1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chủ đề phân tích môi trường kinh doanh quốc tế của australia

60 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích môi trường kinh doanh quốc tế của Australia
Tác giả Đinh Quốc An, Hoàng Mạnh Cường, Mẫn Thị Minh Huệ, Trần Mai Linh, Hoàng Trung Nghĩa
Người hướng dẫn TS. Bùi Quý Thuấn
Trường học Trường Đại Học Hà Nội
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại Bài tập tiểu luận môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 853,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ (7)
    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế (7)
    • 1.2. Các yếu tổ ảnh hưởng của môi trường kinh doanh (8)
      • 1.2.1. Điều kiện tự nhiên (10)
      • 1.2.2. Chính trị (14)
      • 1.2.3. Kinh tế (17)
      • 1.2.4. Văn hóa – xã hội (18)
      • 1.2.5. Pháp luật (20)
      • 1.2.6. Khoa học – công nghệ (21)
    • 1.3. Vai trò của môi trường kinh doanh quốc tế (22)
  • Chương 2. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA AUSTRALIA (25)
    • 2.1. Tổng quan về AUSTRALIA (25)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên (26)
      • 2.1.2. Đặc điểm chính trị (28)
      • 2.1.3. Xã hội và văn hóa (29)
    • 2.2. Môi trường kinh doanh của AUSTRALIA (30)
      • 2.2.1. Quy mô thị trường (dân số, lao động và tăng trưởng của thị trường). 25 2.2.2. Chính sách kinh tế - thương mại (31)
    • 2.3. Các lý do để Australia trở thành sự lựa chọn của các Công ty kinh doanh quốc tế (40)
      • 2.3.3. Hệ thống quản lý vững chắc (41)
      • 2.3.4. Hệ thống về thuế (41)
      • 2.3.5. Vị trí địa lý chiến lược (41)
      • 2.3.6. Cơ sở hạ tầng tốt (42)
      • 2.3.7. Môi trường kinh doanh thân thiện (42)
    • 2.4. Các lưu ý khi tham gia kinh doanh tại thị trường Australia (42)
      • 2.4.1. Tập trung tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp (42)
      • 2.4.2. Đăng ký giấy phép kinh doanh tại Úc (42)
      • 2.4.3. Tuyển dụng nhân viên (43)
      • 2.4.4. Tìm hiểu về các chính sách hỗ trợ từ chính phủ (43)
      • 2.4.5. Tìm kiếm một cố vấn giàu kinh nghiệm (43)
      • 2.4.6. Đề ra các chỉ số hiệu suất linh hoạt (KPI) (44)
      • 2.4.7. Phát triển mở rộng trên thị trường toàn cầu (44)
      • 2.4.8. Văn hóa kinh doanh của Australia (Úc) (44)
  • CHƯƠNG 3. MỘT CÁC QUY ĐỊNH THƯƠNG MẠI, HẢI QUAN VÀ TIÊU CHUẨN CỦA (48)
    • 3.1. Thương mại (48)
      • 3.1.1 Những điều cần biết khi nhập khẩu hàng hóa? (48)
      • 3.1.2 Quy định đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị không quá 1.000 AUD? (48)
      • 3.1.3. Quy định đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị trên 1.000 AUD? (49)
      • 3.1.4. Các chi phí khác cần chú ý trước khi nhập khẩu hàng hóa? (50)
    • 3.2. Hải quan (50)
      • 3.2.1. Luật thuế quan 1995 (50)
      • 3.2.2. Những yêu cầu hải quan đối với hàng nhập khẩu (53)
      • 3.2.3. Các mặt hàng bị hạn chế và cấm nhập khẩu (53)
    • 3.3. Tiêu chuẩn thương mại (nhãn hiệu, xuất xứ, chứng nhận chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật,…) (53)

Nội dung

BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN HỌC GIỮA KỲ Chủ đề PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA AUSTRALIA Thành viên nhóm Đinh Quốc An 200102 Hoàng Mạnh Cường 200102 Mẫn Thị Minh Huệ 200102 Trần Mai Linh 200102[.]

Trang 1

BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN HỌC GIỮA KỲ

Chủ đề:

PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

QUỐC TẾ CỦA AUSTRALIA

Thành viên nhóm: Đinh Quốc An - 200102

Hoàng Mạnh Cường - 200102

Mẫn Thị Minh Huệ - 200102

Trần Mai Linh - 200102

Hoàng Trung Nghĩa – 200102

Lớp: Kinh doanh quốc tế_N02

GVHD: TS Bùi Quý Thuấn

Hà Nội, 2023

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ

Stt Họ và Tên/Mã sinh viên Nội dung được

80% hoặc100%

Trang 3

MỤC LỤC:

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ 2

1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế 2

1.2 Các yếu tổ ảnh hưởng của môi trường kinh doanh 3

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 5

1.2.2 Chính trị 9

1.2.3 Kinh tế 11

1.2.4 Văn hóa – xã hội 13

1.2.5 Pháp luật 14

1.2.6 Khoa học – công nghệ 15

1.3 Vai trò của môi trường kinh doanh quốc tế 16

Chương 2 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA AUSTRALIA 19

2.1 Tổng quan về AUSTRALIA 19

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 20

2.1.2 Đặc điểm chính trị 22

2.1.3 Xã hội và văn hóa 23

2.2 Môi trường kinh doanh của AUSTRALIA 24

2.2.1 Quy mô thị trường (dân số, lao động và tăng trưởng của thị trường) 25 2.2.2 Chính sách kinh tế - thương mại 27

2.3 Các lý do để Australia trở thành sự lựa chọn của các Công ty kinh doanh quốc tế 32

2.3 2 Công nghệ tiên tiến 32

2.3.3 Hệ thống quản lý vững chắc 32

2.3.4 Hệ thống về thuế 33

2.3.5 Vị trí địa lý chiến lược 33

2.3.6 Cơ sở hạ tầng tốt 33

2.3.7 Môi trường kinh doanh thân thiện 34

2.4 Các lưu ý khi tham gia kinh doanh tại thị trường Australia 34

2.4.1 Tập trung tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp 34

2.4.2 Đăng ký giấy phép kinh doanh tại Úc 34

2.4.3 Tuyển dụng nhân viên 35

Trang 4

2.4.4 Tìm hiểu về các chính sách hỗ trợ từ chính phủ 35

2.4.5 Tìm kiếm một cố vấn giàu kinh nghiệm 35

2.4.6 Đề ra các chỉ số hiệu suất linh hoạt (KPI) 36

2.4.7 Phát triển mở rộng trên thị trường toàn cầu 36

2.4.8 Văn hóa kinh doanh của Australia (Úc) 36

CHƯƠNG 3 MỘT CÁC QUY ĐỊNH THƯƠNG MẠI, HẢI QUAN VÀ TIÊU CHUẨN CỦA 40

3.1 Thương mại 40

3.1.1 Những điều cần biết khi nhập khẩu hàng hóa? 40

3.1.2 Quy định đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị không quá 1.000 AUD? .40

3.1.3 Quy định đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị trên 1.000 AUD? 41

3.1.4 Các chi phí khác cần chú ý trước khi nhập khẩu hàng hóa? 41

3.2 Hải quan 42

3.2.1 Luật thuế quan 1995 42

3.2.2 Những yêu cầu hải quan đối với hàng nhập khẩu 44

3.2.3 Các mặt hàng bị hạn chế và cấm nhập khẩu 45

3.3 Tiêu chuẩn thương mại (nhãn hiệu, xuất xứ, chứng nhận chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật,…) 45

Trang 5

BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ (nếu có)

Bảng 1: Cân đối tài chính của Chính phủ liên bang, 2012-2019 28 Biểu đồ 1: 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2019 26

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Từ những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, cục diện thế giới có nhiều thay đổi,cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế diễn ra trên toàn cầu, thúc đẩy quá trìnhchuyên dịch kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội Sự bùng

nổ của toàn cầu hóa và kinh doanh quốc tế đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triểncủa tất cả các ngành trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia trong số đó không thểkhông nhắc đến Australia (Úc) – một quốc gia ổn định, dân chủ và đa dạng về vănhóa với lực lượng lao động có tay nghề cao và là một trong những nền kinh tế pháttriển mạnh mẽ nhất thế giới Kinh tế Úc là một nền kinh tế thị trường thịnh vượng,phát triển theo mô hình kinh tế phương Tây, được chi phối chủ yếu bởi ngành dịch

vụ và nông nghiệp và khai thác mỏ Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú,

Úc được xem là nước phát xuất khẩu chính các sản phẩm nông nghiệp và nhiều loạikhoáng sản khác nhau, đặc biệt đây còn là quốc gia xuất khẩu than đá lớn nhất thếgiới, chiếm tới 29% sản lượng xuất khẩu than của thế giới Trong suốt 3 thập kỷ nềnkinh tế Úc luôn nổi bật với sự tăng trưởng chống mặt và mang tính cạnh tranh cao.Mặc dù tình hình kinh tế Úc trong thời gian gần đây đang chững lại vì ảnh hưởngnặng nề do cháy rừng và đại dịch Covid-19 gây ra, nhưng đầu năm 2021, Úc đã cónhiều chuyển biển đáng mừng và đang dần trở mình với một khí thế mạnh mẽ nhờ

có sự đầu tư của chính phủ và nhiều yếu tố là bệ đỡ, đặc biệt là kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng đều đặn với mức tăng 6% năm Đây là mộtcon số ấn tượng cho thấy Úc đang làm rất tốt trên con đường toàn cầu hóa, hội nhậpvới thế giới Với một nền kinh tế mở, năng động và hội nhập hoàn toàn vào thươngmại khu vực và toàn cầu Úc có một khu vực được coi là nền kinh tế tư nhân hoạtđộng hiệu qua, một thị trường lao động năng động và một khu vực thương mại rất

có tính cạnh tranh Úc xếp thứ ba trong Chỉ số Tự do kinh tế năm 2010, là nền kinh

tế lớn thứ 12 trên thế giới Quốc gia xếp hạng hai trong chỉ số phát triển con ngườinăm 2011 của Liên Hiệp Quốc, xếp hạng nhất trong chỉ số thịnh vượng năm 2008của Legatum Xuất phát từ những yếu tố đặc biệt kể trên, nhóm chúng em đã chọn

vấn đề “PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA

AUSTRALIA” làm đề tài báo cáo.

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế

Môi trường kinh doanh quốc tế là sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc môitrường quốc gia với môi trường nước ngoài; và giữa các yếu tố môi trường nước ngoàicủa hai quốc gia khi một công ty tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với kháchhàng cả quốc gia khác

Ví dụ, nhân sự tại trụ sở chính của một công ty đa quốc gia được xem là làm việctrong môi trường kinh doanh quốc tế nếu công việc của họ có liên quan, dù theo cáchnào, tới quốc gia khác; trong khi đó nhân sự tại các chi nhánh nước ngoài sẽ khônglàm việc trong trường kinh doanh quốc tế nếu họ không hoạt động kinh doanh quốc tếxuất khẩu, hoặc quản lý công ty con khác Nói một cách khác, các nhà quản lý bánhàng thuộc tập đoàn Goodyear tại Chile sẽ không làm việc trong trường kinh doanhquốc tế nếu họ bán những chiếc lốp chỉ ở Chile Nếu công ty con này xuất khẩu lốpsang Bolivia, thì các nhà quản lý bán hàng chịu tác động của cả hai yếu tố MTKDtrong nước là Chile và MTKD nước ngoài là Bolivia, và bởi vậy, các nhà quản lý đãlàm việc trong trường kinh doanh quốc tế

Kinh doanh quốc tế liên quan tới hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, có thể là

từ hai nước trở lên có thể liên quan tới một số hay nhiều nước trên phạm vi toàn cầu.Kinh doanh quốc tế bị tác động và ảnh hưởng lớn bởi các tiêu chí và các biến số cótính môi trường quốc tế, chẳng hạn như hệ thống luật pháp của các nước, thị trườnghối đoái, sự khác biệt trong văn hóa hay các mức lạm phát khác nhau giữa các nước.Đôi khi những tiêu chí hay biến số này gần như không ảnh hưởng hay có tác độngnhiều đến hoạt động kinh doanh nội địa của một doanh nghiệp Chúng ta cũng có thểnói rằng kinh doanh nội địa là một trường hợp đặc biệt hạn chế của kinh doanh quốctế

Một đặc điểm nổi bật khác của kinh doanh quốc tế đó là các hãng quốc tế hoạt độngtrong một môi trường có nhiều biến động và luật chơi đôi khi có thể rất khó hiểu, có

Trang 8

các hoạt động kinh doanh quốc tế thực sự không giống như chơi một trò bóng mới màgiống như chơi nhiều trò bóng khác nhau mà trong đó nhà quản trị quốc tế phải họcđược các yếu tố đặc thù trên sân chơi Các nhà quản trị rất nhanh nhạy trong việc tìm

ra những hình thức kinh doanh mới đáp ứng được sự thay đổi của chính phủ nướcngoài về các lĩnh vực ưu tiên, và từ đó tạo lập được các lợi thế cạnh tranh hơn so vớicác đối thủ cạnh tranh kém nhanh nhạy hơn

Các nguyên tắc chủ đạo đối với một doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinhdoanh quốc tế luôn phải có cách tiếp cận toàn cầu Các nguyên tắc chủ đạo của mộtdoanh nghiệp có thể được định nghĩa liên quan tới ba mảng chính, đó là sản phẩmcung cấp trong mối quan hệ với phục vụ thị trường nào, các năng lực chủ chốt và cáckết quả Khi xây dựng các kế hoạch kinh doanh quốc tế, các hãng phải ra các quyết

định liên quan tới việc trả lời câu hỏi: Hãng sẽ bán sản phẩm gì cho ai? Và hãng có thể có được nguồn cung ứng từ đâu và cung ứng như thế nào? Đó là hai câu hỏi liên

quan tới Marketing và Sourcing (thị trường sản phẩm đầu ra và thị trường sản phẩmđầu vào) Sau khi ra được các quyết định trên, hãng cần phải cụ thể hóa các vấn đề

liên quan tới nguồn nhân lực, quản trị, tính sở hữu và tài chính để trả lời câu hỏi: Với nguồn lực nào hãng sẽ triển khai các chiến lược trên? Nói một cách khác, hãng sẽ

phải tìm ra nguồn nhân lực phù hợp, khả năng chịu rủi ro và nguồn lực tài chính cầnthiết Tiếp đến là vấn đề liên quan tới làm thế nào để có thể kiểm soát và xây dựngđược cơ cấu tổ chức phù hợp để triển khai thực hiện những vấn đề trên Và cuối cùngmột nội dung liên quan tới quan hệ công chúng, cộng đồng cũng cần hãng phải quantâm khi triển khai kế hoạch kinh doanh quốc tế của mình

1.2 Các yếu tổ ảnh hưởng của môi trường kinh doanh

MTKD là sự tổng hợp các yếu tố có liên quan và tác động tới sự tồn tại và phát triểncủa mỗi doanh nghiệp Các yếu tố đó được phân chia thành các yếu tố bên trong vàcác yếu tố bên ngoài Thêm vào đó, các nhà quản lý không thể kiểm soát trực tiếp cácyếu tố đó, dù họ có nhiều cố gắng trong việc tác động tới chúng như: vận động hànhlang đối với việc thay đổi các điều luật, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mạicho sản phẩm mới tung ra thị trường nhằm thay đổi thái độ của người tiêu dùng…

Trang 9

Yếu tố bên ngoài thường được gọi là yếu tố không kiểm soát được (uncontrollableforces), gồm cở các yếu tố sau:

(1) Cạnh tranh – dựa vào vị trí và hoạt động mà có rất nhiều kiểu cạnh tranh và nhiềuđối thủ cạnh tranh

(2) Phân phối – các công ty trong nước và quốc tế cung cấp hàng hóa, dịch vụ theomạng phân phối hàng hóa và dịch vụ

(3) Kinh tế-các biến số kinh tế như GNP, chi phí lao động theo đơn vị, mức chi tiêu cánhân,… ảnh hưởng tới khả năng kinh doanh của mỗi doanh nghiệp

(4) Kinh tế xã hội – đặc điểm và sự phân bố dân cư

(5) Tài chính – các biến số như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát, thuế khóa…

(6) Luật pháp – mồi doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh với rất nhiều bộ luật cảcấp quốc gia và quốc tế

(7) Địa lý – các yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu, và tài nguyên thiên nhiên…

(8) Chính trị – các yếu tố thuộc môi trường chính trị quốc gia như chủ nghĩa dân tộc,chế độ chính trị, và các tổ chức quốc tế

(9) Văn hóa xã hội – các yếu tố văn hóa như thái độ, niềm tin, và quan điểm… là cácyếu tố quan trọng đối với các nhà KDQT

(10) Lao động – cấu trúc lao động, kỹ năng và thái độ của người lao động

(11 ) Công nghệ – trình độ kỹ thuật và các thiết bị tác động tới quá trình sử dụng cácyếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm

Trang 10

Ngoài các yếu tố trên, các nhà quản lý còn phải đối mặt với các yếu tố bên trong nhưđầu vào sản xuất (vốn, nguyên liệu, và con người) và các hoạt động của tổ chức (nhân

sự, tài chính, sản xuất và marketing) Những yếu tố này được gọi là các yếu tố có thểkiểm soát được (controllable forces), các nhà kinh doanh cần phải quản lý điều hànhmột cách có trật tự các yếu tố này để có thể thích ứng được những thay đổi của cácyếu tố trong môi trường không kiểm soát được Ví dụ sự thay đổi chính trị – thịtrường chung ASEAN được hình thành – ảnh hưởng tới toàn bở các yếu tố có thếkiểm soát được của các công ty quốc tế đang hoạt động liên quan tới các quốc gia nằmtrong khối ASEAN Các công ty phải xem xét lại các hoạt động kinh doanh của mình

và có những điều chỉnh cho phù hợp với luật mới khi thị trường chung chính thức đivào hoạt động Ví dụ, một số công ty của Mỹ hay Nhật Bản có chi nhánh công ty đặttại Singapore, một nơi có chi phí lao động rất cao, có thể xem xét lại việc chuyển chinhánh tới quốc gia khác có chi phí lao động rẻ hơn nhiều như Philippin, Việt Nam…khi mà rào cản thương mại giữa các quốc gia này được xóa bỏ

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

 Yếu tố địa lý

Địa lý nghiên cứu các vấn đề về bề mặt trái đất, khí hậu, đất đai, đất nước, các nguồntài nguyên… đây là một yếu tố không kiểm soát được mà các nhà kinh doanh quốc tếphải đối mặt nhưng vẫn chưa được xem trọng Xu hướng chung là chì nghiên cứu cáckhía cạnh địa lý khi được tách riêng, độc lập là một môn khoa học chứ không đượcxem xét như một yếu tố quan trọng trong tổng thể môi trường kinh doanh quốc tế Địa

lý không chỉ là vị trí đất nước, thủ đó một quốc gia hay những con sông… mà còn lànhững hiểu biết về văn hóa xã hội và kinh tế với nguồn lực hạn chế có thể đáp ứngnhu cầu của con người Vì vậy, nghiên cứu địa lý có vai trò quan trọng trong việcđánh giá thị trường và môi trường

Là một yếu tố thuộc về địa lý, khí hậu và địa thế của một quốc gia là một vấn đề quantrọng được nhắc đến khi đánh giá một thị trường Những yếu tố địa lý này có ảnh

Trang 11

hưởng trực tiếp, rõ ràng tới sự chấp nhận sản phẩm mới trên thị trường, tới những ảnhhưởng sâu sắc hơn trong việc phát triển chiến lược kinh doanh

Độ cao, độ ẩm, nhiệt độ, là những đặc điểm khí hậu ảnh hưởng tới công dụng và chứcnăng của sản phẩm Sản phẩm được xem là hoàn hảo ở những nước ôn đới cũng có thể

bị hư hỏng nhanh chóng tại những nước hàn đới, hay cần được thường xuyên bảodưỡng tại những nước thuộc khu vực nhiệt đới Ví dụ, các nhà sản xuất nhận ra rằngkhi các thiết bị xây dựng ở Mỹ được đem bán tại sa mạc Sahara thì cần phải có thayđổi lớn để có thể chịu đựng được cái nóng và bụi gay gắt của vùng sa mạc này Mộtcông ty Đài Loan đã vận chuyển hàng hóa thủy tinh bằng đường biển tới người mua ởTrung Á Hàng thủy tinh được đóng trong những chiếc thùng gỗ có lót xung quanhbằng cỏ khô để tránh va đập mạnh Tuy nhiên, khi hàng hóa đến nơi thì hầu như toàn

bộ đã bị vỡ, vậy tại sao? Khi hàng hóa được vận chuyển tới vùng ấm hơn, khí hậu khôhạn hơn ở Trung Á, đã làm cho lượng nước trong cỏ khô giảm nhanh chóng, co lại,tạo những khe hở lớn khiến cho đồ thủy tinh bị va đập trên đường vận chuyển và vỡ

Thậm chí khi ở cùng một thị trường thì khí hậu cũng có thể rất khác nhau giữa cácvùng, đòi hỏi sản phẩm cần có sự thay đổi tương ứng Khí hậu khác nhau ở châu Âukhiến cho hãng Bosch-Siemens buộc phải sửa đổi những chiếc máy giặt của họ Bời vì

ớ Đức và Scandinavia không có nhiều ánh nắng mặt trời nên những chiếc máy giặtphải có đặc điểm là tốc độ vắt cao từ 1000-1600 vòng/phút (rpm) Quán áo phải khôhơn khi ra khỏi máy giặt vì người sử dụng không thể chờ có quần áo khô khi phảiphơi thêm ngoài trời cả ngày Ngược lại, ở Italia và Tây Ban Nha thì lượng ánh sángchiếu hàng năm cao hơn rất nhiều, nên tốc độ quay của máy giặt chỉ khoảng 500vòng/phút

Có thể nói, để có thể thành công trong kinh doanh quốc tế, các nhà quản lý không thể

bỏ qua hay xem nhẹ yếu tố địa lý, trong chừng mực nào đó, hay trong những trườnghợp cụ thế thì yếu tố này cũng có tính chất quyết định đối với sự thành công của sảnphẩm trên thị trường

Trang 12

 Yếu tố nhân khẩu học

Nhân khẩu học nghiên cứu các vấn đề về dân số và con người như quy mô mật độ,phân bố dân cư, tỷ lệ sinh,… nhân khẩu học tác động nhiều tới hoạt động kinh doanhquốc tế bởi vì nó bao gồm con người – trung tâm của hoạt động kinh doanh

Quy mô và tốc độ tăng dân số phản ánh trực tiếp quy mô nhu cầu tổng quát trong hiệntại và tương lai của thị trường, do đó nó cũng phản ánh sự phát triển hay suy thoái củathị trường Ví dụ, Việt Nam là quốc gia có dân số khoảng 80 triệu người, tốc độ tăngdân số khoảng 2,4%, cao hơn mức trung bình của thế giới, đây là thị trường tương đốilớn trong hiện tại và cả tương lai, thị trường này đang trên đà phát triển

Sự thay đổi về cơ cấu tuổi tác trong dân cư sẽ dẫn tới tình trạng thay đổi cơ cấu kháchhàng tiềm năng theo độ tuổi Đến lượt nó, những thay đổi này sẽ tác động quan trọngtới cơ cấu tiêu dùng và nhu cầu về các loại hình hàng hóa

Bên cạnh đó, sự thay đổi về cơ cấu, quy mô hộ gia đình cũng làm chở các hoạt độngkinh doanh quốc tế thay đổi thường xuyên, liên tục Xu thế tách riêng hộ gia đình khikết hôn thay vì “tứ đại đồng đường” đã tạo ra cơ hội kinh doanh mới chở các hộ giađình trẻ, cũng như già… Cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chí có từ

Ì đến 2 con tại các nước đang phát triển đã phần nào góp phần trong việc giải phóngphụ nữ, cũng như nâng vị trí của những đứa con trong gia đình… điều này cũng tạo ranhững cơ hội mới chở các nhà kinh doanh

Trang 13

trường ra đời và hoạt động rất tích cực, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc “bảo vệ ngôinhà xanh khỏi những hiện tượng nhà kính, ô nhiễm không khí, nguồn nước, lỗ thủngtầng ôzôn…

Sự thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu thô, sự gia tăng chi phí năng lượng đang trở nêngay gắt và ngày càng nghiêm trọng Xu thế chung đòi hỏi các nhà kinh doanh quốc tếphải tập trung sử dụng các nguồn nguyên liệu mới thay thế Các công ty kinh doanhsản phẩm về nông lâm nghiệp phải dồn nỗ lực và ở các hoạt động kinh doanh đảm bảoduy trì và đổi mới nguồn lực như trồng rừng, chống xói mòn, canh tác, chống quátrình đô thị hóa…

Chất thải công nghiệp, chất thải rắn, chất thải không tái chế được đang là những vấn

để nan giải chở các hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc biệt ở các nước phát triển Chiphí sản xuất có thể tăng lên nhưng người tiêu dùng sẵn sàng trả giá để có được các sảnphẩm an toàn hơn về sinh học và môi trường Ký hiệu “có thể tái chế sử dụng” trởthành một biểu tượng bắt buộc trên bao bì một số sản phẩm lưu hành trên thị trường.Các quy định về hóa chất sử dụng trong công nghiệp điện lạnh những quy định của cảchính phủ về an toàn thực phẩm, khói xả ra từ ôtô, tỷ lệ chì trong xăng… đang dần trởthành vấn đề quốc tế Các nhà kinh doanh quốc tế cần đặc biệt chú ý đến vấn để nàynếu muốn có sự phát triển bền vững vì sức ép bảo vệ môi trường ngày càng tăng lên

và người tiêu dùng càng có ý thức về vấn đề này hơn

 Yếu tố tài chính

Các nhà kinh doanh quốc tế phải phân tích tỷ mở các chính sách kinh tê trước khi raquyết định lựa chọn một thị trường và địa điểm mới để hoạt động Nếu các ngân hàngTrung ương không đưa ra các chính sách tiền tệ và tài chính thích hợp sẽ là mầmmống tạo ra lạm phát cao, tăng thâm hụt ngân sách, giảm giá tiền tệ, giảm năng suấtlao động và hạn chế quá trình sáng tạo Những biến động này có thế làm cho môitrường đầu tư trở nên kém hấp dẫn hơn

Trang 14

Tiền tệ và việc chuyển đổi tiền tệ là một thách thức chở các công ty quốc tế Giá trịtiền tệ hay thay đổi làm chở các giám đốc khó dự đoán thu nhập khi chuyển đổi vềtiền tệ nước mình Sự biến động mạnh của giá trị tiền tệ sẽ rất khó xác định giá trị vốnđầu tư và ở các dự án mới Để bổ sung chở các nguồn lực của chính phủ nước chủnhà, các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm thông tin về điều kiện kinh tế và tài chính từcác thế chế như WB, IMF, ADB… Các nguồn thông tin khác bao gồm từ những xuấtbản phẩm kinh tế và kinh doanh…

 Hình ảnh quốc gia

Hình ảnh quốc gia biểu thị môi trường kinh doanh của quốc gia đó, nó liên quan mậtthiết đến việc lựa chọn địa điểm sản xuất, nghiên cứu và phát triển, và bất kỳ hoạtđộng nào khác vì thông thường các sản phẩm được sản xuất ở quốc gia nào phải ghitên quốc gia đó, như là “sản xuất ở Việt Nam”, “sản xuất ở Nhật Bản” Đối với cácsản phẩm điện tử, chắc chắn người tiêu dùng thích sản phẩm mà “sản xuất ở NhậtBản” hơn Các sản phẩm được sản xuất ở các nước phát triển thường được đánh giácao hơn các sản phẩm được sản xuất ở các nước đang phát triển Sự so sánh này xuấthiện do tư tưởng của nhiều người khi cho rằng công nhân ở các nước phát triển cótrình độ tay nghề cao hơn, hoặc trình độ công nghệ tiên tiến hơn những nước đangphát triển Mặt khác, hình ảnh quốc gia có thể là tích cực đối với sản phẩm này nhưnglại ảnh hưởng không tốt đến các sản phẩm khác Một điều quan trọng mà các nhà kinhdoanh quốc tế cần phải nhớ rằng hình ảnh quốc gia không cố định mà có thể thay đổitheo thời gian

1.2.2 Chính trị

Yếu tố chính trị có ảnh hưởng lớn tới quyết định kinh doanh của các doanh nghiệpKDQT, ảnh hưởng này có thể từ các quy định của chính phủ, hệ thống hành chính hayrủi ro chính trị…

 Các quy định của Chính phủ

Trang 15

Quan điểm của các quốc gia về vai trò của thương mại và đầu tư quốc tế khác nhau do

có sự khác biệt về văn hóa, lịch sử và các điều kiện hiện tại Một số quốc gia thực hiệnchính sách bảo hộ chặt chẽ, trong khi đó một số quốc gia khác lại khuyến khích tự dohóa thương mại và đầu tư nước ngoài Thái độ của Chính phủ đối với thương mại vàđầu tư quốc tế được đánh giá thông qua công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại của quốcgia đó

Thứ nhất, dở các quy định của Chính phủ mà các nhà kinh doanh có thể nhanh chóng

từ bỏ thị trường đó mà không còn có sự cân nhắc nào hơn nữa Trước tiên, họ có thểtạo ra các rào cản đầu tư để bảo vệ các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp trongnước như quy định giới hạn sở hữu vốn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài

Hơn nữa nhiều Chính phủ còn giới hạn sự cạnh tranh của các công ty quốc tế trongmột số ngành nhất định vì mục tiêu bảo vệ nền an ninh quốc gia Các khu vực kinh tếthường hạn chế các hoạt động của các công ty nước ngoài bao gồm các ngành du lịchsản xuất ô tô, sản xuất thiết bị quân sự, sản xuất thép… Một số quan điểm cho rằngnêu các công ty nước ngoài được phép kinh doanh trong những khu vực kinh tế nàythì chẳng khác nào trao quyền lực kinh tế của một quốc gia vào tay các tập đoàn, công

ty quốc tế

Thứ hai, các Chính phủ có thể hạn chế các các công ty quốc tế chuyển lợi nhuận vềnước Quy định này buộc các công ty hoặc là giữ ngoại tệ ở nước sở tại, hoặc là táiđầu tư và ở các dự án mới tại đây Những chính sách này bắt nguồn từ việc thiếu khảnăng trang trải ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế

Thứ ba, Chính phủ có thể đưa ra những quy định rất nghiêm ngặt về bảo vệ môitrường Trong hầu hết các nước công nghiệp, nhà máy sản xuất các thành phẩm hoặcbán các thành phẩm là các hóa chất công nghiệp đều phải cam kết bảo vệ môi trường.Những quy định này buộc các công ty phái lắp đặt thiết bị chống ô nhiễm môi trường

và quan tâm hơn đến những vấn đề xử lý chất thải Ó nhiều nước đang phát triển hoặc

Trang 16

các thị trường mới nổi, vấn đề này ít được quan tâm đúng mức Thực tế, đã có rấtnhiều công ty di chuyển sản xuất sang các nước đang phát triển đê tận dụng nhữngquy định lỏng lẻo về môi trường và tiết kiệm chi phí sản xuất

 Hệ thống hành chính

Các cơ quan hành chính của Chính phủ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động KDQT Nếucác cơ quan này hoạt động thông thoáng sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Ngượclại, nếu bộ máy hành chính cồng kềnh, hoạt động không hiệu quả thì môi trường đầu

tư ở nước đó sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn Một thực tế là các cơ quan này lại khôngmấy quan tâm đến việc cải tiến chất lượng phục vụ Các nhà KDQT phải chuẩn bị đốiphó với những trì hoãn mang tính hành chính hoặc trái nguyên tắc, bù lại, quy mô thịtrường lại làm chở các nhà kinh doanh vượt qua những trở ngại hành chính đó

 Sự ổn định chính trị

Môi trường kinh doanh của một quốc gia chịu sự tác động của yếu tố rủi ro chính trị.Rủi ro chính trị là những thay đổi trong hệ thống chính trị mà gây tác động tiêu cựcđến hoạt động kinh doanh Rủi ro chính trị có thể đe dọa thị trường của nhà xuất khẩu,

và khả năng chuyển lợi nhuận của công ty về nước

Nhận thức được rủi ro chính trị ở một thị trường phụ thuộc vào hiểu biết của nhà kinhdoanh về những biến động chính trị của nước đó trong quá khứ Vì vậy, nhà KDQTkhông thể thờ ơ với những biến động trong quá khứ để đưa ra các quyết định kinhdoanh trong tương lai Các công ty quốc tế phải cố gắng xác định và dự báo những sựkiện chính trị trong tương lai ảnh hưởng thế nào đến hoạt động kinh doanh và lợinhuận của công ty

Nhưng các nhà kinh doanh lấy thông tin ở đâu để dự báo những sự kiện này? Họ cóthể cứ nhân viên chuyên trách của công ty đi thu thập tài liệu hoặc thu thập qua các tổchức dịch vụ cung cấp thông tin đó; Lời khuyên của các chuyên gia khu vực hay quốc

Trang 17

gia nào đó bao gồm Ngân hàng quốc tế, các tổ chức kinh tế quốc tế, các chính trị gia,nhân viên ở đại sứ quán…

1.2.3 Kinh tế

Yếu tố kinh tế trước hết phản ánh qua tăng trưởng kinh tế chung về cơ cấu ngành kinh

tế, cơ cấu vùng; tiếp đến là mức và cách phân phối thu nhập, việc chi tiêu của ngườitiêu dùng… tất cả có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau đốivới các thị trường hàng hóa khác nhau Trong đó, yếu tố quyết định là cơ cấu kinh tếcủa nước đó Có thể phân ra làm bốn kiểu cơ cấu kinh tế:

 Nền kinh tế tự túc:

Trong nền kinh tế tự túc, tuyệt đại bộ phận dân cư làm nông nghiệp đơn thuần Họ tiêudùng hầu hết sản phẩm làm ra và đem trao đổi số còn lại đế lấy những hàng hóa vàdịch vụ đơn giản Họ tạo ra rất ít cơ hội cho người kinh doanh

 Nền kinh tế xuất khẩu nguyên liệu:

Những nền kinh tế này giàu một hay nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưngnghèo về các mặt khác Phần lớn thu nhập đểu do xuất khẩu những tài nguyên đó mà

có, ví dụ Ả rập xuất khẩu dầu… Những nước này là thị trường tốt chở các thiết bị táchchiết, các công cụ và phụ tùng, thiết bị bốc xếp vật tư và xe vận tải… Tùy theo sốlượng người nước ngoài cư trú và mức độ giàu có của những người cai trị đất nước màtạo ra một thị trường chở các hàng hóa phương Tây và hàng xa xỉ

 Nền kinh tế công nghiệp hóa:

Trong nền kinh tế này, sản xuất chiếm khoảng 10 đến 20% tổng sản phẩm quốc dâncủa đất nước Khi sản xuất tăng lén, các nước này phải nhập khẩu nguyên liệu, sắtthép, máy móc hạng nặng… Quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra một giai tầng mới,giàu có và một tầng lớp trung lưu nhỏ nhưng đang phát triển lên, cả hai tầng lớp nàyđều yêu cầu những kiểu hàng hóa mới, trong số đó có một số phải nhập khẩu

Trang 18

 Nền kinh tế công nghiệp:

Đây là người xuất khẩu chủ yếu những hàng hóa làm ra và vốn đầu tư Họ mua hàngcông nghiệp của nhau và cũng xuất khẩu cho nhau Những hoạt động sản xuất to lớn

và đa dạng của những nước công nghiệp này và tầng lớp trung lưu rất đông đảo của họlàm cho nước này trở thành thị trường giàu có đối với tất cả hàng hóa

Phân phối thu nhập có quan hệ với cơ cấu kinh tế của đất nước đồng thời cũng chịuảnh hưởng của hệ thống chính trị Các nhà kinh doanh phán các nước theo năm kiểukhác nhau (1) Thu nhập rất thấp, (2) Phần lớn có thu nhập thấp, (3) Thu nhập rất thấp,rất cao, (4) Thu nhập thấp, trung bình, cao, (5) Thu nhập phần lớn trung bình Ví dụthị trường của Lamborghinis, một chiếc ôtô giá hơn 100.000$, đối với thị trường kiểu(1), (2) thì thị trường rất nhỏ

Việc chi tiêu của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của việc tiết kiệm nợ nần và khảnăng vay tiền Ví dụ, người Nhật tiết kiệm khoảng 18% thu nhập của mình trong khingười Mỹ tiết kiệm 6% Kết quả các ngân hàng Nhật có thể chở các công ty Nhật vaytiền với lãi suất thấp hơn nhiều so với các ngân hàng Mỹ, và chính khả năng có vốn rẻhơn này đã giúp các công ty Nhật phát triển nhanh hơn Những người tiêu dùng Mỹcũng có tỷ lệ nợ trên thu nhập cao và điều này lại làm chậm lại những khoản chi tiêucho nhà ở và những mặt hàng cao cấp Các nhà kinh doanh còn theo dõi kỹ lưỡng mọibiến động lớn trong thu nhập, giá sinh hoạt, lãi suất, tiết kiệm, vay tiền… bởi vì chúng

có ảnh hưởng lớn đặc biệt với những công ty có sản phẩm nhạy cảm với thu nhập vàgiá

1.2.4 Văn hóa – xã hội

Văn hóa là một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm tin, truyền thống và các chuẩn mựchành vi đơn nhất với một nhóm người cụ thể nào đó được chia sẻ một cách tập thể Nó

là một hệ thống những giá trị được cả tập thế giữ gìn Văn hóa là vấn đề tác độngmạnh mẽ nhất nhưng lại khó nhận ra nhất đối với các nhà hoạt động kinh doanh quốc

tế

Trang 19

Những giá trị văn hóa truyền thống có mức độ bền vững, khó thay đổi, được truyền từđời này sang đời khác .và chúng tác động mạnh mẽ cụ thể vào những thái độ, hành viứng xử hàng ngày, hành vi tiêu dùng, mua sắm của từng người và từng nhóm người

Những giá trị văn hóa thứ phát, linh hoạt hơn, sẽ tạo ra cơ hội thị trường hay cáckhuynh hướng tiêu dùng mới, đòi hỏi các hoạt động kinh doanh quốc tế cần khai tháctối đa

Có những “tiểu nhóm văn hóa” luôn tồn tại trong xã hội là cơ sở để hình thành vànhân rộng một đoạn thị trường nào đó Đã từng có những nhóm văn hóa đề cao “cáitôi”, thể hiện rõ trong việc tiêu dùng các sản phẩm chi để chứng tỏ cá tính, sức mạnhcủa riêng mình qua: màu sắc, kích cỡ, độ tiện dụng,… Ngày nay, xu hướng bảo vệ

“ngôi nhà chung của thế giới ” đang lan rộng khắp toàn cầu và hình ảnh cũng nhưdoanh số của công ty sẽ được nâng lên khi hoạt động của công ty hướng vào những xuhướng trẽn

Đặc điểm của các yếu tố văn hóa ở mỗi quốc gia khác nhau đều không giống nhau.Tuy nhiên, các quốc gia trong cùng một khu vực là những nước có nền văn hóa tươngđồng nhau Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế Doyếu tố tương đồng này mà một số sản phẩm có thể bán ra ở một vài thị trường màkhông cần thay đổi, như các máy móc công nghiệp; trong khi đó, một số sản phẩmkhác lại phải thay đổi cho phù hợp với thị trường

Các yếu tố văn hóa trong môi trường kinh doanh quốc tế cũng có thể ảnh hưởng đếnviệc ra quyết định lựa chọn địa điểm kinh doanh Khi một sản phẩm phải thay đổi vì

lý do văn hóa, công ty buộc phải quyết định hình thành các dự án để đáp ứng thịtrường mục tiêu thay cho việc đáp ứng tất cả các loại thị trường vì hiệu quả kinh tếtheo quy mõ Văn hóa còn ảnh hưởng đến việc lựa chọn chủng loại, cách thức phânphối sản phẩm, vì vậy các nhà kinh doanh quốc tế phải xác định xem yếu tố văn hóaảnh hưởng như thế nào tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Trang 20

Chất lượng lao động cũng có ý nghĩa quan trọng tới việc lựa chọn địa điểm kinhdoanh Nếu lao động nước sở tại được đào tạo tốt, hoặc ý thức ký luật lao động cao thìnăng suất cao Trong một số trường hợp, công ty phải tổ chức đào tạo nâng cao taynghề cho những người lao động địa phương Trong trường hợp lao động địa phươngkhông có khả năng đáp ứng các nguồn lao động có chất lượng cao thì các nhà kinhdoanh cần phải cân nhắc thêm trước khi đưa ra quyết định lựa chọn địa điểm, vì khi sửdụng lao động bên ngoài nước sở tại có thể làm cho chi phí sản phẩm tăng lén.

1.2.5 Pháp luật

Các chế độ luật pháp của một quốc gia là yếu tố cơ bản trong môi trường pháp lý ảnhhưởng đến các quyết định kinh doanh của các doanh nghiệp Mỗi quốc gia có một hệthống pháp luật khác nhau, nhưng hệ thống pháp luật giữa các nước ngày nay cũng cónhững chuẩn mực – đặc biệt đối với các nước là thành viên của WTO

Luật pháp của nước sở tại có ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tiến hành và kết quảhoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Hệ thống luật pháp ở nước sở tạiảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức thâm nhập thị trường Những quy định

về xuất khẩu, thuế, hạn ngạch… có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định kinh doanhcủa các công ty quốc tế Thuế nhập khẩu thấp và hạn ngạch cao sẽ làm nản lòng cácnhà đầu tư nhưng lại khuyến khích các công ty xuất khẩu bán hàng; Ngược lại, thuếnhập khẩu cao, thuế xuất khẩu giảm, cùng những ưu đãi vé vấn đề chuyển lợi nhuận

về nước… sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp hay liên doanh với cácdoanh nghiệp trong nước Luật pháp cũng sẽ quy định và cho phép những lĩnh vực vàhình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp được phép tiến hành hoặc bị hạn chế.Thậm chí luật pháp của một số nước còn cấm đầu tư vào một số lĩnh vực và cấm hoàntoàn một số hình thức đầu tư

Luật pháp trong môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ gồm luật pháp quốc gia màcòn bao gồm cả luật quốc tế “Luật quốc tế phối hợp mối quan hệ giữa các quốc gia cóchủ quyền” Theo nghĩa rộng, luật quốc tế bao gồm tất cả những luật ảnh hưởng đếnhoạt động kinh doanh quốc tế, theo nghĩa hẹp, đó là bao gồm các hiệp định chi phối

Trang 21

các mối quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền Mối quan hệ này chịu sự tác độngcủa luật quốc gia, các hiệp định song phương, đa phương, hiệp ước thương mại quốc

tế Trong những năm gần đây, cùng với sự xuất hiện cả khối liên kết kinh tế và chínhtrị, đã xuất hiện những thỏa thuận mới, đa dạng, song phương và đa phương Nhở cáchiệp định này mà thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng trong nội bộ

kỹ thuật số… được để bên cạnh những mối lo ngại về bom nguyên tử và hàng loạt loại

vũ khí quân sự nguy hiểm khác Công cuộc cạnh tranh về kỹ thuật công nghệ mớikhông chỉ cho phép các công ty chiến thắng trong phạm vi có tính toàn cấu mà cònlàm thay đổi bản chất của sự cạnh tranh, bởi vì chúng tác động, ảnh hưởng đến việcthực thi các biện pháp cụ thể của kinh doanh quốc tế

Những lĩnh vực khoa học-công nghệ rộng lớn và mới mẻ luôn tạo ra chở các nhà hoạtđộng các cơ hội thị trường không hạn chế Nhịp độ và tốc độ phát triển, đổi mới côngnghệ ngày càng nhanh hơn và ngắn hơn Trước đây phải mất cả một cuộc cách mạngcon người mới có thể sử dụng được động cơ hơi nước, động cơ đốt trong,… thì ngàynay, với kỹ thuật số, mạng điện tử, có thể chỉ ngồi tại nhà mà biết được thông tin trênkhắp thế giới Yếu tố địa lý đã trở nên có ít ý nghĩa đối với mạng internet, điện thoại

di động… Công nghệ sinh học và vật liệu mới sẽ thực sự giúp chúng ta tiến xa hơn

Trang 22

nữa Bên cạnh đó là việc tập trung cải tiến và hoàn thiện các sản phẩm hàng hóa vàdịch vụ hiện có sẽ ngày càng tiện dụng hơn dù chỉ là những cải tiến rất nhố.

Các nhà kinh doanh quốc tế cần phải nắm bắt và hiểu rõ được bản chất của những thayđổi trong khoa học công nghệ cùng nhiều phương thức khác nhau mà khoa học côngnghệ có thể ứng dụng được; mặt khác, họ phải cảnh giác kịp thời phát hiện các khảnăng xấu có thể xảy ra, gây ra thiệt hại tới người tiêu dùng hoặc các khía cạnh đối lập

có thể phát sinh

1.3 Vai trò của môi trường kinh doanh quốc tế

Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập ngày nay, mối quan hệ phụ thuộc giữa cácquốc gia và cộng đồng kinh tế thế giới ngày càng tăng Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứumôi trường kinh doanh quốc tế được đặt ra khác nhau tùy theo từng loại tổ chức

- Đối với các tổ chức chỉ hoạt động ở thị trường trong nước

Đối với tổ chức chỉ hoạt động ở thị trường trong nước, có nghĩa là các sản phẩm củacác tổ chức này chỉ tiêu thụ ở thị trường nội địa vẫn có ít nhất vẫn có hai lý do cầnphải nghiên cứu môi trường quốc tế

Thứ nhất, do tính phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt giữa các quốc gia trong cộng đồng

Thứ hai, trong nhiều trường hợp mặc dù các tổ chức không trực tiếp quan hệ với

thương trường quốc tế, nhưng nó có thể có quan hệ gián tiếp ở phía đầu vào hoặc phía

Trang 23

đầu ra thông qua việc mua, bán một loại vật tư thiết bị nào đó qua một tổ chức kháctrong nước.

Ngoài ra các tổ chức hoạt động trong nước không chỉ quan tâm sự tác động của môitrường quốc tế đến các điều kiện của môi trường vĩ mô trong nước mà còn phải tínhđến cả những tác động của nó đối với môi trường cạnh tranh

Đối với các tổ chức hoạt động trên thương trường quốc tế

Các tổ chức hoạt động trên thương trường nước ngoài cần phải nghiên cứu điều kiệnmôi trường của nước sở tại Việc phân tích môi trường quốc tế cũng giống như phântích môi trường bên ngoài song được xem xét trong bối cảnh toàn cầu

Khi phân tích môi trường nước sở tại thì môi trường chính trị – pháp luật và môitrường văn hoá cần có sự quan tâm thích đáng vì nó có thể có những điểm rất khácbiệt so với môi trường nước chủ nhà

Đối với các tổ chức sản xuất trong nước nhưng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nướcngoài thì vừa phải chịu ảnh hưởng của những điều kiện môi trường kinh doanh trongnước, vừa phải chịu những điều kiện môi trường nước ngoài Tổ chức cần tiến hànhphân tích những yếu tố vĩ mô chẳng hạn như các yếu tố kinh tế, chính trị – pháp lý,dân số, văn hoá xã hội, có liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm của mình tại thịtrường nước ngoài Bên cạnh đó cũng cần phân tích và nhận dạng các áp lực của môitrường cạnh tranh mà tổ chức đang phải đối mặt tại thị trường nước ngoài, chẳng hạnnhư khách hàng, người cung cấp, sản phẩm thay thế,

Đối với các tổ chức chỉ hoạt động trên thương trường nội địa nhưng có quan hệ với tổchức cung cấp nước ngoài thì cũng phải tính đến yếu tố môi trường của nước sở tại.Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế biến động của môi trường vĩ mô và môi trường tácnghiệp của các tổ chức cung cấp ở nước ngoài mà có thể tạo ra những thuận lợi hoặckhó khăn đối với các nguồn cung cấp đầu vào của tổ chức

Đối với các tổ chức đang tìm cách thành lập với các cơ sở sản xuất ở nước ngoài thìcàng phải quan tâm hơn nữa những yếu tố của môi trường tại nước ngoài Ví dụ, các

Trang 24

yếu tố như mức tiền công trung bình, luật thuế, các quy định về thuê mướn tại địaphương, các quan điểm chung về công ăn việc làm và mức sống, các điều kiện về tàinguyên thiên nhiên, sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức.

Trang 25

Chương 2 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA AUSTRALIA

2.1 Tổng quan về AUSTRALIA

Khối thịnh vượng chung Úc bao gồm một liên bang gồm sáu tiểu bang (New SouthWales, Queensland, Nam Úc, Tasmania, Victoria và Tây Úc), và hai lãnh thổ lớn trênđất liền (Lãnh thổ phía Bắc và Lãnh thổ Thủ đô Úc) và một số vùng lãnh thổ nhỏ

Úc giành được độc lập trên thực tế từ Vương quốc Anh vào năm 1901, khi liên bangđược thành lập và Hiến pháp Úc được thông qua Chính thức giành được độc lập hoàntoàn vào năm 1986 Kể từ khi liên bang hóa, Úc đã có một lịch sử chính phủ ổn định

Trang 26

phủ thực thi quyền hành pháp nhưng được chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước quốc hộithông qua người đứng đầu cơ quan hành pháp chính phủ (được gọi là Thủ tướng) vàcác bộ trưởng của mình.

Mặc dù độc lập, Úc vẫn tiếp tục là một quốc gia quân chủ lập hiến với Nữ hoàngElizabeth II là nguyên thủ quốc gia theo nghi thức hiện tại Nữ hoàng được đại diệnbởi một Toàn quyền, người được Nữ hoàng bổ nhiệm theo lời khuyên của Thủ tướng

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Trang 27

Australia thuộc Châu Đại Dương, tọa lạc trên mảng kiến tạo Ấn – Australia nơi phíaNam Bán Cầu, bao quanh mình là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Australia nằm

cô lập so với Châu Á bơi hai vùng biển Arafura và biển Timor Các quốc gia lân cậncủa Úc gồm có Indonesia, Đông Timor và Papua New Guinea ở phía bắc; Quần đảoSolomon, Vanuatu, và Nouvelle-Calédonie thuộc Pháp ở phía đông-bắc; và NewZealand ở phía đông-nam

Với tổng diện tích rộng lớn khoảng 7.7 triệu km2 , là quốc gia lớn thứ 6 thế giới, nằmriêng biệt trên toàn Châu Úc với độ dài từ Đông sang Tây là khoảng 4000km và từBắc đến Nam là khoảng 3200 km Australia có 34218 km đường bờ biển (21.262dặm) bao gồm cả các đảo ngoài khơi và diện tích vùng đặc quyền kinh tế củaAustralia là 8.148.250 km2 (3.146.060 dặm vuông) Vùng đặc quyền kinh tế nàykhông bao gồm lãnh thổ của nước này tại Nam Cực

Vị trí địa lý đặc thù thuận lợi cho Australia việc phát triển trên các ngành liên quanđến cảng biển, đóng tàu… lại thêm được thiên nhiên những cảnh quan hết sức đa dạng

và phong phú, góp phần cho Australia phát triển mạnh trong ngành du lịch dịch vụ.Bằng chứng là dịch vụ chiếm 70% GDP năm 2005

Láng giềng của Australia bao gồm New Zealand ở phía Đông Nam: Indonesia, ĐôngTimor và Papua New Guinea về phía Bắc; quần đảo Solomon, Vanuatu và NewCaledonia về phía Đông Bắc Australia nằm ở vị trí trung tâm nên việc giao thươnggiữa các nước tưởng đối thuận lợi và dễ dàng

* Điều kiện tự nhiên:

Châu Lục là lục địa có địa hình tương đối bằng phẳng, những vùng có độ cao cao nhất

là các rặng núi Trong đó, núi Augustus ở bang Tây Australia được coi là núi đánguyên khối lớn nhất trên thế giới Với chiều cao 2.228m núi Kosciuszlo ở rặng núilớn là đỉnh núi cao nhất trên lục địa Australia, mặc dù đỉnh Mawson ở đảo Herald còncao hơn khi chiều cao đo được là 2.745m Hệ thống sông ngòi tương đối thưa thớt,phân bố không đồng đều, hầu hết tập trung nhiều ở khu vực phía Đông châu lực Đồngbằng tập trung nhiều ở khu vực phía đông, nơi có nhiều sông ngòi Phần lớn diện tích

Trang 28

còn lại là hoang mạc hoặc bán hoang mạc thường được biết đến với cái tên vùng hẻolánh Australia có những biện pháp dự trữ nước ngầm nhằm ngăn chặn những tác hạicủa nạn hạn hán Tuy nhiên vẫn có những giai đoạn ít hoặc thậm chí không có mưangay cả vào mùa mưa Những cơn hạn hán này đã tạo ra nạn thiếu nước trầm trọng.Riêng khu vực miền Bắc đất nước với khí hậu nhiệt đới có rừng mưa, miền rừng, đồng

cỏ, rừng đước và hoang mạc Diện tích rộng lớn, sông ngòi lại phân bố không đềukhiến cho Australia được xem là châu lục bằng phẳng, đất đai khô cằn già cỗi và kémmàu mỡ nhất trong các châu lục có người ở Bởi thế nên ngành công nghiệp ởAustralia tương đối không phát triển, ước tính chỉ được 3.8% GDP năm 2005 Điềunày tương đối thuận lợi cho Việt Nam, quốc gia có thế mạnh về ngành công nghiệp,xuất khẩu sang Australia những mặt hàng nông nghiệp hoa màu như gạo, tiêu, điều, càphê… và các mặt hàng thủy sản như tôm, cá…

2.1.2 Đặc điểm chính trị

Nước Úc có 3 cấp chính quyền, Chính quyền liên bang Úc, chính quyền của 6 bang và

2 vùng tự trị, và khoảng 700 chính quyền địa phương Nước Úc duy trì chế độ mộtchính phủ cầm quyền từ ngày 1 tháng Giêng năm 1901 Mặc dù đất nước được phânchia thành các bang và vùng tự trị với chính quyền bang riêng, nhưng chúng tôi vẫn làmột quốc gia thống nhất

Úc là quốc gia quân chủ lập hiến, nữ hoàng Elizabeth đệ nhị của Vương Quốc Anh làngười đứng đầu nhà nước, đó là lý do trên lá cờ Úc có biểu tượng lá cờ của VươngQuốc Anh (cùng với Ngôi sao của Khối thịnh vượng chung và chòm sao Nam Thập)

Nữ hoàng chỉ định Toàn Quyền Úc, là người đại diện của mình, dựa trên sự cố vấncủa chính quyền được bầu cử Toàn Quyền chỉ định các bộ trưởng dựa trên sự cố vấncủa Thủ Tướng Hệ thống chính quyền của Úc dựa trên truyền thống dân chủ tự do,bao gồm tự do về tôn giáo, ngôn luận và hiệp hội

Hiến pháp Úc đặt ra các chức năng của chính phủ Úc, như đối ngoại, thương mại,quốc phòng và nhập cư Các bang và vùng tự trị chịu trách nhiệm về các vấn đề khôngđược giao cho chính quyền liên bang

Trang 29

Hệ thống lãnh đạo được đảm trách bởi 3 quyền lực liên hệ lẫn nhau:

+ Lập pháp: Quốc hội Liên bang, bao gồm Nữ hoàng, Thượng viện và Hạ viện;

Nữ hoàng được đại diện bởi vị Toàn quyền, người mà theo truyền thống hành độngtheo tư vấn của các Bộ trưởng

+ Hành pháp: Hội đồng Hành pháp Liên bang (Toàn quyền, Thủ tướng và các

Bộ trưởng)

+ Tư pháp: Tòa án Tối cao Úc và các toà án liên bang Chánh án và sáu vị thẩm

phán khác của Tòa án Tối cao được Toàn quyền bổ nhiệm theo tư vấn của chínhphủ

Có 2 nhóm đảng phái chính trị chính hình thành nên chính phủ, cả cấp liên bang vàcấp địa phương, đó là: Đảng Lao Động Úc và Đảng Liên Minh, là liên minh chínhthức của Đảng Tự Do và đảng đối tác của đảng này là Đảng Dân Tộc Trong nềnchính trị Úc, Liên minh được coi là nhóm trung hữu và Đảng Lao động được coi lànhóm trung tả Các thành viên độc lập và một số đảng nhỏ cũng đã có các đại diệntrong nghị viện Úc, chủ yếu là ở Thượng viện

Chính đảng hoặc liên minh trở thành chính phủ, theo kết quả bầu cử của người dânAustralia Liên minh hoặc chính đảng khác được gọi là ‘Đảng đối lập’

2.1.3 Xã hội và văn hóa

Australia là nơi sinh sống của người Úc bản địa và sau đó định cư như một thuộc địahình sự của Anh vào thế kỷ 18 Vì vậy, xã hội Australia là một xã hội đa dạng baogồm nhiều thành phần tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc và văn hóa khác nhau tạo nên nétđặc trưng của xã hội Australia hiện đại Những cư dân đầu tiên ở vùng đất này làngười Úc bản địa và những người dân đảo eo biển Torres đã sinh sống ở đây tronghàng chục ngàn năm Hầu hết cư dân Australia hiện nay đều là dân nhập cư hoặc hậuduệ của những người đến đây trong khoảng 200 năm trước Vào năm 2021, khoảng28% cư dân được sinh ra ở nước ngoài Ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất ởAustralia là tiếng Anh, tôn giáo phổ biến nhất là Cơ Đốc Giáo

Trang 30

2.2 Môi trường kinh doanh của AUSTRALIA

Các công ty đa quốc gia coi Australia là trường hợp kinh doanh tốt nhất cho các trụ sởkhu vực nhắm mục tiêu đến khu vực Châu Á Thái Bình Dương năng động, quan hệgiữa Úc và các nước trong khu vực phát triển khá bền vững Các trung tâm kinh doanhchính ở Úc bao gồm: Sydney (New South Wales), Melbourne (Victoria), Brisbane(Queensland) và Perth (Tây Úc) Chi phí văn phòng tại các trung tâm kinh doanh của

Úc thấp so với các trung tâm kinh doanh lớn với Sydney được xếp hạng cao nhất ở vịtrí thứ 20 và Melbourne được xếp hạng thứ 56

Australia là một trung tâm tài chính hàng đầu ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương Sởgiao dịch chứng khoán Australia là một trong những 10 tập đoàn trao đổi niêm yếthàng đầu thế giới được đo bằng giá trị vốn hóa thị trường

Liên minh của Úc với các thị trường trong khu vực đang ngày càng cung cấp cho cácdoanh nhân nhiều loại dịch vụ tài chính toàn diện ở khu vực Châu Á Thái BìnhDương

Australia mang lại lợi thế chi phí thực tế cho mọi loại nhu cầu kinh doanh từ khônggian văn phòng khu trung tâm thương mại hàng đầu, không gian nhà máy đô thị và đấtcông nghiệp, đến cơ sở hạ tầng giao thông và các tiện ích chi phí thấp

Australia là quốc gia dẫn đầu về công nghệ mới, bởi chính phủ chấp nhận đầu tư cholĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển luật chặt chẽ bảo vệ bản quyền và tài sản trítuệ, ưu đãi thuế quan cho các công trình nghiên cứu, phát triển khoa học và côngnghệ

Australia có một truyền thống dân chủ mạnh mẽ và lâu dài, nơi các khuôn khổ luậtpháp và quy định chiếm ưu thế, luật bảo vệ doanh nghiệp và luật cạnh tranh rõ ràng vàchính thống Vì thế, môi trường kinh doanh tại quốc gia này rất lành mạnh, an toàn vàlành mạnh Australia thuộc trong top 10 các quốc gia tạo điều kiện cho doanh nghiệpkinh doanh thuận lợi và đứng thứ 4 trong danh sách các quốc gia dân số cao có nềnkinh tế phát triển

Ngày đăng: 23/04/2023, 15:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ - Chủ đề phân tích môi trường kinh doanh quốc tế của australia
BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ (Trang 2)
Bảng 1: Cân đối tài chính của Chính phủ liên bang, 2012-2019 - Chủ đề phân tích môi trường kinh doanh quốc tế của australia
Bảng 1 Cân đối tài chính của Chính phủ liên bang, 2012-2019 (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w