1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hình thái giải phẫu khối bên xương sàng của người việt nam ứng dụng trong phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mạn tính

181 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án tiến sĩ nghiên cứu hình thái giải phẫu khối bên xương sàng của người Việt Nam ứng dụng trong phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mãn tính
Tác giả Đào Đình Thi
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Thanh Quang, GS.TS. Lề Gia Vinh
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y Học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản Năm không rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (16)
    • 1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU (16)
      • 1.1.1 Trên thế giới (16)
      • 1.1.2. Tại Việt Nam (17)
    • 1.2. GIẢI PHẪU KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG ỨNG DỤNG TRONG PTNSMX (19)
      • 1.2.1. Các thành của khối bên xương sàng và mối liên quan với PTNSMX (19)
      • 1.2.2. Hình thể trong các xoang sàng và mối liên quan với PTNSMX (25)
      • 1.2.3. Các hình thái biến đổi giải phẫu của khối bên xương sàng (33)
    • 1.3. CÁC PHẪU THUẬT NSMX THỰC HIỆN TRÊN VÙNG KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG TRONG ĐIỀU TRỊ VMXMT (35)
      • 1.3.1. Phẫu thuật NSMX mở mỏm móc (38)
      • 1.3.2. Phẫu thuật NSMX mở rộng lỗ thông xoang hàm (40)
      • 1.3.3. Phẫu thuật nạo sàng trước (42)
      • 1.3.4. Phẫu thuật NSMX mở rộng ngách trán, xoang trán (44)
      • 1.3.5. Phẫu thuật NSMX nạo sàng trước và sàng sau (48)
      • 1.3.6. Tai biến và di chứng (51)
      • 1.3.7. Chăm sóc sau phẫu thuật (54)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu (56)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (56)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (57)
      • 2.2.1. Chọn cỡ mẫu nghiên cứu (57)
      • 2.2.2. Thiết kế nghiên cứu (59)
      • 2.2.3. Biến số nghiên cứu (59)
      • 2.2.4. Các bước tiến hành (61)
      • 2.2.5. Phương tiện nghiên cứu (74)
      • 2.2.6. Địa điểm, thời gian nghiên cứu (74)
      • 2.2.7. Xử lý kết quả (75)
      • 2.2.8. Sơ đồ nghiên cứu (75)
    • 2.3. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU (76)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ (56)
    • 3.1. CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG (77)
      • 3.1.1. Cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng qua phẫu tích (77)
      • 3.1.2. Cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng trên bệnh nhân viêm mũi (82)
      • 3.1.3. So sánh hình thái giải phẫu giữa hai nhóm (89)
    • 3.2. ĐÁNH GIÁ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG ĐẾN KẾT QUẢ CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH (97)
      • 3.2.1. Kết quả phẫu thuật của nhóm phẫu thuật viêm mũi xoang mạn tính không có biến đổi giải phẫu (97)
      • 3.2.2. Kết quả phẫu thuật của nhóm bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có biến đổi giải phẫu (101)
      • 3.2.3. So sánh kết quả của hai nhóm phẫu thuật (105)
      • 4.1.1. Cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng qua phẫu tích (113)
      • 4.1.2. Cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng trên các bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính qua chụp cắt lớp vi tính và phẫu thuật (121)
      • 4.1.3. So sánh hình thái giải phẫu giữa hai nhóm (132)
    • 4.2. ĐÁNH GIÁ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG ĐẾN KẾT QUẢ CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH (138)
      • 4.2.1. Kết quả phẫu thuật của nhóm phẫu thuật viêm mũi xoang mạn tính không có biến đổi giải phẫu (138)
      • 4.2.2. Kết quả phẫu thuật của nhóm bệnh nhân VMXMT có polyp mũi có biến đổi giải phẫu (144)
      • 4.2.3. So sánh kết quả của hai nhóm phẫu thuật (151)
  • KẾT LUẬN (159)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (163)

Nội dung

Nguyên nhân của viêm mũi xoang mạn tính thường được qui về 3nhóm:1 Do biến đổi cấu trúc giải phẫu: Xoang hơi cuốn giữa, bóng sàng quáphát, mỏm móc quá phát, mỏm móc đảo chiều…..2 Do yếu

TỔNG QUAN

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về giải phẫu vùng xoang đã có từ lâu, bắt đầu từ thế kỷ II sau CN với những ghi chép của Gallen về các cấu trúc rỗng quanh nền sọ Đến đầu thế kỷ 19, Zuckerkandl mô tả giải phẫu của các xoang, đánh dấu sự phát triển của phẫu thuật vùng xoang Năm 1965, Naumann phát hiện mối liên hệ giữa phức hợp ngách giữa-sàng trước và bệnh lý viêm xoang, đặt tên là vùng PHLN Năm 1978, Messerklinger chứng minh rằng việc giải phóng bít tắc ở PHLN giúp niêm mạc xoang bị bệnh tự phục hồi Từ đó, phẫu thuật nội soi xoang mũi (PTNSXM) đã có những bước tiến vượt bậc, dần thay thế các phương pháp phẫu thuật truyền thống trong điều trị bệnh lý mũi xoang.

Hệ thống tế bào sàng có cấu trúc phức tạp và sự khác biệt lớn giữa các cá thể, dẫn đến nhiều phương pháp phân loại tế bào sàng đã được đề xuất trong quá khứ.

- Cách phân loại của Légend: Phân loại theo định khu và theo sự xâm lấn của xoang sàng vào các xương lân cận

Hệ thống sàng của Mouret được phân chia dựa trên vị trí lỗ đổ của xoang sàng vào khe giữa hoặc khe trên, cũng như vị trí của các lỗ đổ này so với rễ bám của xương cuốn.

- Phân loại theo Ballenger (Mỹ, 1971) phân chia hệ thống sàng thành:

Hệ thống xoang sàng chính cống và nhóm xoang sàng xâm lấn vào các xương lân cận

- Cách chia của Ranglaret: Lấy một mặt phẳng đứng ngang đi qua lỗ sàng ngăn cách nhóm sàng trước và nhóm sàng sau

Ngày nay, sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như máy chụp cắt lớp vi tính và máy định vị không gian 3 chiều đã nâng cao nghiên cứu giải phẫu xoang Các phương tiện này bao gồm giải phẫu mô tả trong phẫu tích, chẩn đoán hình ảnh trước mổ bằng CT - scanner, và chẩn đoán hình ảnh trong mổ qua hình ảnh chụp cắt lớp kết hợp với hệ thống định vị và nội soi Nhiều nhà phẫu thuật đã thực hiện nghiên cứu và phân loại riêng để bổ sung kiến thức giải phẫu, như tác giả Kuhn với nghiên cứu về tế bào ngách trán, phân loại các tế bào xung quanh ngách này, và phân loại của ông đã được cải tiến và ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật vùng này Hiện nay, khi đề cập đến giải phẫu vùng sàng trước và xoang trán, hầu hết các nhà phẫu thuật đều tham khảo những nghiên cứu này.

Mặc dù Mỹ áp dụng các thuật ngữ trong phân loại của Kuhn, nhưng phương pháp này có nhược điểm do sử dụng quá nhiều tên riêng như tế bào Kuhn, tế bào Le Boyer, Haller, Onodi, gây khó khăn cho người đọc trong việc hiểu và chia sẻ thông tin Sự thiếu liên hệ giữa các phân loại khác nhau dẫn đến việc một tế bào có thể mang đến 2 hoặc 3 tên gọi khác nhau.

Do vậy, tác giả Terrier đã nghiên cứu, tổng hợp và đưa ra một hệ thống phân loại tế bào sàng trong đó:

Mô tả vị trí các tế bào, nhóm tế bào theo sinh lý và giải phẫu hợp lý, dễ ứng dụng trong phẫu thuật nội soi.

Mô tả các tế bào của tác giả có sự tương đồng với các tác giả Anh Mỹ, nhưng lại thể hiện tính hệ thống hóa cao hơn.

Năm 2008, hội Tai Mũi Họng và phẫu thuật cổ mặt Pháp đã khuyến nghị áp dụng cách phân loại này trong các phẫu thuật nội soi mũi xoang, theo tài liệu được xuất bản trong kỹ thuật phẫu thuật EMC năm 2009.

1.1.2 Tại Việt Nam Ở nước ta, các nghiên cứu về giải phẫu nói chung và các xoang nói riêng được bắt đầu từ thời pháp thuộc Đến năm 1951 mới bắt đầu có những quyển sách giải phẫu đầu tiên được viết bằng tiếng việt do tác giả Đỗ Xuân Hợp chủ biên và cũng tác giả này đến năm 1960 mới cho ra đời tác phẩm “Giải phẫu đầu mặt thần kinh và ngũ quan’’ trong đó bắt đầu đề cập đến giải phẫu các xoang Vào những năm 70 của thế kỷ 20, các bài viết về giải phẫu xoang của các tác giả Nguyễn Quang Quyền, Võ Tấn… đã đề cập kỹ hơn về mô tả vị trí kích thước của các xoang trán - hàm - bướm và liên quan của chúng Xoang sàng trong giai đoạn này cũng đã được phân chia thành hệ thống xoang sàng trước và xoang sàng sau, mối liên quan giữa các thành xoang với các cấu trúc lân cận như ổ mắt, nội sọ cũng đã được mô tả Tuy nhiên, về cấu trúc, hình thể trong của xoang sàng vẫn chưa được làm rõ nên vẫn dùng danh từ “mê đạo sàng” Sau này, Nguyễn Đình Bảng có đề cập chi tiết hơn về cấu trúc vùng xoang sàng Trong đó, tác giả có mô tả kỹ hơn về các thành xoang và có các hình vẽ mô tả về việc phân loại xoang sàng trước và xoang sàng sau làm cơ sở ban đầu cho việc phẫu thuật xoang Từ đó, PT xoang ở nước ta bắt đầu phát triển, vào những năm 1993 - 1994 đã có những bài viết đầu tiên về phẫu thuật nội soi mũi xoang

Vào những năm 2000, sự phát triển của phẫu thuật nội soi mũi xoang (PTNSMX) đã được ghi nhận qua các nghiên cứu của Võ Thanh Quang (2004), Nguyễn Thị Quỳnh Lan (2005) và Nguyễn Tấn Phong (2008) Các nghiên cứu này đã đề cập đến phân loại giải phẫu xoang sàng, đánh giá vai trò của các thành xoang, cùng với các loại tế bào quan trọng như tế bào Agger Nasi, tế bào bóng sàng và tế bào Onodi Ngoài ra, các mốc giải phẫu trong PTNS và nguyên lý phát hiện cấu trúc giải phẫu trên phim chụp cắt lớp trước mổ cũng được nhấn mạnh.

Bắt đầu từ tháng 1 năm 1991, khi máy CT-scanner đầu tiên được đưa vào sử dụng tại bệnh viện hữu nghị Việt Xô, công nghệ này chủ yếu được áp dụng trong chụp sọ não và ổ bụng Ngay sau đó, chụp CT-scanner mũi xoang đã phát triển nhanh chóng và trở nên phổ biến Trong giai đoạn này, nhiều báo cáo về hình ảnh chụp cắt lớp mũi xoang đã được công bố, như của Hoàng Đức Kiệt và Phạm Minh Thông Từ những năm 2000, với sự ra đời của các máy CT thế hệ mới, chụp CT-scanner mũi xoang đã trở thành công cụ không thể thiếu trong phẫu thuật nội soi mũi xoang (PTNSMX), dẫn đến nhiều nghiên cứu tiếp theo từ các tác giả như Nguyễn Thị Thanh Bình (2001) và Trương Hồ Việt (2005).

Năm 2008, tác giả Nguyễn Tấn Phong đã xuất bản tài liệu “Điện quang trong Tai Mũi Họng”, trong đó mô tả kỹ thuật chụp, các tiêu điểm và giải phẫu các lát cắt cơ bản trên phim CT-scanner mũi xoang Việc áp dụng chụp cắt lớp vi tính cho bệnh nhân viêm xoang đã dần trở thành tiêu chuẩn trong chẩn đoán.

Máy định vị, mặc dù ra đời muộn so với các phương tiện chẩn đoán khác, đã được sử dụng thường quy tại Việt Nam từ năm 2009, chủ yếu trong phẫu thuật thần kinh Đến năm 2012-2013, máy đã được thử nghiệm trong phẫu thuật nội soi mũi xoang (PTNSMX), và gần đây có nhiều nghiên cứu tổng kết về ứng dụng của hệ thống định vị trong lĩnh vực Tai Mũi Họng Với sự phát triển toàn cầu và tầm quan trọng trong việc xác định các mốc giải phẫu, đặc biệt trong các ca phẫu thuật phức tạp, hệ thống định vị dự kiến sẽ ngày càng trở nên phổ biến trong PTNSMX.

GIẢI PHẪU KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG ỨNG DỤNG TRONG PTNSMX

Xương giấy, mỏng và phẳng như tờ giấy, là một phần của thành trong ổ mắt, được gọi là mảnh ổ mắt (Orbital plate) Bề mặt xương giấy được bao phủ bởi lớp cốt mạc ổ mắt và lớp mỡ ổ mắt Trong lớp mỡ, gần xương giấy, có cơ thẳng trong, có chức năng kéo nhãn cầu về phía trong Mặc dù hốc mắt có hình dạng giống như một hình nón, nhưng do đỉnh của nó nằm chếch về phía trong, thành ngoài của khối bên xương sàng (thành trong ổ mắt) nằm trên một mặt phẳng đứng dọc qua lỗ thông xoang hàm.

2 Một nửa tế bào sàng

3 – 6 Mặt trước với các tế bào sàng sát xương lệ và ngành lên xương hàm trên.

Hình 1.1 Thành ngoài xoang sàng

Thành ngoài của ổ mắt rất dễ bị tổn thương trong phẫu thuật nội soi mũi xoang (PTNSMX) tại hai vị trí chính: phần cao của mỏm móc và ngang mức bóng sàng, gần mảnh nền cuốn giữa Vùng này có xương giấy mỏng nhất, đôi khi xuất hiện hiện tượng khuyết xương giấy, dẫn đến việc thoát vị một số thành phần của ổ mắt vào xoang.

1 Xoang trán 2 Đ/m sàng trước 3 Mảnh nền bóng sàng 4 Mảnh nền cuốn giữa

5 Mái trán-sàng 6 Mảnh nền cuốn trên 7 Xoang bướm 8.Mỏm móc

9 Cuốn giữa 10 Lỗ thông xoang hàm 11 Lỗ bướm-Khẩu cái

Hình 1.2 Thành trong khối bên xương sàng

Là thành ngoài của hốc mũi Thành này có một số cấu trúc đáng lưu ý: a Cuốn mũi giữa

Cuốn giữa, dài khoảng 4 cm, là một phần của khối bên xương sàng Bản xương ngoài của cuốn này gắn vào xương sàng qua chân bám cuốn giữa, bao gồm 3 đoạn: đầu, giữa và sau, trong đó đoạn giữa và sau được gọi là mảnh nền Mảnh nền nằm sau gai mũi trước khoảng 5 – 6 cm và đóng vai trò là vách phân chia các xoang sàng trước và sau, là mốc quan trọng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang.

Hình 1.3 Chân bám cuốn giữa

Cuốn giữa có thể chứa một tế bào khí lớn, gọi là bóng khí cuốn giữa (concha bullosa), với tỷ lệ thay đổi từ 4-55% Thông thường, cuốn giữa có chiều cong lồi vào phía trong hốc mũi Tuy nhiên, khi cuốn giữa cong ra phía ngoài (cuốn giữa đảo chiều) hoặc tế bào concha bullosa lớn, nó có thể chèn ép và làm hẹp đường dẫn lưu của PHLN, tạo điều kiện thuận lợi cho viêm xoang Ngách mũi giữa (middle nasal meatus) cũng liên quan đến tình trạng này.

Có 3 cấu trúc giải phẫu nằm trong ngách giữa đóng vai trò rất quan trọng trong phẫu thuật NSCNMX, đó là mỏm móc, bóng sàng và khe bán nguyệt

Mỏm móc là một phần của xương sàng, kết nối với xương sàng qua mảnh nền, tạo ra ranh giới giữa các tế bào mỏm móc và tế bào ngách mũi Nó che khuất lỗ thông xoang hàm phía sau, là mốc giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật NSMX Mỏm móc có thể có các dạng giải phẫu đặc biệt như quá phát to, quá thông khí hoặc đảo chiều, dẫn đến chèn ép và hẹp đường dẫn lưu của các xoang ở vùng khe bán nguyệt Theo Võ Thanh Quang, tỷ lệ mỏm móc quá phát là 13%.

Mỏm móc được chia làm hai phần: phần đứng và phần ngang

Phần đứng mỏm móc bám lên phía trên theo ba kiểu

- Kiểu A (chiếm 70 % các trường hợp): mỏm móc bám trực tiếp vào tế bào đê mũi hay xương giấy Ở kiểu này, ngách trán đổ trực tiếp vào khe giữa.

- Kiểu B1: mỏm móc bám vào nền sọ.

- Kiểu B2: mỏm móc bám vào cuốn giữa.

Hình 1.4 Các loại hình bám lên phía trên của mỏm móc

Trong trường hợp kiểu B1 và B2, ngách trán đổ thẳng vào khe bán nguyệt, các viêm nhiễm hoặc bất thường giải phẫu có thể gây hẹp khe bán nguyệt Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các viêm nhiễm ở xoang trán.

Bóng sàng bám vào trần sàng và đi vòng xuống dưới, kết nối với mảnh nền cuốn giữa Phần dưới của bóng sàng giới hạn phễu sàng, trong khi phần trên kết hợp với tế bào đê mũi tạo thành phễu trán Trong phẫu thuật mở rộng ngách trán, phễu trán có thể được mở từ trước ra sau thông qua tế bào đê mũi, từ đó loại bỏ thành sau tế bào để vào ngách trán Bóng sàng giới hạn với nền sọ tạo thành ngách trên bóng và ngách sau bóng, hai ngách này liên tục với nhau tạo thành ngách phía sau trên của bóng sàng, gọi là xoang bên Xoang bên mở vào ngách mũi giữa qua khe bán nguyệt sau, cho phép mở rộng ngách trán từ sau ra trước bằng cách đi theo xoang bên và mở tế bào bóng dưới rồi bóng trên.

Khe bán nguyệt (Hiatus Semilunaris)

Khe bán nguyệt là một khe lõm hình trăng lưỡi liềm, nằm giữa mỏm móc và bóng sàng, có vai trò quan trọng trong việc thông ra ngách mũi giữa của phễu sàng Khe này là nơi dẫn lưu của hệ thống xoang sàng trước, xoang trán và xoang hàm Mức độ thông thoáng của khe bán nguyệt ảnh hưởng lớn đến sinh lý bệnh của viêm xoang và trong phẫu thuật nội soi mũi xoang.

Khi xương trán tiếp khớp với xương sàng, các nửa xoang của xương trán và xương sàng tạo thành xoang nguyên Phần vỏ xương bao phủ các xoang này được gọi là trần sàng, có hình vòm, dày ở phía ngoài và mỏng dần về phía trong, đặc biệt là ở khu vực tiếp xúc với phần mảnh sàng Đây là vùng dễ bị tổn thương trong phẫu thuật mũi xoang, và màng não ở khu vực này dính chặt vào xương, do đó, khi xương bị tổn thương, nguy cơ chảy dịch não tủy rất cao.

11 Tế bào sàng sau cùng

Hình 1.5 Mặt trên khối bên xương sàng

Trần sàng có thể bị khuyết do nguyên nhân tự nhiên hoặc sau phẫu thuật mũi xoang Qua ổ khuyết này, màng não và các thành phần khác của não có thể thoát vị vào các tế bào sàng, dẫn đến nguy cơ màng não bị rách và gây chảy dịch não tủy vào hốc mũi.

Động mạch sàng trước và động mạch sàng sau là hai động mạch liên quan đến xoang sàng Động mạch sàng trước dễ bị tổn thương trong phẫu thuật xoang sàng trước, do đó được coi là giới hạn trên của phẫu thuật mở xoang sàng Để giảm thiểu nguy cơ chảy máu trong quá trình phẫu thuật, cần chủ động tìm và đông điện động mạch Ngược lại, động mạch sàng sau nằm trong lớp vỏ xương dày của trần sàng sau, giữa các tế bào sàng, ít bị tổn thương hơn trong phẫu thuật.

Bao gồm bờ dưới của cuốn giữa và ngách mũi giữa (như đã được mô tả ở phần thành trong)

Mặt vát quay ra phía trước và phía ngoài có các nửa xoang, kết nối với nửa xoang của xương lệ phía dưới (các tế bào mỏm móc) Điều này liên quan đến ống lệ mũi và các nửa xoang phía trên, tiếp khớp với nửa xoang của mặt sau mỏm trán xương hàm trên (tế bào tiền ngách).

1.Mào gà 2.Rãnh thái dương dưới 3.Cánh mào gà

4.Nửa ngách trán 5.Mảnh sàng 6.Một nửa tế bào sàng trán 7.Một nửa tế bào đê mũi 8.Mảnh thẳng

Hình 1.6 Thành trước khối bên xương sàng 1.2.1.6 Thành sau

Tiếp khớp với thân bướm, bên trong có rãnh sàng bướm, còn bên ngoài là các nửa xoang Các cấu trúc này tạo thành các tế bào sàng sau trung tâm và tế bào sàng sau cùng với mặt trước của xoang bướm.

1 Mào gà 2.Nửa xoang sàng sau cùng (Onodi)

3 Nửa xoang sàng sau trung tâm

4 Cuốn trên 5.Mảnh thẳng xương sàng 6.Mỏm móc

Hình 1.7 Thành sau khối bên xương sàng

1.2.2 Hình thể trong các xoang sàng và mối liên quan với PTNSMX

Xương sàng bao gồm nhiều mảnh ghép nối với nhau, tạo ra các xoang gọi là tế bào sàng Thông thường, có từ 5-15 tế bào sàng, mỗi tế bào có lỗ dẫn lưu riêng với đường kính khoảng 1-2mm Các tế bào sàng được chia thành hai nhóm: nhóm sàng sau kết nối với ngách mũi trên và nhóm sàng trước kết nối với ngách mũi giữa Các mốc giải phẫu và chân bám của chúng vào thành trong ổ mắt tạo thành các vách ngăn, phân chia xoang sàng thành các nhóm nhỏ hơn.

1 Mỏm móc và chân bám mỏm móc: Phân cách nhóm tế bào mỏm móc và tế bào ngách của các xoang sàng trước.

2 Mặt trước bóng sàng và chân bám: Phân cách nhóm tế bào bóng và hai nhóm còn lại của tế bào sàng trước

3 Cuốn giữa và chân bám cuốn giữa: Phân cách các tế bào sàng trước và sau.

4 Cuốn trên và chân bám cuốn trên: Phân nhóm tế bào sàng sau thành 2 tầng, tầng dưới là tế bào sàng sau trung tâm, tầng trên là tế bào sàng sau trước và tế bào sàng sau cùng

1.2.2.1 Phân loại hệ thống tế bào sàng

CÁC PHẪU THUẬT NSMX THỰC HIỆN TRÊN VÙNG KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG TRONG ĐIỀU TRỊ VMXMT

Có hai kỹ thuật mổ chính trong phẫu thuật NSCNMX, bao gồm kỹ thuật Messerklinger và kỹ thuật Wigand, đều có chung nguyên lý và mục đích nhưng khác nhau về cách thực hiện Sau này, các tác giả Hoa Kỳ đã phát triển thêm kỹ thuật mổ NSMX tối thiểu.

- Kỹ thuật Messerklinger: Tiến hành phẫu thuật từ trước ra sau.

Can thiệp vào vùng PHLN và loại bỏ mỏm móc giúp giải phóng lỗ thông xoang, khôi phục lưu thông xoang hàm trong trường hợp bít tắc đơn giản do phù nề niêm mạc Nếu có cản trở lớn hơn như polyp ngách giữa hoặc thoái hoá niêm mạc, cần mở rộng lỗ thông xoang về phía trước-dưới hoặc nối lỗ thông chính với các lỗ thông phụ, thực hiện phẫu thuật mở ngách giữa đơn thuần.

Có thể mở rộng lỗ thông xoang hàm ra phía sau, đồng thời mở bóng sàng và các xoang sàng trước để dẫn lưu Khi cần thiết, có thể đi ngược ra phía trước để dẫn lưu tế bào Mỏm móc trước hoặc mở đầu dưới phễu trán- mũi, áp dụng cho các trường hợp viêm xoang trước.

Nếu các xoang sàng sau bị viêm, cần thực hiện kỹ thuật Messerklinger đầy đủ Điều này bao gồm việc mổ xuyên qua mảnh nền xương cuốn giữa cho đến tế bào Onodi để làm sạch và dẫn lưu hiệu quả.

Phẫu thuật nội soi mở sàng-bướm toàn phần là kỹ thuật được chỉ định cho bệnh nặng với diện mổ lớn, mở các xoang từ sau ra trước, bắt đầu từ xoang bướm đến xoang sàng-hàm và kết thúc ở xoang trán Vấn đề cắt cuốn giữa trong quá trình chuẩn bị hốc mũi gây nhiều tranh cãi; một số tác giả cho rằng không nên cắt vì có thể làm mất mốc giải phẫu quan trọng và gây khó khăn cho phẫu thuật, trong khi số khác cho rằng giữ cuốn giữa có thể dẫn đến dính và hẹp vùng hốc mổ Đa số tác giả ủng hộ quan điểm trung gian, chỉ cắt cuốn giữa khi thực sự cần thiết và giữ lại chân cuốn khoảng 5-10 mm, hoặc chỉ bẻ và đẩy cuốn giữa ra ngoài để tạo đường vào cho phẫu thuật mà không gây hậu quả xấu Tác giả Panje và Anand đã dựa trên nguyên lý của Messerklinger và Wigand để đưa ra 5 loại phẫu thuật và chỉ định cho từng loại.

NSMX lấy mỏm móc có kèm hoặc không mở tế bào đê mũi.

- Dầy niêm mạc phức hợp lỗ ngách đơn thuần.

- Lỗ thông xoang hàm rộng, không có dày niêm mạc xoang hàm hoặc nang xoang hàm.

- Thất bại của mở lỗ thông xoang hàm qua ngách giữa.

- Thất bại của chỉnh hình vách ngăn, nạo VA mà triệu chứng xoang vẫn tồn tại.

- Tế bào đê mũi nhiễm trùng, biểu hiện viêm túi lệ hoặc viêm màng tiếp hợp.

NSMX mở mỏm móc, mở bóng sàng, lấy bỏ niêm mạc tế bào xoang bên và bộc lộ ngách trán.

- Dày niêm mạc phức hợp lỗ ngách.

- Biểu hiện của mờ xoang sàng trước, tắc nghẽn phễu sàng.

- Bệnh tích giới hạn trong ngách xoang trán.

- Thất bại của mở lỗ thông xoang hàm qua khe dưới.

- Triệu chứng xoang vẫn còn tồn tại sau khi đã nạo VA và cắt Amiđan.

NSMX thực hiện các bước như mở mỏm móc, mở bóng sàng, và lấy bỏ niêm mạc tế bào xoang bên Quá trình này giúp bộc lộ ngách trán và mở lỗ thông xoang hàm thông qua đường dẫn lưu xoang tự nhiên.

Chỉ định: Tương tự như chỉ định ở loại II cộng với

- Biểu hiện của viêm xoang hàm bằng dày niêm mạc hoặc bằng mờ xoang.

- Nề hẹp lỗ thông xoang hàm

NSMX thực hiện các bước như mở mỏm móc, mở bóng sàng, và lấy bỏ niêm mạc tế bào xoang bên Quá trình này giúp bộc lộ ngách trán và mở lỗ thông xoang hàm thông qua đường dẫn lưu xoang tự nhiên, đồng thời lấy bỏ sàng sau.

Chỉ định: Tương tự như chỉ định ở loại III cộng với:

- Bệnh tích chiếm toàn bộ xoang sàng.

- Polyp mũi lan rộng từ xoang sàng tới xoang hàm.

- Không đáp ứng điều trị sau khi đã được điều trị nội khoa có hệ thống.

Ví dụ vẫn tồn tại polyp mũi xoang mặc dù đã điều trị corticoid và kháng sinh.

-Sau khi đã phẫu thuật loại I – II bị thất bại hoặc bệnh tích vẫn tiến triển.

NSMX thực hiện các bước như mở mỏm móc và bóng sàng, loại bỏ niêm mạc tế bào xoang bên, bộc lộ ngách trán, và mở lỗ thông xoang hàm qua đường dẫn lưu tự nhiên Đồng thời, quy trình cũng bao gồm việc lấy bỏ sàng sau, mở xoang bướm và loại bỏ niêm mạc.

Chỉ định: Tương tự như chỉ định ở loại IV cộng với:

Biểu hiện viêm xoang bướm, viêm đa xoang và viêm mũi.

Loại II và loại III của PTNSMX là phổ biến, loại IV và loại V trong trường hợp VMX lan rộng.

Theo hướng dẫn điều trị hiện nay, viêm mũi xoang mạn tính không đáp ứng với điều trị nội khoa có chỉ định phẫu thuật Phẫu thuật viêm mũi xoang chủ yếu được thực hiện qua nội soi nhằm khai thông dòng chảy niêm dịch và thông khí cho các tế bào xoang, giúp phục hồi hoạt động của hệ thống tế bào lông chuyển Để đạt được điều này, phẫu thuật viên cần nắm vững kiến thức giải phẫu để phát hiện và xử lý các vùng chít hẹp cản trở dòng chảy niêm dịch, cũng như hiểu biết về sinh lý dòng chảy niêm dịch để tránh tổn thương niêm mạc ở các vùng dẫn lưu dịch xoang Phẫu thuật NSMX hiện nay được chia thành nhiều phương pháp hợp lý cho từng bệnh nhân.

- Phẫu thuật NSMX mở mỏm móc (phễu sàng).

- Phẫu thuật NSMX mở lỗ thông xoang hàm.

- Phẫu thuật NSMX nạo sàng trước.

- Phẫu thuật NSMX mở ngách trán, xoang trán.

- Phẫu thuật NSMX nạo sàng trước và sàng sau

- Phẫu thuật NSMX mở xoang bướm.

1.3.1 Phẫu thuật NSMX mở mỏm móc

Mở mỏm móc, hay còn gọi là mở phễu sàng, là thủ thuật loại bỏ mỏm móc trong khi vẫn giữ lại niêm mạc xung quanh lỗ thông tự nhiên của xoang hàm Thủ thuật này rất quan trọng, vì nó không chỉ là bước khởi đầu mà còn tạo điều kiện cho các bước tiếp theo trong quá trình điều trị.

Hình 1.14 Sơ đồ phẫu thuật nội soi mở mỏm móc 1.3.1.2 Chỉ định

Viêm mũi xoang có thể xảy ra do hẹp rãnh bán nguyệt và phức hợp lỗ ngách Việc thực hiện động tác này giúp cải thiện việc dẫn lưu vùng lỗ thông xoang hàm, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc rửa mũi hiệu quả hơn.

- Được khuyến cáo là phẫu thuật nên tiến hành đầu tiên trong các phẫu thuật NSMX điều trị viêm mũi xoang

1.3.1.3 Kỹ thuật a Đặt thuốc co mạch, gây tê, bộc lộ các mốc giải phẫu

- Đặt bông hoặc bấc mũi tẩm Xylocain 5% và Naphtazolin (có thể pha thêm vài giọt cocain 30%) vào hốc mũi trong vòng 15 phút

Rút bông hoặc bấc mũi và tiếp tục sử dụng nội soi để đặt bông hoặc bấc vào ngách bướm sàng, phía sau ngách mũi giữa (gần đuôi cuốn giữa) và vùng phức hợp lỗ ngách trong khoảng thời gian từ 10 đến 15 phút.

Tiêm dưới niêm mạc hỗn hợp Xylocain 1% pha Adrenalin 1/50 000 vào các vị trí như chân bám cuốn giữa vào vách mũi xoang, phần đứng và phần ngang mỏm móc, mặt trước bóng sàng, đầu cuốn giữa và tổ chức polyp, cũng như miêm mạc thoái hóa vùng khe giữa Đối với trường hợp định mở sàng sau, cần gây tê thêm vào vùng ngách bướm sàng, ngay sát đuôi cuốn giữa Mở mỏm móc là bước tiếp theo trong quy trình.

Có hai phương pháp mở mỏm móc chủ yếu hiện nay:

1 Mở mỏm móc bằng kìm cắt ngược (back bite):

Sử dụng que thăm dò xoang hàm để xác định mỏm móc phía trước và lỗ thông xoang hàm phía sau Dùng kìm cắt ngược để cắt rời phần đứng và phần ngang của mỏm móc, sau đó loại bỏ 2/3 dưới của phần đứng nhằm hạn chế tác động vào ngách trán.

Hình 1.15 Phẫu thuật mở mỏm móc (mở phễu sàng) bằng backbiter

2 Mở mỏm móc bằng dao hình liềm

Hình 1.16 Đường rạch mỏm móc bằng dao hình liềm

Phẫu thuật viên có kinh nghiệm sử dụng dao hình liềm để xác định vị trí mỏm móc và thực hiện rạch ở phía trước mỏm móc, với độ sâu không quá 1 mm do mỏm móc bám vào thành bên ổ mắt Sau khi loại bỏ mỏm móc, có thể mở rộng lỗ thông xoang hàm hoặc lấy phần cao và ngang của mỏm móc tùy theo mục đích phẫu thuật.

1.3.2 Phẫu thuật NSMX mở rộng lỗ thông xoang hàm

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Chọn cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.1.1 Mục tiêu 1 a Cho nghiên cứu trên tử thi

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang

- Cỡ mẫu ước tính kích thước xoang sàng được ước tính theo công thức ước lượng trung bình:

: độ lệch chuẩn của bề ngang khối sàng sau, ước tính từ nghiên cứu trước (12,3 ± 2,4 mm theo Nguyễn Thị Quỳnh Lan )

Z1-α/2=1.96 với độ tin cậy 95% d: Khoảng sai lệch tuyệt đối mong muốn, trong nghiên cứu này chọn d=0,55

Thay vào tính được cỡ mẫu tối thiểu cho biến số này là

Nghiên cứu của chúng tôi đã thực hiện phẫu tích trên 96 khối bên xương sàng tử thi, với tối thiểu 73 khối bên xương sàng được tính toán Mục tiêu của nghiên cứu là để khảo sát bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có chỉ định phẫu thuật.

Nghiên cứu mô tả tiến cứu từng trường hợp có can thiệp.

Cách chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên đơn với:

Cỡ mẫu theo tỷ lệ bất thường giải phẫu được xác định bằng công thức dựa trên tỷ lệ đặc tính nghiên cứu, trong đó tỷ lệ dị tật cuốn giữa được ước tính là 40% theo nghiên cứu của Klossec.

: Khoảng sai lệch tương đối mong muốn, trong nghiên cứu này chọn

Thay vào tính được cỡ mẫu tối thiểu cho biến số này là

Tính ra là 92 khối bên xương sàng bệnh nhân Trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện trên 110 khối bên xương sàng bệnh nhân.

Nghiên cứu mô tả tiến cứu từng trường hợp có can thiệp và theo dõi dọc.

Cỡ mẫu cần thiết để tính toán tỷ lệ điều trị thành công của VMXMT được ước tính dựa trên công thức, trong đó p là tỷ lệ điều trị thành công ước tính từ các nghiên cứu trước, với giá trị là 57,2%.

: Khoảng sai lệch tương đối mong muốn, trong nghiên cứu này chọn

Thay vào tính được cỡ mẫu tối thiểu cho mục tiêu 2:

Tính ra là 72 khối bên xương sàng bệnh nhân.

Trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện trên 110 khối bên xương sàng.

Phẫu tích từng trường hợp cho phép mô tả chi tiết và đánh giá tỷ lệ cũng như kích thước của các tế bào sàng Nghiên cứu cũng tập trung vào các biến đổi thành bên trên những khối bên xương sàng của tử thi.

Mô tả các trường hợp thông qua chẩn đoán hình ảnh và phẫu thuật, đồng thời đánh giá tỷ lệ và kích thước của các tế bào sàng, cũng như các biến đổi thành trong trên những khối bên xương sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu.

- So sánh tỷ lệ, kích thước các tế bào sàng và các biến đổi thành trong trên 2 nhóm.

- Đánh giá kết quả phẫu thuật của nhóm bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính không có biến đổi giải phẫu ở thành trong khối bên xương sàng.

- Đánh giá kết quả phẫu thuật của nhóm bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có biến đổi giải phẫu ở thành trong khối bên xương sàng.

- So sánh kết quả phẫu thuật giữa 2 nhóm.

Chọn biến số nghiên cứu là các biến định lượng, định tính, mô tả mối quan hệ nhân quả của các biến độc lập và phụ thuộc.

Mục tiêu Biến số Định nghĩa biến số

Mô tả cấu trúc giải phẫu của KBXS qua phẫu tích và đối chiếu với nhóm phẫu thuật nội soi mũi xoang qua hình ảnh

Mô tả cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng qua phẫu tích

Tỷ lệ của các tế bào sàng

- Tỷ lệ các tế bào sàng trước

- Tỷ lệ các tế bào sàng sau

- Biến đổi về số lượng của các tế bào sàng Kích thước của các tế bào sàng

- Quan sát chụp cắt lớp vi tính và phẫu thuật.

- Kích thước các tế bào sàng trước

- Kích thước các tế bào sàng sau

Biến đổi giải phẫu của các thành khối bên xương sàng

- Động mạch sàng (thoát vị có không)

- Mỏm móc (bình thường - bám trần -bóng khí)

- Cuốn giữa (bình thường - bóng khí - đảo chiều)

Mô tả cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng trên các bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính qua chụp cắt lớp vi tính và phẫu thuật

Tỷ lệ của các tế bào sàng

- Tỷ lệ các tế bào sàng trước

- Tỷ lệ các tế bào sàng sau

- Biến đổi về số lượng của các tế bào sàng Kích thước của các tế bào sàng

- Kích thước các tế bào sàng trước

- Kích thước các tế bào sàng sau

Biến đổi giải phẫu của các thành khối bên xương sàng

- Động mạch sàng (thoát vị có không)

- Mỏm móc (bình thường – bám trần – bóng khí)

- Cuốn giữa (bình thường – bóng khí – đảo chiều)

So sánh tỷ lệ biến đổi giải phẫu giữa hai nhóm

- Biến đổi về mặt tỷ lệ

- Biến đổi về mặt kích thước

- Biến đổi các thành khối bên (động mạch, mỏm móc, cuốn – có, không)

- Quan sát Đánh giá sự ảnh hưởng của cấu trúc giải phẫu của

KBSX đến kết quả của PTNS điều trị viêm mũi xoang mạn tính

Kết quả phẫu thuật của nhóm bệnh nhân viêm xoang có bất thường giải phẫu

Theo sự tiến triển các triệu chứng cơ năng

- Ngạt/chảy mũi/đau/mất ngửi/ho

Dựa trên các triệu chứng thực thể nội soi

Kết quả phẫu thuật của nhóm bệnh nhân viêm xoang không có bất thường giải phẫu

Theo sự tiến triển các triệu chứng cơ năng

- Ngạt/chảy mũi/đau/mất ngửi/ho

Dựa trên các triệu chứng thực thể nội soi:

So sánh kết quả của hai nhóm phẫu thuật

Theo sự tiến triển các triệu chứng cơ năng

- Ngạt/chảy mũi/đau/mất ngửi/ho

Dựa trên các triệu chứng thực thể nội soi:

2.2.4.1 Mục tiêu 1 a Tử thi được phẫu tích theo hai phương pháp

2.2.4.1.1 Phương pháp phẫu tích từ trước ra sau (Roy R Casiano)

- Thu thập các mẫu khối bên xương sàng tại: Bộ môn giải phẫu Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh.

- Rạch da theo đường cạnh mũi cải tiến (theo Gignoux và Gaillard Robert)

Hình 2.1 Đường rạch da trong phẫu tích

Bóc tách và bộc lộ mặt trước xương sọ được thực hiện theo một bình diện cụ thể, với giới hạn trên là khớp trán mũi, giới hạn dưới là bờ dưới xoang hàm hai bên, và giới hạn ngoài là bờ ngoài ổ mắt.

Sử dụng khoan cắt xương (khoan đĩa) để mở cửa sổ xương, tiến hành lấy đi xương chính mũi, một phần trước của ngành lên xương hàm trên, mặt trước xoang hàm và bờ dưới ổ mắt ở cả hai bên.

Hình 2.2 Mở cửa sổ xương mặt trước xoang

Hình 2.3 Kết quả sau khi bóc tách vạt da và mở cửa sổ xương

- Dùng kéo, cắt bỏ vách ngăn từ sát nền sọ cho đến sàn mũi.

Hình 2.4 Cắt bỏ vách ngăn

- Dùng kéo cắt bỏ 2/3 cuốn dưới 2 bên cho tới tận thành sau xoang hàm (để lại phần lưng cuốn nơi có chân bám mỏm móc.

Hình 2.5 Cắt bỏ cuốn dưới

- Cắt bỏ phần tự do của cuốn giữa, xác định tỷ lệ và đo đạc kích thước bóng khí cuốn giữa (concha bullosa).

Hình 2.6 Cắt bỏ phần tự do của cuốn giữa

- Bóc tách niêm mạc và phẫu tích từng khối bên xương sàng từ trước ra sau.

- Xác định mỏm móc và kiểu chân bám mỏm móc (vách mũi xoang, nền sọ, vách ngăn) Phần đứng mỏm móc bám lên phía trên theo ba cách (kiểu)

Kiểu A chiếm 70% các trường hợp, trong đó mỏm móc bám trực tiếp vào tế bào mỏm móc trước hoặc xương giấy, tạo ra một túi cùng ở đầu trên rãnh bán nguyệt (sulcus terminalis) Trong tình huống này, ngách trán sẽ đổ trực tiếp vào khe giữa.

- Kiểu B1: mỏm móc bám vào nền sọ.

- Kiểu B2: mỏm móc bám vào cuốn giữa.

- Cắt bỏ nốt phần còn lại của cuốn dưới để bộc lộ mặt trước bóng sàng

Hình 2.7 Bộc lộ mặt trước bóng sàng

Sử dụng khoan mài để loại bỏ phần giữa của gai mũi, giữ lại phần cao của vách ngăn và phần dưới của vách liên xoang trán Tiến hành lấy bỏ phần đứng của cuốn giữa cho đến nền sọ nhằm bộc lộ phần trước, bên và sau của ngách trán.

Mở và đo kích thước tế bào mỏm móc trước Lấy tế bào này làm mốc để lần lượt phẫu tích

- Xác định kích thước các tế bào sàng:

Đối với các tế bào sàng lớn (>2 mm), cần mở lấy ẳ trước tế bào và thực hiện đo quan sát Sau đó, loại bỏ phần niêm mạc và đo kích thước trên dưới Tiếp theo, đo kích thước trong ngoài, rồi lấy bỏ ẳ sau ngoài và đo kích thước trước sau.

+ Với cỏc tế bào sàng nhỏ (≤2mm): Mở lấy ẵ ngoài tế bào và đo đường kính tế bào sau khi đã lấy bỏ phần niêm mạc bên trong.

- Xác định vị trí các tế bào sàng

- Phẫu tích nhóm tế bào sàng trước với các nhóm tế bào:

Nhóm tế bào ngách bao gồm tế bào tiền ngách nằm ở phía trước, ngay trên tế bào mỏm móc trước; tế bào ngách trước nằm ở vị trí bên giữa xương giấy và xoang trán; và tế bào ngách sau nằm ở phía sau, ngay phía trên mặt trước bóng sàng.

Nhóm tế bào mỏm móc bao gồm tế bào mỏm móc trước, mỏm móc trên và mỏm móc sau Tế bào mỏm móc trước nằm giữa phễu sàng và xương lệ, trong khi tế bào mỏm móc trên phát triển lên trên tế bào mỏm móc trước Tế bào mỏm móc sau nằm ở phía sau và ngang mức với tế bào mỏm móc trước Đối với tế bào tiền ngách, có phân loại nhỏ hơn theo cải tiến của Kuhn, trong đó K1 là tế bào nằm ở ngách trán, phía trên tế bào mỏm móc trước.

+ K2: Có một nhóm tế bào ở ngách trán nằm trên tế bào mỏm móc trước. + K3: Có một tế bào lớn xâm lấn vào lòng xoang trán.

+ K4: Có một tế bào lớn xâm lấn vào lòng xoang trán vượt qua 50% chiều cao xoang trán.

+ Nhóm tế bào bóng: mở bóng sàng để đo đạc kích thước các tế bào bóng: bóng trên (suprabullar cell), bóng dưới.

Bộc lộ mảnh nền (Basa lamella) cho đến chỗ bám vào nền sọ, cắt bỏ phần còn lại của cuốn giữa sát mảnh nền, và loại bỏ toàn bộ các tế bào sàng trước để tạo ra một đường vào sàng sau rộng rãi.

Hình 2.8 Xác định mảnh nền

Mở mảnh nền và xác định số lượng cũng như kích thước các tế bào sàng ở các vị trí trước, trung tâm và sau Sau khi cắt bỏ cuốn giữa sát mảnh nền, cần xác định khe trên và cuốn trên Tiếp theo, mở mảnh nền cuốn giữa tại vị trí gần phần đứng và phần ngang để đo đạc kích thước của tế bào trung tâm.

Bộc lộ chân bám cuốn trên nằm ở tế bào sàng sau giữa hoặc tế bào sàng sau trung tâm, giữa chân bám cuốn giữa và chân bám cuốn trên Cần lấy bỏ phần trong của tế bào này cùng với phần tự do của cuốn trên.

KẾT QUẢ

Ngày đăng: 23/04/2023, 16:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bailey B. J. ,Johnson J.T. (2010), Head & Neck Surgery otolaryngolog, Williams & Wilkins II, pp.393-402 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Head & Neck Surgery otolaryngolog
Tác giả: Bailey B. J., Johnson J.T
Nhà XB: Williams & Wilkins II
Năm: 2010
2. Võ Thanh Quang (2004), Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị viêm đa xoang mạn tính qua phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang. Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị viêm đa xoang mạn tính qua phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang
Tác giả: Võ Thanh Quang
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2004
3. Võ Thành Quang (2015), Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến điều trị một số bệnh tai mũi họng, Bộ khoa học và công nghệ, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến điều trị một số bệnh tai mũi họng
Tác giả: Võ Thành Quang
Nhà XB: Bộ khoa học và công nghệ
Năm: 2015
4. Simmen D. ,Jones N. (2005), Manual of Endoscopic Sinus Surgery.and its Extended Applications, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manual of Endoscopic Sinus Surgery.and its Extended Applications
Tác giả: Simmen D., Jones N
Nhà XB: New York
Năm: 2005
5. Wald E. R. (1998), Microbiology of acute and chronic sinusitis in children and adults, Am J Med Sci, 316(1). 13-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microbiology of acute and chronic sinusitis in children and adults
Tác giả: Wald E. R
Nhà XB: Am J Med Sci
Năm: 1998
6. Wagenmann M. ,Naclerio R. M. (1992), Complications of sinusitis, J Allergy Clin Immunol, 90(3 Pt 2). 552-554 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Complications of sinusitis
Tác giả: Wagenmann M., Naclerio R. M
Nhà XB: J Allergy Clin Immunol
Năm: 1992
7. Wagenmann M. ,Naclerio R. M. (1992), Anatomic and physiologic considerations in sinusitis, J Allergy Clin Immunol, 90(3 Pt 2). 419- 423 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anatomic and physiologic considerations in sinusitis
Tác giả: Wagenmann M., Naclerio R. M
Nhà XB: J Allergy Clin Immunol
Năm: 1992
8. Shapiro G. G. ,Rachelefsky G. S. (1992), Introduction and definition of sinusitis, J Allergy Clin Immunol, 90(3 Pt 2). 417-418 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction and definition of sinusitis
Tác giả: Shapiro G. G., Rachelefsky G. S
Nhà XB: J Allergy Clin Immunol
Năm: 1992
9. Spector S. L. (1992), The role of allergy in sinusitis in adults, J Allergy Clin Immunol, 90(3 Pt 2). 518-520 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of allergy in sinusitis in adults
Tác giả: S. L. Spector
Nhà XB: J Allergy Clin Immunol
Năm: 1992
10. Bathokédéou A., Yaotse D. A., Essobozou P. et al (2013), Profil bactériologique des sinusites maxillaires chroniques suppurées d'origine nasale de l'adulte au CHU Tokoin de Lomé, Pan Afr Med J, 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Profil bactériologique des sinusites maxillaires chroniques suppurées d'origine nasale de l'adulte au CHU Tokoin de Lomé
Tác giả: Bathokédéou A., Yaotse D. A., Essobozou P
Nhà XB: Pan Afr Med J
Năm: 2013
11. Nguyễn Tấn Phong (1998), Phẫu thuật nội soi chức năng xoang. NXB Y học Hà Nội. Tr 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật nội soi chức năng xoang
Tác giả: Nguyễn Tấn Phong
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1998
12. Casiano R.R. (2012), Endoscopic Sinonasal Dissection Guide, Thieme Medical Publishers, Inc., New York, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endoscopic Sinonasal Dissection Guide
Tác giả: Casiano R.R
Nhà XB: Thieme Medical Publishers, Inc.
Năm: 2012
13. Stammberger H. (1991), Functional endoscopic sinus surgery - The Messerklinger technique, B.C. Decker, Toronto/Philadelphia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Functional endoscopic sinus surgery - The Messerklinger technique
Tác giả: Stammberger H
Nhà XB: B.C. Decker
Năm: 1991
15. Nguyễn Thị Quỳnh Lan (2004), Đặc điểm giải phẫu xoang sàng ứng dụng vào phẫu thuật nội soi mũi xoang, Y học TP Hồ Chí Minh, 8(1).46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giải phẫu xoang sàng ứng dụng vào phẫu thuật nội soi mũi xoang
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Lan
Nhà XB: Y học TP Hồ Chí Minh
Năm: 2004
16. Nguyễn Tấn Phong (2009), Điện quang chẩn đoán trong tai mũi họng.NXB Y học Hà nội. Tr 25 -37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện quang chẩn đoán trong tai mũi họng
Tác giả: Nguyễn Tấn Phong
Nhà XB: NXB Y học Hà nội
Năm: 2009
17. Batra P. S., Manes R. P., Ryan M. W. et al (2011), Prospective evaluation of intraoperative computed tomography imaging for endoscopic sinonasal and skull-base surgery, Int Forum Allergy Rhinol, 1(6). 481-487 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prospective evaluation of intraoperative computed tomography imaging for endoscopic sinonasal and skull-base surgery
Tác giả: Batra P. S., Manes R. P., Ryan M. W
Nhà XB: Int Forum Allergy Rhinol
Năm: 2011
18. Terrier F., Weber W., Ruefenacht D. et al (1985), Anatomy of the ethmoid: CT, endoscopic, and macroscopic, AJR Am J Roentgenol, 144(3). 493-500 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anatomy of the ethmoid: CT, endoscopic, and macroscopic
Tác giả: Terrier F., Weber W., Ruefenacht D
Nhà XB: AJR Am J Roentgenol
Năm: 1985
19. Pherman H., Sauvaget E., Kacimi E.H. et al (2002), Chirurgie de l’ethmọde et du sphénọde, Elsevier SAS, 150(46) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chirurgie de l’ethmọde et du sphénọde
Tác giả: Pherman H., Sauvaget E., Kacimi E.H
Nhà XB: Elsevier SAS
Năm: 2002
20. Nguyễn Đình Bảng (1991), Tập tranh giải phẫu Tai-Mũi-Họng. Vụ Khoa học và Đào tạo, Bộ Y Tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tranh giải phẫu Tai-Mũi-Họng
Tác giả: Nguyễn Đình Bảng
Nhà XB: Vụ Khoa học và Đào tạo, Bộ Y Tế
Năm: 1991
21. Lan Nguyễn Thị Quỳnh (2005), Nghiên cứu các điểm mốc giải phẫu xoang sàng của người Việt Nam, ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang. Trường Đại Học Y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các điểm mốc giải phẫu xoang sàng của người Việt Nam, ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang
Tác giả: Lan Nguyễn Thị Quỳnh
Nhà XB: Trường Đại Học Y dược TP Hồ Chí Minh
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w