuẩn lên mặt thạch đã trải vi khuẩn.
- Trong vòng 15 phút sau khi đặt đĩa kháng sinh, phải đem ủ vào tủ ấm 35°C-37°C, sau 16- 18 giờ sẽ đọc và biện luận kết qủa.
Phương pháp thu thập số liệu
Mẫu thuận tiện Tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đều được đưa vào nghiên cứu.
Phương pháp xử lí số liệu
Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 12.
Kết quả được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ Để giảm thiểu sai số, cần thuần thục các kỹ thuật thực hiện và chỉ cho phép một nhóm nghiên cứu duy nhất tiến hành tại cơ sở nghiên cứu.
Máy móc, dụng cụ, hóa chất và các vật liệu nghiên cứu khác là chuẩn theo thường quy của Bộ Y tế (và quốc tế).
Biến số nghiên cứu
Bảng 2 1: Bảng biến số nghiên cứu
STT Biến số Chỉ số Công cụ thu thập
1 Tuổi Nhóm tuổi Bệnh án nghiên cứu
2 Giới Tỷ lệ nam – nữ Bệnh án nghiên cứu
3 Số đợt viêm amidan cấp/ năm Cao nhất- thấp nhất Thăm khám lâm sàng hỏi bệnh sử, tiền sử.
4 Số năm mắc bệnh Cao nhất - Thấp nhất Thăm khám lâm sàng hỏi bệnh sử, tiền sử.
Tình trạng sử dụng kháng sinh trước khi vào viện
Dùng Ks – Không dùng Ks
Thăm khám lâm sàng hỏi bệnh sử, tiền sử.
6 Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được Số lượng – Tỷ lệ Phết mẫu và nuôi cấy vi khuẩn.
STT Biến số Chỉ số Công cụ thu thập
7 Độ nhậy với kháng sinh của các loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp.
Thời gian thu thập dữ liệu dự kiến từ tháng 08/2020 đến tháng 08/2021, bao gồm các đợt lấy mẫu và xét nghiệm tại cơ sở nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện mà không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh.
Y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia tự nguyện của các bệnh nhân, những người đều hiểu rõ mục đích của nghiên cứu và đồng ý tham gia Họ có quyền dừng tham gia bất cứ lúc nào mà không bị ép buộc Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã nhận được sự đồng ý từ cơ sở nghiên cứu.
Nghiên cứu hoàn toàn không gây hại.
Trong quá trình nghiên cứu, bệnh nhân không bị gián đoạn điều trị.
Các kết quả nghiên cứu liên quan đến cá nhân sẽ được tôn trọng, đảm bảo không bị tiết lộ.
Các kết quả thu được chỉ phục vụ cho bệnh nhân và nghiên cứu, không nhằm mục đích khác Mọi đối tượng đều có quyền từ chối tham gia.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm nhóm nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm dịch tễ học
Biểu đồ 3 1:Phân bố độ tuổi của nghiên cứu Nhận xét
Nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu thuộc độ tuổi từ 30 đến 40, với độ tuổi trung bình là 33 +/- 10.6 Độ tuổi lớn nhất ghi nhận là 60 tuổi, trong khi độ tuổi nhỏ nhất là 18 tuổi.
Biểu đồ 3 2:Biểu đồ số ca bệnh theo giới tính Nhận xét:
Dựa trên 39 trường hợp thu thập được, tỷ lệ bệnh nhân theo giới tính gần như tương đương, với 19 ca nam (48.72%) và 20 ca nữ (51.28%) Sự khác biệt giữa hai giới không có ý nghĩa thống kê với p > 0.05.
Bảng 3 1: Phân bố chủng tộc của nhóm nghiên cứu
Với 39 bệnh nhân tham gia vào nhóm nghiên cứu tại bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Cần Thơ và bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ Chúng ta có ghi nhận
Khác 1 (2.56%) bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là dân tộc kinh với 38 trường hợp (97.44%) và 1 trường hợp thuộc dân tộc khác.
Biểu đồ 3 3: Biểu đồ phân bố theo nghề nghiệp Nhận xét:
Trong nghiên cứu, nhóm bệnh nhân được phân loại theo nghề nghiệp, trong đó sinh viên và nhân viên văn phòng chiếm 7.69% (3 bệnh nhân), công nhân chiếm 12.82% (5 bệnh nhân), nội trợ chiếm 15.38% (6 bệnh nhân), và nông dân chiếm 23.98% (9 bệnh nhân) Ngoài ra, có 13 bệnh nhân thuộc các nghề nghiệp khác.
Sinh viên Văn phòng Công nhân Nội trợ Làm ruộng NN Khác
Biểu đồ 3 4: Biểu đồ phân bố theo vùng miền Nhận Xét:
Bệnh nhân sống ở nông thôn chiếm đa số với tỷ lệ 67%, nhiều hơn so với ở thành thị tỷ lệ là 33%.
Biểu đồ 3 5: Lý do nhập viện của bệnh nhân Nhận xét:
Trong quá trình nghiên cứu, hầu hết bệnh nhân đều phàn nàn về tình trạng đau họng tái diễn, với 33 trường hợp cụ thể Ngoài ra, một lý do khác khiến họ muốn thực hiện phẫu thuật cắt amidan là cảm giác nuốt vướng.
Trong 20 trường hợp tiếp theo, có 10 ca bị sốt tái đi tái lại, trong khi đó, hôi miệng và ho xuất hiện lần lượt ở 4 và 2 trường hợp Đa số bệnh nhân đều phàn nàn về nhiều triệu chứng khác nhau.
Tiền sử của bệnh nhân
Biểu đồ 3 6: Tiền sử triệu chứng Nhận xét:
Nghiên cứu này phân tích 39 trường hợp viêm amidan cấp tái phát, trong đó 69.23% bệnh nhân (27 người) có số lần tái phát từ 7 lần/năm Cả hai nhóm bệnh nhân tái phát 5 lần/năm trong 5 năm liên tiếp và 3 lần/năm trong 3 năm liên tiếp đều chiếm 15.38%, với 6 bệnh nhân mỗi loại.
Bảng 3 2: Triệu chứng cơ năng
Triệu chứng Số trường hợp ghi nhận
Tỉ lệ phần trăm Đau họng 36 92.3%
Trên 7 lần 1 năm 5 lần/năm trên 5 năm liên tiếp
3 lần/năm trên 3 năm liên tiếp
Sổ mũi 16 (nước mũi trong) 41.0%
Sốt (tái đi tái lại) 23 59.0%
Trong 39 bệnh nhân được lấy mẫu có triệu chứng cơ năng chủ yếu là đau họng (92.3%), thường tái đi tái lại nhiều lần trong năm Ngoài ra thường kèm triệu chứng nuốt vướng (79.5%) và hôi miệng (79.5%) Mặc khác, các triệu ít gặp được ghi nhận chứng ngủ ngáy (23.1%), ngủ không ngon giấc (23.1%), buồn ngủ ban ngày (15.4%) và hạch dưới hàm (20.5%).
Biểu đồ 3 7: Dấu hiệu viêm họng ở bệnh nhân Nhận xét:
Khi thăm khám, dấu hiệu viêm họng ghi nhận ở 36 bệnh nhân tương tự tỷ lệ là 92.31%, còn lại là 3 bệnh nhân không ghi nhận viêm họng chiếm 7.69%.
Biểu đồ 3 8: Số ca viêm mũi xoang Nhận xét:
Trong nghiên cứu này, triệu chứng viêm mũi xoang được ghi nhận ở 39 bệnh nhân Kết quả cho thấy 27 bệnh nhân, chiếm 69.23%, không có triệu chứng viêm mũi xoang, trong khi 12 bệnh nhân, chiếm 30.77%, có ghi nhận triệu chứng này.
Bảng 3 3: Phân độ kích thước amidan Độ kích thước amidan Số trường hợp Độ 1 12 (30.77%) Độ 2 15 (38.46%) Độ 3 10 (25.64%) Độ 4 1 (2.56%)
Trong quá trình thăm khám lâm sàng, amidan có kích thước độ 2 là phổ biến nhất, chiếm 38.46% với 15 trường hợp Tiếp theo là amidan độ 1 và độ 3, được ghi nhận ở mức thấp hơn.
12 trường hợp (33.77%) và 10 trường hợp (25.64%) Xơ teo và độ 4 ghi nhận mỗi loại 1 trường hợp (2.56%).
Bảng 3 4: Chẩn đoán trước mổ
Chẩn đoán Số ca nhiễm
Viêm amidan mạn tính thể quá phát 38
Viêm amidan mạn tính thể xơ teo 1
Chẩn đoán trước mổ ở 39 bệnh nhân trong nghiên cứu lần này ghi nhận với
38 trường hợp do viêm amidan mạn tính thể quá phát chiếm 97.44%, và một trường hợp viêm amidan mạn tính thể sơ teo chiếm 2.56%.
Kết quả vi sinh và kháng sinh đồ
Bảng 3 5: Kết quả định danh vi khuẩn (N9)
Vi khuẩn Số ca ghi nhận Tỷ lệ trên số mẫu
Trong tổng số 39 mẫu bệnh phẩm nuôi cấy vi khuẩn dương tính ghi nhận: S. pneumonia là vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất trong tổng số mẫu bệnh phẩm
61.54% (24/39 mẫu) Kế đến là K pneumonia 41.03% (16/39 mẫu); M catarrhalis23.08% (9/39 mẫu); S areus 20.51% (8/39 mẫu); P aeruginosa 12.82% (6/39 mẫu). Ít gặp nhất là Streptococcus spp, Streptococcus npyogenes, Proteus spp mỗi loại chỉ chiếm 2.56% và HI chiếm 5.13%.
3.2.2 Số loại vi khuẩn phân lập được trên một mẫu bệnh phẩm
Biểu đồ 3 9: Số Loại Vi Khuẩn Phân Lập Được Trên Một Mẫu Bệnh Phẩm (N9) Nhận xét:
Trong 39 mẫu bệnh phẩm được nuôi cấy, tất cả đều cho kết quả dương tính với ít nhất một chủng vi khuẩn Cụ thể, 5 mẫu (13%) ghi nhận sự hiện diện của 3 loại vi khuẩn, 18 mẫu (46%) phân lập được 2 loại vi khuẩn, và 16 mẫu (41%) chỉ phân lập ra 1 loại vi khuẩn.
3.2.2 Kết quả kháng sinh đồ
Bảng 3 6: Kháng sinh đồ S pneumoniae
Phân tích kháng sinh đồ của S pneumoniae cho thấy tỷ lệ kháng cao đối với các kháng sinh như Amoxicillin + Acid clavulanic (87.50%), Amoxicillin (75%), Clindamycin (62.5%) và Erythromycin (54.17%) Ngược lại, Meropenem duy trì độ nhạy cao nhất (91.67%), tiếp theo là Tetracycline (66.67%), Ceftriaxone (58.33%) và Vancomycin (58.33%) Các kháng sinh khác có độ nhạy dưới 55%.
Bảng 3 7: Kháng sinh đồ K pneumoniae
Trong kháng sinh đồ của K pneumoniae cho ta thấy kháng sinh nhóm
Carbapenem (Imipenem, Meropenem) có độ nhạy cao nhất đạt 93.8%, tiếp theo là Tetracycline với độ nhạy 75% Hai kháng sinh thuộc nhóm Cephalosporin (Ceftazidime, Cefepime) duy trì độ nhạy ở mức 68.8% và độ nhạy trung gian là 18.8% Ngược lại, kháng sinh có tỷ lệ kháng cao nhất là Amoxicillin + Acid clavulanic với 93.8%, tiếp theo là Piperacillin với 75%, và Moxifloxacin ở mức 62.5% Các loại kháng sinh khác có tỷ lệ chênh lệch khá lớn.
Bảng 3 8: Kháng sinh đồ M catarrhalis
STT Loại KS Nhạy Trung gian Kháng n % n % n %
Phân tích kháng sinh đồ của M Catarrhalis cho thấy độ nhạy của các loại kháng sinh đối với vi khuẩn này khá thấp Trong số 12 loại kháng sinh được đánh giá, Tetracycline có tỷ lệ nhạy cao nhất đạt 77.8%, trong khi Erythromycin ghi nhận tỷ lệ nhạy 44.4% Ngược lại, tất cả các loại kháng sinh khác đều có tỷ lệ kháng rất cao, với Moxifloxacin, Azithromycin và Ceftriaxone đạt 100% Bên cạnh đó, 6 loại kháng sinh còn lại như Cefuroxim, Clarithromycin, Levofloxacin, Ciprofloxacin, Clindamycin và Amoxicillin + Acid clavulanic có tỷ lệ kháng lên tới 88.9%.
Bảng 3 9: Kháng sinh đồ S areus
STT Loại KS Nhạy Trung gian Kháng n % n % n %
Với 8 mẫu bệnh phẩm ghi nhận có S areus ghi nhận kháng sinh có độ nhạy cao nhất là Azithromycin với 62.5% tiếp đến là các kháng sinh có độ nhạy khoảng 50% như Tetracycline, Ciprofloxacin, Levofloxacin, Moxifloxacin Ở chiều ngược lại kháng sinh có tỷ lệ kháng cao nhất được ghi nhận là Oxacillin vơi 75%, cùng với đó là Erythromycin, Clindamycin, Cefoperazone/sulbactam ghi nhận ở mức khác 62.5%.
Bảng 3 10: Kháng sinh đồ P aeruginosa
05 mẫu xét nghiệm có vi khuẩn P aeruginosa tỷ lệ kháng ở Ampicilin,
Amoxicillin combined with Clavulanic Acid shows a 100% effectiveness, while antibiotics such as Ceftriaxone and Ceftazidime exhibit a resistance rate of up to 80% Carbapenem antibiotics, including Imipenem and Meropenem, demonstrate a 100% efficacy, and Gentamycin has an 80% sensitivity rate.
Bảng 3 11: Kháng sinh đồ Haemophilus influenzae
STT Khánh sinh Nhạy Trung gian Kháng
Nghiên cứu cho thấy có 2 trường hợp vi khuẩn HI, trong đó 12/15 mẫu kháng sinh ghi nhận kháng, trong khi 3/15 mẫu chưa ghi nhận kháng, bao gồm Tetracycline, Moxifloxacin và Meropenem Đáng chú ý, Meropenem, Moxifloxacin và Tetracycline đều nhạy với cả 2 mẫu vi sinh, trong khi Clarithromycin không nhạy với 2 mẫu này.
Bảng 3 12: Kháng sinh đồ Streptococcus spp
STT Khánh sinh Nhạy Trung gian Kháng
Kết quả kháng sinh đồ cho chủng vi sinh Streptococcus spp cho thấy nhóm penicilin có 3 mẫu thử, trong đó penicillin và Amoxicillin vẫn nhạy, trong khi Amoxicillin + Acid clavulanic thì kháng Tất cả 100% mẫu thử thuộc nhóm Cephalosporin và Macrolid đều kháng Các mẫu thử còn lại từ nhóm Quinolon, Tetracycline, Amino Glycosides và Carbapenem đều ghi nhận còn nhạy.
Bảng 3 13: Kháng sinh đồ Streptococcus pyogenes
STT Khánh sinh Nhạy Trung gian Kháng
Mẫu kháng sinh đồ của Streptococcus pyogenes ghi nhận các mẫu Peni,
Levofloxacin, Moxifloxacin, Clindamycin, Vancomycin, Chloramphenicol, Trimethoprim-sulfa cho kết quả nhạy, ở chiều ngược lại các kháng sinh nhóm Cephalosporin, Macrolid, Tetracyclin đều ghi nhận kết quả kháng.
Bảng 3 23: Kháng sinh đồ Proteus spp
STT Khánh sinh Nhạy Trung gian Kháng
Mẫu vi sinh Proteus spp thu thập được cho thấy kết quả kháng sinh đồ cho thấy sự nhạy cảm với các kháng sinh nhóm Cephalosporin (như Ceftazidime, Cefepime), Macrolid, Tetracyclin, Quinolon, Carbapenem, Aminoglycosid và Sulfamethoxazole Tuy nhiên, mẫu này kháng với Amoxicillin + Acid clavulanic và có độ nhạy trung gian với Piperacillin và Piperacillin/Tazobactam.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung
Trong 39 bệnh nhân thỏa mạn tiêu chuẩn và được chọn vào nghiên cứu Kết quả ghi nhận được độ tuổi trung bình ghi nhận được là 33 +/- 10.6 tuổi, trong đó bệnh nhân lớn tuổi nhất ghi nhận được là 60 tuổi và bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 18 tuổi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu tập chung vào phân tích mẫu vi sinh và kháng sinh đồ của mẫu bệnh phẩm nên không phân tích sâu vào chênh lệch độ tuổi.
Nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào việc lấy mẫu cắt amidan ở đối tượng dưới 18 tuổi Chẳng hạn, nghiên cứu của Trương Kim Tri tại Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế cho thấy có 20 trong số 61 bệnh nhân (32.8%) dưới 15 tuổi Thêm vào đó, nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Cương cũng đã được thực hiện trong năm gần đây.
2019 trên 88 bệnh nhân có ghi nhận kết quả; nhóm tuổi từ 16 tới 40 tuổi chiếm 81.8
Nhóm tuổi trên 60 chiếm 18.2% trong tổng số bệnh nhân Nghiên cứu của tác giả Zephania cho thấy, trong 100 bệnh nhân, độ tuổi từ 1 đến 10 chiếm tỷ lệ cao nhất với 42.6%, trong khi nhóm tuổi từ 11-20 chiếm 18.5% Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi này có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào phân tích mẫu vi sinh và kháng sinh đồ ở bệnh nhân trên 18 tuổi, trong khi hầu hết các nghiên cứu trước đây chủ yếu thực hiện trên các độ tuổi thiếu niên hoặc bệnh nhi.
Nghiên cứu ghi nhân 19 bệnh nhân nam chiếm 48.7% ngược lại số nữ là 20 bệnh nhân với tỷ lệ 51.3 % khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p> 0.05).
So sánh với nghiên cứu của Trương Kim Tri trên 61 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới chiếm 47.5% và nữ giới 52.5% không ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê Trong khi đó, nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Cương trên 88 bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan cho thấy tỷ lệ nam giới là 38.6% và nữ giới 61.4%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p