Giải pháp phòng tránh rủi ro trong thương mại quốc tế khi hội nhập kinh tế quốc tế. Tài liệu năm 2017 nhưng cơ bản nội dung là cốt lõi, cập nhật thêm số liệu mới tới thời điểm hiện tại.
Trang 1TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ KHI VIỆT NAM
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Tổng quan về hoạt động thương mại quốc tế từ khi việt nam hội nhập kinh tế quốc tế 3
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong thương mại quốc tế 8
1.2.2 Các loại rủi ro trong thương mại quốc tế 8
1.2.3 Ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế 14
1.2.4 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong thương mại quốc tế 15
CHƯƠNG II - NHỮNG RỦI RO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐIỂN HÌNH CỦA VIỆT
NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
20
2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý rủi ro trong hoạt
2.1.1 Xu thế, đặc điểm mới của hội nhập kinh tế quốc tế 20
2.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến với Việt Nam 21
2.1.3 Thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam 222.2 Một số case study điển hình về rủi ro thương mại quốc tế tại Việt Nam 23
CHƯƠNG III - CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH RỦI RO TRONG THƯƠNG
3.2 Các giải pháp trực tiếp từ phía doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế 31
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 3Trong một thế giới ngày càng phẳng và nhu cầu của con người ngày càng đadạng, các quốc gia bắt buộc phải có sự giao thương, liên kết và hội nhập quốc tế để liêntục cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của người dân Mộtphần đó chính là nhờ sự ra đời của thương mại quốc tế Thương mại quốc tế đã xuấthiện cách đây hàng ngàn năm, nhưng phải đến thế kỷ XV thì những nỗ lực nhằm giảithích nguồn gốc và những lợi ích từ thương mại quốc tế mới xuất hiện Những huyềnthoại về "Con đường tơ lụa" hay "Con đường hổ phách", chính là minh chứng rõ rệtnhất cho hoạt động thương mại quốc tế đã có từ thời cổ đại.
Con đường tơ lụa bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh (Trung Quốc)qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xungquanh vùng Địa Trung Hải và đến tận châu Âu Con đường cũng đi qua cả Hàn Quốc vàNhật Bản Nó có chiều dài khoảng 4.000 dặm, hay 6.437 km Trung Quốc là nước đầutiên tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, lấy kén ươm tơ, dệt lụa trên thế giới vào thế kỷ IIITrước công nguyên Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quý tộc, saunày lụa tơ tằm được đưa đi các vùng Con đường tơ lụa dần dần được hình thành từ đó,thế kỷ thứ hai Trước công nguyên
Con đường hổ phách là một tuyến đường thương mại cổ phục vụ việc vậnchuyển hổ phách Đây là một trong những tuyến đường thủy và đường bộ cổ đại, trongnhiều thế kỷ, nối châu Âu và châu Á, từ Bắc Phi tới Biển Baltic Là một nguyên liệuquan trọng, hổ phách được vận chuyển từ biển Bắc và biển Baltic qua bờ biển của sôngVistula và sông Dnepr sang Ý, Hy Lạp, Biển Đen, và Ai Cập
Thương mại quốc tế đóng vai trò chính và quan trọng nhất trong các hình thứccủa quan hệ kinh tế quốc tế !
Chính vì khuôn khổ của hoạt động kinh doanh thương mại đã vượt ra khỏi biêngiới lãnh thổ nên tính chất phức tạp và khó lường trước đã trở thành thách thức đối vớitất cả các quốc gia trên thế giới trong thời kì hội nhập Khác với giao thương trongnước, nơi chính phủ có thể kiểm soát và quản lí tất cả các hoạt động của doanh nghiệp,thương mại quốc tế ngày nay là một cơ chế liên chính phủ và thuộc tập hợp các tổ chứckinh tế lớn, việc nắm bắt thông tin và dự phòng các tình huống có thể xảy ra là một điềukhông dễ dàng với các doanh nghiệp Việt Nam
Theo đó, rủi ro trong kinh doanh và đặc biệt trong thương mại quốc tế là điềukhông thể tránh khỏi Từ khi bắt đầu mở cửa và hội nhập với môi trường quốc tế, bêncạnh những cơ hội lớn về lợi nhuận trong việc làm ăn với các bạn hàng quốc tế thì ViệtNam cũng đã gánh chịu nhiều thiệt hại khi không phòng tránh được các rủi ro thươngmại quốc tế Vậy đâu là hướng đi đúng đắn để Việt Nam không còn kém cạnh với cácnước lớn hơn?
Với tính cấp thiết của đề tài như vậy, đề án này được ra đời để nghiên cứu và làm
rõ các vấn đề về rủi ro trong thương mại quốc tế: GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH RỦI
RO TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 4Chương I – Một Số Vấn Đề Về Rủi Ro Trong Thương Mại Quốc Tế, phân
tích các khái niệm cơ bản về thương mại quốc tế, rủi ro trong thương mại quốc tế vànhận diện các loại rủi ro khác nhau theo từng tiêu chí
Chương II - Những Rủi Ro Trong Thương Mại Quốc Tế Điển Hình Của Việt Nam Với Bối Cảnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế, nghiên cứu các trường hợp
doanh nghiệp cụ thể và bài học từ những rủi ro thực tế đó
Chương III - Các Giải Pháp Phòng Tránh Rủi Ro Trong Thương Mại Quốc
Tế, trên tầm vĩ mô và vi mô của doanh nghiệp.
Với hướng đề tài trên, hi vọng trong tương lai sắp tới, doanh nghiệp Việt Nam cóthể dự báo và phòng tránh các rủi ro tốt hơn trong quá trình làm việc với các đối tácquốc tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia quản lí rủi ro tốt nhất và thuđược lợi ích tối ưu từ thương mại quốc tế
Trang 5BỨC TRANH TOÀN CẢNH
VỀ RỦI RO TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 RỦI RO TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm rủi ro trong thương mại quốc tế
1.1.1.1 Rủi ro là gì?
Rủi ro là một khái niệm phổ biến, tuy nhiên lại không có một quan điểm thốngnhất nào về rủi ro Cho đến nay cũng chưa có một định nghĩa hoàn hảo về rủi ro Ở đâychỉ xét đến rủi ro trong Kinh tế học Với những trường phái khác nhau, các tác giả đưa
ra những định nghĩa về rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất đa dạng, có thể kếđến như:
Allan Willett cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiệnmột biến cố không mong đợi", quan điểm này nhận được sự ủng hộ của một số học giảnhư Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell,
Trong một nghiên cứu của John Haynes, và được nhắc lại một lần nữa trong
cuốn “Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế” của Irving Pfeffer, rủi ro được định nghĩa là:
“Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằngxác suất”
Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là củaFrank H Knight khi ông cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường
được” Cuốn “Kinh tế học hiện đại” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng có đề
cập đến quan điểm này
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chiathành hai trường phái lớn: Trường phái truyền thống và Trường phái hiện đại Theotrường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất, mất mát,nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến Đó là sựtổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi rocòn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanhnghiệp Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểmhoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thểxảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro (risk) là sự bất trắc có thể đolường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đếnnhững tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những
cơ hội “Rủi ro càng cao, lợi nhuận càng lớn” Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta
có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhậnnhững cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Trang 6sử dụng ngoại tệ nhưng với các doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong nước bằng đồng nội
tệ không bị ảnh hưởng thì không có rủi ro Rủi ro bao gồm ba yếu tố: Xác suất xảy ra(Probability), Khả năng ảnh hưởng đến đối tượng (Impacts on objectives) và Thời lượngảnh hưởng (Duration)
Quản lý rủi ro là một phần của Quản lý dự án
Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng chúng cùng đềcập đến các đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khảnăng xảy ra kết quả không mong muốn Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khảnăng đưa đến kết quả không mong muốn Và kết quả này có thể đem lại tổn thất haythiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.”
1.1.1.2 Rủi ro trong thương mại quốc tế
Rủi ro trong thương mại quốc tế là những tổn thất có thể xảy ra khi người bán vàngười mua thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế Rủi ro có thể lường trước đượchoặc không lường trước được, thường gây ra tác động tiêu cực tới doanh nghiệp
1.1.2 Các loại rủi ro trong thương mại quốc tế
Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế như:
Theo tính chất của rủi ro: Rủi ro thuần tuý và Rủi ro suy tính
Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro: Rủi ro cơ bản và Rủi ro riêng biệt
Theo nguyên nhân của rủi ro: Rủi ro do các yếu tố khách quan và Rủi ro do cácyếu tố chủ quan
Theo đối tượng của rủi ro: Rủi ro được bảo hiểm và Rủi ro không được bảohiểm
Theo tác động của môi trường gây nên rủi ro: Rủi ro do điều kiện tự nhiên, Rủi
ro chính trị, Rủi ro kinh tế, Rủi ro luật pháp, Rủi ro văn hoá
Theo hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế: Rủi ro trong thanh toán, rủi rovận chuyển, bảo hiểm, rủi ro do điều khoản trong hợp đồng…
Theo đối tượng thực hiện hoạt động thương mại quốc tế: Rủi ro từ phía Nhà Xuấtkhẩu và Rủi ro từ phía Nhà Nhập khẩu
Thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế cho thấy, các rủi ro phân chia theo tácđộng của môi trường và theo hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế là những rủi
ro thường mang lại nhiều tổn thất nhất
1.1.2.1 Căn cứ vào tính chất của rủi ro
Rủi ro thuần túy và rủi ro theo suy tính
Trang 7Loại rủi ro này có đặc điểm sau: Thứ nhất, rủi ro thuần túy nếu xảy ra thường đưa đếnkết quả mất mát hoặc tổn thất Thứ hai, rủi ro thuần túy là loại rủi ro liên quan đến việcphá hủy tài sản (nếu hỏa hoạn thì tòa nhà bị phá hủy) Thứ ba, biện pháp đối phó với rủi
ro này là bảo hiểm
b) Rủi ro suy tính là loại rủi ro do ảnh hưởng của những nguyên nhân khó dự đoán,phạm vi ảnh hưởng rất rộng lớn Rủi ro suy tính là loại rủi ro thường xảy ra trongthực tế Ví dụ, rủi ro thay đổi giá cả, mức thuế không ổn định, tình hình chính trịkhông ổn định Tăng giá có thể mang lại nhiều lợi nhuận cho người có tồn khonhiều và giảm giá làm họ bị thua thiệt lớn Đặc điểm cơ bản của loại rủi ro này làthường không được bảo hiểm nhưng có thế đối phó bằng biện pháp rào chắn(hedging)
1.1.2.2 Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro
Rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt
a) Rủi ro cơ bản không mang tính cá nhân và thường liên quan đến cộng đồng, ví dụ như nạn thất nghiệp, chiến tranh hay lạm phát Những rủi ro này chủ yếu là do các sự kiện kinh tế, chính trị và xã hội gây nên.
Tuy nhiên, thiên nhiên cũng có thể gây nên những rủi ro cơ bản như động đất, lũ lụt.
b) Khác với rủi ro cơ bản, rủi ro riêng biệt lại mang tính chủ quan, do cá nhân gây nên và hậu quả của nó cũng được gánh chịu bởi từng cá nhân Các cá nhân thường phải giải quyết những rủi ro này nhờ việc mua bảo hiểm hoặc các hình thức phòng ngừa tổn thất khác.
1.1.2.3 Căn cứ vào nguyên nhân của rủi ro
Rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan
a) Rủi ro khách quan
Rủi ro khách quan là rủi ro được gây ra bởi các sự kiện không thuộc tầm kiểmsoát của cả người quản lí và nhân viên nghiệp vụ thương mại quốc tế Rủi ro nàythường bắt nguồn từ những thay đổi về thị trường chung, về pháp luật, giá trịđồng tiền…
b) Rủi ro chủ quan
Trang 8này có thể phòng tránh được một cách triệt để.
1.1.2.4 Căn cứ vào đối tượng của rủi ro
Rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm
a) Rủi ro được bảo hiểm là sự cố dự tính, nếu xảy ra và gây thiệt hại đến đối tượngđược bảo hiểm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm củangười bảo hiểm
b) Rủi ro không được bảo hiểm gồm những sự cố dù gây hại đến đối tượng đượcbảo hiểm, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường
1.1.2.5 Căn cứ vào tác động của môi trường
a) Rủi ro do điều kiện tự nhiên
Những điều kiện tự nhiên có nhiều khả năng tác động đến hoạt động thương mạiquốc tế chính là thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, động đất, sóng thần… Đặc biệt, đối vớinhững doanh nghiệp mà hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu mang tính thời vụ và chịuảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên như nông sản, hải sản…, thì khi xảy ra những
sự cố thiên tai, giá trị sử dụng và giá trị thương mại của hàng hoá sẽ suy giảm nhanhchóng
b) Rủi ro do môi trường văn hoá
Theo định nghĩa về văn hoá của UNESCO, “Văn hoá bao gồm tất cả những gìlàm dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đếntín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”
Rủi ro do môi trường văn hoá là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phong tục,tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức… của dân tộc khác, từ đó dẫn đếncách hành xử không phù hợp, gây ra những thiệt hại, mất cơ hội kinh doanh Ví dụ:Người Saudi Arabia không làm việc vào ngày thứ Sáu – ngày Sabbath – ngày của thánhAla, nếu đề xuất họp hành, đàm phán vào ngày này thì sẽ không có ai giải quyết côngviệc
c) Rủi ro do môi trường chính trị
Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh Rủi ro chính trị sẽ làmđảo lộn mọi dự đoán của doanh nghiệp Ba loại rủi ro chính trị thường gặp là:
Rủi ro liên quan đến quyền sở hữu (như xung công tài sản, tịch thu tài sản,nội địa hoá…)
Rủi ro do Nhà nước can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động của tổ chức(quy định về cấp giấy phép kinh doanh; hạn ngạch sản xuất, hạn ngạchxuất nhập khẩu; giấy phép xuất nhập khẩu…)
Rủi ro về chuyển giao
Trang 9trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rất lớn Mặc dù hoạt động của mộtchính phủ (đặc biệt là chính phủ của các siêu cường quốc) có thể ảnh hưởng sâu sắc đếnthị trường thế giới, nhưng họ cũng không thể kiểm soát toàn bộ thị trường thế giới.Một số rủi ro kinh tế thường gặp:
Rủi ro do nền kinh tế phát triển không ổn định Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế,rủi ro quốc gia là không thể tránh khỏi và do đó, độ an toàn trong kinh doanh củacác doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế cũng bị ảnh hưởng mạnh Chẳnghạn như cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 là một cuộc khủng hoảng baogồm sự đổ vỡ hàng loạt của các hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tìnhtrạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở Mỹ và nhiều nướcchâu Âu, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ Tình trạng tồi tệ củacác tổ chức tài chính đã khiến cho tình trạng đói tín dụng xảy ra ở nhiều nước,ảnh hưởng nghiêm trọng tới khu vực sản xuất Khủng hoảng tài chính toàn cầu
đã dẫn tới suy thoái kinh tế ở nhiều nước
Rủi ro do cấm vận kinh tế Một nước bị cấm vận kinh tế thì mọi hoạt độngthương mại quốc tế với đối tác tại nước đó đều bị kiểm soát gắt gao Ví dụ, khiIraq bị cấm vận, tất cả các hoạt động thanh toán chuyển qua các tài khoảnNOSTRO của Iraq đều bị kiểm soát và theo dõi chặt chẽ, do đó, việc thanh toáncho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng vào Iraq sẽ gặp rất nhiều khó khăn
e) Rủi ro hối đoái
Trong xuất nhập khẩu, rủi ro hối đoái xảy ra khi tỷ giá hối đoái vào thời điểmthanh toán tăng hoặc giảm so với tỷ giá lúc ký kết hợp đồng ngoại thương
f) Rủi ro do lạm phát
Lạm phát ngoài tầm kiểm soát của chính phủ sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trườngkinh doanh, làm cho hoạt động kinh doanh không hiệu quả
g) Rủi ro do sự biến động giá cả
Biến động về giá cả hàng hoá, dịch vụ và yếu tố đầu vào nhiều khi rất khó dựđoán Các doanh nghiệp sau khi ký xong hợp đồng thì giá cả lại biến động mạnh, khi đódoanh nghiệp sẽ buộc phải lựa chọn hoặc phá hợp đồng và chịu phạt, hoặc tiếp tục thựchiện hợp đồng và chịu lỗ
h) Rủi ro do môi trường pháp luật
Có rất nhiều rủi ro phát sinh từ hệ thống luật pháp Trong thương mại quốc tế,môi trường luật pháp phức tạp hơn rất nhiều, bởi chuẩn mực luật pháp của các nướckhác nhau là khác nhau Nếu không am hiểu luật pháp nước đối tác thì sẽ gặp rủi ro Rủi
ro pháp lý có nguồn gốc từ:
Trang 11 Thiếu kiến thức, hiểu biết về pháp luật
Do sự thay đổi về luật pháp liên quan đến kinh doanh như quy định về nhãnhiệu hàng hoá, môi trường, lao động
Ví dụ, các công ty khi xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, nếu không hiểu biết kỹ về LuậtLiên bang và Luật các tiểu bang của Mỹ, sẽ có thể bị kiện vì vi phạm Luật sở hữu trítuệ, Luật chống bán phá giá, Luật bảo vệ người tiêu dùng…
i) Rủi ro do môi trường hoạt động của doanh nghiệp
Loại hình rủi ro này có thể xuất hiện dưới rất nhiều dạng Đó có thể là rủi ro dothiếu thông tin hoặc có những thông tin không chính xác dẫn đến bị lừa đảo; cũng có thể
là rủi ro do máy móc thiết bị bị sự cố, doanh nghiệp quan hệ với khách hàng không tốt,không xác định rõ sức mạnh của đối thủ cạnh tranh, thị trường phù hợp…
1.1.2.6 Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của hoạt động thương mại quốc tế
a) Rủi ro trong đàm phán
Đàm phán là hành vi và quá trình mà trong đó, hai hay nhiều bên tiến hànhthương lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những điểm còn bất đồng, để điđến một thoả thuận thống nhất
Có rất nhiều hình thức đàm phán như đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điệnthoại, đàm phán trực tiếp… Tuỳ từng hình thức đàm phán khác nhau mà rủi ro đối vớicác doanh nghiệp thương mại quốc tế cũng khác nhau
Đối với hình thức đàm phán qua thư tín (gián tiếp), rủi ro sẽ xảy ra nếu hai bên
đối tác chuẩn bị không tốt về hình thức và nội dung thư từ, văn bản trao đổi, ngôn ngữ
và cách thức diễn đạt không rõ ràng, không đúng nội dung cần trao đổi hoặc thậm chísai lệch ý muốn của một trong hai bên đối tác…
Đối với hình thức đàm phán qua điện thoại, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro nếu
không thông thạo ngôn ngữ đàm phán và diễn đạt sai…, dẫn đến đối tác hiểu nhầm, mấtlòng, từ chối giao dịch và do đó, mất đi cơ hội kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp
Đối với hình thức đàm phán trực tiếp (gặp gỡ trực tiếp), rủi ro rất dễ xảy ra nếu
trước khi gặp gỡ đối tác, doanh nghiệp không chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung đàm phán,tìm hiểu đối tác và có tình huống dự phòng Rủi ro càng nhiều nếu cán bộ thực hiện đàmphán không có đủ năng lực và không tạo được thế chủ động khi đàm phán
Đàm phán hợp đồng ngoại thương gồm nhiều giai đoạn:
Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn tiếp xúc
Giai đoạn đàm phán
Giai đoạn kết thúc - ký kết hợp đồng
Giai đoạn rút kinh nghiệm
Rủi ro có thể xuất hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình đàm phán, hơnnữa, rủi ro trong giai đoạn trước sẽ kéo theo những thất bại, thua thiệt trong các
Trang 12giai đoạn sau Chẳng hạn, tại giai đoạn chuẩn bị, nếu doanh nghiệp tập hợp thôngtin sai lệch về đối tác, khi tiếp xúc đàm phán không xây dựng chiến lược đàmphán phù hợp thì tất yếu hợp đồng sẽ không thể được ký kết theo hướng có lợicho doanh nghiệp.
b) Rủi ro trong soạn thảo, ký kết hợp đồng
Hợp đồng xuất nhập khẩu về bản chất là một hợp đồng mua bán quốc tế, là sựthoả thuận giữa các bên mua bán ở các nước khác nhau, trong đó quy định bên bán phảicung cấp hàng hoá, chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hàng hoá và quyền sởhữu hàng hoá, bên mua phải thanh toán tiền hàng và nhận hàng
Một hợp đồng xuất nhập khẩu thường gồm các nội dung chủ yếu:
Phần mở đầu (tên và số hợp đồng, thời gian, địa điểm ký kết hợp đồng)
Những thông tin về chủ thể hợp đồng (tên, địa chỉ, người đại diện ký kết)
Điều khoản, điều kiện (tên hàng, chất lượng, số lượng, giá cả, giao hàng,thanh toán, bảo hiểm, phạt, trọng tài, khiếu nại…)
Phần ký kết hợp đồng (số bản, ngôn ngữ hợp đồng, thời hạn hiệu lực-nếucó)
Trong khâu soạn thảo hợp đồng, có thể xuất hiện rất nhiều rủi ro, do hợp đồngchứa đựng nhiều sơ hở, gây bất lợi, thiệt hại cho doanh nghiệp Đặc biệt, đối với ViệtNam, do mở cửa muộn, chưa có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, nên hợp đồngthường để phía đối tác nước ngoài soạn thảo, hoặc nếu bên Việt Nam soạn thảo thì cũngdựa trên mẫu hợp đồng của nước ngoài, vì vậy hợp đồng thường chứa đựng những điềukhoản bất lợi
Hơn nữa, trước khi ký kết, nếu các doanh nghiệp không kiểm tra, rà soát lại cácđiều khoản ghi trong hợp đồng thì sau khi hợp đồng đã được ký, việc sửa chữa lạinhững điều khoản bất lợi cho mình là rất khó khăn, và cần có sự đồng ý của tất cả cácbên tham gia
c) Rủi ro trong quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế, rủi ro có khả năng xuấthiện ở tất cả các khâu Cụ thể là:
Rủi ro trong thanh toán
Có rất nhiều kiểu thanh toán như thanh toán đặt cọc trước khi nhận hàng, thanhtoán nhờ thu, thư tín dụng chứng từ, thanh toán trả sau khi nhận hàng hoặc khi có cácbiên bản nghiệm thu, bảo lãnh bảo hành… Mỗi hình thức thanh toán lại có những đặctrưng riêng, và do đó, mức độ và hình thức của rủi ro cũng khác nhau
- Phương thức chuyển tiền (Remittance)
o Hình thức ứng trước:
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Trang 13Nhà xuất khẩu có thể chủ tâm không giao hàng hoặc giao hàng khôngđúng số lượng, chất lượng như yêu cầu, hàng tới trễ hơn so với hợpđồng Nhà xuất khẩu có thể bị phá sản, hoặc không có hàng để giao,hoặc khi giá cả thị trường đang có xu hướng tăng, nhà xuất khẩu sẽbán lô hàng này cho khách hàng khác và chấp nhận khoán phạt tronghợp đồng nếu thấy có lợi cho bên mình Không kiểm soát được việchàng hóa có được bảo hiểm đầy đủ trong quá trình vận chuyển haykhông Do phải thanh toán trước, nhà nhập khẩu có thể chịu áp lực vềtài chính Tình hình sẽ xấu hơn nếu hàng hóa đến chậm hoặc bị khiếmkhuyết sẽ ngăn cản nhà nhập khẩu bán hàng thu hồi tiền và làm lợinhuận có thể giảm.
o Hình thức chuyển tiền trả sau hoặc trả ngay:
Rủi ro đối với nhà xuất khẩuNếu nhà nhập khẩu chậm lập lệnh chuyển tiền (do gặp khó khăn vềtài chính hay thiếu thiện chí thanh toán) gửi cho ngân hàng thì nhàxuất khẩu sẽ chậm nhận được tiền thanh toán theo thời hạn quyđịnh mặc dù hàng hóa đã chuyển đi và nhà nhập khẩu đã có thểnhận được cũng như sử dụng hàng hóa rồi Nhà nhập khẩu có thể
bị thiệt hại do thu hồi vốn chậm ảnh hưởng đến sản xuất trongtương lai trong khi ngân hàng không có nhiệm vụ và cách thức gì
để đôn đốc nhà nhập khẩu nhanh chóng chuyển tiền chi trả nhằmđảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu
- Phương thức thanh toán ghi sổ
o Đối với nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu có thể không giao hàng hoặc giao hàng không đúngthời hạn, chủng loại và chất lượng Nếu hóa đơn thanh toán ghibằng ngoại tệ, nhà nhập khẩu có thể gặp rủi ro tỉ giá khi ngoại tệlên giá
o Đối với nhà xuất khẩu
Sau khi nhận hàng hóa, nhà nhập khẩu có thể không thanh toánhoặc không thể thanh toán (ví dụ, do các giải pháp kiểm soát ngoạihối), hoặc chủ tâm trì hoãn kéo dài thời gian thanh toán Về mặt lýthuyết, cho dù quyền sở hữu hàng hóa có thể được bảo lưu, nhưngthực tế nhà xuất khẩu khó lòng kiểm soát được hàng hóa một khi
đã chuyển cho nhà nhập khẩu Ngoài ra, nhà nhập khẩu có thể dàndựng tranh chấp về chất lượng hoặc khiếu nại về sự khiếm khuyết,thiếu hụt của hàng hóa để yêu cầu giảm giá Nếu hóa đơn thanhtoán ghi bằng ngoại tệ, nhà xuất khẩu có thể gặp rủi ro tỉ giá khingoại tệ giảm giá
Nhà xuất khẩu phải gánh chịu chi phí kiểm soát tín dụng và thutiền
Trang 14- Phương thức nhờ thu (Collection)
o Nhờ thu phiếu trơn:
Do việc trả tiền trong phương thức nhờ thu phiếu trơn không căn cứ vào
bộ chứng từ hàng hóa mà chỉ dựa vào hối phiếu do nhà xuất khẩu kí phát,
do đó:
Rủi ro chủ yếu thuộc về nhà xuất khẩu:
Nhà nhập khẩu chủ tâm lừa đảo, vẫn nhận hàng nhưng từchối thanh toán hay từ chối kí chấp nhận thanh toán hốiphiếu kì hạn Đến hạn thanh toán hối phiếu kì hạn mà nhànhập khẩu không muốn hoặc không thể thanh toán thì nhàxuất khẩu có thể kiện ra tòa nhưng rất tốn kém và khôngphải lúc nào cũng nhận được tiền
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu
Rủi ro có thể phát sinh khi hối phiếu đòi tiền đến trước vàphải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, trong khi hàng hóakhông được gửi đi hoặc đã được gửi đi nhưng chưa tới, hoặckhi nhận hàng hóa có thể không đảm bảo đúng chất lượng,chủng loại và chất lượng như trong hợp đồng thương mại
o Nhờ thu kèm chứng từ:
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu
Tập trung chủ yếu việc thanh toán không được thực hiện saukhi hàng giao, bao gồm:
Làm trái với lệnh nhờ thu, ngân hàng xuất trình đãtrao bộ chứng từ hàng hóa cho nhà nhập khẩu trướckhi người này thanh toán hay chấp nhận thanh toán.Điều này có thể xảy ra ở một số quốc gia khi ngânhàng ưu tiên đặt mối quan hệ với doanh nghiệp trongnước lên trên trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối vớidoanh nghiệp bên ngoài lãnh thổ quốc gia Lúc này,nhà nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn trong việckhiếu nại đối với ngân hàng xuất trình
Chữ kí chấp nhận thanh toán có tên bị giả mạo, hoặcngười kí chấp nhận không dủ thẩm quyền hay chưađược đăng kí mẫu dấu, chữ kí
Ngân hàng chuyển chứng từ (Ngân hàng nhà xuấtkhẩu) luôn giữ lập trường rằng, nếu ngân hàng xuấttrình có sai sót trong việc thực hiện lệnh nhờ thu, thìmọi hậu quả đều do nhà xuất khẩu phải tự gánh chịu,thậm chí ngay cả trong trường hợp nhà xuất khẩukhông hề liên quan đến việc chỉ định ngân hàng xuấttrình (Theo URC 522, điều 1b)
Trang 15 Toàn bộ hay một phần chứng từ bị thất lạc.
Số hàng hóa (mà bộ chứng từ là đại diện) chỉ có thểđược chuyển cho (hay theo lệnh của) ngân hàng xuấttrình với sự đồng ý của ngân hàng này từ trước.Ngoài ra, ngân hàng không chịu bất kì trách nhiệmnào về việc lưu kho, mua bảo hiểm hàng hóa, giaohàng hay dỡ hàng hóa
Khi ngân hàng hành động để bảo vệ hàng hóa nhưdàn xếp viêc lưu kho, mua bảo hiểm thì ngân hàngkhông chịu bất cứ trách nhiệm nào về tổn thất hay hưhỏng hàng hóa
Nhà xuất khẩu thường phải gánh chịu mọi chi phíliên quan đến công việc bảo vệ hàng hóa của ngânhàng, cho dù ngân hàng không được yêu cầu làm cáccông việc này
Nhà nhập khẩu đã thanh toán để nhận bộ chứng từ,nhưng ngân hàng xuất trình không chuyển cho ngânhàng chuyển chứng từ để trả cho nhà xuất khẩu Điềunày có thể xảy ra, ví dụ khi ngân hàng xuất trìnhkhông thể hoặc phải chậm trễ thanh toán do các giảipháp kiểm soát ngoại hối cấm chuyển ngoại tệ rangoài lãnh thổ quốc gia
Ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàngchuyển chứng từ, nhưng ngân hàng này lại chậm trễhay mất khả năng thanh toán, do đó nhà xuất khẩunhận được tiền chậm hoặc không nhận được tiền
Nhà nhập khẩu khước từ thanh toán hay chấp nhậnthanh toán, trong khi hàng hóa đã được gửi đi từtrước Dù nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập khẩutheo hợp đồng đã kí nhưng điều này mất nhiều thờigian, trong khi hàng hóa có thể đã bốc dỡ, lưu khohay nhà nhập khẩu đã ra lệnh chuyển chở hàng vềnước
Các ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậmtrễ hay thất lạc chứng từ nào
Bất kì chi phí phát sinh nào liên quan đến nhờ thuhay chi phí lãi suất mà nhà nhập khẩu chịu (như đãthỏa thuận) mà nhà nhập khẩu từ chối thanh toán,ngân hàng xuất trình vẫn trao chứng từ cho nhà nhậpkhẩu theo lệnh nhờ thu để được thanh toán và khấutrừ chi phí phát sinh, số tiền còn lại trả cho ngân hàngchuyển chứng từ để thanh toán cho nhà xuất khẩu
Trang 16(Theo URC 522, Điều 21a) Điều này làm nhà xuấtkhẩu mất một khoản chi phí không mong muốn.
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu
Cho dù nhà nhập khẩu có cơ hội kiểm tra chứng từ trước khithanh toán hay chấp nhận thanh toán, nhưng hàng hóa có thểkhông được kiểm định, chưa được bảo hiểm đầy đủ, haykhông tuân theo các tiêu chuẩn ghi trong hợp đồng thươngmại Nhà nhập khẩu có thể đứng trước rủi ro khi nhà xuấtkhẩu lập bộ chứng từ giả, có sai sót, hay cố tình gian lậnthương mại Bộ vận đơn gốc có đầy đủ hay một người nàokhác đã lợi dụng chúng để đi nhận hàng? Các ngân hàngkhông chịu trách nhiệm khi chứng từ giả mạo hay có sai sót,hoặc hàng hóa hay phương tiện vận tải không khớp vớichứng từ
Sau khi kí hối phiếu chấp nhận thanh toán hối phiếu kì hạn(hay phát hành kì phiếu), nhà nhập khẩu có thể bị nhà xuấtkhẩu kiện ra tòa nếu không thanh toán khi hối phiếu đếnhạn Thậm chí nhà nhập khẩu không thể dùng các lí do
“chính đáng” để bào chữa cho việc không thanh toán Nghĩa
là, một khi nhà nhập khẩu đã kí chấp nhận hối phiếu thìbuộc phải thanh toán khi hối phiếu đến hạn một cách vôđiều kiện, nếu không có thể bị kiện ra tòa Sự không thanhtoán hối phiếu đúng hạn sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đếndanh tiếng thương mại của con nợ
- Phương thức thanh toán giao chứng từ nhận tiền (COD, CAD)
o Rủi ro đối với nhà nhập khẩu: Việc thanh toán của ngân hàng cho nhàxuất khẩu chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việckiểm tra thực tế hàng hóa Ngân hàng chỉ kiểm tra tính hợp lệ bề ngoàicủa chứng từ Nếu nhà xuất khẩu chủ tâm gian lận, có thể xuất trình chứng
từ giả mạo cho ngân hàng chỉ định để thanh toán Như vậy sẽ không có sựđảm bảo nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hóa sẽ đúng như hợp đồng về
số lượng, chủng loại và không bị hư hỏng gì Trong trường hợp này, nhànhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho ngân hàng pháthành
o Rủi ro đối với nhà xuất khẩu: Một số đối tượng xấu giả danh làm bênnhập khẩu đã tìm cách vô hiệu hóa phương thức CAD bằng cách khi bênnhập khẩu không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, bên xuất khẩu khôngthể bán lô hàng cho đơn vị khác và cũng không thể tái xuất lô hàng rakhỏi nước nhập khẩu Kết quả thường thấy là bên xuất khẩu mất trắng lôhàng
- Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
o Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
Rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng mở L/C: Uy tín và khả năng tài chính của ngân hàng mở L/C không đảm bảo sẽ có khả năng thanh toán, người xuất khẩu
Trang 17có thể sẽ không nhận được tiền hoặc nếu có thì thời gian thu hồi chậm ảnh hưởng đến việc luân chuyển vốn, đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bộ chứng từ không phù hợp với L/C (về mặt nội dung và hình thức): Đây là rủi
ro do sai sót về mặt kĩ thuật Nếu bộ chứng từ không phù hợp với yêu cầu của L/C thì thì ngân hàng phát hành L/C sẽ từ chối thanh toán và như vậy người xuất khẩu sẽ không nhận được tiền Hơn nữa, nếu người nhập khẩu và ngân hàng mở L/C không có thiện chí thanh toán thì họ có thể lợi dụng những sai sót rất nhỏ của bộ chứng từ để từ chối thanh toán hoặc kéo dài thời gian thanh toán Trong trường hợp hàng hóa đã được xếp lên tàu và đang trên đường vận chuyển thì người xuất khẩu còn phải chịu thiệt hại do phải trả một loạt các chi phí như chi phí vận chuyển, cước lưu kho bãi, điện phí và các loại phí tổn khác, và cũng
có thể người nhập khẩu lợi dụng tình trạng đó để ép giá.
Hối phiếu xuất trình sau ngày hết hạn hiệu lực L/C sẽ bị từ chối thanh toán.
Ngoài ra trong một số trường hợp, người xuất khẩu không thực hiện được nghĩa
vụ của mình theo đúng quy định của L/C như: Giá trị hàng giao không khớp với giá trị trên L/C, giao hàng chậm, chuyên chở không đúng quy định, cơ cấu hàng hóa giao không đúng… thì cũng bị từ chối thanh toán.
o Đối với người nhập khẩu
Người nhập khẩu có thể không nhận được hàng trong trường hợp người xuất khẩu lập và xuất trình bộ chứng từ giả Người xuất khẩu có thể giao hàng không đúng quy cách, phẩm chất mà vẫn được thanh toán nếu bộ chứng từ không mâu thuẫn với L/C Ngược lại, người nhập khẩu vẫn phải thanh toán L/C với ngân hàng mà không nhận được hàng hóa theo đúng hợp đồng, vì theo UCP thì ngân hàng chỉ làm việc với bộ chứng từ mà không cần biết việc giao hàng thực tế có đúng với hợp đồng và bộ chứng từ hay không Tất nhiên các vi phạm hợp đồng sau đó có thể được giải quyết nhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, người nhập khẩu sẽ mất đi cơ hội kinh doanh và bị chiếm dụng vốn.
Người nhập khẩu cũng có thể gặp rủi ro từ người vận tải khi người vận tải không tin cậy có thể trốn mất cùng hàng hóa hoặc hàng hóa bị hư hại, hỏng hóc trong quá trình vận chuyển.
d) Rủi ro trong khâu làm thủ tục xuất nhập khẩu (xin giấy phép, làm thủ tục hảiquan…)
Doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro nếu việc xin giấy phép kéo dài quá lâu hoặc thủ tụchải quan bị ách tắc, gián đoạn, dẫn đến việc chậm thời hạn cung cấp hàng cho ngườimua hoặc mất tính thời vụ của hàng hoá Ví dụ như các container hàng tạm nhập táixuất sang Trung Quốc Tình trạng ứ đọng hàng trăm container tại các cửa khẩu do thủtục thông quan kéo dài và bên bạn hàng không xử lí nhanh khiến doanh nghiệp phảichịu thêm rất nhiều chi phí lưu kho, bảo quản hàng hóa…
e) Rủi ro trong khâu chuẩn bị hàng xuất khẩu, đặc biệt đối với các doanh nghiệpxuất khẩu nông, thuỷ sản
Phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng này đều phải thu gomhàng và điều kiện thanh toán thường là trả tiền trước Do đó, nếu doanh nghiệp khôngchủ động về vốn và thương lượng được giá mua hợp lý, nguy cơ không có hàng để xuấtkhẩu là rất lớn và rất dễ bị phạt theo hợp đồng ngoại thương Hơn nữa, nếu doanhnghiệp không đàm phán cẩn thận, chi tiết về khâu bảo quản, bao gói trước khi hàng hoá
Trang 18được xếp lên phương tiện vận tải, thì rủi ro hàng bị trả về hoặc giảm giá hàng bán làkhông thể tránh khỏi.
f) Rủi ro trong khâu thuê phương tiện vận tải, giao nhận hàng hoá
Đối với việc thuê tàu, doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro đắm, chìm tàu, hàng rơi xuốngbiển, đi chệch hướng… nếu thuê tàu già, không đủ khả năng đi biển, hãng vận chuyểnkhông có uy tín, thuỷ thủ đoàn không có năng lực, hoặc cước phí thấp dẫn đến việc xếphàng trên tàu không an toàn Ngoài ra, yếu tố thời tiết cũng có ảnh hưởng rất lớn đếnquá trình vận chuyển hàng hoá và thường xuyên là nguyên nhân gây ra rủi ro
Đối với việc giao nhận, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro nếu trọng tải tàu quá lớn
so với mớn nước cho phép tại cảng dỡ hàng hoặc nhận hàng, do đó sẽ phải kéo dài thờigian vận chuyển bằng các tàu, xà lan nhỏ, và như vậy chi phí cũng tăng lên tương ứng.Mặt khác, nếu doanh nghiệp không chủ động nắm vững thông tin về việc giao hàng vàkịp thời có chứng từ để nhận hàng, doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí lưu kho, bãi vàchậm tiến độ nhận hàng
g) Rủi ro trong khâu mua bảo hiểm
Doanh nghiệp có thể sẽ không được hưởng lợi từ hợp đồng bảo hiểm hoặc nếu
có, bảo hiểm không đủ giá trị và không hết rủi ro Nguyên nhân có thể do doanh nghiệp
đã không mua đủ giá trị với điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro, tổn thất Đó cũng có thể là
do chứng từ bảo hiểm xuất trình theo quy định của hợp đồng không đảm bảo đúngquyền lợi của người được hưởng bảo hiểm, không được chuyển giao quyền hưởng lợihoặc đã hết hạn bảo hiểm, tổn thất xảy ra trước khi hàng hoá được bảo hiểm
h) Rủi ro trong khâu lập chứng từ
Đây là một rủi ro rất dễ xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanhnghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu ký kết hợp đồng với điều kiện thanh toándựa trên chứng từ xuất trình phù hợp với thư tín dụng Trong quá trình lập chứng từ, cóthể sẽ có những sai sót chứng từ thực sự gây ảnh hưởng đến việc giao nhận chứng từ,nhưng có khi chỉ là những sai sót về mặt câu chữ hoặc thời hạn của chứng từ, nhưng tất
cả đều thể hiện trên bề mặt là không phù hợp với thư tín dụng, và như vậy doanh nghiệpđều rất dễ bị từ chối thanh toán Thậm chí, khi giá cả trên thị trường thế giới biến độngbất lợi, người mua sẽ vin vào bộ chứng từ sai biệt để từ chối cả lô hàng Thực tiễn chothấy, chứng từ do bên thứ ba lập là những chứng từ dễ gây sai biệt và ảnh hưởng đếnviệc giao nhận, thanh toán nhất
i) Rủi ro trong khâu kiểm tra, giám định hàng hoá
Doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro nếu đối tác câu kết với cơ quan giám định hàng hoá,cung cấp kết quả giám định sai khác so với thực tế Ngoài ra, đối với doanh nghiệp nhậpkhẩu, nếu chấp nhận kết quả giám định tại cảng đi có giá trị quyết định cuối cùng thì rủi
ro sẽ xảy ra khi hàng hoá tại cảng đến có trọng lượng, chất lượng hao hụt, sai biệt vớikết quả giám định nhưng doanh nghiệp không thể kiện đối tác Tương tự với doanh
Trang 19nghiệp xuất khẩu khi chấp nhận kết quả giám định tại cảng đến có giá trị quyết địnhcuối cùng.
1.1.2.7 Căn cứ vào đối tượng thực hiện hoạt động thương mại quốc tế (chỉ xét các
rủi ro đặc trưng, những rủi ro cả hai bên cùng gánh chịu đã được đề cập ở phíatrên)
a) Rủi ro từ phía Nhà Xuất khẩu
- Rủi ro tín dụng
Trong thương mại quốc tế, rủi ro lớn nhất của nhà xuất khẩu là hàng đã đi màkhông nhận được tiền Trong hầu hết các trường hợp - chủ yếu là do khoảngcách địa lý xa và môi trường ngoại lai liên quan - nhìn chung khó khăn chongười xuất khẩu là xác minh uy tín và danh tiếng của nhà nhập khẩu Nếukhông xác định được mức độ tin cậy của người mua nước ngoài thì sẽ cónguy cơ không nhận được tiền, thanh toán chậm hoặc thậm chí gian lận
Do đó, điều cần thiết là nhà xuất khẩu nên cố gắng xác định mức độ tin cậycủa nhà nhập khẩu Có rất nhiều công ty thương mại có thể hỗ trợ tín dụngkiểm tra các công ty nước ngoài Ngoài ra, nhà xuất khẩu nên nhấn mạnh (đặcbiệt nếu người mua nước ngoài giao dịch lần đầu) chọn một phương thứcthanh toán an toàn ví dụ như tín dụng chứng từ không hủy ngang
- Rủi ro chất lượng sản phẩm bị thay đổi
Nếu hàng hoá xuất khẩu không được kiểm tra trước khi được vận chuyển bởimột bên thứ ba độc lập, toàn bộ lô hàng có thể bị từ chối khi đến cơ sở củanhà nhập khẩu do chất lượng hàng hoá kém Một số nhà nhập khẩu gian lận
có thể làm điều này để gây áp lực cho một doanh nghiệp xuất khẩu và cốgắng đàm phán một mức giá thấp hơn Các nhà nhập khẩu có kinh nghiệm cóthể yêu cầu kiểm tra trước khi xuất hàng do một công ty kiểm tra độc lập(thường được thực hiện cho xuất khẩu sang các nước châu Phi khác) Nếukhông, có thể gợi ý cho nhà nhập khẩu trong giai đoạn đàm phán rằng việckiểm tra như vậy được thực hiện như một phần của hợp đồng Điều đó bảo vệ
cả nhà nhập khẩu lẫn nhà xuất khẩu
Một cách khác, một công ty chuyển phát nhanh quốc tế có thể vận chuyểnmột hoặc hai mẫu hàng hoá đến nhà nhập khẩu Nghiệp vụ nhỏ này sẽ đảmbảo rằng nếu nhà nhập khẩu chấp nhận chất lượng của hàng mẫu và (điều nàyrất quan trọng) lô hàng chính được sản xuất theo cùng một tiêu chuẩn, thì nhànhập khẩu sẽ có it lí do để từ chối lô hàng (trừ khi có tai nạn xảy ra trong quátrình vận chuyển)
Nhà nhập khẩu không phải lúc nào cũng có mặt tại thời điểm gửi hàng đểkiểm tra thực tế chất lượng hàng hoá Do đó, họ thường sử dụng các dịch vụ
Trang 20của một công ty kiểm tra độc lập Theo yêu cầu của nhà nhập khẩu hoặcchính phủ, khi những cuộc kiểm tra này được tiến hành, chi phí cho việc kiểmtra sẽ do người nhập khẩu chi trả hoặc có thể thương lượng chi phí đó baogồm trong giá hợp đồng.
- Rủi ro người mua không chấp nhận hàng đã tới bến
Khi hàng đã giao đến nơi và độc lập với các phương thức thanh toán, vẫn cóthể xảy ra các trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng đã tới bến màkhông phải do chất lượng hàng hóa kém Khi đó nhà nhập khẩu sẽ phải tốnthêm các chi phí lưu kho bãi trong thời gian chờ xử lí với bên nhập khẩu vàđặc biệt với các hàng cần bảo quản lạnh hoặc chế độ bảo quản đặc biệt, đây
sẽ là khoản chi phí không nhỏ với đơn vị xuất khẩu
b) Rủi ro từ phía Nhà Nhập khẩu
- Rủi ro trong giao nhận
Nếu như với nhà xuất khẩu, rủi ro lớn nhất là không nhận được tiền thì tương
tự với nhà nhập khẩu, rủi ro lớn nhất là tiền đã đi mà không nhận được hàng,hoặc nhận hàng chậm Điều này có thể ảnh hưởng tới toàn bộ kế hoạch kinhdoanh của nhà nhập khẩu, đặc biệt nếu hàng nhập khẩu là nguyên liệu thôhoặc nguyên liệu trung gian để sản xuất các sản phẩm khác
- Rủi ro về chất lượng hàng hóa
Việc phân tích rủi ro chất lượng thích hợp là rất quan trọng để người nhậpkhẩu đảm bảo rằng các sản phẩm cuối cùng cũng tốt như hàng mẫu được xemtrước (nếu có) Có những trường hợp hàng hoá không phù hợp với mẫu, chấtlượng không được quy định cụ thể, hoặc không đạt yêu cầu Để xử lý các tìnhhuống như vậy trong tương lai, nhà nhập khẩu phải có biện pháp bảo vệ cầnthiết Một phương pháp tốt nhất để tránh tình trạng như vậy là để điều tradanh tiếng và vị thế của nhà cung cấp Ngay cả trước khi nhận được sảnphẩm cuối cùng, kiểm tra có thể được thực hiện từ bên nhập khẩu hoặc bênxuất khẩu hoặc bởi một cơ quan thứ ba
Trong trường hợp thanh toán bằng Hối phiếu (với D/A), nhà nhập khẩu có thểkiểm tra hàng hoá trước khi thanh toán cho Nhà cung cấp vào ngày đáo hạn.Trong phương thức thanh toán này, nếu hàng hoá không phù hợp với hợpđồng mua hàng, nhà nhập khẩu có thể dừng thanh toán cho hối phiếu đã đượcchấp nhận trước ngày đáo hạn Các nhà nhập khẩu nên xem xét các biện pháp
có thể được thực hiện để đảm bảo rằng không có hành động pháp lý phátsinh Nếu nhà nhập khẩu có đại lý ở nước của Nhà cung cấp thì có thể giámsát chặt chẽ hơn để đảm bảo các lô hàng
1.1.3 Ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế
1.1.3.1 Đối với Nhà nước và các cấp quản lý
Trang 21Về bản chất, rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế là rủi ro xảy ra với từngdoanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu và để lại hậu quả về kinh tế, nhân lực, trí lực chobản thân doanh nghiệp đó Tuy nhiên, xét trên góc độ xã hội, nếu rủi ro xảy ra thườngxuyên, kéo dài sẽ có ảnh hưởng, tác động không tốt tới toàn bộ nền kinh tế của quốc gia
mà tại đó doanh nghiệp hoạt động
Thứ nhất, rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế sẽ góp phần làm suy giảm
năng lực cạnh tranh của quốc gia, giảm uy tín và mức độ hấp dẫn của quốc gia đó trongthương mại và đầu tư quốc tế Chẳng hạn như rủi ro pháp lý do hợp đồng ngoại thương
vô hiệu, điều khoản “trọng tài khuyết tật”, rủi ro do bị kiện bán phá giá, ngoài nhữngthiệt hại, tổn thất mà bản thân doanh nghiệp phải gánh chịu, sẽ là một căn cứ để các nhàđầu tư, đối tác nước ngoài đánh giá về năng lực, trình độ và tính chuyên nghiệp của hệthống doanh nghiệp nước đó
Thứ hai, rủi ro xuất khẩu hay nhập khẩu phát sinh cũng đồng nghĩa với việc lợi
nhuận của doanh nghiệp bị suy giảm hay triệt tiêu, và do đó, gián tiếp làm giảm nguồnthu ngân sách nhà nước từ thuế và tác động xấu tới cán cân thanh toán quốc tế của quốcgia đó Ví dụ, rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo sang Iraq nhưng do toàn bộ tàikhoản NOSTRO của Iraq tại Mỹ bị phong toả nên việc thanh toán bị kiểm soát chặt chẽ
và kéo dài, thậm chí bị ngưng trệ Kết quả là, doanh thu và lợi nhuận của các doanhnghiệp xuất khẩu đó cũng giảm mạnh và đóng góp của họ vào ngân sách nhà nước cũng
bị cắt giảm tương ứng và nguồn thu ngoại tệ của quốc gia đó bị thu hẹp lại
Thứ ba, việc các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế thường xuyên gặp
rủi ro, tổn thất, sẽ chính là một bằng chứng rõ ràng rằng môi trường kinh doanh và hỗtrợ kinh doanh của nước đó còn nhiều bất cập, chưa thực sự thông thoáng Đồng thời,đây cũng là một trong những cơ sở để khẳng định các cấp quản lý vĩ mô chưa thực sựphát huy vai trò quản lý, định hướng và hỗ trợ doanh nghiệp
1.1.3.2 Đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế
Rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi doanhnghiệp, không phân biệt đó là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay tưnhân, doanh nghiệp có thâm niên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại quốc
tế hay doanh nghiệp non trẻ mới vào nghề…
Hậu quả của rủi ro thật khôn lường, có thể hết sức trầm trọng, làm cho doanhnghiệp suy yếu, mất đi khả năng cạnh tranh, thậm chí dẫn đến sự phá sản của doanhnghiệp Rủi ro không chỉ mang lại những tổn thất về vật lực, tài lực, mà còn có thể gây
ra tổn thất về con người Nếu doanh nghiệp không kịp thời có biện pháp phòng tránh,hạn chế ngay khi rủi ro mới bắt đầu xảy ra, mà để rủi ro phát triển theo hệ thống thì sẽrất khó xử lý và tổn thất sẽ mang tính dây chuyền, ảnh hưởng tới mọi mặt hoạt động củadoanh nghiệp
1.1.4 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong thương mại quốc tế
Trang 22Khi nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu không biết nhau, hoạt động kinh doanh tạicác quốc gia khác nhau và mỗi quốc gia lại có hệ thống nguyên tắc và luật lệ riêng biệt,rủi ro thương mại quốc tế là điều không tránh khỏi Người cung ứng có thể không cungcấp đúng chủng loại sản phẩm, không giao hàng đúng thời gian, không giao đúng khốilượng đã thỏa thuận… Tương tự, nhà nhập khẩu có thể từ chối các hàng hóa bởi tiêuchuẩn chất lượng, có thể không thanh toán đúng như đã thỏa thuận và không đúng thờigian… Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, rủi ro thương mại quốc tế là rất nghiêm trọng
vì một doanh nghiệp vừa và nhỏ không trả được nợ hoặc từ chối xuất khẩu tài sản chomột doanh nghiệp nước ngoài có thể là cái chết của doanh nghiệp đó
1.1.4.1 Môi trường kinh tế – chính trị – xã hội còn bất cập, chưa ổn định
a) Vị thế, uy tín của Việt Nam trên thị trường kinh doanh quốc tế chưa thực sựđược khẳng định
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang từng bước vận hành theo cơ chếthị trường, các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế – xã hội còn thấp so với nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới Sau nhiều năm “bế quan toả cảng” do chiến tranh, Việt Nam
đã bước đầu thành công trong việc mở rộng và phát triển Thương mại quốc tế Nhưngphải thừa nhận một thực tế là cái tên “Việt Nam” chưa thực sự tạo lập được một vị thế
và tiềm lực mạnh mẽ trong mắt các “đối tác nước ngoài” khi quan hệ giao dịch với cácdoanh nghiệp Việt Nam
Đây thực sự là một nguyên nhân khách quan góp phần làm các doanh nghiệpViệt Nam mất điểm, mất tính chủ động trong đàm phán và sự “nể vì” của đối tác nướcngoài Trong đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương, nhiều đối tác nước ngoài có tâm
lý “coi thường”, cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam rất “non trẻ” về kinh nghiệmthương trường nên luôn tìm cách chèn ép, giành những điều kiện có lợi hơn về phíamình
Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập, những bất lợi này cũng đang dần đượckhắc phục Đối tác nước ngoài đã dần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ về Việt Nam vàdoanh nghiệp Việt Nam Thực tiễn giao dịch, kinh doanh đã chứng minh và từng bướckhẳng định năng lực và trình độ của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam
b) Môi trường chính trị còn nhiều thách thức, phức tạp
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộcnhóm các nước hàng đầu châu Á và thế giới, đời sống của các tầng lớp nhân dân đượccải thiện rõ rệt về mọi mặt Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ítthách thức, trong đó có vấn đề “Việc làm trong sạch bộ máy và thực hiện dân chủ chưađáp ứng yêu cầu của dân, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí đang rất phổ biến
và nghiêm trọng chưa bị đẩy lùi, …”
c) Môi trường kinh tế còn nhiều bất cập
Sự vận hành và tính đồng bộ của môi trường kinh tế có tác dụng quan trọng đốivới hoạt động thương mại quốc tế Môi trường kinh tế của Việt Nam được đánh giá cao
Trang 23cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ giành được thế chủ động trênthị trường, đồng thời các doanh nghiệp sẽ nhận được sự hỗ trợ công bằng, kịp thời vàtích cực hơn từ các cấp vĩ mô.
Cộng đồng quốc tế đang đòi hỏi và trông đợi Việt Nam có những cải cách mạnh
mẽ hơn để tự do hoá nền kinh tế Theo các chuyên gia nước ngoài phân tích, Việt Namhiện vẫn đang có sự can thiệp mạnh của Chính phủ vào nền kinh tế, thể hiện ở con sốđầu tư Nhà nước cao, các động thái khoanh nợ, giãn nợ của ngân hàng đối với doanhnghiệp nhà nước
d) Môi trường pháp lí chưa đồng bộ, nhất quán
Hệ thống văn bản pháp lý còn chồng chéo, bất cập
Theo điều tra về “Cảm nhận của Doanh nghiệp năm 2016” do Diễn đàn doanh
nghiệp Việt Nam thực hiện, các doanh nghiệp được phỏng vấn vẫn chưa hài lòng
với môi trường pháp lý và chính sách hiện tại, với điểm trung bình là 2,09 trênthang điểm tối đa là 4 Các đạo luật và quy chế hiện hành về doanh nghiệp vàhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã được soạn thảo bởi nhiều cơ quankhác nhau, trong những thời kỳ khác nhau và mang tính tình thế
Trong quá trình tập hợp văn bản pháp quy để luật hoá, cho thấy có nhiều văn bảntrong lĩnh vực kinh tế có dấu hiệu trái pháp luật Trong đó, văn bản có nội dungtrái với văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, sai thẩm quyền cần phải huỷ bỏ,bãi bỏ chiếm tỷ lệ từ 4-5%; không bảo đảm về căn cứ pháp lý trên 20%…
Việc vận dụng các văn bản luật và dưới luật vào hoạt động thương mại quốc tếcòn hạn chế, tuỳ tiện
Việc thực thi pháp luật là một khâu yếu nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Cũng trong điều tra nói trên của Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam, các doanh
nghiệp đã bày tỏ mức độ hài lòng với việc thực thi luật pháp chỉ ở mức điểmtrung bình là 1,85 trên thang điểm 4 Ví dụ, chế tài thực thi các quy định đảm bảohiệu lực hợp đồng của Việt Nam là một chế tài được coi là kém hiệu quả nhấttrong khu vực
Ngoài những nguyên nhân khách quan do hệ thống văn bản pháp luật về doanhnghiệp và hoạt động kinh doanh còn nhiều bất cập, bản thân các doanh nghiệpcũng còn rất nhiều hạn chế trong việc hiểu và áp dụng luật có liên quan đến hoạtđộng của doanh nghiệp mình (bao gồm cả hệ thống pháp luật trong nước và tạinước của đối tác kinh doanh) để xảy ra những rủi ro không đáng có Nguyênnhân của những sai sót về mặt luật pháp này là do:
o Có quá nhiều văn bản điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp và việc phổbiến các văn bản, quy định mới cũng như hướng dẫn thi hành chưa đầy
đủ, cập nhật
o Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn xem nhẹ việc tuân thủ pháp luật, tuythời gian hoạt động ngắn nhưng đã tham gia rất nhiều lĩnh vực kinh doanhđồng thời lại không có bộ phận quản lý rủi ro luật pháp, không sử dụng
Trang 24dịch vụ tư vấn luật pháp Do đó, đã xảy ra những rủi ro, thiệt hại khôngđáng có như hợp đồng vô hiệu ngay khi ký, hợp đồng không có điềukhoản trọng tài, chọn điều khoản về trọng tài mâu thuẫn…
o Khi tham gia vào thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp chưa quan tâmđến việc tìm hiểu luật pháp và tập quán kinh doanh nước sở tại Nhiều khi
có những ứng xử, hành động doanh nghiệp nghĩ là đúng nhưng trên thực
tế lại khác xa với phong tục tập quán và quy định của nước sở tại
e) Năng lực của các doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế còn hạn chế
Hạn chế về quy mô, công nghệ và vốn.
Phần đông các doanh nghiệp hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết,điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế Hơn nữa,doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn, đặcbiệt là doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàichủ yếu dựa vào vốn tự có Do đó, tình trạng phổ biến là chiếm dụng vốn lẫnnhau, làm lây nhiễm rủi ro giữa các doanh nghiệp
Công nghệ yếu kém cũng là một nguyên nhân cần phải chú ý Phần lớn cácdoanh nghiệp đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới
2-3 thế hệ, 80-90% là công nghệ ngoại nhập Theo đánh giá của Bộ Khoa học &
Công nghệ thì năng lực đổi mới công nghệ thuộc loại năng lực yếu nhất của các
doanh nghiệp Việt Nam Sự lạc hậu về công nghệ và kỹ thuật sẽ tạo ra chấtlượng giao dịch, sản phẩm thấp và không ổn định làm cho doanh nghiệp khókhăn trong việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh, hạn chế khả năng cạnh tranh vềgiá…
Năng lực về đàm phán, ký kết hợp đồng yếu, thiếu tính chủ động
Thực tế hiện nay là cả doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đềukhông tạo được thế chủ động trong đàm phán Nguyên nhân là:
Trình độ, kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ hạn chế Nhiều khi bản thân các cán bộtham gia đàm phán chưa thực sự nắm vững trình tự, quy trình giao dịch đối vớingành hàng, mặt hàng đang tham gia đàm phán và phụ thuộc vào bản mẫu do đốitác nước ngoài đưa ra Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp do chỉ quan tâm đến yếu tốgiá cả và thời hạn giao hàng mà bỏ qua các quy định khác về chứng từ, điều kiệnthanh toán
Trước khi đàm phán, không đầu tư tìm hiểu về đối tác và tập quán kinh doanhcủa nước đối tác Trong đàm phán, không đưa ra được những phương án dựphòng và khả năng quyết định tình huống chậm Nguyên nhân một phần cũng doviệc phân quyền, giao quyền chủ động của các doanh nghiệp Việt Nam còn rấthạn chế Nhiều cán bộ đàm phán không dám chủ động đưa ra phương án quyếtđịnh ngay tại bàn đàm phán nên đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh
Trang 25Năng lực thực hiện hợp đồng yếu, thiếu và chưa được coi trọng
Quá trình thực hiện hợp đồng sau khi ký kết bao gồm rất nhiều khâu như thanhtoán, làm thủ tục xuất nhập khẩu, chuẩn bị hàng, thuê phương tiện vận tải, giaonhận hàng hoá, mua bảo hiểm… Ngoài những rủi ro khách quan trong quá trìnhnày, năng lực nội tại của doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng là một nguyên nhânlớn
Nhiều cán bộ chưa thực sự cảm nhận và đánh giá được những rủi ro phát sinhtrong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu Nhiều trường hợp còn làmtheo thói quen đã có sẵn như chỉ mua bảo hiểm điều kiện C, 100% giá FOB đểgiảm bớt phí bảo hiểm, C/O đối với hàng nhập khẩu vẫn cho phép viết tay về nộidung trong khi Bộ Tài chính đã có văn bản quy định C/O không được phép viếttay, trừ chữ ký…
Năng lực thực hiện hợp đồng “yếu và thiếu” thể hiện ở:
Chuyên môn yếu Nếu người cán bộ ngoại thương không được trang bị đầy đủkiến thức chuyên môn về ngoại thương thì sẽ gây rủi ro, tổn thất lớn
Không chủ động tìm hiểu các quy định liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu
Số lượng nhân viên biết và giỏi nghiệp vụ trong từng doanh nghiệp là khôngnhiều, do đó, khi tập trung phần lớn nghiệp vụ xuất nhập khẩu vào một vài người
sẽ dẫn đến hiện tượng giảm sút chất lượng, quá tải và sai sót là không tránh khỏi
Yếu tố đạo đức nghề nghiệp nhiều khi bị xem nhẹ
Khả năng phân tích thị trường, phân tích ngành hàng và đối thủ cạnh tranh chậm, thiếu chính xác
Việc đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp nhiều lúc chưa hiệu quả, doanh nghiệpphải gánh chịu những rủi ro cả về tài chính và uy tín do thiếu thông tin về thịtrường, thông tin về chính sách và quy định của Nhà nước Trên thực tế, nhữngđòi hỏi cơ bản nhất định như tính chiến lược và kế hoạch kinh doanh dài hạn…nhiều doanh nghiệp còn thiếu Và một trong bằng chứng về rủi ro do không cókhả năng phân tích hoạt động kinh doanh chính là tâm lý thụ động, sợ rủi ro củacác doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế
Hoạt động xuất khẩu cà phê là một ví dụ Dù sản lượng nhiều nhưng cà phê ViệtNam vẫn luôn bị các doanh nghiệp nước ngoài ép giá với mức chênh lệch từ 50-
100 USD/tấn so với thị trường London Một phần là do chất lượng và nhất là dodoanh nghiệp chưa thể hạn chế rủi ro vì đứng ngoài “chợ” giao dịch quốc tế Hơn
10 năm qua doanh nghiệp vẫn định giá cà phê bằng việc dựa vào thông tin bánlại của hãng Reuters, trừ đi chi phí, quy ra tiền Việt theo tỷ giá hối đoái rồi đưa
ra mức giá mua bán tại địa phương trong khi doanh nghiệp cà phê thế giới chỉgiao dịch qua thị trường kỳ hạn lớn như LIFFE (London), NYMEX (New York)
Như đã biết, từ trước đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã thành công nhờcác yếu tố giá nhân công rẻ, sự hỗ trợ của chính phủ, thị trường còn chưa mởhết… nhưng đến nay, những lợi thế này đang mất dần Trong khi đó, khôngnhiều doanh nghiệp có thói quen thu thập thông tin và xử lý thông tin trước khi
Trang 26ra quyết định Việc thu thập thông tin về phía nước ngoài và đối tác là doanhnghiệp nước ngoài thường rất khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trong khi đó, các hệ thống thông tin do các cơ quan nhà nước thiết lập thườngkhông tới được và không đáp ứng đủ nhu cầu của các doanh nghiệp.
Công tác kiểm soát, phòng ngừa và xử lý rủi ro đã phát sinh chưa được coi trọng
và xây dựng thành chiến lược của mỗi doanh nghiệp.
Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp chưa phân tách bộ phận kiểm soát rủi
ro, có những doanh nghiệp chỉ quản lý rủi ro theo kinh nghiệm của Ban lãnh đạo
Hơn nữa, doanh nghiệp mới chỉ quan tâm đến quản lý rủi ro trước khi tác nghiệp,chưa đầu tư đầy đủ cho công tác kiểm soát rủi ro trong và sau tác nghiệp Do đó,đến khi rủi ro phát sinh rồi, doanh nghiệp sẽ mất rất nhiều thời gian trong việctìm biện pháp nào hữu hiệu để đối phó, thậm chí, nhiều doanh nghiệp nhỏ cònkhông biết phải giảm thiểu rủi ro như thế nào Điển hình như trong trường hợpcác doanh nghiệp bị kiện phá giá giầy, khi nghe tin bị EU kiện, nhiều doanhnghiệp hoang mang không biết tiếp tục hoạt động như thế nào, có nên chào hàngxuất khẩu tiếp tục không và chào với giá nào, và nếu phải theo kiện thì cầnnhững trình tự, thủ tục gì
1.1.4.2 Xuất nhập khẩu theo đường tiểu ngạch ở khu vực biên giới giáp Trung Quốc
Trung Quốc là đối tác thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế với Việt Nam lớn nhất hiện nay với thị trường nhập khẩu và đứng thứ ba với thị trường xuất khẩu sau Hoa Kì và EU Tình trạng xuất nhập khẩu tiểu ngạch với những rủi ro có thể kể tới điển hình là thành phố Lào Cai Với đường biên giới dài, từ nhiều năm nay, hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch ở Lào Cai diễn
ra khá tấp nập, góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản, từng bước cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm cho người dân khu vực biên giới Việt - Trung Tuy nhiên, hoạt động này đang nảy sinh một số bất cập, nhất là tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và buôn bán, vận chuyển các loại thực phẩm bẩn vào thị trường Việt Nam.
Quý I năm 2016, số thu nộp ngân sách đạt trên 217 tỷ đồng, bằng 84% socùng kỳ năm 2015 Hoạt động xuất nhập khẩu qua tiểu ngạch gần như bằngkhông, cho thấy nguồn thu từ xuất nhập khẩu tiểu ngạch tác động không đáng kểđến thu ngân sách từ các hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh Lào Cai, nhưng thực
tế lại cho thấy, hoạt động xuất nhập khẩu qua đường tiểu ngạch diễn ra rất sôi nổi
và những con số thống kê này chưa thể hiện rõ được điều đó
Những năm qua ở Lào Cai có không ít doanh nghiệp, cá nhân đăng ký tham giaxuất khẩu tiểu ngạch, do thủ tục đơn giản không như qua đường chính ngạch.Điều này tạo thuận lợi về thủ tục, nhưng hoạt động này thường gặp rủi ro, nhất là
ứ đọng về hàng hóa và các loại thực phẩm không đạt chất lượng vệ sinh an toànthực phẩm dễ dàng lọt qua biên giới, thẩm lậu vào Việt Nam
Từ tháng 9/2015, phía Trung Quốc đóng cửa cấm không cho nhập khẩu hàngđông lạnh dạng tạm nhập, tái xuất đã kéo theo hoạt động xuất khẩu các mặt hàngnông sản qua đường tiểu ngạch cũng bị ách tắc, gây thiệt hại không nhỏ cho sản
Trang 27xuất nông nghiệp Thời gian qua, các hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch ítnhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế của nhiều địa phương Tuy nhiên, dochính sách quản lý thương mại biên giới, mỗi khi phía Trung Quốc siết chặt hoạtđộng xuất nhập khẩu tiểu ngạch thì hàng hóa nông sản như gạo, sữa, dưa hấu lại ứ đọng không xuất được.
1.1.4.3 Sự phát triển của hệ thống công nghệ thông tin hiện đại dễ bị đánh cắp thông tin trên
Internet
Mạng toàn cầu Internet đã du nhập vào Việt Nam từ những thập niên 90 và đã trở thànhmột phương tiện vô cùng hữu ích để kết nối mọi người Internet là một hệ thống thôngtin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết vớinhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching)dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này baogồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu
và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu
Việc áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thương mại quốc tế là điều tất yếu,đặc biệt để tìm kiếm bạn hàng từ những nước khác nhau Tuy thuận lợi về thời gian,công sức và nguồn thông tin đa dạng, nhưng điều này lại không đi kèm tính xác thực vàbảo mật
Thứ nhất, việc tìm kiếm bạn hàng qua Internet khó xác minh các thông tin về đối tác,bởi ngay cả các thông tin trên website của họ cũng có thể làm giả mạo để thu hút sự chú
ý, dẫn đến việc các doanh nghiệp có thể bị lừa đảo vì tâm lí ham lợi nhuận cao và không
có nguồn chứng thực
Thứ hai, việc giao dịch qua thư điện tử (email) có thể bị tin tặc (hacker) theo dõi và tấn
công nhằm lừa đảo bên thanh toán gửi tiền vào một tài khoản giả mạo khác để lấy cắptiền hoặc lừa hàng của bên cung cấp Đã có rất nhiều trường hợp bị tấn công qua emailnhư trên và phải nhờ đến sự trợ giúp từ Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm Sử DụngCông Nghệ Cao C50
Trang 28CHƯƠNG II NHỮNG RỦI RO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐIỂN HÌNH CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
2.1.1 Xu thế, đặc điểm mới của hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.1.1 Các tổ chức kinh tế
Từ đầu những thập niên 90 trở lại đây, Việt Nam luôn tích cực hội nhập để tìmkiếm “ngoại lực” cho phát triển Những tổ chức kinh tế lớn mà Việt Nam đã và đang gianhập tới năm 2017 gồm có những tổ chức sau:
1 ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
Sau nhiều vòng đàm phán căng thẳng, ngày 28/7/1995, tại thủ đô Bandar SeriBegawan của đất nước Bruney tươi đẹp, trong tiếng Quốc ca hùng tráng, Quốc Kỳ ViệtNam đã tung bay phấp phới cùng cờ của 6 thành viên ASEAN khác, mở ra một trang sửmới của khu vực Việt Nam chính thức là thành viên thứ 7 của ASEAN
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, ngày nay ASEAN là tổ chức kinh tế có 10thành viên, quy mô dân số khoảng 600 triệu dân, tổng GDP đạt 6,6 nghìn tỷ USD chiếm6,1% GDP toàn cầu (tính theo PPP)
Các chuyên gia nhận định, sau khi hình thành cộng đồng kinh tế AEC, ASEAN
sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới và có thể “nhảy” lên vị trí thứ 4 thế giới vàonăm 2050
2 ASEM (Diễn đàn hợp tác kinh tế Á – Âu)
Trang 29Tháng 3/1996 Hội nghị các nguyên thủ các quốc gia về hợp tác Á – Âu diễn ratại Bangkok, Thái Lan, với sự tham gia của nguyên thủ 15 nước thuộc Liên minh Châu
Âu (EU) 10 nước Châu Á gồm Nhật Bản, Trung Quốc và bảy nước ASEAN là Brunei,Indonesia, Malaysia, Phillippine, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Sau hội nghịthượng đỉnh này, hợp tác Á – Âu chính thức ra đời, lấy tên của hội nghị đầu tiên làASEM
ASEM đã đóng vai trò quan trọng đối với quá trình hội nhập kinh tế của ViệtNam Thị trường ASEM đã và đang tạo nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam trong thu hútnguồn vốn FDI và gia tăng khối lượng thương mại với các đối tác trong ASEM Theo sốliệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối 2015, Việt Nam đã thu hút được 2.750
dự án đầu tư từ các thành viên ASEM, với tổng số vốn đăng ký 27,03 tỷ USD
Đến nay ASEM là diễn đàn kinh tế của 39 quốc gia, chiếm 50% GDP toàn cầu
và 40% dân số thế giới, vai trò và vị thế của ASEM trong lĩnh vực kinh tế ngày càngquan trọng, nhất là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Châu Á trong 20 năm trở lại đây
3 APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương)
Thành lập từ năm 1989, dẫn đầu là 3 nền kinh tế lớn Hoa Kỳ, Nhật Bản vàCanada, APEC nhanh chóng thể hiện được vai trò của mình trong nền kinh tế thế giới
Tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp táckinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đánh dấu bước đi quan trọng trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Việt Nam đã và đang khẳng định được vai trò của mình trong quá trình hợp tácvới các thành viên APEC thông qua việc đưa ra các sáng kiến mới thuộc ba trụ cộtchính của APEC về tự do hoá thương mại, đầu tư; thuận lợi hoá thương mại và hợp táckinh tế kỹ thuật
Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 29 sẽ được tổ chức năm 2017 tại Đà Nẵng, ViệtNam Đây là lần thứ hai Việt Nam tổ chức hội nghị này, lần đầu vào 2006 tại Hà Nội.Việc tổ chức thành công APEC năm 2006 là đỉnh cao, làm cho Việt Nam được nhìnnhận không chỉ ở tầm khu vực, mà đã chủ trì những sự kiện, giải quyết những vấn đề ởtầm liên khu vực với quy mô và tính chất phức tạp hơn nhiều
Ngày nay, APEC có 21 thành viên, đại diện cho khoảng khoảng 40% dân số thếgiới, đóng góp 54% GDP và 44% thương mại toàn cầu
4 WTO (Tổ chức thương mại thế giới)
Sau 11 năm đàm phán kể từ khi đệ đơn gia nhập năm 1995, ngày 7/11/2006WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva (Thụy Sĩ) để chính thứckết nạp Việt Nam vào WTO Nếu gia nhập ASEAN là bước khởi đầu cho thời kỳ hội
Trang 30nhập sau cấm vận thì việc được kết nạp vào WTO là sự khẳng định cho vai trò và vị trícủa Việt Nam trên trường quốc tế.
Gia nhập WTO là sự kiện kinh tế lớn chưa từng có ở Việt Nam, tác động sâurộng đến đời sống mọi người dân Sau khi gia nhập WTO kinh tế Việt nam bước vàothời kỳ tăng trưởng huy hoàng, tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2006đạt 8,23%, năm 2007 đạt 8,46%, năm 2008 đạt 6,31%
Đến nay WTO là tổ chức kinh tế lớn nhất trên thế giới với 160 thành viên, chỉ cómột số các quốc gia không gia nhập vì nhiều lý do khác nhau Tuy nhiên xét nhiều khíacạnh WTO vẫn là sân chơi quá tầm với Việt Nam, sau 10 năm gia nhập chúng ta vẫnchưa có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế
5 AEC (Cộng đồng kinh tế ASEAN)
Đặc biệt, ngày 22/11/2015, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố KualaLumpur chính thức thành lập Cộng đồng ASEAN, trong đó có Cộng đồng Kinh tếASEAN vào ngày 31/12/2015 Nếu được quản lý hiệu quả trong thập kỷ tới, AEC sẽthúc đẩy sự phát triển của các nền kinh tế trong khu vực thêm 7, 1% vào năm 2025,đồng thời tạo ra 14 triệu việc làm mới Tại Việt Nam, nơi tập trung một phần sáu laođộng của cả khu vực, điều này đồng nghĩa với tăng GDP thêm 14, 5% và sẽ có thêmhàng triệu việc làm mới, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cải thiện môitrường luật pháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài, cũng như làm cơ sở, tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuônkhổ hợp tác song phương và đa phương khác
2.1.1.2 Các hiệp định thương mại tự do FTA
Trên thực tế, giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong đàm phán
và ký kết các Hiệp định thương mại tự do mới với các đối tác Việt Nam đã ký kết, thựcthi, và đang đàm phán tổng cộng tới 16 các hiệp định thương mại tự do (FTA), theo báocáo của Chính phủ, trong đó đã ký kết và thực thi 10 FTA, kết thúc đàm phán 2 FTA, vàđang đang đàm phán 4 FTA khác
Trong 10 FTA đã ký kết và thực thi có 6 FTA ký kết với tư cách là thành viênASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn
Độ, Nhật Bản, Úc và New Zealand), 4 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập(Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á-Âu)
Hai FTA đã kết thúc đàm phán là FTA với Liên minh châu Âu, và Hiệp định Đốitác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Bốn FTA còn lại đang được đàm phán bao gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàndiện khu vực (RCEP), FTA ASEAN - Hồng Kông, FTA với Israel và FTA với Khốithương mại tự do châu Âu (EFTA) Đây là các FTA thế hệ mới với diện cam kết rộng
và mức cam kết sâu Ngoài cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, các