1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)

126 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ATS)
Tác giả Lương Nhựt Hòa
Người hướng dẫn TS.BS. Ngô Tích Linh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y Học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHLƯƠNG NHỰT HÒA KHẢO SÁT TRIỆU CHỨNG VÀ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ VỚI CÁC THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN TRÊN BỆNH NHÂN LOẠN THẦN DO SỬ DỤ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LƯƠNG NHỰT HÒA

KHẢO SÁT TRIỆU CHỨNG VÀ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ

VỚI CÁC THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN TRÊN BỆNH NHÂN LOẠN THẦN DO SỬ DỤNG CHẤT GÂY NGHIỆN DẠNG AMPHETAMINE “ATS”

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là do tôi thực hiện dưới sựhướng dẫn của TS.BS Ngô Tích Linh, số liệu và kết quả thu được là hoàntoàn trung thực, khách quan và chưa từng được công bố Nếu những thông tintrên sai sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Người thực hiện đề tài

Lương Nhựt Hòa

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về ma túy tổng hợp dạng Amphetamine 4

1.2 Loạn thần do metamphetamine 12

1.3 Các tiêu chuẩn đoán theo ICD-10, DSM-5 và thang BPRS 16

1.4 Cập nhật một số điều đáng chú ý về loạn thần do methamphetamine từ các nghiên cứu gần đây trên thế giới 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 333

2.1.Thiết kế nghiên cứu 333

2.2 Đối tượng nghiên cứu 333

2.3 Phương pháp chọn mẫu 344

2.4 Thời gian nghiên cứu 344

2.5 Địa điểm nghiên cứu 344

2.6 Phương pháp tiến hành 344

2.7 Phương pháp thu thập số liệu 355

2.8 Quy trình thu thập số liệu 355

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 366

2.10 Định nghĩa các biến số 37

2.11 Biện pháp kiểm soát sai lệch 39

2.12 Đạo đức nghiên cứu 39

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 411

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 433

3.2 Tần suất và độ nặng triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS theo thang điểm BPRS lúc nhập viện 466

3.3 Sự thay đổi các triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS khi điều trị bằng các thuốc chống loạn thần 500

3.4 Tỉ lệ tác dụng phụ ngoại tháp của thuốc chống loạn thần 59

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 60

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 60

4.2 Tần suất triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS theo thang điểm BPRS lúc nhập viện 644

4.3 Sự thay đổi các triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS khi điều trị bằng các thuốc chống loạn thần 688

4.4 Tỉ lệ tác dụng phụ ngoại tháp của thuốc chống loạn thần 700

4.5 Topiramate và Gapapentin trong điều chỉnh khí sắc 722

4.6 Ưu và khuyết điểm của công trình nghiên cứu 72

KẾT LUẬN 75

KIẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm điểm BPRS của các triệu chứng tâm thần trên bệnh nhânloạn thần do sử dụng ATS lúc nhập viện 48Bảng 3.2 Bảng tần suất mỗi điểm BPRS của các triệu chứng tâm thần trênbệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS lúc nhập viện 49Bảng 3.3 So sánh điểm BRRS thời điểm nhập viện và thời điểm 7 ngày saunhập viện 500Bảng 3.4 So sánh tần suất triệu chứng thời điểm nhập viện và thời điểm 7ngày sau nhập viện 522Bảng 3.5 So sánh điểm BPRS thời điểm 7 ngày và 14 ngày sau nhập viện 533Bảng 3.6 So sánh tần suất triệu chứng thời điểm 7 ngày và 14 ngày sau nhậpviện 555Bảng 3.7 So sánh điểm BPRS thời điểm ngày nhập viện và 14 ngày sau nhậpviện 566Bảng 3.8 So sánh tần suất các triệu chứng thời điểm ngày nhập viện và 14ngày sau nhập viện 58

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo giới 444Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ các chẩn đoán liên quan đến loạn thần do sử dụng ATS 444Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ các phương thức điều trị thuốc chống loạn thần 455Biểu đồ 3.5 Tần suất các triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sửdụng ATS theo thang điểm BPRS lúc nhập viện 466Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ tác dụng phụ ngoại tháp 59

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ nghiên cứu 42

Trang 7

ở Thái Lan năm 2012 và 2013 do Cơ quan Kiểm soát Ma túy của Bộ Tư Phápthực hiện, amphetamine (“yaba”) và methamphetamine là loại ma túy sử dụngnhiều nhất (chiếm khoảng 88,7% và 89,7% trên tổng số), tiếp theo là cần sa(4,7%) Song song đó, tại Việt Nam, theo báo cáo của Cơ quan Thường trựcPhòng, chống ma túy, Bộ Công an, cuối năm 2017 số người nghiện ma túytổng hợp tiếp tục gia tăng Loại ma túy tổng hợp được sử dụng phổ biến cũng

là Methamphetamin, Estasy, Ketamine với các tên lóng như: đá, thuốc lắc,viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba [1]

Bên cạnh việc sử dụng ATS ngày càng phổ biến và gia tăng, một trongnhững tác hại nghiêm trọng và đáng chú ý nhất của ATS là tác dụng gây loạnthần của amphetamine và methamphetamine Theo nghiên cứu, có tới 40%những người sử dụng methamphetamine xuất hiện các triệu chứng loạn thần[26], [29] Và 40% bệnh nhân loạn thần do methamphetamine, trong vòng 6năm kể từ đợt loạn thần đầu tiên được báo cáo, đã được chẩn đoán tâm thầnphân liệt do loạn thần dai dẳng [20] Triệu chứng loạn thần nổi bật domethamphetamine bao gồm: hoang tưởng, ảo giác (nhìn thấy ma quỷ, nghethấy tiếng người nói phát ra từ trong đầu, cảm giác bị truy hại…), gây hấn, tấn

Trang 8

công người khác, gây rối nơi công cộng hoặc trong gia đình, đến mức có thể

tự sát hay giết người do hoang tưởng ảo giác chi phối Đây chính là lý doquan trọng để bệnh nhân sử dụng ATS được nhập viện điều trị nội trú Mặtkhác, một bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS, dưới tác dụng chung củaATS, ngoài triệu chứng loạn thần còn có thể kèm theo triệu chứng lo âu, trầmcảm (triệu chứng nổi bật trong hội chứng cai), ý định tự sát, và nhiều vấn đềsức khoẻ khác như bỏ ăn, vệ sinh cá nhân kém,…Điều này ảnh hưởng đến sứckhỏe thể chất của bệnh nhân và nguy cơ tái nghiện, lôi kéo theo nguy cơ loạnthần dai dẳng giống như tâm thần phân liệt, và hậu quả là tăng thêm gánhnặng ngày càng nặng cho gia đình, xã hội Vì vậy, chúng tôi muốn làm nghiêncứu để khảo sát thật kỹ tất cả các triệu chứng bao gồm cả loạn thần, lo âu,trầm cảm, ý định tự sát, sự chăm sóc bản thân, trên nhóm bệnh nhân loạnthần do sử dụng ATS phải nhập viện điều trị nội trú, nhằm có một bức tranhtriệu chứng tâm thần toàn diện trên nhóm bệnh nhân này Cùng lúc đó, chúngtôi tiến hành theo dõi đáp ứng điều trị của bệnh nhân đối với các thuốc chốngloạn thần đang được sử dụng trên lâm sàng hiện nay, nhằm mang lại giá trịtham khảo cho công tác điều trị của các bác sĩ trong tương lai về hiệu quảđiều trị trên tất cả các triệu chứng khảo sát kèm tỉ lệ các tác dụng phụ ngoạitháp khi sử dụng thuốc chống loạn thần Ở TPHCM, với tỷ lệ cao các trườnghợp loạn thần do sử dụng ATS nhập viện điều trị nội trú tại Bệnh Viện TâmThần, là nơi thích hợp để chúng tôi tiến hành nghiên cứu các vấn đề trên với

đề tài nghiên cứu “ Đánh giá triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốcchống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạngAmphetamine “ATS”” kèm mục tiêu nghiên cứu sau:

Trang 9

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá tần suất và độ nặng triệu chứng trên bệnh nhân loạn thần do

sử dụng ATS theo thang điểm BPRS lúc nhập viện

2 Đánh giá sự thay đổi triệu chứng do ATS trong điều trị bằng các thuốcchống loạn thần

3 Đánh giá tỉ lệ tác dụng phụ ngoại tháp của thuốc chống loạn thần

Trang 10

Chương 1:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về ma túy tổng hợp dạng Amphetamine

1.1.1 ATS là gì?

“Chất gây nghiện dạng Amphetamine (Amphetamine Type Stimulants)

là tên gọi chung của một nhóm chất gây nghiện có cấu trúc hóa học dạngAmphetamine Chúng có tác dụng kích thần gây cảm giác hưng phấn, khoáicảm, chống mệt mỏi… khi sử dụng liều cao kéo dài có thể gây hoang tưởng,

ảo giác.” [1]

1.1.2 Tình hình sử dụng ATS trên thế giới và Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình sử dụng ATS trên thế giới và khu vực châu Á, Thái Bình Dương

“Theo báo cáo của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liênhợp quốc (UNODC), thị trường buôn bán và tình trạng lạm dụng ma túy kíchthích dạng Amphetamine đang có xu hướng tăng mạnh trong các năm gầnđây Báo cáo Tình hình Ma túy năm 2017 của UNODC khẳng định ATS làloại ma túy phổ biến thứ hai trên thế giới chỉ sau cần sa với ước tính cókhoảng 37 triệu người sử dụng ATS trên toàn cầu ATS cũng tạo ra gánh nặngbệnh tật rất cao và chỉ đứng sau các ma túy thuộc nhóm chất dạng thuốcphiện Báo cáo cũng cho thấy thị trường buôn bán ATS cũng gia tăng khôngngừng trong các năm vừa qua Năm 2015, toàn thế giới ghi nhận số lượng bắtgiữ Amphetamine và Methamphetamine cao kỷ lục, đặc biệt là ở các khu vựcnhư Đông Nam Á và Nam Á, biến các khu vực này trở thành điểm nóng nhấtcủa thị trường buôn bán ATS, vượt qua cả các khu vực “truyền thống” của thịtrường ATS thế giới như Nam Mỹ Khác với Amphetamine vàMethamphetamine, thị trường Ectasy (thuốc lắc) có sự “ổn định” hơn về số

Trang 11

lượng bị bắt giữ trong thời gian gần đây, tuy nhiên các báo cáo của lực lượngthực thi pháp luật cho thấy có sự đa dạng hơn về mẫu mã sản phẩm và phatrộn với các hợp chất khác làm tăng độc tính và các nguy cơ của loại ma túynày.

Tại khu vực: theo một khảo sát về ma túy ở Thái Lan năm 2012 và

2013 do Cơ quan Kiểm soát Ma túy của Bộ Tư Pháp thực hiên, loại ma túy sửdụng nhiều nhất là amphetamine (“yaba”) và methamphetamine (chiếmkhoảng 88,7% và 89,7% trên tổng số), tiếp theo là cần sa (4,7%).” [1]

1.1.2.2 Tình hình sử dụng ATS tại Việt Nam

“Theo báo cáo của Cơ quan Thường trực Phòng, chống ma túy, BộCông an, cuối năm 2017, cả nước có 222.582 người nghiện có hồ sơ quản lý.Trong đó, số người nghiện ma túy tổng hợp tiếp tục gia tăng; theo số liệu báocáo từ 21 địa phương có thống kê, phân loại, số người sử dụng ma túy tổnghợp là 15.447 người (chiếm 46% số người sử dụng ma túy) Đặc biệt, có một

số địa phương có tỷ lệ trên 80% như Trà Vinh 90,7%; Đà Nẵng 86%; QuảngTrị 84% số người mới sử dụng ma túy bị phát hiện chủ yếu sử dụng ma túytổng hợp và các chất hướng thần - Loại ma túy tổng hợp được sử dụng phổbiến là Methamphetamin, Estasy, Ketamine với các tên lóng như: đá, thuốclắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba Methamphetamin được sử dụng chủ yếutại cơ sở lưu trú, nhà riêng Do hình thức sử dụng loại ma túy này cần có thờigian, dụng cụ và cách thức sử dụng khá phức tạp Do đó, các đối tượng sử

1.1.3 Tác động của ATS

1.1.3.1 Cấu trúc hóa học

“Các ATS có cấu trúc hóa học dạng Amphetamine, do vậy cấu trúc hóahọc cơ bản giống nhau Ngay như Amphetamine và Methamphetamine chỉkhác nhau ở chỗ có thêm nhóm methyl, như hình vẽ dưới đây” [1]:

Trang 12

1.1.3.2 Phân biệt amphetamin và metamphetamin

“Metamphetamine được tạo ra do methyl hóa Amphetamine: Nghĩa làmột nhóm methyl chức năng (-CH3) được gắn vào phân tử amphetamine đểtạo thành methamphetamine (methyl + amphetamine) Khi vào cơ thể,methamphetamine phân hủy thành amphetamine

Sự khác biệt chính giữa methamphetamine và amphetamine là ở quátrình điều chế và tiềm năng kích thích thần kinh trung ương METH có tácdụng dược lý mạnh hơn, kéo dài hơn và độc hại hơn so với amphetaminephần lớn do nhóm N-methyl (gọi tắt là "meth") trong công thức hóa học củamethamphetamine làm giảm sự phân cực tế bào, cho phép dễ tan trong lipidhơn, dễ xuyên qua hàng rào máu não Methamphetamine tan được trong nước,

có thể sử dụng đường hút, hít - đặc biệt là ở dạng tinh thể có thể d ng đườngtiêm, và hấp thụ vào cơ thể nhanh hơn so với amphetamine không methyl hóa,

và cũng do vậy mà cho tác dụng mạnh hơn Hơn nữa, methamphetamine ổnđịnh hơn amphetamine vì khả năng chống suy thoái enzyme monoamineoxidase tốt hơn (tức là các chất phá vỡ amphetamine và methamphetamine sẽkhó khăn hơn trong việc phá vỡ methamphetamine) vì vậy methamphetaminehoạt động lâu hơn METH cũng gián tiếp ức chế tái hấp thu các chất dẫntruyền thần kinh, làm cho chất dẫn truyền thần kinh tồn tại lâu hơn tại khesynap.” [4]

1.1.3.3 Dược lý học

“Methamphetamine có thể được hấp thu rất nhanh chóng qua đườngtiêu hóa và được gan chuyển hóa theo quá trình hydroxyl hóa nhân thơm, khử

Trang 13

akyl, và khử amin Có 7 loại chất trung gian chuyển hóa có thể phát hiện đượctrong nước tiểu, với thời gian bán hủy là 4-5 giờ; 62% thuốc uống sẽ đượcđào thải qua nước tiểu trong vòng 24h Do quá trình này phụ thuộc vào độ axít của nước tiểu, uống vitamin C liều cao có thể làm giảm tác dụng của

1.1.3.4 Cơ chế tác dụng

“Methamphetamine ức chế tái hấp thu và chuyển hóa của Dopamine.Methamphetamine còn làm tăng tiết noradrenalin và serotonin là các chất dẫntruyền thần kinh kiểm soát cảm xúc và hành vi của con người.” [1]

1.1.3.5 Tác động chung của Methamphetamine

“Methamphetamine gây ra rối loạn cảm xúc và cảm xúc lo âu trongthời kỳ quá liều và thời kỳ cai Rối loạn cảm xúc tăng từ lo lắng vừa phải đếntriệu chứng nặng phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần Nghiêncứu bệnh nhân sử dụng Methamphetamine cho thấy, hầu hết bệnh nhân cótriệu chứng trầm cảm và lo âu (48-58%), và một số lớn chỉ có triệu chứngtrầm cảm (38-40%) hoặc chỉ có lo âu (26,2%) Phân loại lo âu thường gặpnhất là rối loạn lo âu toàn thể (12,3%), rối loạn lo âu xã hội (8,5%), rối loạncăng thẳng sau chấn thương (5,8%), cơn hoảng loạn (2,6%) và chứng sợkhoảng rộng (2,6%) Một số người nghiện có biểu hiện triệu chứng loạn thần(28-36,8%), bao gồm hoang tưởng bị truy hại (77,4%), và ảo thanh (44,6%)

và các triệu chứng âm tính khác (21,4%) Khi dùng phối hợp với chất dạngthuốc phiện, methamphetamine có thể tăng ý tưởng hoặc kế hoạch tự sát lên2-11%

Methamphetamine gây ra rối loạn cảm xúc kéo dài và ở mức độ trầmtrọng Triệu chứng thường không kéo dài quá 1 tháng, sau khi sử dụng Thayđổi cảm xúc bao gồm: cảm giác buồn chán, lo lắng, lâng lâng, không quantâm đến các hoạt động gây hứng thú

Trang 14

Rối loạn lo âu do Methamphetamine có biểu hiện lo lắng, cơn hoảngloạn, và rối loạn ám ảnh cưỡng chế Các triệu chứng có thể ở mức độ ảnhhưởng đến thực hiện công việc, tác động đến đời sống xã hội và các chứcnăng quan trọng khác của cuộc sống Triệu chứng thường không kéo dài quá

1 tháng sau khi sử dụng ma túy, nhưng có thể xảy ra trong khi ngộ độc hoặc ởtrạng thái cai

Đối với các bệnh nhân có rối loạn cảm xúc và lo âu từ trước, hành vi sửdụng Methamphetamine có thể làm kích hoạt các triệu chứng Các triệu chứngbệnh tâm thần nặng làm công tác điều trị phức tạp hơn và kéo dài hơn ngoàiviệc có thể làm hành vi tăng liều sử dụng Methamphetamine

Các yếu tố nguy cơ của rối loạn cảm xúc và lo âu do Methamphetaminebao gồm tăng tần số sử dụng, d ng đường tĩnh mạch và đường hít và cũng làyếu tố tiền căn Tiền sử gia đình cũng là yếu tố nguy cơ của rối loạn cảm xúc

và lo âu

Ngoài ra hầu hết các chất ATS làm tăng nhu cầu tình dục nên người sửdụng ATS dễ có hành vi quan hệ tình dục không an toàn ATS tác động làmtăng sự tự tin nên người sử dụng không thận trọng trong hành vi sử dụng matúy như chích chung bơm kim tiêm, do đó dễ lây nhiễm HIV, viêm gan B, C.Đồng thời người sử dụng ATS cũng có thể có các hành vi gây nguy hiểm cho

Trang 15

Các triệu chứng khác thường gặp là lo âu, bồn chồn, ảo giác (ảo thị, ảothanh ) kèm theo bệnh nhân có hành vi công kích, gây hấn, tấn công ngườikhác, hành vi có tính định hình.

1.1.4.1.2 Biểu hiện cơ thể

“Biểu hiện cường giao cảm: tăng nhịp tim, tăng huyết áp, đau ngực,tăng thân nhiệt, vã mồ hôi, ớn lạnh, giãn đồng tử

Hội chứng serotonin: Buồn nôn, tăng trương lực cơ, tăng phản xạ gânxương, giật cơ, co giật, ảo giác, rối loạn ý thức: sảng, hôn mê…”[2]

1.1.4.1.3 Tính cấp diễn

“Các triệu chứng trên xuất hiện cấp diễn, có liên quan trực tiếp hoặc rấtnhanh sau khi sử dụng ATS (vài phút đến 3 giờ) Do các triệu chứng tâmthần, bệnh nhân thường gây rối nơi công cộng, ở các câu lạc bộ hoặc trong giađình Đây chính là lý do quan trọng để bệnh nhân sử dụng, nghiện ATS đượcđưa đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị” [2]

1.1.4.2 Rối loạn loạn thần do sử dụng ATS

Trang 16

1.1.4.2.2 Biểu hiện lâm sàng

1.1.4.2.2.1 Giai đoạn sớm (1 - 3 ngày đầu)

“Hoang tưởng:

+ Thường gặp nhất là hoang tưởng bị truy hại, hoang tưởng bị theo dõi

Có thể gặp: hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng bị chi phối Ít gặp: hoang tưởng

tự cao, hoang tưởng phát minh, …

+ Hoang tưởng thường xuất hiện bán cấp ở bệnh nhân sử dụng ATS lâungày hoặc nghiện ATS Đôi khi hoang tưởng xuất hiện cấp diễn trong cáctrường hợp ngộ độc

Ảo giác: thường gặp nhất là ảo thanh, ảo thị Ít gặp hơn là ảo xúc, ảokhứu

Cần chẩn đoán phân biệt hoang tưởng và ảo giác do ATS với bệnh tâmthần phân liệt, rối loạn tâm thần do rượu, cần sa…đặc biệt ở thanh thiếu niênhoặc đã có tiền sử nghiện các chất khác với các triệu chứng loạn thần lần đầu,cấp diễn

Rối loạn cảm xúc, hành vi: thường do hoang tưởng, ảo giác chi phốiCác triệu chứng cơ thể: đau đầu, đau cơ, bồn chồn, bứt rứt…”[2]

1.1.4.2.2.2 Giai đoạn từ ngày thứ tư trở đi

“Thông thường các triệu chứng loạn thần sẽ giảm dần dưới tác dụngcủa điều trị Nếu hoang tưởng, ảo giác hết ngay sau 3 ngày điều trị thì đó làhoang tưởng cấp diễn trong ngộ độc ATS

Triệu chứng cai ATS (xem hội chứng cai ATS)” [2]

1.1.4.3 Trầm cảm liên quan đến sử dụng ATS

1.1.4.3.1 Biểu hiện lâm sàng

“Các triệu chứng đặc trưng: giảm năng lượng và dễ mệt mỏi, khí sắctrầm, giảm quan tâm thích thú

Trang 17

Các triệu chứng thường gặp: rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung chú ý,giảm tự trọng, bi quan ảm đạm, ăn ít ngon miệng.

Trầm cảm có thể xuất hiện ở người bệnh lạm dụng hoặc nghiện ATS,trong hội chứng cai ATS

Đặc biệt bệnh nhân có thể có ý tưởng và hành vi tự sát là triệu chứngcần lưu ý phát hiện sớm ở các bệnh nhân sử dụng ATS” [2]

1.1.4.3.2 Điều trị trầm cảm liên quan sử dụng ATS

“Sử dụng các thuốc chống trầm cảm: uống mirtazapine 15-30mg/ngàyhoặc sertraline 50mg/lần, 1-2 lần/ngày hoặc các thuốc chống trầm cảm khácthuộc nhóm SSRI

Thuốc giải lo âu: uống diazepam 5 mg/lần, 1-2 lần/ngày, không quá 07ngày

Tư vấn tâm lý” [2]

1.1.4.4 Trạng thái cai ATS

1.1.4.4.1 Biểu hiện lâm sàng

“Thường xuất hiện sau 1- 3 ngày sau khi giảm hoặc ngừng sử dụngATS ở người nghiện ATS

Hội chứng cai có thể bị triệu chứng loạn thần che lấp hoặc mờ đi dođiều trị thuốc chống loạn thần” [2]

1.1.4.4.2 Chẩn đoán

“Các tiêu chuẩn chung đối với trạng thái cai (F1X.3) phải được đápứng;

Có rối loạn khí sắc (ví dụ buồn hoặc mất khoái cảm)

Hai trong 6 dấu hiệu sau đây phải có mặt: mất ngủ hoặc ngủ lịm và mệtmỏi, chậm chạp hoặc kích động tâm thần vận động, cảm giác thèm khát vớimột chất kích thích, tăng khẩu vị, có các giấc mơ khó chịu hoặc kỳ quặc

Trang 18

Từ ngày thứ 4 sau khi giảm hoặc ngừng ATS, bệnh nhân thường xuấthiện thêm hội chứng trầm cảm” [2]

1.2 Loạn thần do metamphetamin

“Methamphetamine, còn được gọi là meth, đá hoặc pha lê, có tác độngsâu sắc đến não bộ của một người Trong một số trường hợp nhất định, tácđộng này có thể thay đổi cách một người suy nghĩ và trải nghiệm thế giớixung quanh Một trong những tác dụng phụ tâm lý nặng nề nhất của việc sửdụng meth là loạn thần

Loạn thần do meth có thể rất giống với bệnh tâm thần phân liệt thểhoang tưởng Theo nghiên cứu, có tới 40% những người sử dụng meth gặpphải các triệu chứng và hội chứng loạn thần

Những người bị loạn thần do meth có nguy cơ cao hơn về việc lạmdụng rượu, tự tử và các đợt loạn thần trong tương lai Điều trị nghiện meth cóthể giúp giảm nguy cơ này và các vấn đề sức khỏe khác liên quan đến meth”[23]

1.2.1.Loạn thần Meth là gì ?

“Trong suốt cơn loạn thần do meth, một người có thể phát triển chứnghoang tưởng (delusions), ảo giác, hoang tưởng (paranoia) và hành vi bạo lực.Những trạng thái này có thể khiến người đó khó phân biệt tri giác của họ vớinhững gì có thật trong thực tế Loạn thần cũng có thể khiến họ trở nên nguyhiểm với chính họ hoặc những người xung quanh

Một người lạm dụng meth để giải trí có nguy cơ bị loạn thần cao hơngấp 2-3 lần so với những người không sử dụng ma túy này Tuy nhiên, nhữngngười sử dụng meth lâu dài có nguy cơ cao hơn gấp 11 lần

Trước khi xuất hiện chứng loạn thần, một người sử dụng meth có thểgặp phải trạng thái tiền loạn thần được biểu hiện bằng tâm trạng hoang tưởng

Trang 19

và những ý tưởng liên hệ, hoặc tin rằng những sự kiện hàng ngày có ý nghĩa

cá nhân to lớn Hoang tưởng và ảo giác xảy ra cùng với loạn thần toàn phát

Những người lệ thuộc vào meth, sử dụng liều cao, từng trải qua chấnthương thời thơ ấu và / hoặc bắt đầu dùng ma túy khi còn nhỏ có nguy cơ mắccác triệu chứng loạn thần cao hơn Tình trạng thiếu ngủ thường đi kèm vớiviệc sử dụng meth cũng có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng này

Loạn thần Meth có thể bắt đầu trong khi một người đang sử dụng matúy hoặc trong thời gian cai nghiện Nó có thể xảy ra với những người chưabao giờ bị loạn thần hoặc những người đã bị loạn thần vì một lý do khác

Những người có yếu tố di truyền đối với chứng loạn thần hoặc rối loạnloạn thần đã có từ trước như tâm thần phân liệt có thể xuất hiện loạn thầnhoặc bị các triệu chứng nặng nề hơn khi sử dụng ma túy này Một số cá nhân

có thể bị loạn thần tái phát giống như tâm thần phân liệt” [23]

1.2.2.Các dấu hiệu và triệu chứng loạn thần do meth

“Khi một người bị loạn thần do meth, lời nói của họ có thể vô tổ chức,khiến họ nói nhanh và nhanh chóng thay đổi chủ đề Họ cũng có thể nóichuyện với một người không thực sự hiện diện ở đó hoặc tranh cãi mà không

1.2.3.Các dấu hiệu cảnh báo chính của chứng loạn thần bao gồm:

“Hoang tưởng (delusion) meth: Một người có những niềm tin kỳ lạ,không thực tế và / hoặc sai lầm

Ảo giác meth: Ảo giác thính giác, thị giác hoặc xúc giác khiến mộtngười nghe, nhìn hoặc cảm thấy những thứ không tồn tại

Hoang tưởng (paranoia) meth: Một người trở nên cực kỳ nghi ngờnhững người xung quanh và thậm chí có thể tin rằng mọi người đang hãm hạihọ” [23]

1.2.4 Các dấu hiệu và triệu chứng khác của chứng loạn thần do meth

Trang 20

“Bao gồm: sự kích động, sự lú lẫn, th địch, tăng cảnh giác, hành vi phi

lý và không thể đoán trước, sự giật mình, hưng cảm, hành vi phản ứng quámức” [23]

1.2.5 Con ve bét meth

“Còn được gọi là bọ xít, con ve bét ma túy đá là một trong những triệuchứng nổi tiếng nhất của chứng loạn thần do meth Con ve bét ma túy đá làmột loại ảo giác xúc giác được tả như cảm giác kiến bò mà cảm giác này cóthể được gây ra bởi hoang tưởng được gọi là bệnh ký sinh tr ng hoang tưởng

Khi một người bị ve bét ma túy đá, cảm giác như thể côn tr ng đang bòhoặc đào hang trong hoặc dưới da của họ Một người có thể bị lở loét hoặcsẹo do đâm giết những con bọ tưởng tượng này Nhiễm trùng da nghiêm trọng

có thể xảy ra, như tụ cầu khuẩn và liên cầu khuẩn, có thể do người đó tự đâmsâu vào da của họ” [23]

1.2.6 Loạn thần meth kéo dài bao lâu?

“Tiến trình của loạn thần do meth có thể khác nhau và phụ thuộc vàođặc điểm thể chất, sức khỏe tâm thần và mức độ nghiêm trọng của việc sửdụng ma túy của mỗi người Các triệu chứng có thể xảy ra chỉ sau một lần sửdụng, vài tháng sau khi một người bắt đầu dùng meth, hoặc 20 năm trở lênsau khi bắt đầu lạm dụng

Loạn thần do meth có thể kéo dài vài giờ và trung bình, một ngườithường hồi phục sau một tuần Tuy nhiên, loạn thần đôi khi kéo dài hàngtháng, thậm chí hàng năm sau khi một người ngưng d ng meth Các cơn loạnthần tự phát cũng có thể được kích hoạt bởi căng thẳng hoặc do sử dụng lại

ma túy.” [23]

1.2.7 Điều trị loạn thần do ATS theo Hướng dẫn của Bộ Y Tế 2020

“Thuốc chống loạn thần

Trang 21

Chọn một hoặc hai hoặc ba thuốc trong số các thuốc sau, ƣu tiên đơn trịliệu, nếu ít hiệu quả xem xét chuyển loại thuốc hoặc kết hợp thuốc tối đa 3loại để hạn chế tác dụng phụ.

Thuốc an thần kinh điển hình (Thuốc chống loạn thần cổ điển):

Chlorpromazin: viên 25mg, ống 25mg, liều 50-250mg/24 giờ

Levomepromazin: viên 25mg, liều 25-250mg/24 giờ

Haloperidol: viên 1,5mg, viên 5 mg, ống 5mg, liều 5-30mg/24 giờThioridazin: viên 50mg, liều 100-300mg/24 giờ

Các thuốc an thần kinh không điển hình (Thuốc chống loạn thần thế hệ mới):

Amisulpride: viên 50mg, 200mg, 400mg, liều 200-800mg/24giờ

Clozapin: viên 25mg, 100mg, liều 50-800mg/24 giờ

Risperidon: viên 1mg, 2mg, liều 1-12mg/24 giờ

Olanzapin: viên 5mg, 10mg, liều 5-60mg/24 giờ

Quetiapin 50mg, 200mg, 300mg, liều 600-800 mg/ ngày

Aripiprazol 5mg, 10 mg, 15mg, 30mg, liều 10-30 mg/ngày

Thuốc chỉnh khí sắc: điều trị rối loạn hƣng cảm, chọn một hoặc hai hoặc ba

thuốc trong số các thuốc sau

Muối Valproat 200mg-2500mg/ ngày

Muối Divalproex, liều 750mg/ngày – 60mg/kg/ngày

Carbamazepin, liều 400-1200mg/ngày

Oxcarbazepin, liều 1200 – 2400mg/ngày

Lamotrigin, liều 100 – 400 mg/ngày

Topiramat: 50 – 400mg/ngày Gabapentin: 300 – 1800mg/ngày

Trang 22

Thuốc tăng cường và nuôi dưỡng não: Piracetam, citicolin, ginkgobiloba, vinpocetin, cholin alfoscerat, cinnarizin…

Bổ sung vitamin, dinh dưỡng, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch…

Thuốc bổ gan: Aminoleban, Silymarin, Boganic, các amin phân nhánhkhác…

Thuốc tăng cường chức năng nhận thức:…,

Vận động, hoạt động trị liệu, vật lý trị liệu…

1.2.8 Tiên lượng và biến chứng

“Nếu người bệnh được điều trị kịp thời tiên lượng tốt Tuy nhiên một

1.3 Các tiêu chuẩn đoán theo ICD-10 và DSM-5

1.3.1 Chẩn đoán rối loạn loạn thần do sử dụng chất kích thích bao gồm

cafein F1x.5 theo ICD 10

“Một tập hợp các hiện tượng loạn thần xảy ra trong hoặc ngay sau khi

sử dụng chất kích thích hướng thần và đặc trưng bởi ảo giác sống động(thường là thính giác, nhưng thường nhiều hơn một phương thức cảm quan),

sự nhận dạng sai, hoang tưởng và / hoặc ý tưởng liên hệ (thường của mộtchứng hoang tưởng hoặc có tính chất bị hại), rối loạn tâm thần vận động(hưng phấn sững sờ) và cảm xúc bất thường, có thể từ sợ hãi dữ dội đến ngâyngất Các chức năng cảm giác trong cơ thể thường không bị trở ngại gì nhưng

Trang 23

có thể có một vài mức độ của ý thức u ám, mặc dù không phải là lú lẫnnghiêm trọng, có thể xuất hiện Rối loạn này thường tự khỏi ít nhất một phầntrong vòng 1 tháng và hoàn toàn trong vòng 6 tháng.

Rối loạn loạn thần do chất kích thích hướng thần có thể biểu hiện vớicác dạng triệu chứng khác nhau Sự khác nhau này sẽ bị ảnh hưởng bởi loạichất sử dụng và nhân cách của người d ng Đối với các loại chất kích thíchnhư cocaine và amphetamine, rối loạn loạn thần do chất nói chung có liênquan chặt chẽ đến mức độ liều cao và / hoặc sử dụng chất này trong thời giandài

Không nên chẩn đoán rối loạn loạn thần chỉ dựa trên sự thay đổi về trigiác hoặc trải nghiệm ảo giác khi các chất có tác dụng chính là gây ảo giác (ví

dụ như lysergic (LSD), mescaline, cần sa ở liều cao) đã được sử dụng Trongnhững trường hợp như vậy, và cả đối với các trạng thái lú lẩn, chẩn đoán cókhả năng là nhiễm độc cấp tính nên được xem xét (F1x.0)

Cũng cần đặc biệt thận trọng để tránh chẩn đoán nhầm thành một rốiloạn nghiêm trọng hơn (ví dụ như tâm thần phân liệt) khi chẩn đoán loạn thần

do chất kích thích hướng thần là phù hợp Nhiều trạng thái loạn thần do chấtkích thích hướng thần xảy ra trong thời gian ngắn miễn là không dùng thêmmột liều lượng nào nữa (như trong trường hợp loạn thần amphetamine vàcocaine) Chẩn đoán sai trong những trường hợp như vậy có thể gây ra những

lo âu và tốn kém chi phí cho bệnh nhân và cho các dịch vụ y tế

Trang 24

Bao gồm: ảo giác do rượu

ghen tuông do rượuhoang tưởng do rượurối loạn tâm thần do rượu NOS

Chẩn đoán phân biệt Xem xét khả năng của rối loạn tâm thần khác

đang nặng hơn hoặc bị kích hoạt bởi việc sử dụng chất kích thích hướng thần(ví dụ: tâm thần phân liệt (F20 -); rối loạn [cảm xúc] khí sắc (F30-F39); rốiloạn nhân cách hoang tưởng hoặc phân liệt (F60.0, F60.1)) Trong nhữngtrường hợp như vậy, chẩn đoán tình trạng loạn thần do chất kích thích gây ra

F1x.52 Ảo giác nổi bật

(bao gồm cả ảo giác do rượu)

Trang 25

Hướng dẫn chẩn đoán

Sự khởi phát của rối loạn phải liên quan trực tiếp đến việc sử dụng rượuhoặc chất kích thích hướng thần Các trường hợp khởi phát ban đầu xảy ramuộn hơn (các) đợt sử dụng chất gây nghiện chỉ nên được mã hóa ở đây khi

có bằng chứng rõ ràng và mạnh mẽ để gán trạng thái là tác dụng tồn dư củachất Rối loạn sẽ đại diện cho sự thay đổi hoặc sự trở nặng rõ rệt so với trạngthái chức năng bình thường trước đó Rối loạn sẽ kéo dài vượt quá bất kỳkhoảng thời gian nào mà các tác động trực tiếp của chất hướng thần có thểđược cho là hoạt động (xem F1x.0, nhiễm độc cấp tính) Chứng mất trí nhớ dorượu hoặc chất kích thích gây ra không phải lúc nào cũng không thể đảongược; sau một thời gian kiêng hoàn toàn kéo dài, các chức năng trí năng vàtrí nhớ có thể được cải thiện Rối loạn này cần được phân biệt cẩn thận vớicác tình trạng liên quan đến cai nghiện (xem F1x.3 và F1x.4) Cần nhớ rằng,trong những điều kiện nhất định và đối với một số chất nhất định, hiện tượngtrạng thái cai có thể xuất hiện trong khoảng thời gian nhiều ngày hoặc nhiềutuần sau khi ngừng sử dụng chất

Các tình trạng gây ra bởi chất hướng thần, vẫn tồn tại sau khi sử dụng

và đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn loạn thần thì không nên đượcchẩn đoán ở đây (sử dụng F1x.5, rối loạn loạn thần) Bệnh nhân biểu hiện giaiđoạn cuối mãn tính của hội chứng Korsakov nên được mã hóa dưới F1x.6

Chẩn đoán phân biệt.Cân nhắc: rối loạn tâm thần có từ trước được che

đậy bởi việc sử dụng chất và tái xuất hiện khi các tác dụng liên quan đến chấthướng thần mất dần (ví dụ, lo âu sợ hãi, rối loạn trầm cảm, tâm thần phân liệthoặc rối loạn dạng phân liệt) Trong trường hợp hồi tưởng, hãy xem xét cácrối loạn loạn thần cấp tính và thoáng qua (F23 -) Cũng nên xem xét tổnthương cơ quan và chậm phát triển trí tuệ nhẹ hoặc trung bình (F70 - F71), có

Trang 26

thể cùng tồn tại với việc lạm dụng chất hướng thần Các danh mục chẩn đoán

có thể được chia nhỏ hơn nữa bằng cách sử dụng các mã năm ký tự sau:

F1x.70 hồi tưởng

Có thể phân biệt với các rối loạn loạn thần phần nào bởi tính chất từngđợt, thường kéo dài rất ngắn (vài giây hoặc vài phút) và bởi sự lặp lại (đôi khichính xác) của những trải nghiệm liên quan đến ma túy trước đó

F1x.71 Rối loạn nhân cách hoặc hành vi

Đáp ứng các tiêu chí về rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0)

F1x.74 Suy giảm nhận thức dai dẳng khác

Một danh mục còn lại dành cho các rối loạn với tình trạng suy giảmnhận thức kéo dài, không đáp ứng tiêu chí cho hội chứng quên do chất hướngthần (F1x.6) hoặc sa sút trí tuệ (F1x.73)

F1x.75 Rối loạn loạn thần khởi phát muộn.” [30]

1.3.3 Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều ma túy và sử dụng các chất kích thích thần kinh khác (F19.x)

“Phân loại này nên được sử dụng khi biết có liên quan đến hai hoặcnhiều chất tác động thần kinh, nhưng không thể đánh giá chất nào góp phầnnhiều nhất vào các rối loạn Nó cũng nên được sử dụng khi danh tính chínhxác của một số hoặc thậm chí tất cả các chất kích thích thần kinh đang được

sử dụng là không chắc chắn hoặc không rõ, vì bản thân nhiều người sử dụng

ma túy thường không biết chi tiết về những gì họ đang d ng.” [31]

Trang 27

1.3.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn loạn thần do chất/ thuốc theo 5

DSM-“A Có một hoặc cả hai triệu chứng sau:

Các triệu chứng có trước khi bắt đầu sử dụng chất / thuốc; các triệuchứng vẫn tồn tại trong một khoảng thời gian đáng kể (ví dụ, khoảng 1 tháng)sau khi ngừng nhiễm độc nặng hoặc cai cấp tính; hoặc có bằng chứng khác vềrối loạn loạn thần không do chất/ thuốc độc lập (ví dụ: tiền căn các đợt bệnhkhông liên quan đến chất / thuốc tái đi tái lại)

D Rối loạn này không chỉ xảy ra trong suốt đợt sảng

E Rối loạn này gây ra đau khổ đáng kể về mặt lâm sàng hoặc suy giảmchức năng nghề nghiêp, xã hội, hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác

Lưu ý: Chẩn đoán này nên được thực hiện thay cho chẩn đoán nhiễmđộc chất hoặc cai nghiện chất chỉ khi các triệu chứng trong tiêu chuẩn A nổibật trên bệnh cảnh lâm sàng và khi chúng đủ nghiêm trọng để đảm bảo sựchăm sóc kỹ càng trên lâm sàng.” [10]

Trang 28

1.3.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán các tác dụng phụ ngoại tháp của các thuốc chống loạn thần theo DSM-5

1.3.5.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán loạn trương lực cơ cấp theo DSM-5 (tham

1.3.6 Thang đánh giá tâm thần ngắn BPRS

Thang đánh giá tâm thần ngắn (BPRS) đã được bác sĩ tâm thần đượcđào tạo, đánh giá cho các bệnh nhân nhập viện BPRS là một công cụ đánhgiá rộng được thiết kế nhằm mô tả toàn diện về các đặc điểm triệu chứngchính của bệnh nhân tâm thần ( Gorham, 1962) Thang đo đã chứng minh tínhhợp lệ và độ tin cậy tốt, và khả năng phân biệt nhạy cảm(Dingemans, Frohn-

de Winter, Bleeker, & Rathod, 1983; McKetin,McLaren, Lubman,

& Hides, 2006; Shafer, Dazzi, & Ventura, 2017; Rhoades, 1982).Phiên bản 24 mục có các triệu chứng thường: Lo âu-Trầm cảm (Lo lắng vềtriệu chứng cơ thể, Lo âu, Cảm giác tội lỗi, Trầm cảm), Yếu tố tiêu cực / Suygiảm (Suy giảm cảm xúc, Suy giảm Vận động, Suy giảm Căng thẳng) Ảogiác, Nội dung suy nghĩ bất thường), Kích hoạt (Căng thẳng, và, Hứng thú) và

Sự th địch (Sự th địch, Nghi ngờ, Không hợp tác) (Guy, 1976; Gorham,1962) [12]

Thang BPRS gồm 7 thang điểm, tương ứng với 7 độ nặng của triệu chứnggiúp theo dõi đáp ứng điều trị [12]

Trang 30

1.4 Cập nhật một số điều đáng chú ý về loạn thần do methamphetamine

từ các nghiên cứu gần đây trên thế giới

1.4.1 Đặc điểm lâm sàng của loạn thần ở người dùng methamphetamine

“Theo Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê về Rối loạn Tâm thần (DSM-5) ,một giai đoạn rối loạn tâm thần xảy ra trong bối cảnh sử dụngmethamphetamine (hoặc chất khác) có thể được coi là rối loạn tâm thầnnguyên phát (ví dụ: tâm thần phân liệt) với các điều kiện sau: (1) các triệuchứng về cơ bản vượt quá mức dự kiến với loại hoặc lượng chất được sử dụnghoặc thời gian sử dụng; (2) có tiền sử các đợt loạn thần không liên quan đếnchất; (3) triệu chứng loạn thần khởi phát trước khi bắt đầu sử dụng chất; (4)các triệu chứng loạn thần tồn tại ít nhất một tháng sau khi ngừng nhiễm độchoặc cai chất Ngược lại, sự hiện diện của loạn thần do chất gây ra có thểđược chẩn đoán khi có các triệu chứng sau: (1) Có ảo giác hoặc hoang tưởngnổi bật; (2) Ảo giác hoặc hoang tưởng phát triển trong hoặc ngay sau nhiễmđộc hoặc cai một chất hoặc thuốc được biết là gây ra các triệu chứng loạnthần; (3) Các triệu chứng loạn thần thực sự không thuộc một chẩn đoán nàocủa rối loạn loạn thần (chẳng hạn như tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phânliệt, rối loạn phân liệt cảm xúc) mà nó không phải do chất gây ra (nghĩa là,nếu triệu chứng loạn thần khởi phát trước khi sử dụng chất hoặc thuốc, hoặctồn tại lâu hơn một tháng sau khi bị nhiễm độc hoặc cai chất, thì có khả năng

là do rối loạn tâm thần khác); (4) Các triệu chứng loạn thần không chỉ xảy ratrong suốt đợt sảng

Tương tự như vậy, các tiêu chí được sử dụng ngoài quốc gia Hoa Kỳ,dựa trên Hệ thống chẩn đoán Phân loại Bệnh tật Quốc tế (ICD-10), phân biệtcác triệu chứng loạn thần do chất gây ra từ bệnh tâm thần phân liệt như sau:

“Tâm thần phân liệt là một rối loạn đặc trưng bởi ít nhất một triệu chứng loạnthần (hoặc hai triệu chứng nếu không rõ ràng) kéo dài hơn một tháng, và

Trang 31

không liên quan đến tình trạng nhiễm độc hoặc cai chất” Mặc dù ở một sốquốc gia có xu hướng tránh đưa ra chẩn đoán tâm thần phân liệt trong một sốtrường hợp loạn thần dai dẳng khởi phát trong bối cảnh sử dụngmethamphetamine (ví dụ, Nhật Bản), phương pháp chẩn đoán quốc tế để phânbiệt các hội chứng này tương tự như cách chẩn đoán được sử dụng ở Hoa Kỳ.Điều quan trọng, theo cả hai bộ tiêu chí, rối loạn loạn thần không được chẩnđoán khi các triệu chứng quan sát được phù hợp với tác dụng dự kiến của việcnhiễm độc hoặc cai một chất nhất định; như vậy, các triệu chứng loạn thầnthoáng qua, được quan sát thấy ở 40% người sử dụng metamphetaminekhông thể chẩn đoán là một rối loạn loạn thần Loạn thần domethamphetamine gây ra được chẩn đoán khi các triệu chứng loạn thần quansát được vượt quá các tác động đã biết và dự kiến của việc nhiễm độc hoặc caimethamphetamine Giả dụ rằng việc sử dụng methamphetamine có liên quanđến loạn thần dai dẳng và kéo dài hơn ở một số người dùng, sự tồn tại chẩnđoán này đã là một nguồn gây tranh cãi lâm sàng Tuy nhiên, như được thảoluận thêm bên dưới, ngay cả các triệu chứng loạn thần thoáng qua cũng có thểcần quản lý bằng thuốc khi đi kèm với kích động cấp tính, hành vi bạo lực,hoặc tình trạng đau khổ nghiêm trọng khác và suy giảm chức năng.” [26]

1.4.2 Thời gian loạn thần

“Trong các nghiên cứu quan sát và dựa trên kinh nghiệm và chứng cứsớm nhất về loạn thần do methamphetamine, thời gian hồi phục trung bìnhđược báo cáo trong vòng một tuần Tuy nhiên, một số lượng lớn bệnh nhân,được chẩn đoán ban đầu là loạn thần do methamphetamine qua nhiều năm

“chuyển đổi” thành loạn thần nguyên phát, với các triệu chứng kéo dài đến 6tháng hoặc lâu hơn, ngay cả khi không sử dụng methamphetamine DSM-5định nghĩa loạn thần do chất gây ra là loạn thần sau khi bắt đầu sử dụng chấtkích thích hoặc kéo dài ít hơn một tháng sau khi ngộ độc hoặc cai chất; do đó,

Trang 32

chẩn đoán loạn thần nguyên phát (ví dụ, tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thầnchưa biệt định khác) sẽ được chỉ định cho bất kỳ cá nhân nào có các triệuchứng đủ để đáp ứng ngưỡng chẩn đoán hội chứng loạn thần Tuy nhiên, dựatrên các tài liệu mới báo cáo của Nhật Bản, giới hạn cứng nhắc một tháng cóthể không được áp dụng trong một số trường hợp loạn thần liên quan đếnmethamphetamine vì nó có thể kéo dài lâu hơn, nhưng không thích hợp đểphân loại là rối loạn phổ phân liệt Trong một mẫu lớn gồm hơn 1.000 ngườidùng methamphetamine ở Thái Lan đã trải qua ít nhất một đợt loạn thần domethamphetamine, trong vòng 6 năm kể từ đợt loạn thần đầu tiên được báocáo, gần 40% đã được chẩn đoán tâm thần phân liệt do loạn thần dai dẳng.Đáng chú ý, hai nghiên cứu nhỏ hơn báo cáo tỷ lệ loạn thần dai dẳng rất giốngnhau khi không sử dụng methamphetamine (tức là 16% và 17% người sửdụng methamphetamine tiếp tục bị loạn thần sau 1 và 3 tháng kiêng tươngứng); trong cả hai nghiên cứu này, những người bị loạn thần dai dẳng không

có các giai đoạn loạn thần trước đó cũng như không có tiền sử gia đình về tâmthần phân liệt Hai giả thuyết cạnh tranh đã được đưa ra để giải thích cho pháthiện thiết thực này về việc loạn thần có thể trở thành mãn tính và dai dẳng ởnhững người sử dụng methamphetamine: hoặc tâm thần phân liệt đã có từtrước có thể được bộc lộ hoặc kích hoạt bằng cách sử dụngmethamphetamine, hoặc loạn thần do methamphetamine có thể có diễn biếnlâm sàng rất giống với bệnh tâm thần phân liệt Trong khi giả thuyết sau cùngđược hỗ trợ trên quy mô lớn bởi các nghiên cứu của Nhật Bản, trong đó cácnhà điều tra mô tả một đợt loạn thần do methamphetamine kéo dài được quansát thấy ngay cả ở những người không có yếu tố nguy cơ hoặc tiền sử tâmthần, thì khái niệm “tâm thần phân liệt tiềm ẩn”, được trình bày theo cách sửdụng methamphetamine như một sự kiện kích hoạt, ngày càng được côngnhận như là một giả thuyết của phương Tây Giả thuyết tích hợp thứ ba, được

Trang 33

đề xuất gần đây hơn cho rằng loạn thần methamphetamine và loạn thầnnguyên phát không phải là các tồn tại chẩn đoán riêng biệt, mà nằm trongcùng một thể diễn tiến của loạn thần Theo mô hình này, sự liên đới loạn thần

- methamphetamine được hiểu trong khuôn khổ của mô hình tổn thương docăng thẳng; do đó, khả năng một cá nhân phát triển loạn thần cả trong bốicảnh sử dụng và không sử dụng methamphetamine (đối với những người cócác triệu chứng loạn thần kéo dài sau khi ngừng thuốc) là một chức năng củatính dễ bị tổn thương.” [26]

1.4.3 Sự tái phát

“Tính chất tái phát của loạn thần methamphetamine là một đặc điểmkhác tương tự như diễn biến lâm sàng của bệnh tâm thần phân liệt Trong mộtđánh giá về các nghiên cứu liên quan đến đợt bệnh đầu tiên và đợt bệnh thứhai do lạm dụng methamphetamine ở Nhật Bản, Sato báo cáo rằng trong đợtbệnh thứ hai, gần 50% những người nhập viện vì loạn thần methamphetamine

đã từng trải qua tình trạng này trước đó với các trường hợp nặng nhất đã táinhập điều trị loạn thần methamphetamine nhiều hơn 10 lần Một số nghiêncứu đã kiểm tra các yếu tố nguy cơ đối với loạn thần do methamphetamine táidiễn đều đặn, với các yếu tố kích hoạt được xác định bao gồm sử dụngmethamphetamine hoặc tái sử dụng, ngay cả với một lượng tương đối nhỏ saukhi kiêng kéo dài, sử dụng chất gây nghiện khác, bao gồm uống rượu nhiều,ngay cả khi không sử dụng methamphetamine; thiếu ngủ, và các yếu tố gâycăng thẳng tâm lý xã hội Khi sử dụng methamphetamine gây tái phát loạnthần, biểu hiện triệu chứng có xu hướng giống như trong các đợt loạn thầntrước Hơn nữa, trong những tình huống này, sự ngấm ngầm từ khi sử dụngmethamphetamine đến khi khởi phát loạn thần có thể rất ngắn (tức là trongvòng chưa đầy một tuần), so với thời gian quan sát được trong giai đoạn loạnthần do methamphetamine ban đầu Xu hướng sử dụng methamphetamine

Trang 34

kích hoạt loạn thần trong số những người đã từng trải qua các triệu chứngloạn thần có thể tồn tại trong nhiều năm, và được mô tả như một hiệu ứng

“dung nạp ngược” hoặc “nhạy cảm” methamphetamine Ý nghĩa lâm sàng củamỗi giả thuyết này là khá giống nhau, tuy nhiên, cần phải có các thực hànhsau: (a) theo dõi chặt chẽ sự phát triển của loạn thần mãn tính hoặc tái phát ởnhững người có các triệu chứng thoáng qua; (b) có thể quản lý bằng thuốc đốivới các triệu chứng cấp tính, và (c) giáo dục tâm lý và điều trị hành vi giảiquyết việc sử dụng methamphetamine và mối liên quan của nó với loạn thần.”[26]

1.4.4 Biểu hiện loạn thần do ATS qua tỷ lệ triệu chứng theo BPRS trong các nghiên cứu.

Tỷ lệ loạn thần do methamphetamine thay đổi ở nhiều nghiên cứu Tỷ

lệ ở Trung Quốc là 37.1% (theo Gan H và cs) [17] trong tổng số người sửdụng methamphetamine Triệu chứng hoang tưởng và ảo giác là triệu chứngphổ biến nhất trong số người loạn thần do methamphetamine 83,4% bị ảogiác và ảo giác thính giác là triệu chứng phổ biến nhất (79%), 40,6% bị ảogiác thị giác và 33,6% bị ảo giác xúc giác Có 92,8% có hoang tưởng, hoangtưởng liên hệ 48,3%, hoang tưởng bị hại 40,6%, hoang tưởng tự cao 23,4%,hoang tưởng ghen tuông 39,5% và hoang tưởng bị chi phối 36,2% Còn cócác triệu chứng khác: 48,5% tư duy nghèo nàn, 42,5% ngôn ngữ vô tổ chức,40,9% thờ ơ lãnh đạm, 26,6% có ý định tự tử và 19,8% có hành vi tự tử.81.2% có các đợt triệu chứng loạn thần thoáng qua (thời gian <1 tháng) và18.8% có các giai đoạn loạn thần dai dẳng (thời gian > 1 tháng [17]

Theo Zarrabi H và cs, [32] các triệu chứng loạn thần (đánh giá bằngthang BPRS) thường gặp nhất là bạo lực (75,6%), bạo lực bạn tình (61,2%),hoang tưởng bị hại (85,5%), hoang tưởng liên hệ (38,5%), hoang tưởng tự cao(32,9%), hoang tưởng về sự không chung thủy (30,2%), ảo giác thính giác

Trang 35

(51,3%), ảo giác thị giác (18,4%), ý nghĩ tự tử (14,5%), ý nghĩ giết người(3,9%), cố gắng tự tử (10,5%) và cố gắng giết người (0,7%) Phục hồi từ cáctriệu chứng loạn thần ở 31,6% bệnh nhân nội trú mất hơn một tháng Hoangtưởng bị hại và ảo giác thính giác là những triệu chứng loạn thần dai dẳngnhất [32].

Trong khi đó, theo Trần Thị Hồng Thu [6], đánh giá bằng thang BPRS,rối loạn cảm xúc (lo âu, trầm cảm) thường gặp nhất (96,6%), tiếp đó là các rốiloạn hoạt động (88,9%) Có 70,0% rối loạn tri giác (ảo tưởng và ảo giác) và67,5% (hoang tưởng, tư duy bị bộc lộ) Tiến triển trong điều trị nội trú củanhóm bệnh nhân này là ổn định sau 14 ngày điều trị

1.4.5 Điều trị loạn thần do methamphetamine.

Hiện nay, Hướng dẫn điều trị loạn thần amphetamine &metamphetamine từ các quốc gia và Hiệp Hội Tâm Thần trên thế giới vẫnchưa được thiết lập

1.4.5.1 Kết luận về quản lý loạn thần methamphetamine của Suzette Glasner và cs trong nghiên cứu “Methamphetamine Psychosis: Epidemiology and Management” năm 2014

“Điều trị dược lý của rối loạn tâm thần do methamphetamine cấp tính

có thể bao gồm việc sử dụng thuốc chống loạn thần cũng như các thuốcbenzodiazepine, mặc dù các triệu chứng có thể tự khỏi mà không cần điều trịdược lý nếu người dùng có thể đạt được thời gian cai nghiệnmethamphetamine Điều quan trọng, điều trị tâm lý xã hội đối với sự lệ thuộcmethamphetamine có cơ sở bằng chứng mạnh mẽ và là phương pháp điều trịtối ưu hàng đầu để giảm tỷ lệ loạn thần ở những người sử dụngmethamphetamine Ngăn ngừa tái phát methamphetamine là biện pháp trựctiếp nhất để ngăn ngừa tái phát các hội chứng và triệu chứng loạn thần Quản

lý lâu dài các cá nhân biểu hiện loạn thần tái phát và dai dẳng, ngay cả khi

Trang 36

không sử dụng methamphetamine, có thể bao gồm cả điều trị hành vi để ngănchặn việc sử dụng lại methamphetamine và điều trị dược lý nhắm vào cáctriệu chứng loạn thần Ngoài ra, điều trị các rối loạn tâm thần xảy ra đồng thờibao gồm trầm cảm và lo âu rất quan trọng vì đây là biện pháp ngăn ngừa tái

sử dụng methamphetamine, thường được kích hoạt bởi các triệu chứng này.”[26]

1.4.5.2 Một nghiên cứu tổng hợp gần đây nhất về thuốc chống loạn thần đối với loạn thần do amphetamin của Dimy Fluyau và cs năm 2019

“Bối cảnh: Trong số những người bị loạn thần amphetamine (loạn thần

do amphetamine và loạn thần liên quan amphetamine) có thể khó loại trừ tâmthần phân liệt Việc sử dụng thuốc chống loạn thần để điều trị loạn thầnamphetamine còn ít do các tác dụng phụ có thể xảy ra Một số lập luận khôngtán thành việc sử dụng chúng, nói rằng giai đoạn loạn thần là tự giới hạn Nếukhông được điều trị, một số bệnh nhân có thể không hồi phục hoàn toàn sauloạn thần và có thể phát triển loạn thần bùng phát, rối loạn cảm xúc và nhậnthức Mục đích nghiên cứu nhằm điều tra những lợi ích và rủi ro lâm sàng củathuốc chống loạn thần trong điều trị loạn thần amphetamine

Kết quả: Điều tra sáu thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát của 314

người tham gia cho thấy aripiprazole, haloperidol, quetiapine, olanzapine vàrisperidone có thể làm giảm hoặc kiểm soát giai đoạn loạn thần (triệu chứngdương tính và âm tính) do sử dụng amphetamine kèm không biến cố phụ.Mặc dù hồ sơ tác dụng phụ của các thuốc này khác nhau, không có thuốc nàovượt trội về mặt lâm sàng so với các thuốc khác

Kết luận: nghiên cứu này cho thấy thuốc chống loạn thần dường như

có hiệu quả đối với loạn thần amphetamine trên cả các triệu chứng dương tính

và âm tính Các bác sĩ lâm sàng cần điều chỉnh việc sử dụng của họ dựa trênnguy cơ tác dụng phụ của từng cá nhân

Trang 37

Tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu

Aripiprazole, quetiapine, haloperidol, olanzapine và risperidone dường nhưđiều trị hiệu quả cả các triệu chứng dương tính và âm tính của loạn thầnamphetamine (loạn thần do amphetamine hoặc loạn thần liên quan đếnamphetamine) mà không có tác dụng phụ đáng kể Trong số các loại thuốcnày, có những kết quả đáng chú ý khác nhau Dữ liệu của một thử nghiệm chothấy nhiều người tham gia aripiprazole duy trì thời gian điều trị lâu hơnnhững người tham gia risperidone, mặc dù những người tham gia aripiprazolephàn nàn về chứng sợ hãi và kích động nhiều hơn những người tham giarisperidone Hơn nữa, aripiprazole có thể làm giảm loạn thần amphetamine tốthơn so với risperidone trong hai thử nghiệm liên quan đến một loại thuốc cóhoạt tính so với một loại thuốc có hoạt tính khác và trong một thử nghiệm sosánh aripiprazole với giả dược Haloperidol không vượt trội hơn quetiapinetrong việc giảm các triệu chứng loạn thần do amphetamine Quetiapine gây hạhuyết áp và gây ngủ nhiều hơn haloperidol Haloperidol dường như vượt trộihơn so với risperidone trong việc kiểm soát loạn thần amphetamine Không có

sự khác biệt đáng kể giữa haloperidol và olanzapine Cả hai nhóm đều chothấy sự cải thiện đáng kể các triệu chứng loạn thần từ đầu đến cuối Nhìnchung, aripiprazole, haloperidol, quetiapine, olanzapine và risperidone có hiệuquả và an toàn để điều trị các triệu chứng dương tính và âm tính của loạn thầnamphetamine Nghiên cứu này đồng ý với một đánh giá năm 2008, trong đó

cả olanzapine và haloperidol đều được cho là có hiệu quả trong việc giảiquyết các triệu chứng loạn thần do amphetamine (54); tuy nhiên, hai loạithuốc khác nhau về hồ sơ tác dụng phụ của chúng.” [14]

1.4.5.3 Một bài viết gần đây nhất trên trang Statpearls (2021),

“Amphetamine Related Psychiatric Disorders” phần Điều trị / Quản lý đề

cập như sau:

Trang 38

“Một đánh giá có hệ thống mở rộng từ năm 2015 cung cấp các hướngdẫn lâm sàng dựa trên bằng chứng để điều trị các rối loạn tâm thần liên quanđến amphetamine Nói chung, bệnh nhân loạn thần kích động cấp tính đượcđiều trị bằng các thuốc benzodiazepin tiêm tĩnh mạch (lorazepam, diazepam,hoặc midazolam) như thuốc đầu tay Tuy nhiên, nếu cần đến thuốc thứ hai,các loại thuốc chống loạn thần như risperidone, haloperidol, ziprasidone vàolanzapine đã thành công trong việc kiểm soát chứng rối loạn tâm thần doamphetamine Thuốc chẹn beta giảm mỡ, chẳng hạn như metoprolol vàlabetalol, cũng đã được sử dụng thành công để giải quyết tình trạng kích động

và các dấu hiệu sinh tồn tăng adrenaline

Các bác sĩ lâm sàng không bao giờ được trì hoãn việc điều trị các rốiloạn tâm thần nghi ngờ liên quan đến amphetamine trong khi chờ độc chấttrong nước tiểu hoặc huyết thanh Việc thuyên giảm các triệu chứng loạn thầnthường hết sau một tuần với chế độ kiêng khem Điều này cho thấy hầu hếtcác rối loạn tâm thần liên quan đến amphetamine có thể tự khỏi mà không cầnđiều trị bằng dược lý lâu dài, thay bằng việc kiêng khem và liệu pháp hành vinhận thức kết hợp với các chương trình 12 bước (Người nghiện rượu vô danh,Người nghiện ma túy vô danh) để củng cố hệ thống hỗ trợ của bệnh nhân.”[23]

Trang 39

Chương 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca (case series)

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Dân số mục tiêu

Tất cả các trường hợp loạn thần do sử dụng ATS Bao gồm cả trườnghợp loạn thần do vừa sử dụng ATS (sảng, ngộ độc, cai: F15.5), loạn thần liênquan đến ATS trong trường hợp sử dụng đa chất (F19.5) nhưng nghĩ nhiềuloạn thần do ATS, và loạn thần do ATS kéo dài hoặc tái phát mà không liênquan đến tái sử dụng ATS với chẩn đoán theo dõi loạn thần di chứng ATS(theo dõi F15.7)

2.2.2 Dân số chọn mẫu

Tất cả các trường hợp loạn thần do sử dụng ATS Bao gồm cả trườnghợp loạn thần do vừa sử dụng ATS (sảng, ngộ độc, cai: F15.5), loạn thần liênquan đến ATS trong trường hợp sử dụng đa chất (F19.5) nhưng nghĩ nhiềuloạn thần do ATS, và loạn thần do ATS kéo dài hoặc tái phát mà không liênquan đến tái sử dụng ATS với chẩn đoán theo dõi loạn thần di chứng ATS(theo dõi F15.7), nhập viện trong thời gian lấy mẫu từ ngày 01/3/2021 đếnngày 31/5/2021 tại khoa nội trú bệnh viện tâm thần TP.HCM

2.2.3 Tiêu chuẩn chọn vào

Bệnh nhân được chẩn đoán loạn thần do sử dụng ATS

2.2.4.Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân mắc bệnh câm hoặc điếc bẩm sinh không thể tiến hành thămkhám

Bệnh nhân nữ đang mang thai

Trang 40

Bệnh nhân nhiễm HIV và các bệnh nội - ngoại khoa nghiêm trọng,nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng.

Bệnh nhân đã đưa vào nghiên cứu nhưng tái nhập viện

2.3 Phương pháp chọn mẫu

Theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện

2.4 Thời gian nghiên cứu

Từ 01/3/2021 đến ngày 31/5/2021 (3 tháng) Do ảnh hưởng giãn cách

04/01/2021 đến ngày 04/7/2021 (6 tháng)

2.5 Địa điểm nghiên cứu

Khoa nội trú bệnh viện tâm thần TP.HCM

Thang BPRS bao gồm 24 cấu trúc triệu chứng, mỗi triệu chứng đượcxếp hạng theo mức độ nghiêm trọng từ “không có” đến “rất nặng”, tương ứngvới 1 - 7 điểm Nếu một triệu chứng cụ thể không được xếp hạng, đánh dấu

“NA” (không được đánh giá) (tham khảo phụ lục 2)

Thang điểm BPRS có hướng dẫn cách phỏng vấn và cách đánh giá độnặng triệu chứng [12], bao gồm 26 trang (tham khảo phụ lục 3)

Đánh giá tác dụng phụ ngoại tháp theo DSM-5 mỗi khi theo dõi BPRSvào ngày thứ 7, ngày thứ 14

Ngày đăng: 23/04/2023, 22:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2019), Hướng dẫn can thiệp lạm dụng ma túy tổng hợp dạng amphetamine, Quyết định số 786 /QĐ-BYT ngày 01 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội, chương 1, tr.10-14. URL:https://hoatieu.vn/download/quyet-dinh-786-qd-byt-2019-167943 Đăng nhập 17/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn can thiệp lạm dụng ma túy tổng hợp dạngamphetamine
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2019
2. Bộ y tế (2019), Hướng dẫn can thiệp lạm dụng ma túy tổng hợp dạng amphetamine, Quyết định số 786 /QĐ-BYT ngày 01 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội, chương 4, tr. 50-52. URL:https://hoatieu.vn/download/quyet-dinh-786-qd-byt-2019-167943 Đăng nhập 17/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn can thiệp lạm dụng ma túy tổng hợp dạngamphetamine
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2019
3. Bộ y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp, Quyết định số 2058/QĐ-BYT Ngày 14 tháng 05 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội, bài 11, tr.73-74. URL: THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ (kcb.vn) Đăng nhập ngày 17/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâmthần thường gặp
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2020
4. Đặng Văn Mẫu (2014), Đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần của bệnh nhân sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine, Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng, phần 1.1.2. URL: Bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng (danang.gov.vn) Đăng nhập ngày 10/11/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần của bệnhnhân sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine
Tác giả: Đặng Văn Mẫu
Năm: 2014
5. Hà Văn Cường, Chu Xuân Khánh, Bùi Thị Lan Phương, Quách Thị Nguyệt, Tạ Diệu Hà (2021), “ Khảo sát dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ngộ độc một số loạn ma túy không phải Opi tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình” Trang thông tin bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình. URL: Khảo sát dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàngvà kết quả điều trị ngộ độc một số loạn ma túy không phải Opi tại bệnhviện đa khoa tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Hà Văn Cường, Chu Xuân Khánh, Bùi Thị Lan Phương, Quách Thị Nguyệt, Tạ Diệu Hà
Năm: 2021
6. Trần Thị Hồng Thu, Trần Hữu Bình (2013), Đánh giá kết quả điều trị các rối loạn tâm thần ở những người sử dụng chất dạng Amphetamine tại Viện sức khỏe Tâm thần , Y học thực hành (876) – Số 7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trịcác rối loạn tâm thần ở những người sử dụng chất dạng Amphetaminetại Viện sức khỏe Tâm thần
Tác giả: Trần Thị Hồng Thu, Trần Hữu Bình
Năm: 2013
7. Việt Tuấn (2021), Những điều cần biết về ma túy đá (Methamphetamine), Trung tâm tƣ vấn HIV/AIDS và sức khỏe cộng đồng PAC, Thành phố Hải Phòng, phần 3.7. URL: Những điều cần biết về ma túy đá (Methamphetamine) (pachaiphong.vn) Đăng nhập ngày 03/11/2021TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Tuấn (2021), "Những điều cần biết về ma túy đá(Methamphetamine)
Tác giả: Việt Tuấn
Năm: 2021
8. Akiyama K (2006), “Longitudinal clinical course following pharmacological treatment of methamphetamine psychosis which persists after long-term abstinence”, Ann N Y Acad Sci, 1074, pp.125–34.URL: Longitudinal clinical course following pharmacological treatment of methamphetamine psychosis which persists after long-term abstinence - PubMed (nih.gov) Access on Nov 3th, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Longitudinal clinical course followingpharmacological treatment of methamphetamine psychosis whichpersists after long-term abstinence”, "Ann N Y Acad Sci
Tác giả: Akiyama K
Năm: 2006
9. Akiyama K, Saito A, Shimoda K (2011), “Chronic methamphetamine psychosis after long-term abstinence in Japanese incarcerated patients’, Am J Addict, 20(3), pp.240–9. URL: Chronic methamphetamine psychosis after long-term abstinence in Japanese incarcerated patients - PubMed (nih.gov) access on Nov 1 st ,2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chronic methamphetaminepsychosis after long-term abstinence in Japanese incarcerated patients’,"Am J Addict
Tác giả: Akiyama K, Saito A, Shimoda K
Năm: 2011
10. American Psychiatric Association (2013), Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder-fifth Edition, American Psychiatric Publishing, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and StatisticalManual of Mental Disorder-fifth Edition
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1. Sơ đồ nghiên cứu - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 3.1. Đặc điểm điểm BPRS của các triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS lúc nhập viện - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.1. Đặc điểm điểm BPRS của các triệu chứng tâm thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng ATS lúc nhập viện (Trang 54)
Bảng 3.2. Bảng tần suất mỗi điểm BPRS của các triệu chứng tâm thần - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.2. Bảng tần suất mỗi điểm BPRS của các triệu chứng tâm thần (Trang 55)
Bảng 3.3. So sánh điểm BRRS thời điểm nhập viện và thời điểm 7 - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.3. So sánh điểm BRRS thời điểm nhập viện và thời điểm 7 (Trang 56)
Bảng 3.4. So sánh tần suất triệu chứng thời điểm nhập viện và thời - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.4. So sánh tần suất triệu chứng thời điểm nhập viện và thời (Trang 58)
Bảng 3.5. So sánh điểm BPRS thời điểm 7 ngày và 14 ngày sau - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.5. So sánh điểm BPRS thời điểm 7 ngày và 14 ngày sau (Trang 59)
Bảng 3.7. So sánh điểm BPRS thời điểm ngày nhập viện và 14 ngày - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.7. So sánh điểm BPRS thời điểm ngày nhập viện và 14 ngày (Trang 62)
Bảng 3.8. So sánh tần suất các triệu chứng  thời điểm ngày nhập - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
Bảng 3.8. So sánh tần suất các triệu chứng thời điểm ngày nhập (Trang 64)
BẢNG THU THẬP SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU - Khảo sát triệu chứng và đáp ứng điều trị với các thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất gây nghiện dạng amphetamine (ats)
BẢNG THU THẬP SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU (Trang 93)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w