Nguy cơ chảy máuAbscess quanh thận hay viêm đài bểthận của thận kể cả đông máu bình thường thể dẫn đến cắt thận ; hoặc tắc nghẽnđường tiết niệu từ một huyết khối cóthể dẫn tới suy thận T
QUAN TÀI LIỆU
Lão hóa thận- tiết niệu
Lão hóa ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thận, với những thay đổi này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi có sự hiện diện của các bệnh lý như tăng huyết áp hoặc đái tháo đường.
1.1.1 Thay đổi về cấu trúc:
Sau 40 tuổi, trọng lượng thận bắt đầu giảm và tiếp tục giảm trong suốt thời gian sau đó, chủ yếu phần vỏ Năm 1937, Wald đã giải phẫu trên 414 tử thi và nhận thấy trọng lượng thận ở lứa tuổi 70-79 giảm 19% ở nam và 9% ở nữ so với độ tuổi 20-29 [26].
Số lượng tế bào ống thận và cầu thận giảm dần theo tuổi tác Số lượng búi cầu thận ở một cầu thận cũng giảm đáng kể [29].
Số lượng nephron giảm là nguyên nhân chính dẫn đến giảm GFR ở người cao tuổi Quan sát vi thể cho thấy sự phát triển xơ hoá cầu thận theo từng ổ đoạn và sự dày lên của màng đáy cầu thận Sau tuổi 50, hầu hết những người được khảo sát đều có dấu hiệu xơ hoá.
Khi cầu thận bị mất, ống thận cũng bị thoái hóa và thay thế bằng mô liên kết Để bù đắp, ống thận của các nephron còn lại phì đại, chủ yếu là ống lượn gần, dẫn đến tình trạng phì đại và tăng sản Vỏ thận mỏng dần, ống lượn xa giảm chiều dài và hình thành các túi thừa, có thể khởi phát tạo sỏi thận ở người cao tuổi Đồng thời, sự tích tụ của các chất cặn và vi khuẩn trong những cấu trúc này có thể gây ra nhiễm trùng.
Các động mạch thận dày lên và xơ hóa, góp phần làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp Các mạch máu nhỏ trở nên ngoằn ngoèo và có lòng mạch bất thường Khi cầu thận bị xơ, thường xảy ra hiện tượng hình thành thông nối động tĩnh mạch trực tiếp giữa tiểu động mạch đến và đi, khi mao mạch thận không còn chức năng.
Trong quá trình lão hóa, lưu lượng máu đến thận giảm và kháng lực ở thận tăng, điều này làm cho người cao tuổi có nguy cơ cao mắc suy thận cấp, quá tải dịch và rối loạn điện giải.
1.1.2 Thay đổi về chức năng
Trong quá trình lão hóa, chức năng cơ thể có thể suy giảm, nhưng sự cân bằng nội môi của dịch và các chất điện giải vẫn được duy trì Tuy nhiên, khả năng này có thể bị ảnh hưởng khi xuất hiện các bệnh lý cấp tính.
Lưu lượng máu đến thận giảm trung bình 10% sau mỗi 10 năm, với sự thay đổi này rõ rệt hơn ở nam giới so với nữ giới Sự gia tăng kháng lực ở cả tiểu động mạch đến và đi cũng góp phần làm giảm khả năng đáp ứng của thận trong các tình huống mất hoặc quá tải dịch và điện giải.
Việc tăng creatinine máu ở người cao tuổi cần được chú ý, do sự giảm khối cơ theo tuổi dẫn đến giảm creatinine Mức creatinine máu ở giới hạn trên trong phạm vi bình thường cho thấy chức năng thận đã giảm đáng kể.
Mặc dù quá trình lão hoá làm giảm GFR nhưng không xuất hiện protein niệu.
Protein niệu là dấu hiệu bệnh lý quan trọng, cần thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng để tầm soát bệnh Nước tiểu bình thường chứa dưới 150mg protein mỗi ngày, trong đó có 30mg albumin Sự hiện diện của protein niệu là yếu tố nguy cơ cao dẫn đến tử vong do mọi nguyên nhân ở cả nam và nữ, đặc biệt là tử vong do bệnh lý tim mạch ở nữ giới.
Chức năng ống thận ở người cao tuổi giảm khả năng cô đặc nước tiểu và acid hoá nước tiểu, dẫn đến mất cân bằng nội môi khi có biến cố Quá trình lão hoá làm giảm vận chuyển glucose và amino acid, đồng thời giảm bài tiết kali, khiến người cao tuổi dễ bị tăng kali Thận của họ cũng dễ bị tổn thương do độc chất.
Chỉ định sinh thiết thận
Chưa có khuyến cáo chung về chỉ định sinh thiết thận cho bệnh nhân lớn tuổi trên toàn thế giới Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây từ Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Á đã khảo sát mối liên hệ giữa biểu hiện lâm sàng và kết quả sinh thiết thận ở người lớn tuổi Những chỉ định sinh thiết thận này được phân loại thành 5 hội chứng dựa trên lâm sàng và cận lâm sàng.
• Bất thường nước tiểu không triệu chứng.
• Suy thận mạn không rõ nguyên nhân.
1.2.1 Bất thường nước tiểu không triệu chứng
Nước tiểu bất thường được xác định khi có tiểu đạm từ 150 mg đến 3 g/ngày và/hoặc tiểu máu với hơn 2 hồng cầu trên mỗi HPF hoặc hơn 10x10 tế bào/L, trong khi không có biểu hiện lâm sàng nào.
Tiểu đ ạm mức đ ộ nặng khởi phát một cách âm thầm hoặc đ ột ngột >3,5 g/24h/1,73 m 2 da, giảm albumin máu có hoặc không có phù, tăng cholesterol máu.
Chẩn đ oán dựa vào khởi phát đ ột ngột, tiểu máu, thiểu niệu, đ ạm niệu (