Kiến thức về lý do mắc các viêm nhiễm đường sinh dục dưới của đối tượng nghiên cứu .... Kiến thức về các tác nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới của đối tượng nghiên cứu.... Mối liên
TỔNG QUAN
Khái niệm về viêm nhiễm đường sinh dục dưới
Theo TCYTTG, viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSDD) bao gồm các loại viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục, trong đó có viêm nhiễm do bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) và các viêm nhiễm không lây qua quan hệ tình dục.
VNĐSDD là viêm nhiễm từ CTC trở xuống, bao gồm: viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm CTC [106]
VNĐSDD thường xảy ra sau sẩy thai, nạo phá thai, sinh đẻ hoặc do các nguyên nhân khác Nhiều tác nhân gây bệnh như nấm, trùng roi, vi khuẩn, virus và ký sinh trùng có thể dẫn đến tình trạng này, cùng với các yếu tố thuận lợi khác Biểu hiện viêm nhiễm trên lâm sàng sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại tác nhân gây bệnh.
Bệnh lý về viêm nhiễm đường sinh dục thường biểu hiện qua một hội chứng với các triệu chứng như ngứa, tiết dịch âm đạo, loét sùi, ra máu bất thường và đau bụng dưới Trong số đó, tiết dịch âm đạo là triệu chứng quan trọng và phổ biến nhất, có giá trị chẩn đoán cao cho các tác nhân gây bệnh khác nhau, dựa vào các yếu tố như mùi, màu sắc và số lượng, thay đổi tùy thuộc vào từng loại.
Theo TCYTTG, VNĐSDD được phân loại dựa trên bốn tiêu chí chính: (1) Cơ chế bệnh sinh, bao gồm nhiễm khuẩn nội sinh, nhiễm khuẩn do can thiệp y tế và nhiễm khuẩn LTQĐTD; (2) Vị trí tổn thương, với các tổn thương ở âm hộ, âm đạo và CTC; (3) Căn nguyên gây bệnh, phân loại theo vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng; và (4) Tế bào học, bao gồm viêm cấp và viêm mạn.
VNĐSDD có thể do nhiều tác nhân như vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh trùng Các tổn thương đặc hiệu có thể được chẩn đoán qua triệu chứng lâm sàng, chẳng hạn như viêm âm đạo do nấm hoặc Trichomonas Trong khi đó, tổn thương không đặc hiệu thường liên quan đến Gardnerella vaginalis và liên cầu tan huyết nhóm B.
D, trực khuẩn khi khám lâm sàng ta có thể không thấy rõ những biểu hiện lâm sàng đặc biệt do các vi khuẩn này gây nên [46]
Viêm âm hộ và âm đạo thường do các tác nhân như Candida, T vaginalis và Gardnerella vaginalis gây ra, trong khi viêm cổ tử cung (CTC) thường liên quan đến C.trachomatis và lậu cầu Vi rút Human papilloma cũng gây ra u nhú tại âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn và CTC Nấm âm hộ và âm đạo là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây viêm âm đạo, chỉ sau viêm âm đạo do vi khuẩn Tóm tắt các tác nhân gây bệnh viêm nhiễm đường sinh dục được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 1.1 Căn nguyên của các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới [106]
Căn nguyên Bệnh/hội chứng
Viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn, viêm cổ tử cung, viêm vòi trứng, viêm khớp cấp, viêm trực tràng, viêm kết mạc.
Viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn - viêm cổ tử cung, viêm vòi trứng, viêm âm đạo, viêm kết mạc, mắt hột, viêm phổi.
Mycoplasma hominis Viêm âm đạo, viêm niệu đạo (ở nam giới)
Ureaplasma urealyticum Viêm âm đạo, viêm vòi trứng, viêm niệu đạo.
Căn nguyên Bệnh/hội chứng
Streptococcus agalasctiae Viêm âm đạo - viêm niệu đạo.
(HSV) Viêm da, niêm mạc, đường sinh dục
Ung thư cổ tử cung, ung thư bộ phận sinh dục và sùi mào gà
Molluscum contagiosum virus (MCV) Viêm da, màng nhầy, gây nên mụn cóc nước
Candida albicans Viêm âm đạo, viêm niệu đạo không đặc hiệu, viêm qui đầu và bao qui đầu
Trichomonas vaginalis Viêm bao qui đầu, viêm âm đạo, niệu đạo, âm hộ.
1.1.3 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý bộ phận sinh dục dưới và cơ chế bệnh sinh Âm hộ được cấu tạo gồm phần da ở ngoài và phần niêm mạc ở trong Phía trong, hai bên âm hộ có tuyến Bartholin và ở hai bên lỗ niệu đạo có tuyến Skene Do đó, ngoài bệnh lý của da, ở âm hộ còn có bệnh lý của các tuyến và niêm mạc âm hộ, đặc biệt là các bệnh có liên quan đến quan hệ tình dục Âm đạo là nơi tiếp xúc trực tiếp khi quan hệ tình dục, là phần cuối của đường sinh sản và là nơi dẫn kinh nguyệt từ buồng tử cung ra ngoài Viêm nhiễm ở âm đạo có liên quan đến sự thay đổi của môi trường âm đạo và các tổn thương do sinh đẻ hay các thủ thuật y tế khác
Dịch âm đạo bình thường có màu trắng, hơi quánh, bao gồm tế bào âm đạo bong ra, chất tiết từ các tuyến như vùng tiền đình, tuyến Skene, tuyến Bartholin và dịch nhầy từ cổ tử cung Trong dịch âm đạo có vi khuẩn, chủ yếu là trực khuẩn Doderlein, và dịch tiết sinh lý không có mùi, không có bạch cầu đa nhân, không cần điều trị Tuy nhiên, khi có viêm nhiễm, lượng dịch tiết tăng lên gây khó chịu cho phụ nữ, được gọi là khí hư.
Niêm mạc âm đạo có khả năng tự bảo vệ chống lại nhiễm trùng nhờ vào môi trường acid của âm đạo Độ pH của âm đạo được duy trì ổn định nhờ sự hiện diện của trực khuẩn.
Trực khuẩn Doderlein có mặt tự nhiên trong âm đạo, sử dụng glycogen từ tế bào biểu mô để sản xuất a xít lactic, tạo ra môi trường axit cho âm đạo Khi độ pH của âm đạo thay đổi hoặc trong những điều kiện thuận lợi, các vi sinh vật bình thường có thể trở thành tác nhân gây bệnh.
Sự thay đổi pH có thể tóm tắt tại bảng sau:
Bảng 1.2 Sự thay đổi của pH âm đạo [ 2] pH âm đạo
Trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường ở tuổi hoạt động tình dục
Hệ vi sinh vật âm đạo rất đa dạng, với trực khuẩn Doderlein chiếm từ 50 đến 88% Chúng có vai trò quan trọng trong việc ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh khác bằng cách duy trì độ pH axit của môi trường âm đạo Ở phụ nữ khỏe mạnh, hệ vi sinh vật này thường ở trạng thái cân bằng Tuy nhiên, khi sự cân bằng này bị phá vỡ, có thể dẫn đến viêm nhiễm âm đạo.
Việc điều trị bằng kháng sinh, corticosteroids, thuốc diệt nấm, thuốc diệt virus, tia xạ, và thụt rửa âm đạo không hợp vệ sinh, cùng với các bệnh mạn tính như tiểu đường, giảm miễn dịch, khối u âm đạo, và các rối loạn nội tiết, cũng như việc sử dụng biện pháp tránh thai, có thể làm thay đổi môi trường âm đạo, từ đó làm tăng nguy cơ mắc viêm nhiễm đường sinh dục.
CTC có cấu trúc biểu mô lát tầng bên ngoài và biểu mô tuyến bên trong, do đó bệnh lý ở CTC tương tự như ở âm đạo và nội mạc tử cung Ống CTC là nơi trú ẩn của vi khuẩn lậu, đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát nhiều trường hợp viêm đường sinh dục.
Tổng hợp tỷ lệ một số vi khuẩn có thể có trong âm đạo được trình bày tại bảng dưới đây:
Bảng 1.3 Tỷ lệ vi khuẩn có trong âm đạo [ 31]
Vi khuẩn Tỷ lệ % Vi khuẩn Tỷ lệ %
Trực khuẩn gram dương ái khí
Trực khuẩn gram dương kỵ khí
Cầu khuẩn gram dương ái khí
Trực khuẩn gram âm kỵ khí
Trực khuẩn gram âm ái khí
VNĐSDD chủ yếu được lây truyền từ người này sang người khác theo phương thức quan hệ tình dục không an toàn hoặc không giữ vệ sinh cá nhân
Sự lây truyền VNĐSDD còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh học và các hành vi khác [22], [28], [109]
1.1.5 Các viêm nhiễm đường sinh dục dưới
Viêm âm hộ đơn thuần và tiên phát thường hiếm gặp, thường là hệ quả của viêm âm đạo gây ra khí hư chảy xuống, dính vào âm hộ Tình trạng này dẫn đến ngứa ngáy, gãi nhiều gây trầy xước và bội nhiễm, làm âm hộ xung huyết, viêm tấy đỏ, ngứa, thậm chí có thể lở loét, sùi Nguyên nhân chủ yếu do nấm, trùng roi, vi khuẩn không đặc hiệu và lậu.
1.1.5.2 Viêm âm hộ-âm đạo do Candida albicans
Hầu hết trường hợp nấm âm hộ, âm đạo là do nhiễm Candida albicans
Triệu chứng của nhiễm nấm âm hộ, âm đạo bao gồm ngứa, đỏ âm hộ, đau khi quan hệ tình dục, và ra khí hư như bột, thường tăng nhiều trước kỳ kinh Người bệnh có thể gặp khó khăn khi tiểu tiện và cảm giác nóng rát trong âm đạo Khám lâm sàng cho thấy âm hộ, âm đạo viêm đỏ, có khí hư trắng, niêm mạc âm đạo dễ chảy máu Chẩn đoán dựa vào dấu hiệu lâm sàng, soi tươi khí hư để phát hiện sợi tơ nấm hoặc bào tử nấm, với pH < 4,5 Cấy nấm được thực hiện trong trường hợp nhiễm nấm tái phát hoặc triệu chứng không rõ ràng, giúp hỗ trợ quá trình điều trị hiệu quả.
1.1.5.3 Viêm âm đạo do vi khuẩn
Một số yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới
Nghiên cứu các yếu tố và mối liên quan đến VNĐSDD trong từng cộng đồng là rất quan trọng để can thiệp hiệu quả, từ đó giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.
1.2.1 Nhóm yếu tố đặc trưng cá nhân
Tuổi vị thành niên là một yếu tố nguy cơ quan trọng của VNĐSDD, đặc biệt ở những người đã có hoạt động tình dục và sử dụng rượu hoặc ma túy Những vị thành niên trẻ tuổi có nguy cơ mắc VNĐSDD cao hơn so với những người lớn tuổi hơn Sự thiếu hiểu biết về cách phòng ngừa bệnh và các yếu tố nguy cơ, cùng với sự phát triển chưa hoàn thiện của đường sinh dục, làm tăng khả năng tổn thương trong quan hệ tình dục, tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh xâm nhập Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo cần giám sát thường xuyên VNĐSDD ở người trẻ tuổi để chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, từ đó giảm tỷ lệ mắc VNĐSDD trong cộng đồng.
Nghiên cứu của Bệnh viện Da liễu Trung ương tại 5 tỉnh Việt Nam cho thấy phụ nữ từ 20 tuổi trở lên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với những người dưới 19 tuổi Đặc biệt, phụ nữ trong độ tuổi 40-49 có tỷ lệ mắc bệnh do Trichomonas vaginalis cao gấp 5-8 lần so với nhóm dưới 19 tuổi Ngoài ra, phụ nữ từ 20-39 tuổi cũng có tỷ lệ nhiễm Candida, viêm âm đạo và viêm cổ tử cung cao hơn các nhóm tuổi khác Nguyên nhân có thể do phụ nữ ở độ tuổi cao hơn thường có quan hệ tình dục thường xuyên hơn, cùng với tình trạng vệ sinh cá nhân cũng góp phần làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh này.
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Ánh (2010, tại Hà Nội) cho thấy có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi 18-39 và nhóm tuổi từ 40-49 với nhiễm
Candida Tỉ lệ nhiễm nấm có nguy cơ cao ở nhóm trên 39 tuổi [1]
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn khác nhau giữa các nhóm tuổi.
Trichomnas vaginalis tăng lên theo tuổi Viêm CTC cao nhất trong nhóm tuổi 25-
34 Viêm nhiễm tiểu khung cao nhất trong nhóm tuổi 35-44 tuổi Viêm âm đạo do vi khuẩn không đặc hiệu cao nhất ở nhóm 45-55 tuổi [21], [36], [63], [88]
Một nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy mối liên quan giữa tuổi tác và tỷ lệ mắc VNĐSDD Nhóm tuổi 30-39 có tỷ lệ mắc cao nhất với 13,9%, tiếp theo là nhóm 20-29 với 9,1% So với nhóm dưới 20 tuổi, tỷ lệ VNĐSDD ở nhóm 30-39 cao gấp 16,2 lần, nhóm 20-29 gấp 10,7 lần, và nhóm trên 40 tuổi gấp 9,1 lần.
Một nghiên cứu tại Hà Nội vào năm 2010 cho thấy tỷ lệ nhiễm virus viêm gan D (VNĐSDD) chủ yếu tập trung ở nhóm lao động trẻ, đặc biệt là ở độ tuổi 20-29, với tỷ lệ cao nhất thuộc về nhóm 20-24 tuổi.
Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh lậu cao nhất ở nhóm tuổi 21-30 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Hà Nội năm 2012, cho thấy viêm âm đạo do vi khuẩn và Trichomnas vaginalis gia tăng theo độ tuổi Viêm cổ tử cung cao nhất ở nhóm tuổi 25-34, trong khi viêm nhiễm tiểu khung cao nhất ở nhóm tuổi 35-44 Đặc biệt, viêm âm đạo do vi khuẩn không đặc hiệu cao nhất ở nhóm tuổi 45-55.
Nghiên cứu tại khu vực nông thôn chỉ ra rằng nhóm trung niên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nhóm trẻ tuổi và người cao tuổi Cụ thể, tỷ lệ VNĐSDD ở phụ nữ từ 26-45 tuổi dao động từ 50% đến 66%, trong khi tỷ lệ này ở phụ nữ từ 19-25 tuổi và trên 45 tuổi chỉ khoảng 33%.
Một nghiên cứu ở phụ nữ trong quân đội năm 2013 cho thấy tỷ lệ mắc VNĐSDD cao nhất ở độ tuổi 30-39 (chiếm 53,2%), tiếp theo là nhóm tuổi 40-
Nhóm tuổi từ 25-39 có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn âm đạo cao nhất, với 49% (chiếm 50,9%) thuộc nhóm tuổi ≥ 50 và