1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tương quan thần kinh dưới ổ mắt và xoang hàm trên hình ảnh ct scan mũi xoang tại bệnh viện nguyễn tri phương từ 8

103 23 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tương quan thần kinh dưới ổ mắt và xung quanh xoang hàm trên hình ảnh CT scan mũi xoang tại bệnh viện Nguyễn Trí Phương từ 8
Tác giả Đỗ Thị Mỹ Nữ
Người hướng dẫn PGS.TS. Lâm Huyền Trân
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1 Thần kinh dưới ổ mắt (15)
    • 1.2 Xoang hàm và các cấu trúc lân cận (22)
    • 1.3 CT Scan mũi xoang (32)
    • 1.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước (33)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (40)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (40)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (40)
    • 2.3 Y đức (50)
  • Chương 3: KẾT QUẢ (51)
    • 3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và phân loại, tỷ lệ từng loại thần kinh dưới ổ mắt (51)
    • 3.2 Đặc điểm ống dưới ổ mắt và lỗ dưới ổ mắt trên hình ảnh CT Scan mũi xoang (55)
    • 3.3 Tương quan giữa thần kinh dưới ổ mắt với xoang hàm và các cấu trúc lân cận trên hình ảnh CT Scan mũi xoang (62)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (77)
    • 4.2 Đặc điểm ống dưới ổ mắt và lỗ dưới ổ mắt trên hình ảnh CT Scan mũi xoang (81)
    • 4.3 Tương quan giữa thần kinh dưới ổ mắt với xoang hàm và các cấu trúc lân cận (86)
  • KẾT LUẬN (93)
  • PHỤ LỤC (101)

Nội dung

Thần kinh dưới ổ mắt dễ bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật khiphẫu thuật viên cố gắng loại bỏ bệnh tích ở vùng trần xoang hàm, đặc biệttrong trường hợp thần kinh nằm thấp, chạy bên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÂM HUYỀN TRÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trongluận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trìnhnào khác

Tác giả

ĐỖ THỊ MỸ NỮ

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Thần kinh dưới ổ mắt 4

1.2 Xoang hàm và các cấu trúc lân cận 11

1.3 CT Scan mũi xoang 21

1.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3 Y đức 39

Chương 3: KẾT QUẢ 40

3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và phân loại, tỷ lệ từng loại thần kinh dưới ổ mắt 40

3.2 Đặc điểm ống dưới ổ mắt và lỗ dưới ổ mắt trên hình ảnh CT Scan mũi xoang 44

3.3 Tương quan giữa thần kinh dưới ổ mắt với xoang hàm và các cấu trúc lân cận trên hình ảnh CT Scan mũi xoang 51

Chương 4: BÀN LUẬN 66

Trang 4

4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và phân loại, tỷ lệ từng loại thần kinh dưới

ổ mắt 664.2 Đặc điểm ống dưới ổ mắt và lỗ dưới ổ mắt trên hình ảnh CT Scan mũixoang 704.3 Tương quan giữa thần kinh dưới ổ mắt với xoang hàm và các cấu trúc lâncận 75KẾT LUẬN 82KIẾN NGHỊ 84TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CS: cộng sự

CT: chụp cắt lớp điện toán (computed tomography)

HC: tế bào Haller (Haller’s cell)

IOC: ống dưới ổ mắt (infraorbital canal)

IOF: lỗ dưới ổ mắt (infraorbital foramen)

IOR: bờ dưới ổ mắt (infraorbital rim)

MSCT: chụp cắt lớp điện toán đa lát cắt (multislice computer tomography)TB: tế bào

TK: thần kinh

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Đặc điểm nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu 41

Bảng 3 2 Tỷ lệ từng loại thần kinh dưới ổ mắt ở mỗi bên 42

Bảng 3 3 Phân bố tỷ lệ gập góc của ống dưới ổ mắt ở mỗi bên 44

Bảng 3 4 Tỷ lệ gập góc của ống dưới ổ mắt theo từng loại thần kinh 45

Bảng 3 5 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt mỗi bên 46

Bảng 3 6 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt của mẫu nghiên cứu 46

Bảng 3 7 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt ở từng loại thần kinh 47

Bảng 3 8 Khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hố mũi ở mỗi bên 47

Bảng 3 9 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hố mũi của mẫu nghiên cứu 48

Bảng 3 10 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hố mũi ở từng loại thần kinh 48

Bảng 3 11 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến đường giữa mặt ở mỗi bên 49

Bảng 3 12 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến đường giữa mặt của mẫu nghiên cứu 50

Bảng 3 13 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến đường giữa mặt ở từng loại thần kinh 50

Bảng 3 14 Tỷ lệ tế bào Haller ở mỗi bên 51

Bảng 3 15 Tần suất xuất hiện tế bào Haller ở từng loại thần kinh 52

Bảng 3 16 Tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt loại 3 khi có và không có tế bào Haller cùng bên 53

Trang 7

Bảng 3 17 Tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt đi trong vách tế bào Haller ở mỗi bên 53Bảng 3 18 So sánh tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt loại 3 đi chung vách tế bàoHaller và không đi chung vách tế bào Haller 54Bảng 3 19 Độ dài vách ngăn không hoàn toàn chứa thần kinh dưới ổ mắt loại

3 ở mỗi bên 57Bảng 3 20 Độ dài của vách ngăn không hoàn toàn chứa thần kinh dưới ổ mắtloại 3 trong mẫu nghiên cứu 57Bảng 3 21 Phân nhóm độ dài của vách ngăn không hoàn toàn chứa thần kinhdưới ổ mắt loại 3 58Bảng 3 22 Tương quan giữa viêm xoang hàm và thần kinh dưới ổ mắt 59Bảng 4 23 So sánh tỷ lệ nam nữ với các nghiên cứu trước 66Bảng 4 24 So sánh độ tuổi trong mẫu nghiên cứu với các nghiên cứu trước 67Bảng 4 25 So sánh tỷ lệ từng loại thần kinh dưới ổ mắt với các nghiên cứutrước 68Bảng 4 26 So sánh tỷ lệ gập góc của thần kinh dưới ổ mắt với các nghiên cứutrước 70Bảng 4 27 So sánh tỷ lệ gập góc ở từng loại thần kinh dưới ổ mắt với cácnghiên cứu trước 70Bảng 4 28 So sánh khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt với cácnghiên cứu trước 71Bảng 4 29 So sánh khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổmắt ở từng loại thần kinh với các nghiên cứu trước 72Bảng 4 30 So sánh khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hốmũi với các nghiên cứu trước 73Bảng 4 31 So sánh khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hốmũi ở từng loại thần kinh với nghiên cứu trước 73

Trang 8

Bảng 4 32 So sánh tần suất xuất hiện tế bào Haller với nghiên cứu trước 75Bảng 4 33 So sánh tần suất xuất hiện tế bào Haller ở từng loại thần kinh dưới

ổ mắt với nghiên cứu trước 76Bảng 4 34 So sánh tỷ lệ phân nhóm vách ngăn với nghiên cứu trước 79

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 1 Thần kinh sinh ba 4

Hình 1 2 Các dạng lỗ dưới ổ mắt 6

Hình 1 3 Phân nhánh điển hình của thần kinh dưới ổ mắt 7

Hình 1 4 Phân loại thần kinh dưới ổ mắt theo Ference và CS 9

Hình 1 5 Minh họa IOC loại 4 theo Acar và CS 10

Hình 1 6 Mũi và xoang hàm trên: thiết đồ ngang 12

Hình 1 7 Lỗ thông xoang hàm trái 13

Hình 1 8 Vách ngăn xoang hàm phải 14

Hình 1 9 Biểu đồ tỷ lệ các trường hợp bệnh lý ở xoang hàm 15

Hình 1 10 Mặt cắt dọc thể hiện sự thanh thải dịch tiết qua lỗ thông khe 16

Hình 1 11 Ổ mắt phải: nhìn trước bên 17

Hình 1 12 Tế bào Haller trên CT scan mũi xoang 18

Hình 1 13 Hình dạng tế bào Haller trên phim X-quang toàn cảnh 19

Hình 1 14 Hình dạng tế bào Haller trên CT scan mũi xoang 19

Hình 2 15 Các biến thể thần kinh dưới ổ mắt trên hình ảnh CT scan mũi xoang 32

Hình 2 16 Sự gập góc và không gập góc của ống dưới ổ mắt 32

Hình 2 17 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt 33

Hình 2 18 Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hố mũi 33

Hình 2 19 Tế bào Haller trên CT scan trên mặt cắt coronal 34

Hình 2 20 Thần kinh dưới ổ mắt đi trong vách tế bào Haller 35

Hình 2 21 Vách ngăn xoang hoàn toàn chứa thần kinh dưới ổ mắt 35

Hình 2 22 Vách ngăn xoang không hoàn toàn ở thành trước chứa thần kinh dưới ổ mắt 36

Trang 10

Hình 2 23 Vách ngăn xoang không hoàn toàn ở thành sau chứa thần kinh

dưới ổ mắt 36

Hình 2 24 Viêm xoang hàm hai bên trên hình ảnh CT scan mũi xoang 37

Hình 3 25 Thần kinh dưới ổ mắt loại 2 bên trái và loại 3 bên phải 61

Hình 3 26 Thần kinh dưới ổ mắt loại 3 (bên phải) trên mặt cắt sagittal 61

Hình 3 27 Thần kinh dưới ổ mắt loại 2 (bên trái) trên mặt cắt sagittal 62

Hình 3 28 Thần kinh dưới ổ mắt loại 1 hai bên 62

Hình 3 29 Thần kinh dưới ổ mắt loại 1 hai bên và tế bào Haller bên phải 63

Hình 3 30 Tế bào Haller bên phải và viêm xoang hàm trái 63

Hình 3 31 Thần kinh dưới ổ mắt đi trong vách tế bào Haller bên phải 64

Hình 3 32 Thần kinh dưới ổ mắt đi trong vách tế bào Haller bên phải 64

Hình 3 33 Thần kinh dưới ổ mắt đi trong vách tế bào Haller bên phải 65

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3 1 Phân bố giới tính của mẫu nghiên cứu 40Biểu đồ 3 2 Phân bố nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu 41Biểu đồ 3 3 Tỷ lệ từng loại thần kinh dưới ổ mắt ở mỗi bên 42Biểu đồ 3 4 Phân bố tỷ lệ từng loại thần kinh dưới ổ mắt trong mẫu nghiêncứu 43Biểu đồ 3 5 Phân bố tỷ lệ gập góc ống dưới ổ mắt trong mẫu nghiên cứu 44Biểu đồ 3 6 Phân bố tỷ lệ gập góc và không gập góc ống dưới ổ mắt theotừng loại thần kinh 45Biểu đồ 3 7 Phân bố tần suất xuất hiện tế bào Haller trong mẫu nghiên cứu 51Biểu đồ 3 8 Phân bố tần suất xuất hiện tế bào Haller ở từng loại thần kinh 52Biểu đồ 3 9 Tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt đi trong vách tế bào Haller trong mẫunghiên cứu 54Biểu đồ 3 10 Tỷ lệ vách ngăn hoàn toàn và vách ngăn không hoàn toàn chứathần kinh dưới ổ mắt loại 3 mỗi bên 55Biểu đồ 3 11 Tỷ lệ vách ngăn hoàn toàn và vách ngăn không hoàn toàn chứathần kinh dưới ổ mắt loại 3 trong mẫu nghiên cứu 56Biểu đồ 3 12 Tỷ lệ viêm xoang hàm mỗi bên 58Biểu đồ 3 13 Tỷ lệ viêm xoang hàm trong mẫu nghiên cứu 59Biểu đồ 4 14 So sánh tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt loại 3 khi có và không có tếbào Haller cùng bên với các nghiên cứu khác 77

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thần kinh dưới ổ mắt là một nhánh tận của thần kinh hàm trên (V2) –nhánh thứ hai của thần kinh sinh ba (dây thần kinh sọ V) Sau khi thần kinhhàm trên đi qua lỗ tròn, nó sẽ vào hố chân bướm khẩu cái cho các nhánh mũi

và các nhánh khẩu cái trước khi thoát ra qua khe ổ mắt dưới và đổi tên thànhthần kinh dưới ổ mắt [29]

Thần kinh dưới ổ mắt dễ bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật khiphẫu thuật viên cố gắng loại bỏ bệnh tích ở vùng trần xoang hàm, đặc biệttrong trường hợp thần kinh nằm thấp, chạy bên trong một vách xương hoặcchứa trong tế bào sàng dưới ổ mắt [9] Dị cảm hay giảm cảm giác vùng thầnkinh chi phối đã được báo cáo trong các chấn thương, phẫu thuật tầng giữamặt, phẫu thuật Caldwell-Luc và phẫu thuật vùng hố chân bướm khẩu cái với

tỷ lệ dao động từ 2% đến 67% [9] [16] [18], gây ảnh hưởng đến chất lượngcuộc sống của bệnh nhân Ngoài ra, thần kinh dưới ổ mắt còn đi kèm với độngmạch cùng tên, vì vậy, tổn thương thần kinh cũng đồng thời có thể tổn thương

cả động mạch gây chảy máu che lấp phẫu trường trong quá trình phẫu thuật,đặc biệt là phẫu thuật nội soi [21] Do đó việc xác định đường đi, vị trí củathần kinh dưới ổ mắt so với các mốc giải phẫu lân cận rất quan trọng để tránhtai biến xảy ra

CT scan (hay còn gọi là chụp cắt lớp vi tính) tái tạo ba mặt cắt là mộtphương pháp chẩn đoán hình ảnh quan trọng đối với bệnh nhân đã được chẩnđoán hoặc nghi ngờ mắc bệnh lý ở khoang mũi và các xoang cạnh mũi CTscan mang đến cho phẫu thuật viên một con đường trong quá trình phẫu thuật

và cảnh báo sự hiện diện của các biến thể giải phẫu [29], trong đó sự bấtthường về đường đi của thần kinh dưới ổ mắt là một trong những biến thể giảiphẫu làm tăng nguy cơ tai biến phẫu thuật Đánh giá CT scan trước mổ là một

Trang 13

cách góp phần nâng cao khả năng mô tả đường đi, vị trí và liên quan của thầnkinh dưới ổ mắt với các cấu trúc lân cận như xoang hàm, ổ mắt, hố mũi hay tếbào Haller [9].

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về thần kinhdưới ổ mắt trên CT scan [9] [11] [16] [18] [21] [29] [30] [33] Tuy nhiên tạiViệt Nam, có rất ít báo cáo về thần kinh này [5] Vì vậy, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu “Khảo sát tương quan thần kinh dưới ổ mắt và xoang hàm trênhình ảnh CT scan mũi xoang tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ 8/2020 –6/2021” để đánh giá tỷ lệ, đặc điểm và tương quan của thần kinh với các cấutrúc giải phẫu lân cận

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 THẦN KINH DƯỚI Ổ MẮT

Thần kinh dưới ổ mắt là một nhánh tận lớn nhất của thần kinh hàm trênthuộc thần kinh sinh ba Thần kinh sinh ba (hay còn gọi là dây sọ V) gồm cóhai rễ: rễ cảm giác lớn và rễ vận động nhỏ Rễ cảm giác phình ra ở phía trướctạo thành một hạch gọi là hạch sinh ba Thần kinh hàm trên là trẽ giữa củahạch sinh ba chui qua lỗ tròn để đến hố chân bướm khẩu cái [6] [9] Tại đâythần kinh tạt ngang ra ngoài trong khe ổ mắt dưới rồi lại quặt ngược ra trướcđổi tên là thần kinh dưới ổ mắt đi trong rãnh, ống và tận hết ở lỗ dưới ổ mắt[6] [9] [16] [18]

Hình 1 1 Thần kinh sinh ba [2]

Trang 16

Ống dưới ổ mắt là một ống xương điển hình nằm ở mặt ổ mắt củaxương hàm trên, tương ứng với sàn ổ mắt hay trần xoang hàm Phức hợp ốngdưới ổ mắt được xác định lần đầu tiên vào năm 1998 bởi Scafe và cộng sự(CS) Ông đã phân chia biến thể này thành ba loại khác nhau: chỉ có ống, chỉ

có rãnh và kết hợp cả ống và rãnh dưới ổ mắt Phức hợp ống dưới ổ mắt làmốc giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật sàn ổ mắt, đặc biệt là phẫu thuậtnội soi và tái tạo sàn ổ mắt [41] Trong một số trường hợp, ống dưới ổ mắt cóthể lồi vào trong lòng xoang hàm và tách biệt hoàn toàn với sàn ổ mắt Điềunày có thể dẫn đến tai biến tổn thương thần kinh dưới ổ mắt trong quá trìnhphẫu thuật vùng mũi xoang [29]

Tận cùng của ống dưới ổ mắt là lỗ dưới ổ mắt Lỗ dưới ổ mắt là cấutrúc nằm ở mặt trước xương hàm trên hai bên, dưới bờ dưới ổ mắt khoảng1cm, cho động mạch, tĩnh mạch và thần kinh dưới ổ mắt đi qua [14] Đây làmốc giải phẫu quan trọng để gây tê cho các phẫu thuật tầng giữa mặt [31].Tác giả Aggarwal và CS nghiên cứu 67 hộp sọ nhận thấy lỗ dưới ổ mắt cónhiều hình dạng khác nhau bao gồm hình bầu dục (chiếm 81,95%), hình tròn(chiếm 12,78%), hình tam giác (chiếm 3,75%) và hình chữ “D” (chiếm1,50%) [10]

Trang 17

Hình 1 2 Các dạng lỗ dưới ổ mắt [10]

(a) hình bầu dục, (b) hình tròn, (c) hình tam giác, (d) hình chữ “D”

Thần kinh dưới ổ mắt có các nhánh bên là các dây huyệt răng trên chialàm các nhánh huyệt răng trên sau, giữa và trước nối với nhau tạo thành đámrối răng trên Từ đám rối tách ra các nhánh răng trên và lợi trên [6]

Đến lỗ dưới ổ mắt, thần kinh tỏa ra các nhánh tận gồm:

- Các nhánh mí dưới

- Các nhánh mũi ngoài và trong

- Các nhánh môi trên [6] [19]

Trang 18

Hình 1 3 Phân nhánh điển hình của thần kinh dưới ổ mắt [19]

“Nhánh mí dưới (IP) chạy lên trên và bốn nhánh còn lại đi xuống dưới Bốn nhánh này phân chia từ vùng giữa đến vùng bên theo thứ tự: nhánh mũi ngoài (EN), các nhánh mũi trong (IN), các nhánh trung gian (SLm) và

các nhánh bên (SLI) của nhánh môi trên.”

Thần kinh dưới ổ mắt chi phối cảm giác cho da vùng mi dưới, kết mạcmắt, môi trên và da phần bên của mũi [9] [18] [19] Chấn thương hay tổnthương thần kinh trong quá trình khám chữa bệnh có thể đưa đến giảm cảmgiác, dị cảm hoặc đau ở vùng này Nhiều nghiên cứu khác nhau đã báo cáorằng có đến 60% đến 80% bệnh nhân chấn thương cấu trúc xương hàm trên cóbiểu hiện rối loạn cảm giác ngay tức thì và tình trạng này kéo dài vĩnh viễntrong 15% đến 30% Vì vậy, chức năng của thần kinh dưới ổ mắt cần đượcđánh giá cẩn thận trong bất kì chấn thương tầng giữa mặt nào hoặc trước cácphẫu thuật tầng giữa mặt, mũi xoang, đặc biệt là phẫu thuật Caldwell-Luc[14] [16] Rối loạn cảm giác kéo dài ở vùng thần kinh chi phối đã được báocáo từ 10% đến 50% bệnh nhân sau can thiệp vào cấu trúc phức hợp gò má - ổ

Trang 19

mắt [18] Hiện nay, nhờ sự phát triển của phẫu thuật nội soi mũi xoang, phẫuthuật Caldwell-Luc hiếm khi được chỉ định trong bệnh lý viêm xoang mạn,tuy nhiên đôi khi phẫu thuật này vẫn còn được sử dụng để loại bỏ khối u, thắtđộng mạch hàm trong và tái tạo sàn ổ mắt [16] [29] Trong trường hợp này,thần kinh dưới ổ mắt có thể bị tổn thương ở vị trí lỗ dưới ổ mắt khi vạt da mặtđược nâng lên [16] Tê bì vùng mặt đã được báo cáo từ 2% đến 9% bệnh nhânsau phẫu thuật Caldwell-Luc Triệu chứng này cũng được báo cáo xảy ra từ44% đến 67% bệnh nhân được phẫu thuật nội soi vùng hố chân bướm khẩucái [9] [18].

Ference và CS [9] đã nghiên cứu đường đi của thần kinh dưới ổ mắttrên 100 phim CT scan khác nhau và phân chia thành 3 loại dựa trên mức độnhô của thần kinh vào trong lòng xoang hàm:

- Loại 1: thần kinh được bao bọc hoàn toàn bởi trần xoang hàm

- Loại 2: thần kinh nằm dưới trần xoang hàm nhưng vẫn kề với trần xoang

- Loại 3: thần kinh đi xuống dưới vào trong lòng xoang, gắn với trần xoangbằng một vách xương hoặc đi trong vách tế bào sàng dưới ổ mắt (tế bàoHaller)

Trang 20

Hình 1 4 Phân loại thần kinh dưới ổ mắt theo Ference và CS [9]

“Mặt cắt coronal và sagittal minh họa cho các biến thể giải phẫu dựa trên

sự khiếm khuyết của thần kinh dưới ổ mắt từ trần xoang hàm (mũi tên chỉ

thần kinh).”

Trang 21

Dựa trên phân loại về thần kinh dưới ổ mắt của Ference cùng CS [9] vàbáo cáo về trường hợp ống dưới ổ mắt nằm bên ngoài ngách gò má xươnghàm trên của Rusu và CS [33], Acar[11] đã phân chia các thể ống dưới ổ mắt(IOC) thành 4 loại:

- IOC loại 1: nằm hoàn toàn trong trần xoang hàm

- IOC loại 2: nhô một phần vào trong xoang hàm

- IOC loại 3: nhô hoàn toàn vào lòng xoang hàm

- IOC loại 4: nằm ở mốc giải phẫu vượt qua giới hạn của rãnh gò má xươnghàm trên

Hình 1 5 Minh họa IOC loại 4 theo Acar và CS [11]

“(A): Hình ảnh CT mũi xoang mặt cắt coronal cho thấy IOC loại 4 ở hai bên – IOC nằm ở giới hạn ngoài ngách gò má (mũi tên) (B): Mặt cắt axial cho thấy hai IOC (mũi tên) được nhận biết với đường đi ở thành bên xoang

hàm (dấu hoa thị) và mở ra ở lỗ dưới ổ mắt (mũi tên cong).”

Tác giả Lantos và CS [29] nghiên cứu 500 phim CT scan đã định nghĩaống dưới ổ mắt được xem như nhô vào lòng xoang hàm nếu toàn bộ thành

Trang 22

ống không có liên hệ với bất kì thành nào của xoang hàm trên một hình ảnh

CT scan đơn độc Lúc này, ống dưới ổ mắt luôn luôn được nối với một thànhcủa xoang hàm bằng một vách ngăn xoang Các tác giả đã đo độ dài cực đạicủa vách ngăn xoang trên mặt phẳng axial và phân chia các bệnh nhân có ốngdưới ổ mắt lồi vào xoang hàm thành ba nhóm:

- Nhóm 1: độ dài vách ngăn xoang từ 1mm đến < 4mm

- Nhóm 2: độ dài vách ngăn xoang từ 4mm đến 7mm

- Nhóm 3: độ dài vách ngăn xoang từ > 7mm đến 11mm

Sự phân chia này có ý nghĩa quan trọng vì độ dài vách ngăn xoang cànglớn, nguy cơ tai biến tổn thương thần kinh trong phẫu thuật can thiệp vàoxoang hàm càng cao [29]

1.2 XOANG HÀM VÀ CÁC CẤU TRÚC LÂN CẬN

1.2.1 Xoang hàm

1.2.1.1 Giải phẫu xoang hàm

Xoang hàm lần đầu tiên được mô tả bởi danh họa Leonardo da Vincivào năm 1489 Sau đó được nhà giải phẫu học người Anh NathanielHighmore ghi nhận vào năm 1651, vì vậy còn được gọi là hang Highmore,phát triển bên trong thân của xương hàm trên và là xoang xuất hiện đầu tiêntrong các xoang cạnh mũi [6] [7] [39]

Trang 23

Hình 1 6 Mũi và xoang hàm trên: thiết đồ ngang [2]

Xoang hàm là xoang lớn nhất trong các xoang (trung bình là 15ml) và

là xoang duy nhất hoàn chỉnh lúc trẻ chào đời [6] [7] Mỗi xương hàm trên cómột xoang Mỗi xoang có một trần, một đỉnh và ba thành

- Thành trong: là thành ngoài hố mũi

- Thành trước: tương ứng với mặt trước xương hàm trên

- Thành sau: là mặt dưới thái dương của xương hàm trên

- Đỉnh: đến mỏm gò má của xương hàm trên

- Trần: mặt ổ mắt của xương hàm trên

- Nền: là mỏm huyệt răng của xương hàm trên Xoang hàm liên quan trực tiếpvới răng cối thứ nhất, do đó sâu răng có thể dẫn đến viêm xoang

Trang 24

Niêm mạc xoang hàm liên tục với niêm mạc của ổ mũi Lỗ thông xoanghình bầu dục đổ vào ngách mũi giữa ở phễu xương sàng [6].

Hình 1 7 Lỗ thông xoang hàm trái (mũi tên) [20]

“(A) phẫu tích xác (B) hình ảnh CT scan (mặt cắt coronal) N: hốc mũi O:

ổ mắt”.

Năm 1910, Underwood đã mô tả chi tiết giải phẫu xoang hàm, trong đónêu rõ hình dạng và kích thước của các vách ngăn trong xoang hàm Trongnhiều thập kỉ, những vách ngăn xoang này được xem như không có nhiều ýnghĩa về mặt lâm sàng Tuy nhiên, khi các phương tiện chẩn đoán mới giúpkiểm tra tình trạng rối loạn của xoang ra đời, ví dụ như nội soi, quan điểm vềbiến thể giải phẫu này đã thay đổi [28]

Nghiên cứu của tác giả Krennmair và CS thực hiện khảo sát 265 xoanghàm trong đó có 200 xoang được kiểm tra bằng CT scan cho kết quả có mộtvách ngăn xoang hoàn toàn (0,5%), 21 vách ngăn xoang không hoàn toàn ở

Trang 25

nền xoang và 10 vách ngăn xoang không hoàn toàn xuất phát từ thành trướccủa xoang (5%) Chiều cao trung bình của vách ngăn xoang không hoàn toàn

là 9,2 ± 4,5mm [28]

Trong y văn, tỷ lệ vách ngăn trong xoang hàm dao động từ 16% đến58% Đối với trường hợp vách ngăn xoang hoàn toàn, xoang hàm sẽ bị phânchia thành nhiều xoang nhỏ [27]

Hình 1 8 Vách ngăn xoang hàm phải (mũi tên) [20]

(A) hình ảnh X-quang paronamic (B) hình ảnh CT scan (mặt cắt axial)

1.2.1.2 Sự dẫn lưu bình thường của xoang hàm và cơ chế viêm xoang

Bệnh lý phổ biến nhất của các xoang cạnh mũi là viêm xoang, trong đóxoang hàm có tỷ lệ cao nhất [38]

Trang 26

Hình 1 9 Biểu đồ tỷ lệ các trường hợp bệnh lý ở xoang hàm [38]

(theo nghiên cứu của tác giả Verma và CS)

Có ba yếu tố chủ yếu trong sinh lý bình thường của các xoang cạnh mũi

là độ thông thoáng của lỗ thông khe, chức năng lông chuyển và chất lượngcủa sự chế tiết nhầy

Sinh lý học đầu tiên có ý nghĩa nhất là phù nề lớp niêm mạc quanh lỗthông tự nhiên Sự tắc nghẽn lỗ thông xoang tạo nên sự kém thông khí ở cácxoang bị ảnh hưởng

Biểu mô lót trong mũi và các xoang cạnh mũi là biểu mô trụ giả tầng cólông chuyển Chức năng vận chuyển nhầy lông chuyển rất quan trọng đối vớichức năng xoang và mũi bình thường Lông chuyển đòi hỏi phải có dịch vừaphải để đập và hoạt động bình thường Môi trường lông chuyển bình thườngđược tạo bởi lớp nhầy đôi: lớp nhầy nông quánh gọi là lớp gel và lớp thanhdịch bên dưới gọi là lớp sol Khi chức năng lông chuyển bị rối loạn, lớp phủnhầy không hoạt động bình thường, yếu tố đề kháng tại chỗ bị giảm

Trang 27

Khi lỗ thông bị tắc, chế tiết bị ứ lại Hắt hơi, sổ mũi và hỉ mũi, vi trùng

có thể đi vào trong xoang và lần nữa sự ứ đọng chất tiết xảy ra Chức nănglông chuyển giảm cũng làm thay đổi độ quánh của dịch mũi tạo môi trường lýtưởng cho vi trùng [3]

Trong xoang hàm, sự vận chuyển dịch tiết bắt đầu từ đáy xoang rồi lanlên các thành xoang đến trần xoang và về lỗ thông khe Lỗ thông phụ xuấthiện trong 30% cá thể, tuy nhiên dịch tiết luôn luôn được vận chuyển về lỗthông chính [22]

Hình 1 10 Mặt cắt dọc thể hiện sự thanh thải dịch tiết qua lỗ thông

khe[22]

1.2.2 Các cấu trúc lân cận khác

1.2.2.1 Ổ mắt

Là hai hốc xương chứa nhãn cầu, cơ, thần kinh, mạch máu, mỡ và bộ

lệ Mỗi ổ mắt là một hình tháp bốn mặt, đỉnh nằm phía sau, nền ở phía trước

Trang 28

- Thành dưới: tạo bởi xương hàm trên, xương gò má và xương khẩu cái, córãnh dưới ổ mắt để thần kinh và động mạch cùng tên đi qua.

- Thành trong: là thành mỏng nhất, tạo bởi mảnh ổ mắt của xương sàng,xương lệ, xương trán và một phần nhỏ thân xương bướm

- Nền ổ mắt: tức là đường vào ổ mắt hình vuông bốn góc tròn mà các bờ cóthể sờ được trên người sống, gồm bờ trên, dưới, trong, ngoài, được tạo bởi cácxương trán, xương gò má và xương hàm trên

- Đỉnh ổ mắt là nơi có khe ổ mắt trên và lỗ thần kinh thị giác [6]

Hình 1 11 Ổ mắt phải: nhìn trước bên [2]

Trang 29

Hình 1 12 Tế bào Haller trên CT scan mũi xoang (mũi tên dài) [23]

Tế bào Haller có thể xuất hiện với kích thước khác nhau, mỗi bên cóthể có một hoặc nhiều tế bào.Trong nghiên cứu của tác giả Solanki và CS,hình dạng của tế bào Haller bao gồm hình tròn (21,4%), hình bầu dục(47,4%), hình giọt nước (17,7%), hình trái tim (1,0%) và hình chóp (5,7%)[36]

Trang 30

Hình 1 13 Hình dạng tế bào Haller trên phim X-quang toàn cảnh[36]

Hình 1 14 Hình dạng tế bào Haller trên CT scan mũi xoang [23]

“a: hình tròn b: hình bầu dục c: hình tam giác.

d: tế bào Haller đơn độc ở một bên và có hai tế bào bên còn lại”

Trang 31

Tế bào Haller có vai trò quan trọng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang.Tổn thương tế bào này trong quá trình phẫu thuật làm tăng nguy cơ mổ vàohốc mắt gây tụ máu hốc mắt, tràn máu kết mạc, lồi nhãn cầu, kẹt cơ vận nhãnđưa đến song thị, hoặc nặng hơn là mù do chèn ép thần kinh thị [1].

Tác giả Võ Hiếu Bình và CS đã nghiên cứu 400 trường hợp CT scantrên 200 bệnh nhân nhận thấy tế bào Haller xuất hiện ở 56% các trường hợp,phần lớn là hai bên và thỉnh thoảng có 2 hoặc 3 tế bào cùng một bên Những

tế bào này khi phì đại, viêm đơn độc có thể gây bít tắc lỗ thông xoang hàm vàdẫn đến viêm xoang [1] Các nghiên cứu trên thế giới báo cáo về sự xuất hiện

tế bào Haller với các tỷ lệ khác nhau, dao động từ 4,7% đến 45,1% [13]

Tế bào Haller nằm rất gần ống dưới ổ mắt và sự xuất hiện tế bào nàytương quan thuận với sự khiếm khuyết sàn ổ mắt [18] Hai tác giả Chandra vàKennedy đã báo cáo một trường hợp ống dưới ổ mắt đi trong vách tế bàoHaller vào lòng xoang hàm phải, lúc này khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờdưới ổ mắt là xấp xỉ 14mm [16]

Sự phát triển quá mức tế bào Haller làm thay đổi cấu trúc giải phẫuphức hợp lỗ thông xoang và có thể là nguyên nhân gây nên viêm mũi xoang

Vì nó có thể làm hẹp phễu sàng và cản trở đường lưu thông của xoang hàmvào ngách mũi giữa gây nên viêm xoang hàm – sàng trước [8] Một số nghiêncứu đã chỉ ra mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa sự xuất hiện tế bào Haller

có kích thước từ 3mm trở lên với viêm xoang hàm [26]

Trang 32

1.3 CT SCAN MŨI XOANG

1.3.1 Lịch sử

Máy chụp CT scan được chế tạo hoàn chỉnh vào năm 1972 bởi kỹ sưngười Anh Sir Godfrey Hounsfield và bác sỹ người Mỹ Alan Cormack Từnăm 1995, nhiều chuyên gia X-quang thuộc đại học hoàng gia Anh quốc đãđưa ra nhận xét về vai trò và giá trị của CT scan trong chẩn đoán Viêm mũixoang [7] Chỉ định chụp CT scan khi bệnh viêm mũi xoang đã được điều trịnội khoa tối đa nhưng vẫn thất bại, viêm mũi xoang đã có biến chứng hoặcnghi ngờ bệnh ác tính [7]

1.3.2 Vai trò

CT scan (hay còn gọi là chụp cắt lớp vi tính – computed tomography)

có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý mũi xoang và xác địnhphương pháp điều trị [24] Phim CT scan cho phép đánh giá cấu trúc xươngcủa các xoang và là tấm bản đồ hướng dẫn cho phẫu thuật viên khi thực hiệnphẫu thuật nội soi mũi xoang [4] [29] CT scan tiền phẫu giúp phẫu thuật viên

mô tả được các dấu hiệu viêm xoang và đôi khi cả nguyên nhân xảy ra, chỉ racác biến thể giải phẫu có thể gây rối loạn dẫn lưu dịch trong xoang và cảnhbáo các biến thể giải phẫu nguy hiểm, từ đó giúp hạn chế nguy cơ tai biếntrong phẫu thuật [12] [30]

Một nghiên cứu của các tác giả Kandukuri và CS cho thấy CT scan có

độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao trong chẩn đoán bệnh lý bẩm sinh, viêm, ulành tính hay ác tính mũi xoang và các biến chứng liên quan: bệnh lý bẩmsinh có độ nhạy và độ đặc hiệu 100%, viêm xoang mãn tính có độ nhạy là98,3% và độ đặc hiệu là 97,8%, viêm xoang do nấm có độ nhạy là 60% và độ

Trang 33

đặc hiệu là 99,3%, polyp có độ nhạy là 94,4% và độ đặc hiệu là 98,1%, u lànhtính có độ nhạy là 90,9% và độ đặc hiệu là 99,2%, u ác tính có độ nhạy là94,1% và độ đặc hiệu là 99,3% [24].

Hiện nay, CT scan được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán viêmxoang, đặc biệt khi công nghệ chụp CT scan ngày một cải tiến cho kết quảnhanh, rõ ràng và ít bức xạ hơn so với trước đây [32] Với đầy đủ các lát cắtaxial với độ dày 1-2mm, việc tái tạo mặt cắt sagittal phục vụ rất nhiều tronggiảng dạy và chẩn đoán [12]

1.4 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

- Tác giả Âu Chí Nghĩa và CS [5] nghiên cứu “Khảo sát đặc điểm hình tháithần kinh dưới ổ mắt trên phim chụp cắt lớp điện toán tại bệnh viện Đại học Ydược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở I từ tháng 6/2019 đến tháng 7/2020” Qua

300 hình ảnh xoang hàm trên 150 phim chụp CT scan mũi xoang cho kết quả:

+ Thần kinh dưới ổ mắt loại 1 chiếm 35%, loại 2 chiếm 38% và loại 3chiếm 27%

+ Số đo góc trước và góc ngang lối vào lỗ dưới ổ mắt lần lượt là 60,04

Trang 34

+ Khoảng cách trung bình từ IOF đến bờ dưới ổ mắt là 9,33 ± 1,73 mm.Khoảng cách trung bình từ IOF đến bờ ngoài hố mũi là 12,77 ± 2,64 mm.

+ Sự xuất hiện vách xoang hàm nhiều nhất ở loại 3 (chiếm 51,85%) và

ít nhất ở loại 1 (chiếm 14,29%), khác biệt có ý nghĩa thống kê (kiểm định Chibình phương, p < 0,05)

+ Sự xuất hiện tế bào Agger nasi nhiều nhất ở loại 1 (chiếm 79,05%), tếbào Haller nhiều nhất ở loại 2 (chiếm 31,58%), thần kinh đi trong vách tế bàoHaller nhiều nhất ở loại 1 (chiếm 7,62%) Khác biệt về sự xuất hiện tế bàoAgger nasi, tế bào Haller, thần kinh trong tế bào Haller giữa các loại thầnkinh dưới ổ mắt không có ý nghĩa thống kê (kiểm định Chi bình phương, p >0,05)

- Tác giả Mailleux và CS [30] đã báo cáo “Thần kinh dưới ổ mắt lạc chỗ trongmột vách ngăn xoang hàm: biến thể có khả năng gây nguy hiểm trong phẫuthuật xoang”, hai trường hợp bệnh nhân đều có vách ngăn xoang chạy ngangqua phần trên của xoang hàm và thần kinh dưới ổ mắt nằm trong vách ngănxoang này

- Tác giả Jakhere và CS [21] đã báo cáo “Thần kinh dưới ổ mắt lạc chỗ: biếnthể bình thường nguy hiểm”, năm trường hợp bệnh nhân có thần kinh dưới ổmắt và động mạch đi kèm chạy trong lòng xoang hàm và được bao bọc bởimột vách xương mỏng trên phim CT scan, trong đó một trường hợp chỉ cóthần kinh nhô vào xoang hàm một bên, bốn trường hợp còn lại đều ở hai bên

- Tác giả Elnil và CS [17] báo cáo ca lâm sàng “Đi vào trong vách ngăn, mộttrường hợp thần kinh dưới ổ mắt lạc chỗ hai bên: biến thể giải phẫu khôngđược bỏ quên khi chụp CT scan mũi xoang tiền phẫu”, bệnh nhân đến khám

vì nghi ngờ viêm xoang mạn tính và được chỉ định chụp CT scan mũi xoang

Trang 35

để phục vụ chẩn đoán và điều trị, thần kinh dưới ổ mắt hai bên đi trong mộtvách xương và nhô vào lòng xoang hàm.

- Tác giả Lantos và CS [29] đã nghiên cứu hồi cứu “Sự nhô vào xoang hàmcủa thần kinh dưới ổ mắt trên CT: Tỷ lệ, phương pháp phân mức độ nhô và đềxuất ứng dụng lâm sàng” trên 500 phim CT scan mũi xoang nhận thấy:

+ Tỷ lệ ống dưới ổ mắt nhô vào trong xoang hàm là 10,8%, đồng thời ở

cả hai bên là 5,6% và chỉ ở một bên là 5,2%

+ Vách ngăn xoang gắn ống dưới ổ mắt vào xoang hàm luôn luôn hiệndiện và có chiều dài trung bình là 4mm, dao động từ 1-11 mm, trong đó có48% vách ngăn xoang thuộc nhóm 1 (1mm - < 4 mm), 33% thuộc nhóm 2(4mm - 7mm) và 19% thuộc nhóm 3 (> 7 mm)

+ Khoảng cách trung bình nơi thần kinh dưới ổ mắt bắt đầu nhô vàolòng xoang đến bờ dưới ổ mắt là 11mm, dao động từ 5 - 24mm

- Tác giả A Haghnegahdar và CS [18] đã nghiên cứu “Đánh giá ống dưới ổmắt trên phim CT Cone beam của xoang hàm”, 192 phim CT Cone beam,tương ứng với 384 xoang hàm từ năm 2012 đến năm 2014 được phân tích,biến thể ống thần kinh dưới ổ mắt được chia thành 3 loại dựa trên mức độ nhôcủa thần kinh dưới ổ mắt vào xoang hàm:

+ 26,5% ống dưới ổ mắt nằm hoàn toàn trong trần xoang (loại 1),50,3% ống dưới ổ mắt nằm dưới trần xoang nhưng vẫn kề với nó (loại 2),23,2% ống thần kinh đi xuống vào lòng xoang (loại 3) Giới tính có tươngquan với các loại thần kinh (p < 0,001) Tỷ lệ của loại 1 cao hơn ở nữ giớitrong khi tỷ lệ loại 2 cao hơn ở nam giới

Trang 36

+ Tỷ lệ ống dưới ổ mắt loại 3 tăng đáng kể từ 14,8% trong trường hợpkhông có tế bào Haller cùng bên lên 29,1% khi có sự hiện diện của tế bàoHaller cùng bên.

+ Khoảng cách trung bình giữa lỗ dưới ổ mắt và bờ dưới ổ mắt tăngtương ứng với mức độ nhô của thần kinh vào trong xoang hàm (kiểm địnhANOVA, p < 0,001) Khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổmắt ở loại 3 cao hơn có ý nghĩa so với loại 1 và loại 2

+ Tất cả các vách xương chứa ống dưới ổ mắt loại 3 đều xuất phát từthành trước xoang hàm

- Tác giả Ference và CS [9] đã nghiên cứu “Giải phẫu trong phẫu thuật và cácbiến thể của thần kinh dưới ổ mắt”, phân tích hồi cứu 100 phim CT scan mũixoang, thực hiện các phép đo liên quan đến 200 thần kinh dưới ổ mắt:

+ 60,5% thần kinh dưới ổ mắt nằm hoàn toàn trong trần xoang hàm(loại 1), 27,0% ống thần kinh đi xuống dưới nhưng vẫn kề một phần với trầnxoang (loại 2), 12,5% thần kinh đi xuống lòng xoang (loại 3)

+ Tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt loại 3 tăng có ý nghĩa thống kê từ 27,7%khi có hiện diện tế bào Haller cùng bên (kiểm định Chi bình phương, p <0,001) và lên đến 50% khi thần kinh đi trong vách tế bào Haller (kiểm địnhChi bình phương, p < 0,001)

+ Khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt ở thần kinh loại 3trung bình là 11,9 ± 2,5mm, xa hơn có ý nghĩa thống kê so với thần kinh loại

1 và loại 2 (kiểm định T-test, p < 0,001)

- Tác giả Acar và CS [11] nghiên cứu “Đánh giá hình thái học và các biến thểống dưới ổ mắt liên quan đến phẫu thuật nội soi trên CT”, phân tích hồi cứu

Trang 37

200 phim CT scan, tương ứng với 400 ống dưới ổ mắt đã chia ống dưới ổ mắtthành 4 thể dựa vào mối liên hệ của nó với xoang hàm:

+ Loại 1 (ống dưới ổ mắt nằm hoàn toàn trong trần xoang) chiếm tỷ lệ55,3%, loại 2 (ống dưới ổ mắt nhô một phần vào trong xoang hàm) chiếm26,7%, loại 3 (ống dưới ổ mắt nằm hoàn toàn trong xoang hàm) chiếm 9,5%

và loại 4 (ống dưới ổ mắt nằm ở vị trí giải phẫu khác vượt qua giới hạn củangách gò má xương hàm trên) chiếm 8,5%

+ Góc trong, chiều dài của ống dưới ổ mắt, góc vào lỗ dưới ổ mắt vàcác khoảng cách liên quan đến các biến thể ống dưới ổ mắt được đo đạc chokết quả sự gập góc của ống dưới ổ mắt gần như được nhận thấy ở loại 1 vàloại 4 (69,2%, 64,7%) và thường không được nhận thấy ở loại 3 (68,4%) (p <0,001)

+ Chiều dài của ống dưới ổ mắt, khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờdưới ổ mắt và bờ ngoài hố mũi dài nhất ở loại 3 và ngắn nhất ở loại 1 (p <0,001)

+ Góc vào lỗ dưới ổ mắt nhỏ hơn ở loại 3 và lớn hơn ở loại 1 so với cácloại còn lại có ý nghĩa thống kê (p=0,003)

+ Tỷ lệ vách xoang hàm và tế bào Haller lần lượt là 28% và 16%

- Tác giả Yenigun và CS [41] đã báo cáo “Phân độ hình ảnh của ống dưới ổmắt và tương quan với các biến thể cấu trúc lân cận”, nghiên cứu hồi cứu 750phim CT scan mũi xoang, tương ứng với 1500 ống dưới ổ mắt cho kết quả:

+ Ống dưới ổ mắt được phân chia thành 3 loại dựa vào sự liên hệ vớixoang hàm: loại 1 (ống dưới ổ mắt nhô hoàn toàn vào trong xoang hàm)chiếm 12,3% , loại 2 (ống dưới ổ mắt nằm ở trần xoang hàm và nhô một phần

Trang 38

vào trong lòng xoang) chiếm 51,2%, loại 3 (ống dưới ổ mắt được bao bọchoàn toàn bởi trần xoang hàm) chiếm 36,4%.

+ Vách ngăn xoang hàm hiện diện ở 16,5% các trường hợp vởi tỷ lệkhá tương đồng ở bên phải (16,8%) và bên trái (16,3%) Tỷ lệ của IOC loại 1

là 9,8% khi không có vách ngăn xoang tăng lên đến 25% khi có vách ngănxoang hiện diện, mối tương quan này có ý nghĩa thống kê (bên phải p = 0,00,bên trái p = 0,00)

+ Tế bào Agger nasi hiện diện trong 10,6% các hình ảnh CT scan, khátương đồng giữa bên phải (10,3%) và bên trái (10,9%).Mối tương quan giữa

sự hiện diện tế bào Agger nasi có ý nghĩa thống kê với IOC loại 1 bên tráinhưng không có ý nghĩa thống kê với IOC loại 1 bên phải và các IOC loạikhác (bên trái p = 0,00, bên phải p = 0,29)

+ Tế bào Haller hiện diện ở 4,9% các trường hợp, với tỷ lệ giống nhaugiữa bên phải (4,9%) và bên trái (4,9%) Không có tương quan có ý nghĩathống kê giữa IOC loại 1 với sự xuất hiện tế bào Haller (bên phải p = 0,09,bên trái p = 0,49)

+ Khí hóa cuốn giữa hiện diện ở 21,5% các trường hợp, với tỷ lệ khátương đồng giữa bên phải (20,9%) và bên trái (22,1%) Không có tương quan

có ý nghĩa thống kê giữa IOC loại 1 với sự hiện diện khí hóa cuốn giữa (bênphải p = 0,79, bên trái p = 0,77)

+ Khí hóa cuốn trên hiện diện ở 2,4% các trường hợp với tỷ lệ bên phải(2,5%) gần giống bên trái (2,3%) Không có tương quan có ý nghĩa thống kêgiữa IOC loại 1 với sự hiện diện khí hóa cuốn trên (bên phải p = 0,94, bên trái

p = 0,52)

Trang 39

+ Lệch vách ngăn được tìm thấy ở 229 trường hợp (chiếm 30,5%),không có tương quan có ý nghĩa thống kê giữa IOC loại 1 với sự hiện diệnlệch vách ngăn cùng bên (bên phải p = 0,693, bên trái p = 0,865).

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân đủ 18 tuổi được chụp CT scan mũixoang tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ 8/2020 đến 6/2021

Tiêu chuẩn chọn bệnh:

- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, nơi cưtrú

- Được chỉ định chụp CT scan mũi xoang

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Có tiền sử chấn thương xoang hàm, ổ mắt hoặc tầng giữa mặt

- Có tiền sử phẫu thuật vùng hốc mũi, xoang hàm, ổ mắt hoặc tầng giữa mặt

- Bệnh lý u phá hủy cấu trúc hốc mũi, xoang hàm, ổ mắt

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang

2.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu có chọn lọc theo tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ,chọn các bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu và loại ra các bệnh nhân cómột trong các tiêu chuẩn loại trừ

Ngày đăng: 23/04/2023, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Hiếu Bình (2007), "Hình dạng - vị trí - kích thước tế bào Haller và xương giấy trong phẫu thuật nội soi mũi xoang nhằm tránh mổ vào hốc mắt", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, số 11, phụ bản số 1, tr.120 - 124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình dạng - vị trí - kích thước tế bào Haller và xương giấy trong phẫu thuật nội soi mũi xoang nhằm tránh mổ vào hốc mắt
Tác giả: Võ Hiếu Bình
Nhà XB: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
3. Phạm Kiên Hữu (2010), Bài giảng Viêm xoang, Bộ môn Tai mũi họng, Trường Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Viêm xoang
Tác giả: Phạm Kiên Hữu
Nhà XB: Bộ môn Tai mũi họng, Trường Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
5. Âu Chí Nghĩa (2020), Khảo sát đặc điểm hình thái thần kinh dưới ổ mắt trên phim chụp cắt lớp điện toán tại bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở I từ 6/2019 đến 7/2020, luận văn thạc sĩ y học, trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc điểm hình thái thần kinh dưới ổ mắt trên phim chụp cắt lớp điện toán tại bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở I từ 6/2019 đến 7/2020
Tác giả: Âu Chí Nghĩa
Nhà XB: trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
6. Nguyễn Quang Quyền (2006), Bài giảng Giải phẫu học tập 1, Nhà xuất bản y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Giải phẫu học tập 1
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
8. Lâm Huyền Trân, Phạm Bắc Trung (2018), "Đặc điểm tế bào Haller ở bệnh nhân viêm xoang hàm", tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 22, số 1, tr. tr.169-173.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tế bào Haller ở bệnh nhân viêm xoang hàm
Tác giả: Lâm Huyền Trân, Phạm Bắc Trung
Nhà XB: tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
9. E. H. Ference, S. S. Smith, D. Conley, and R. K. Chandra (2015), Surgical anatomy and variations of the infraorbital nerve, Laryngoscope, vol. 125(6), pp. 1296-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical anatomy and variations of the infraorbital nerve
Tác giả: E. H. Ference, S. S. Smith, D. Conley, R. K. Chandra
Nhà XB: Laryngoscope
Năm: 2015
11. G. Aỗar, K. E. ệzen, İ Gỹler, and M. Bỹyỹkmumcu (2018), Computed tomography evaluation of the morphometry and variations of the infraorbital canal relating to endoscopic surgery, Braz J Otorhinolaryngol, Vol 84(6), pp. 713-721 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Computed tomography evaluation of the morphometry and variations of the infraorbital canal relating to endoscopic surgery
Tác giả: G. Aỗar, K. E. ệzen, İ Gỹler, M. Bỹyỹkmumcu
Nhà XB: Braz J Otorhinolaryngol
Năm: 2018
12. A John Vartanian (2008), CT scan of the Paranasal sinuses, Otolaryngology and Facial Plastic Surgery, vol. 26(4), pp. 535-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CT scan of the Paranasal sinuses
Tác giả: A John Vartanian
Nhà XB: Otolaryngology and Facial Plastic Surgery
Năm: 2008
13. M. Ahmad, N. Khurana, J. Jaberi, C. Sampair, and R. K. Kuba (2006), Prevalence of infraorbital ethmoid (Haller's) cells on panoramic radiographs, Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod, Vol 101(5), pp. 658-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of infraorbital ethmoid (Haller's) cells on panoramic radiographs
Tác giả: M. Ahmad, N. Khurana, J. Jaberi, C. Sampair, R. K. Kuba
Nhà XB: Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod
Năm: 2006
14. Fabiano Brandão, Maria Machado, José Aquino, Roberto Júnior, Salomão Pereira, and Ricardo Fabi (2008), The foramen and infraorbital nerve relating to the surgery for external access to the maxillary sinus (CALDWELL-LUC), International Archives of Otorhinolaryngology, Vol 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The foramen and infraorbital nerve relating to the surgery for external access to the maxillary sinus (CALDWELL-LUC)
Tác giả: Fabiano Brandão, Maria Machado, José Aquino, Roberto Júnior, Salomão Pereira, Ricardo Fabi
Nhà XB: International Archives of Otorhinolaryngology
Năm: 2008
15. W. E. Bolger, C. A. Butzin, and D. S. Parsons (1991), Paranasal sinus bony anatomic variations and mucosal abnormalities: CT analysis for endoscopic sinus surgery, Laryngoscope, Vol 101(1 Pt 1), pp. 56-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paranasal sinus bony anatomic variations and mucosal abnormalities: CT analysis for endoscopic sinus surgery
Tác giả: W. E. Bolger, C. A. Butzin, D. S. Parsons
Nhà XB: Laryngoscope
Năm: 1991
16. R. K. Chandra and D. W. Kennedy (2004), Surgical implications of an unusual anomaly of the infraorbital nerve, Ear Nose Throat J, Vol 83(11), pp. 766-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical implications of an unusual anomaly of the infraorbital nerve
Tác giả: R. K. Chandra, D. W. Kennedy
Nhà XB: Ear Nose Throat J
Năm: 2004
17. H. Elnil, J. A. Al-Tubaikh, and A. H. El Beltagi (2014), Into the septum I go, a case of bilateral ectopic infraorbital nerves: a not-to-miss preoperative sinonasal CT variant, Neuroradiol J, Vol 27(2), pp. 146-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Into the septum I go, a case of bilateral ectopic infraorbital nerves: a not-to-miss preoperative sinonasal CT variant
Tác giả: H. Elnil, J. A. Al-Tubaikh, A. H. El Beltagi
Nhà XB: Neuroradiol J
Năm: 2014
18. A. Haghnegahdar, L. Khojastepour, and A. Naderi (2018), Evaluation of Infraorbital Canal in Cone Beam Computed Tomography of Maxillary Sinus, J Dent (Shiraz), Vol 19(1), pp. 41-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Infraorbital Canal in Cone Beam Computed Tomography of Maxillary Sinus
Tác giả: A. Haghnegahdar, L. Khojastepour, A. Naderi
Nhà XB: J Dent (Shiraz)
Năm: 2018
19. K. S. Hu, H. H. Kwak, W. C. Song, H. J. Kang, H. C. Kim, C. Fontaine, and H. J. Kim (2006), Branching patterns of the infraorbital nerve and topography within the infraorbital space, J Craniofac Surg, Vol 17(6), pp.1111-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Branching patterns of the infraorbital nerve and topography within the infraorbital space
Tác giả: K. S. Hu, H. H. Kwak, W. C. Song, H. J. Kang, H. C. Kim, C. Fontaine, H. J. Kim
Nhà XB: J Craniofac Surg
Năm: 2006
20. Joe Iwanaga, Charlotte Wilson, Stefan Lachkar, Krzysztof Tomaszewski, Jerzy Walocha, and R. Tubbs (2019), Clinical anatomy of the maxillary sinus: Application to sinus floor augmentation, Anatomy &amp; Cell Biology, Vol 52, pp. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical anatomy of the maxillary sinus: Application to sinus floor augmentation
Tác giả: Joe Iwanaga, Charlotte Wilson, Stefan Lachkar, Krzysztof Tomaszewski, Jerzy Walocha, R. Tubbs
Nhà XB: Anatomy & Cell Biology
Năm: 2019
21. S. Jakhere, V. Kalmath, and U. Chillalshetti (2018), Ectopic Infra Orbital Nerves: Case Series of a Dangerous Normal Variant, Acta Med Indones, Vol 50(1), pp. 66-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ectopic Infra Orbital Nerves: Case Series of a Dangerous Normal Variant
Tác giả: S. Jakhere, V. Kalmath, U. Chillalshetti
Nhà XB: Acta Med Indones
Năm: 2018
22. N. Jones (2001), The nose and paranasal sinuses physiology and anatomy, Adv Drug Deliv Rev, Vol 51(1-3), pp. 5-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The nose and paranasal sinuses physiology and anatomy
Tác giả: N. Jones
Nhà XB: Adv Drug Deliv Rev
Năm: 2001
23. Pallavi Kamdi, Vijayalakshmi Nimma, Amit Ramchandani, Easwaran Ramaswami, Ajas Gogri, and Hemant Umarji (2018), Evaluation of haller cell on CBCT and its association with maxillary sinus pathologies, Journal of Indian Academy of Oral Medicine and Radiology, Vol 30(1), pp. 41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of haller cell on CBCT and its association with maxillary sinus pathologies
Tác giả: Pallavi Kamdi, Vijayalakshmi Nimma, Amit Ramchandani, Easwaran Ramaswami, Ajas Gogri, Hemant Umarji
Nhà XB: Journal of Indian Academy of Oral Medicine and Radiology
Năm: 2018
24. R. Kandukuri and S. Phatak (2016), Evaluation of Sinonasal Diseases by Computed Tomography, J Clin Diagn Res, Vol 10(11), pp. Tc09-tc12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Sinonasal Diseases by Computed Tomography
Tác giả: R. Kandukuri, S. Phatak
Nhà XB: J Clin Diagn Res
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm