1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO

122 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D) phù hợp với các quy định của WTO
Tác giả Viện Nghiên cứu Cơ khí
Người hướng dẫn TS. Đào Duy Trung
Trường học Học viện Công Thương
Chuyên ngành Khoa học và Công nghệ
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 6,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

73 Chương 4 - Đề xuất cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí và hướng, phương án đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển R & D phù hợp với quy định

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Kí hiệu: 259- 08RD/HĐ-KHCN

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Cơ khí

Chủ nhiệm đề tài: TS Đào Duy Trung

7329

04/5/2009

Hà Nội – 12/2008

Trang 2

VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Kí hiệu: 259- 08RD/HĐ-KHCN

Viện Nghiên cứu Cơ khí Chủ nhiệm Đề tài

TS Đào Duy Trung

Hà Nội – 12/2008

Trang 3

Thành viên tham gia đề tài

Mục lục 1

Chương 1 - Tổng quan và cơ sở các vấn đề nghiên cứu 9

1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 9

1.1.1 Ngoài nước về đầu tư khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ 9 1.1.1.1 Nhật Bản 9

1.1.1.2 Hàn Quốc 10

1.1.1.3 Trung Quốc 17

1.1.1.4 Một số nước Châu Âu 21

1.1.2 Trong nước về đầu tư khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ 23 1.1.2.1 Khoa học công nghệ và nghiên cứu phát triển 23

1.1.2.2 Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí 28

1.2 Kết luận Chương 1 31

Chương 2 - Thực trạng năng lực và đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành công nghiệp cơ khí chế tạo đến 2007

32 2.1 Mục tiêu cần đạt được đến năm 2010 và 2020 ngành cơ khí và thực trạng cơ chế chính sách 32

2.1.1 Mục tiêu cần đạt được đến năm 2010 và 2020 của ngành cơ khí trước khi gia nhập WTO 32

2.1.2 Thực trạng cơ chế chính sách 33

2.1.2.1 Đối với ngành cơ khí chế tạo trước khi gia nhập WTO 33

2.1.2.2 Đối với ngành cơ khí chế tạo sau khi gia nhập WTO 34

2.2 Thực trạng trình độ công nghệ ngành cơ khí chế tạo chung trước khi gia nhập WTO 35

2.3.Thực trạng chung về đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ trước khi gia nhập WTO

Trang 4

ngành cơ khí chế tạo trước và sau khi gia nhập WTO 38

2.4.1.Thực trạng huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ 39

2.4.2 Đánh giá và nhận xét chung 48

2.4.2.1 Đánh giá chung 48

2.4.2.2 Những nhân tố khách quan về cơ chế, chính sách tác động tới hoạt động của ngành 52

2.4.2.3 Đánh giá tốc độ tăng trưởng, hiệu quả tăng trưởng, hiệu quả sử dụng vốn của ngành 53

2.4.2.4 Một số hạn chế và nguyên nhân 54

2.5 Kết luận Chương 2 54

Chương 3 - Thực trạng đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R & D)

55 3.1 Thực trạng cơ chế chính sách hiện nay của nhà nước cho khoa học công nghệ và nghiên cứu phát triển 55

3.1.1 Cơ chế chính sách cho Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ và các Tổ chức nghiên cứu phát triển trước khi gia nhập WTO 55

3.1.1.1Nguồn kinh phí 56

3.1.1.2.Chính sách ưu đãi 56

3.1.2 Cơ chế chính sách cho Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ và các Tổ chức nghiên cứu phát triển sau khi gia nhập WTO 56

3.2 Hiện trạng các hoạt động khoa học và nghiên cứu phát triển 58

3.2.1 Hiện trạng hoạt động khoa học công nghệ 58

3.2.2 Thực trạng đầu tư nghiên cứu phát triển RD ngành cơ khí chế tạo (vốn đầu tư trang thiết bị công nghệ, nhà xưởng, nhân lực, ) đến 2008 61

3.2.2.1 Thực trạng đầu tư cho Chưong trình Khoa học và phát triển Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước về cơ khí chế tạo máy KC-05

61 3.2.2.2 Thực hiện các dự án KHCN quy mô lớn có liên quan đến ngành Cơ khí chế tạo 63

Trang 5

3.2.2.3.1 Thực trạng đầu tư chung trước và sau khi gia nhập WTO 64

3.2.2.3.2 Nhận xét đánh giá chung hoạt động các Viện RD 71

3.3 Kết luận Chương 3 73

Chương 4 - Đề xuất cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí và hướng, phương án đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển (R & D) phù hợp với quy định của WTO 74

4.1 Các nội dung chính và ảnh hưởng quy định của WTO đến phát triển nền kinh tế (các thuận lợi, thách thức,… khi gia nhập) 74

4.1.1 Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO 74

4.1.1.1 Cơ hội 74

4.1.1.2 Thách thức 77

4.1.2 Các nội dung chính của quy định WTO liên quan đến vấn đề nghiên cứu 80

4.1.2.1 Những cam kết liên quan đến bảo hộ và trợ cấp 81

4.1.2.2 Những cam kết khác 89

4.2 Đề xuất định hướng đầu tư và cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí chế tạo thời gian tới 95

4.2.1 Các định hướng đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí chế tạo các thiết bị và dây chuyền thiết bị công nghiệp thời gian tới 95

4.2.1.1 Định hướng đầu tư về phát triển lực lượng tư vấn 95

4.2.1.2 Định hướng đầu tư phát triển cơ sở sản xuất nguyên liệu 96

4.2.1.3 Định hướng đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất các thiết bị tiêu chuẩn 96

4.2.1.4 Định hướng đầu tư tự động hoá 97

4.2.1.5 Định hướng về đầu tư chung 97

4.2.2 Cơ chế và chính sách huy động vốn 98

4.2.2.1 Các vấn đề chung 98

4.2.2.2 Một số chính sách và cơ chế cụ thể 100

Trang 6

4.3.1 Phương án và hướng đầu tư chung 102

4.3.2 Phương án và hướng đầu tư cụ thể, trước mắt 103

Kết luận chung 106

Tài liệu tham khảo 108

Các phụ lục: Phụ lục 1: (in cùng Báo cáo Tổng kết chung) - Hợp đồng Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; - Biểu mẫu điều tra khảo sát các Viện nghiên cứu phát triển và các doanh nghiệp chế tạo cơ khí 111

Phụ lục 2: (in cùng Báo cáo Tổng kết chung)

- Phụ lục 2.1: Các số liệu về giá trị sản xuất, cơ cấu, chỉ số phát triển, công nghiệp cơ khí cả nước từ năm 2002 đến 2007 và dự báo năm 2008

120

- Phụ lục 2.2: Trình độ công nghệ máy móc, thiết bị các doanh

nghiệp theo Ngành và theo Địa phương

- Phụ lục 2.3: Biên bản nghiệm thu cấp cơ sở Đề tài

128

Phụ lục 3: Các số liệu tình hình đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị các

doanh nghiệp chế tạo cơ khí chính ( 163 A4, in kèm Báo cáo Tổng kết

chung)

Trang 7

1 Sự cần thiết và xuất xứ đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, đầu

tư chiều sâu, đổi mới công nghệ đã và đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mọi nước nói chung, doanh nghiệp Việt Nam nói riêng

Mặt khác việc đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho các ngành kinh

tế, cũng như ngành công nghiệp nói chung và cơ khí nói riêng cũng rất quan trọng, mang lại ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế, đáp ứng khả năng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia có hiệu quả vào tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh WTO

Trong những năm đổi mới vừa qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng vươn lên, mạnh dạn bỏ vốn đầu tư đổi mới công nghệ, từng bước làm chủ công nghệ nhập ngoại, từ đó đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao cả ở thị trường trong nước và quốc tế Tuy nhiên, trình độ công nghệ của Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn rất thấp so với mức trung bình của khu vực và quốc tế; nhiều doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm tới đầu tư đổi mới công nghệ, dẫn đến đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trung bình chỉ ở mức 0,3% doanh thu so với mức 5% của Ấn độ, 10% của Hàn Quốc

Cùng với việc đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho các ngành kinh

tế, đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R-D) hiện nay trên thế giới và tại Việt

Nam được xem là một biện pháp rất quan trọng để phát triển kinh tế có hiệu quả, có sức cạnh tranh lớn, là động lực phát triển của đất nước, được hầu hết các quốc gia, kể cả các nước phát triển và đặc biệt là các đang nước phát triển như Việt Nam lưu tâm và triển khai thực hiện theo những lộ trình hợp lý Để phát triển kinh tế thành công thì việc đầu tiên là cần đầu tư cho nghiên cứu phát triển, từ khoa học xã hội, khoa học cơ bản đến khoa học công nghệ

Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải là chủ thể chính quyết định việc đầu tư đổi mới công nghệ Tức là, quyết định đầu tư đổi mới công nghệ phải được xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp để nhằm tồn tại và phát triển Nhà nước không thể thay doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư cũng như không thể hỗ trợ trực tiếp vốn cho doanh nghiệp cho mục đích này

Trang 8

động các nguồn vốn khác nhau trong nước hoặc nước ngoài Bên cạnh đó, Nhà nước có thể hỗ trợ gián tiếp các doanh nghiệp thông qua đầu tư vào cơ sở

hạ tầng (cả phần cứng và phần mềm) để tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện các dự án đầu tư đổi mới công nghệ Tuy nhiên, chính sách của Nhà nước cũng cần phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới liên quan tới các biện pháp tài trợ cho doanh nghiệp

Việc cho nghiên cứu đề tài trên thực hiện trong ngành cơ khí là cần thiết, có ý nghĩa định hướng chiến lược đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp, định hướng đầu tư của nhà nước cũng như của chính các tổ chức khoa học công nghệ, các doanh nghiệp cho nghiên cứu phát triển đối với các tổ chức này trong lĩnh vực cơ khí

3 Mục tiêu nghiên cứu

Cùng với các chính sách, cơ chế đồng bộ đã được Nhà nước, Bộ/Ngành ban hành còn hiệu lực, mục đích chính của đề tài là nghiên cứu đề xuất hướng,

cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ của nhà nước cho ngành cơ khí, nghiên cứu đề xuất hướng và phương án đầu tư của nhà nước cho việc nghiên cứu phát triển (R-D) phù hợp với các quy định của WTO Nội dung của đề tài là đưa ra cơ sở và tổng quan kinh nghiệm quốc tế và trong nước các vấn đề có liên quan, thực trạng đầu tư đổi mới công nghệ ngành cơ khí trong nước và thực trạng đầu tư cho các tổ chức nghiên cứu phát triển Xuất phát từ các quy định của WTO, từ thực trạng cơ chế chính sách hiện thời và mục tiêu cần đạt được của ngành Cơ khí đã được Chính phủ phê duyệt, đề tài trình bày các hình thức, cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí, nghiên cứu đề xuất hướng và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển (R-D) phù hợp với các quy định của WTO

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Do vấn đề đặt ra rộng, đó là việc “Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động

vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D) phù hợp với các quy định của WTO”,

do vậy việc đánh giá thực trạng đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành

cơ khí chỉ tập trung thực hiện cho một số ngành cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ

đại diện chính, như: cơ khí chế tạo các thiết bị cho ngành xi măng, nhiệt điện,

Trang 9

là một số Viện R-D chuyên ngành cơ khí và có liên quan trực tiếp đến cơ khí, vì các Viện này đang có chính sách chuyển đổi mô hình hoạt động kinh tế theo Quy định của Chính phủ

Trên cơ sở đó, sẽ nghiên cứu đề xuất định hướng đầu tư*), cơ chế chính

sách huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ chủ yếu của Nhà nước

cho ngành cơ khí chế tạo và phương án đầu tư của Nhà nước cho việc nghiên cứu và phát triển của các Viện R-D nói chung và Cơ khí nói riêng phù hợp với

các quy định của WTO

*) Cho một số ngành cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ chính (không đề cập đến ngành máy công cụ, ôtô, tàu thuỷ)

4 Nội dung nghiên cứu

Đặt vấn đề và phạm vi nghiên cứu

Chương 1 - Tổng quan và cơ sở chung các vấn đề nghiên cứu

Chương 2 - Thực trạng năng lực và đầu tư, đổi mới công nghệ ngành công

nghiệp cơ khí chế tạo đến 2007

Chương 3 - Thực trạng đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R & D)

Chương 4 - Đề xuất định hướng, cơ chế chính sách huy động vốn đầu tư chiều

sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển (R & D) phù hợp với quy định của WTO

Trang 10

Nhóm đề tài xin chân thành cám ơn Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ

Công Thương, Viện Nghiên cứu Cơ khí, các Tập đoàn, Tổng Công ty và một

số nhà máy chế tạo cơ khí trong cả nước, các Viện nghiên cứu phát triển về cơ

khí của nhiều Bộ/Ngành, các cơ sở có liên quan, các cộng tác viên của đề tài

đã hợp tác đã cùng tham gia thực hiện, cung cấp các số liệu dữ liệu cần thiết,

giúp đỡ hoàn thành công việc

Nhóm đề tài

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Trong chương này, đề tài sẽ trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu

trong và ngoài nước làm cơ sở chung cho các nghiên cứu, đánh giá được trình bày ở các phần sau Các tổng quan và cơ sở này được viết trên cơ sở các thông tin, các nguồn tư liệu thu thập mới nhất trong và ngoài nước khi tiến hành thực hiện đề tài

1.1.1 Ngoài nước về đầu tư khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ

1.1.1.1 Nhật Bản [13], [25], [26]

Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ CSTP (Council for Sience and Technology Policy) Nhật Bản được thành lập năm 2001 để thúc đầy điều phối các chính sách của Chính phủ trong lĩnh vực này Thủ tướng Chính phủ

là Chủ tịch Hội đồng cùng với sự hỗ trợ của một Ban Thư ký là các thành viên trong văn phòng nội các Hoạt động chính của Hội đồng chủ yếu là đánh giá các đề xuất về ngân sách cho các dự án khoa học công nghệ (KHCN) Những dự án mới có ngân sách trên 100 triệu yên (0,8 triệu đô la Mỹ) và các

dự án đang thực hiện có ngân sách trên 1 tỷ yên (8,5 triệu đô la Mỹ) được phân thành 4 nhóm theo thứ tự ưu tiên do Hội đồng đề ra

Bất chấp tầm quan trọng của chính sách KH & CN trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các hoạt động của Hội đồng CSTP Nhật Bản trước đây chỉ giới hạn hoàn toàn trong các vấn đề khoa học mà ít chú ý đến tác động kinh tế của việc đổi mới công nghệ và điều kiện cần thiết để hỗ trợ các hoạt động này, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ Ví dụ, cho đến nay nhóm chuyên gia được thành lập đã nhấn mạnh đến tác động toàn cảnh của việc đổi mới công nghệ đến tăng trưởng kinh tế hoặc mối liên hệ với các chính sách kinh tế phản ánh một phần sự thực là chỉ có một số ít các nhà kinh tế tham gia vào nhóm chuyên gia của Hội đồng CSTP Nhật Bản Thêm vào đó, Hội đồng CSTP Nhật Bản cần có thêm quyền hạn để cải tiến điều kiện cơ cấu tổ chức trong việc thực thi đổi mới Ví dụ các Bộ Ngành đã không thực thi một cách đầy đủ những đề xuất cụ thể của Hội đồng để cải tiến hệ thống R & D, một phần thông qua các biện pháp tăng số lượng các công ty R & D, các dự án và huy động các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, gần đây Hội đồng CSTP Nhật Bản đóng một vai trò tích cực hơn liên quan đến các chính sách kinh tế Ví dụ,

trong chiến lược tổng thể sáng tạo đổi mới (tháng 6/2006) Hội đồng CSTP

Trang 12

Nhật Bản đã có những đề xuất cụ thể để cải tiến hệ thống R & D bao gồm cả các biện pháp khuyến khích hợp tác nghiên cứu KH & CN chặt chẽ

Ở Nhật Bản những năm gần đây, chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư mạo hiểm được khuyến khích và thực thi rất mạnh mẽ và cũng thu được nhiều kết quả rất khả quan Cụ thể như sau

Ngành kinh doanh đầu tư mạo hiểm đóng một vai trò quan trọng và ngày càng phát triển trong việc đẩy mạnh đổi mới ở nhiều nước OECD Tuy nhiên, ở Nhật Bản, đầu tư mạo hiểm trong thập kỷ qua rất im ắng, chỉ đạt mức

rất thấp khoảng 0,05 GDP Tỷ lệ này phản ánh thực tế là: Thứ nhất, sự quan

tâm của người dân đối với đầu tư mạo hiểm là thấp, được chứng minh bằng

việc là số dư tiết kiệm trong tài khoản của người dân vẫn còn cao Thứ hai, các công ty chủ yếu dựa vào đầu tư tài chính gián tiếp Thứ ba, đầu tư dài hạn

từ quỹ phúc lợi (quỹ lương) chỉ chiếm 4% trong tổng quỹ đầu tư so với 40% ở

Mỹ và ở Anh Thứ tư, vai trò của trường đại học có liên quan đến lĩnh vực đầu tư mạo hiểm đã bị hạn chế (OECD * , 2005 )

Ngoài ra, nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm là chi nhánh của các tổ chức tài chính mà họ lại thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý và hỗ trợ các công ty

đầu tư mạo hiểm và không muốn chịu rủi ro (Takahashi, 2006 ) Điều này hạn

chế vai trò của ngành kinh doanh mạo hiểm trong giai đoạn phát triển công nghệ gần đây Trên thực tế, đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực công nghệ cao, kể

cả công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và y tế, chỉ chiếm 23% trong tổng

số, so với mức trung bình của OECD chiếm gần 50%; ngược lại, mạo hiểm

hơn (OECD, 2005) Thêm vào đó, đầu tư mạo hiểm ở Nhật Bản tập trung vào

công nghệ giai đoạn sau, mặc dù tỷ lệ các công ty trong giai đoạn đầu đã tăng trong những năm gần đây Thêm vào đó, các nhà đầu tư mạo hiểm của Nhật Bản ít tham gia vào quản lý các công ty mà họ đầu tư

1.1.1.2 Hàn Quốc [13], [24]

Hàn Quốc là một trong các con rồng và là các nước công nghiệp mới (NICs) của Châu Á Tuy nhiên, Hàn Quốc hiện nay là một nước công nghiệp phát triển, có nhiều kinh nghiệm trong sự phát triển nền kinh tế, đặc biệt trong

sự phát triển khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn lực khoa học công nghệ trình độ cao

Dưới đây, giới thiệu một số vấn đề: tổ chức và Luật KHCN; chính sách

-

*) OECD – Organization for Economic Cooperation and Development

Trang 13

KHCN và chính sách KHCN thế kỷ 21, các chương trình RD quốc gia, 1.1.1.2.1 Tổ chức và luật KH&CN Hàn Quốc

Bộ KH&CN Hàn Quốc được thành lập từ năm 1967, có các chức năng chính:

a/ Tạo dựng hệ thống chính sách phát triển KH&CN:

- Tạo dựng chính sách đầu tư CN&TK (R&D), phát triển các nguồn nhân lực, thông tin KH&CN và hợp tác quốc tế về KH&CN;

- Trợ giúp nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng do Chính phủ lãnh đạo với sự hỗ trợ của các Viện, các trường Đại học và các Viện nghiên cứu tư nhân;

- Làm kế hoạch, xúc tiến và hỗ trợ triển khai nòng cốt về khoa học và công nghệ hướng tương lai và công nghệ có quy mô lớn và trình độ cao;

- Đạt tới độ tin cậy kiểm soát tự động về an toàn công nghệ hạt nhân;

- Nâng cao trình độ nhận thức đại chúng về KH&CN

b/ Thành lập Hội Đồng KH&CN quốc gia do Tổng thống làm Chủ tịch, các thành viên gồm các Bộ Trưởng liên quan KH&CN và các Uỷ viên

c/ Luật xúc tiến KH&CN được ban hành năm 1960 Từ năm 1970 – 1980 có các Luật thành lập các Viện nghiên cứu, Giáo dục - đào tạo và gia tốc phát triển KH&CN Năm 1997 có Luật đặc biệt về đổi mới KH&CN Năm 2001 ra đời luật khung mới thay thế cho luật khung KH&CN trước

d/ Hàn Quốc đã ban hành 1023 luật thường trực hiệu dụng, trong đó có 29 luật áp dụng trực tiếp cho Bộ KH&CN

1.1.1.2.2 Chính sách KH&CN Hàn Quốc

- Từ năm 1960, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất, KH&CN ở giai đoạn nhập khẩu công nghiệp điện và công nghiệp sản xuất hàng hoá tiêu dùng, hoạch định các chính sách KH&CN về cơ sở hạ tầng, hệ thống đào tạo và luật tổ chức khung KH&CN Đến năm 1966 thành lập Viện KIST (Viện KH&CN Hàn Quốc) Năm 1967 thành lập Bộ KH&CN Những năm 1970 tiêu biểu cho sự phát triển KH&CN Hàn Quốc vì công nghiệp biến đổi về quy mô và trình độ, bước đầu nghiên cứu triển khai quốc nội vào công nghiệp nặng, công nghiệp hoá chất, đào tạo các nhà khoa học và

kỹ sư có chất lượng, đáp ứng sự biến đổi lớn của công nghệ và quy mô

Trang 14

công nghiệp, phát triển tiếp đến lĩnh vực cơ khí chế tạo, đóng tàu, khoa học biển và điện tử

Chính sách công nghiệp từ những năm 1980 hướng phát triển xa hơn và bền vững, coi chính sách KH&CN là hàng đầu, tạo nền móng xây dựng năng lực KH&CN nội sinh, đòi hỏi sự tăng trưởng tổng hợp về công nghiệp qua cải tiến công nghiệp tạo năng suất và hệ thống chế tạo được nâng cấp tiền tiến, đòi hỏi nguồn nhân lực lớn là các nhà khoa học và công nghệ trình độ cao với

sự giáo dục nâng cấp và mở rộng chương trình đào tạo cập nhật khoa học, công nghệ từ nước ngoài Mặt khác, chương trình R & D quốc gia từ năm

1982 hướng xây dựng đội ngũ nghiên cứu triển khai (RD) nội sinh hướng vào các công nghệ có các đặc trưng chung nhất Trong thời kỳ này ra đời thành phố khoa học, thành phố Taedeok với các việc nghiên cứu công và tư cùng với sự hợp tác toàn diện và có sự hợp tác nhanh đặc biệt về số lượng và loại hình các lab RD tư nhân

Thành phố khoa học Taedeok trở thành cái nôi nghiên cứu khoa học của Hàn Quốc đã thu hút 20.000 nhà nghiên cứu Do đó, Hàn Quốc đã có 236 sáng chế được đăng ký vào Mỹ năm 1990 (xếp thứ 16 của các nước có sáng chế vào Mỹ)

- Thập kỷ 90 (của thế kỷ 20) là kỷ nguyên biến đổi lớn và thách thức lớn của Hàn Quốc Hàn Quốc coi KH&CN là chìa khoá phát triển quốc gia, việc quản lý nhà nước chuyển sang pha đặc biệt là pha xây dựng nhanh năng lực KH&CN Chính phủ có nhiều đổi mới với điều khoản đặc biệt về KH&CN trong kế hoạch 5 năm (1997 - 2002) với dự án quốc gia thực hiện đủ các tiêu chí trở thành quốc gia tiền tiến (từ nước công nghiệp mới, NICs, sang

nhóm các nước công nghiệp phát triển G7) và việc từ nghiên cứu triển khai chuyển sang pha chủ động nghiên cứu sáng tạo (năm 2003 Hàn Quốc đã chế

tạo thành công Microchip có kích thước 90 nanomet, nhỏ nhất thế giới; Nhật Bản cũng thành công kỷ lục này vào năm 2003, các nước Mỹ, Đức … còn ở

120 nanomet)

1.1.1.2.3 Chính sách KH&CN thế kỷ 21 của Hàn Quốc

Nhằm hướng tới các nhu cầu cao về môi trường xã hội, đáp ứng cao con người và môi trường tự nhiên, chính sách KH&CN phải tạo ra quá trình chuyển dịch công nghiệp hoá lớn so với trước đây Vì thế Hội đồng KH&CN quốc gia và Bộ KH&CN phải tìm ra và thiết lập được hệ thống đổi mới cân bằng cao hơn trên cơ sở khuyến khích sự cạnh tranh trong hợp tác của 3 đội

Trang 15

ngũ con người trình độ cao thuộc các ngành công nghiệp, các Viện và trường Đại học, các tổ chức RD nhà nước và tư nhân để thực hiện

Viễn cảnh dài hạn KH&CN Hàn Quốc đến năm 2010 Hướng chủ đạo gồm:

- Chuyển dịch hệ thống đổi mới quốc gia từ vai trò chính của Chính phủ sang vai trò chính tư hữu;

- Cải thiện hiệu quả đầu tư NC&TK quốc gia;

- Tiến ngang hàng cùng hệ thống NC&TK theo chuẩn tiên tiến đương đại toàn cầu;

- Hội nhập thu lượm các kết quả công nghệ mới và thực hiện viễn cảnh trên, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện chương trình KH&CN tới giới hạn biên của thế kỷ 21 (21st Frontier R&D Program) về KH&CN cùng với bản đồ hướng dẫn con đường công nghệ quốc gia gồm: thiết lập khung quản lý KH&CN kể cả giải pháp hoạt động đầu tư KH&CN, nghiên cứu và phát triển (R&D) quốc gia, nâng cao nhận thức rộng rãi về KH&CN, phát triển nguồn nhân lực KH&CN, đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ và thương mại hoá – toàn cầu hoá các hoạt động KH&CN, nhằm đưa Hàn Quốc vào hàng 10 cường quốc KH&CN của thế giới

Mặt khác Hàn Quốc đẩy mạnh KH&CN vùng, từ đó dẫn đến triển khai toàn quốc Chính phủ tạo dựng KH&CN vùng toàn diện 5 năm và xúc tiến công nghệ theo 6 chương trình: Triển khai các năng lực công nghệ vùng (địa phương) theo công nghệ chiến lược; tạo ra các trung tâm trong các vùng hoạt động đổi mới công nghệ; phát triển các nguồn nhân lực KH&CN địa phương; thiết lập hệ thống thông tin KH&CN vùng; hình thành hướng dẫn văn hoá từ thành tựu đổi mới KH&CN cho người dân, tránh lãng phí thời gian chơi game

và chuyển thành các trò chơi về đổi mới và ứng dụng công nghệ mới; tăng đầu tư về KH&CN qua chính quyền vùng; năm 2003 tập trung vào công nghệ then chốt cho sự phát triển công nghiệp vùng để đổi mới nhanh chóng toàn vùng 1.1.1.2.4 Các chương trình nghiên cứu và phát triển quốc gia

Khởi thảo và tiến hành từ năm 1982, tạo ra sức mạnh và sức cạnh tranh

về công nghệ, đóng góp vào phát triển công nghiệp và kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống không ngừng, và nay chuyển dịch sang loại hình kinh tế có nền tảng tri thức Đến năm 2010, Chính phủ khuyến khích việc sử dụng có

hiệu quả các nguồn KH&CN trên cơ sở “chọn lọc và tập trung”

Trang 16

Các chương trình R&D quốc gia hiện thời đầu thế kỷ 21 là sự khởi đầu của sáng tạo từ các Lab nghiên cứu quốc gia, các chương trình công nghệ sinh học, chương trình khoảng không và vũ trụ, chương trình phát triển công nghệ Nano, … Có thể dẫn ra một số chương trình sau:

1) Chương trình RD biên thế kỷ 21, từ năm 1999, tạo ra sức cạnh tranh mới về KH&CN diện rộng Riêng Chính phủ đầu tư 3,5 tỷ USD trong thời kỳ

10 năm, gồm 23 dự án mới thực hiện từ năm 2003 Nét nổi bật của dự án là Giám đốc dự án được toàn quyền quản lý chương trình, các trách nhiệm triển khai chi tiết dự án , giám sát các dự án bổ trợ và ngân sách trợ cấp Các chính sách đối với các cơ sở liên kết với chương trình là: độc lập trong quản lý dự

án, đánh giá các tiến độ của dự án theo chu kỳ 3-4 năm có chuẩn định rõ ràng

và định lượng được, coi hợp tác quốc tế rất quan trọng để ứng dụng các nguồn nghiên cứu và phát triển từ nước ngoài

Có hàng chục các dự án của chương trình biên thế kỷ 21 được cho triển khai thực hiện

2) Mỗi dự án khởi đầu sáng tạo có kinh phí từ 0,5 đến 1,0 triệu

USD/năm nhằm thực hiện “từ bắt chước đến đổi mới” đã xuất hiện các nhà

nghiên cứu chính, có khả năng tổ chức, có kinh nghiệm nghiên cứu, có tính độc lập và trách nhiệm trong quản lý dự án, có 57 sáng tạo đạt trình độ quốc gia tính từ năm 1997-2002

3) Lab nghiên cứu quốc gia có từ năm 1999, tạo thành trung tâm nghiên cứu lớn, đóng trò trong chủ động sáng tạo công nghệ, ngân sách riêng của Chính phủ trợ giúp cho mỗi dự án của Lab 500.000 USD/ 5 năm, và cho tới

444 lab (278 thuộc các cơ sở Hàn Lâm, 114 thuộc các Viện Nghiên cứu và 52 thuộc ngành công nghiệp) Đặc biệt số Lab công nghiệp tư hữu là 2610 (năm 1996) tạo ra bước khởi động RD từ năm 1980 đưa ra các doanh nghiệp công nghiệp tư hữu Hàn Quốc tăng sức cạnh tranh lớn của sản phẩm công nghiệp Hàn Quốc trên thị trường quốc tế Vì thế các tập đoàn công nghiệp Điện tử - Viễn thông, ô tô, tàu thuỷ, thép … đều trở thành những công ty hàng đầu trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương và thế giới Hàn Quốc phát triển công nghệ nano 10 năm đầu thế kỷ 21 dưới chương trình khung nghiên cứu và phát

triển quốc gia với trung tâm chế tạo-nano (nano – Fabrication center)

4) Riêng về phát triển nguồn nhân lực hàng đầu trình độ cao, Hàn Quốc phải đào tạo đến năm 2007 khoảng 10.000 cán bộ khoa học có trình độ từ tiến

sĩ trở lên nhằm đáp ứng với các chương trình trên, yêu cầu cần đạt chất lượng đỉnh trong sự phát triển GD và ĐT để chuẩn mực hướng nuôi dưỡng sự sáng

Trang 17

tạo cho thế hệ trẻ Do đó nhiệm vụ và chính sách hàng đầu của Hàn Quốc là biến đổi các Viện và trường đại học sang hướng nghiên cứu có sự trợ giúp tài chính của Nhà nước với đào tạo các loại hình nhân lực nghiên cứu đặc biệt Viện Korean Advanced Institute of Science and Technology là mẫu hình tốt

về đại học định hướng nghiên cứu Viện này thành lập năm 1971, đã đào tạo 26.707 người tốt nghiệp, 5380 Tiến sĩ (Ph.D), trong đó có 121 nhận học vị Tiến sĩ

5) Chính sách hạt nhân Hàn Quốc: ứng dụng cho hoà bình và an toàn hạt nhân vào cung cấp điện hạt nhân ổn định; hoàn thành tự lực công nghệ trong lò phản ứng hạt nhân; xúc tiến xuất khẩu công nghệ hạt nhân trong điện năng; xúc tiến ứng dụng hạt nhân trong ngành y, trong nông nghiệp và các lĩnh vực công nghiệp Các dự án chủ đạo: phát triển hệ thống mô phỏng tích hợp lò phản ứng tiên tiến; phát triển các thử nghiệm thuỷ nhiệt hạt nhân và định lượng công nghệ; nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm sự cố hạt nhân trong các nhà máy điện nguyên tử; nghiên cứu hướng sử dụng nhiên liệu tiêu thụ ở lò phản ứng CANDU; Hàn Quốc có 18 nhà máy điện nguyên tử sản xuất điện thương mại và từ năm 1978 năng lượng điện hạt nhân đã là nguồn chủ đạo ở Hàn Quốc, tới năm 2015 tăng tỷ lệ năng lượng điện hạt nhân lên 45%

6) Hợp tác KH&CN quốc tế gồm: chương trình nghiên cứu ghép nối thực hiện từ 1985, đã thực hiện năm 1986 dự án Nhật, Mỹ, Đức, Nga, Trung Quốc và đặc biệt đã thành lập Uỷ ban Hợp tác KH&CN Mỹ - Hàn Quốc từ năm 1993 chuyên về công nghệ nano; với Nhật có hoạt động các chuyên đề KH&CN hàng năm, từ năm 1999; với Đức có các bộ phận tư nhân đóng vai trò chính và hai bên thành lập uỷ ban phi chính phủ Với Canada hợp tác trong lĩnh vực công nghệ sinh học – công nghệ nano và công nghệ khoảng không, với APEC có các nhóm hoạt động Khoa học-Công nghệ công nghiệp

và phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 ; hợp tác song phương với 43 nước

(12 nước châu Á, 11 nước châu Mỹ, 17 nước châu Âu, 3 nước châu Phi và

Trung cận Đông)

7) Chính sách triển khai công nghệ sản xuất công nghiệp: chú ý đặc biệt việc đổi mới trong lĩnh vực công nghiệp tư hữu, coi là yếu tố then chốt cho phát triển kinh tế vững và ổn định Từ năm 1970, chính phủ có rất nhiều giải pháp, nhiều hệ thống xúc tiến nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực công nghiệp tư hữu, thí dụ như luật xúc tiến triển khai công nghệ đổi mới trong công nghiệp và các giải pháp khác nhau rất linh hoạt Các doanh nghiệp

tư hữu được giảm thuế và được trợ giúp tài chính vào đầu tư các trung tâm nghiên cứu của họ, giảm thuế nhập khẩu và các trang bị, vật tư, phụ kiện

Trang 18

trong nghiên cứu và phát triển Các doanh nghiệp nhỏ và trung bình không thể thành lập các trung tâm nghiên cứu riêng, được luật và chính sách khuyến khích liên kết nghiên cứu với các trung tâm khác

Từ nguồn thống kê, trong khoảng 8 năm (1990 – 1998) đầu tư cho KH&CN của nhà nước Hàn Quốc tăng 10,5%, của doanh nghiệp tăng 20,4%

Tỷ lệ chi phí của chính phủ cho RD/GDP từ 2,31 – 2,81% nhưng chỉ khoảng

70 tổng chi phí này dành cho công nghiệp hoá, chiếm khoảng 20% chi phí R&D cho công nghiệp hoá, còn khoảng 80% là kinh phí do khu vực tư nhân đầu tư cho R&D Như vậy tính riêng tỷ lệ đầu tư cho R&D trong lĩnh vực công nghiệp hoá của nhà nước và tư nhân gộp chung có thể tương ứng khoảng 8,5% GDP Năm 1999 GDP Hàn Quốc đạt 406,9 tỷ USD (xếp thứ 13 trên thế giới) thì kinh phí cho R&D tổng lên tới 34.58 tỷ USD là rất lớn! Mỹ

và Nhật còn đầu tư cho R&D với tỷ lệ cao hơn Hàn Quốc Thử đối chiếu với Việt Nam năm 2000 với GDP khoảng 30 tỷ USD và tổng chi phí cho phát triển KH&CN nói chung là 0,47% - riêng cho R&D là 0,23% ước khoảng 13.000 người có trình độ R&D tương đương 70 triệu USD và bằng 1/500 của Hàn Quốc (cần chú ý thêm là gần như không có phần kinh phí của khối doanh nghiệp tư nhân góp vào, mà kinh phí R&D của nhà nước cũng phân bố đến doanh nghiệp tư hữu) Chính vì vậy công việc R&D ở Việt Nam trong công nghiệp hoá chỉ có các đề tài hoặc dự án có trình độ thấp – đơn giản (kiểu bắt chước ở mức độ đơn giản hoá các mẫu hình được chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, mà chính các mẫu hình này đã bị hao mòn hữu hình do lạc hậu ít nhất hai thế hệ so với mức tiên tiến đương đại) Có nghĩa là nghiên cứu để

thấy (chưa đủ để biết), còn chưa thể đạt đến trình độ nghiên cứu để làm

8) Vài số liệu đáng kể về công nghiệp hoá và hiện đại hoá (CNH & HĐH) của Hàn Quốc Hiện dân số của Hàn Quốc là 47,5 triệu người, diện tích lãnh thổ 99.000km2, 80% là đồi núi Đó là một nước nghèo nàn và lạc hậu sau chiến tranh Để phát triển kinh tế thành công thì việc đầu tiên là phát triển công nghệ Mô hình kinh tế của Hàn Quốc được tiếp thu kinh nghiệm của Nhật và chuyển giao công nghệ cùng với đào tạo nguồn nhân lực CNH & HĐH từ Mỹ, Nhật… thực hiện CNH & HĐH sau 40 năm đã dẫn đầu các nước kinh tế công nghiệp mới (NICs) của thế giới và đang trở thành top 10 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới Mô hình của Hàn Quốc đặc biệt ở chỗ:

- CNH & HĐH với vốn tích tụ ngày càng khổng lồ, chuyển giao công nghệ tiên tiến cơ bản từ công nghiệp nặng gốc là chế tạo cơ khí lớn – chính xác - chuyển dịch nhanh sang sản xuất công nghệ cao trong công nghiệp điện

tử viễn thông – công nghệ nano mechatronics và vươn tới các công nghệ điện

Trang 19

hạt nhân, công nghệ gen – vi sinh,… ngang trình độ đương đại của thế giới

Có thể qua vài kết quả định lượng sau:

- Trong ngành thép: Hàn Quốc sản xuất khoảng 46,3% triệu tấn thép/năm (nguồn IISI 2004) từ khâu sản xuất phôi (Hàn Quốc gần như không

có mỏ quặng) đến sản xuất đủ các chủng loại thép xây dựng, thép kết cấu, thép hợp kim… cung cấp mọi ngành công nghiệp và xuất khẩu;

- Trong công nghiệp đóng tàu: Hàn Quốc hiện là nước đóng tàu lớn nhất thế giới, chế tạo gốc từ động cơ Diesel công suất lớn nhất trên 4000CV – 10.000CV, vật liệu làm vỏ tàu, các hệ thiết bị cơ khí cho lái, bốc xếp hàng, hệ điện tử viễn thông đến trang bị nội thất hiện đại và sang trọng…

- Trong công nghiệp ô tô: Hàn Quốc có tới 5 đại gia Daewoo, Hyundai, KIA Motor, Woori Auto Sales Co…, xếp trong bảng 1.000 công ty hàng đầu thế giới và xếp thứ 5 về công nghiệp ô tô thế giới

- Trong công nghiệp điện tử - viễn thông: Hàn Quốc có phát triển nổi bật từ chế tạo được vi chíp nhỏ nhất thế giới (90 nanomet) giúp cho việc sản xuất điện thoại di động đa chức năng mới nhất, đến phóng nhiều vệ tinh truyền thông, sản xuất mạch in trên 20 lớp, TV màn hình phẳng tinh thể lỏng

kỹ thuật số, thiết bị chủ trong công nghệ thông tin…

- Thành phố khoa học Daedok có diện tích 27,8 km2, tổ chức kiểu thung lũng Silicon Hàn Quốc bao phủ 93 công viên khoa học xuất khẩu chiếm diện tích 0,6km2; vùng nghiên cứu giáo dục và các phương tiện liên quan chiếm 13,2km2; vùng xanh môi trường chiếm 11,8km2; diện tích cư trú chiếm 2,2km2 Có 232 cơ quan trong thung lũng, gồm 9 cơ quan quản trị, 18 viện nghiên cứu được trợ giúp của chính phủ, 8 viện nghiên cứu được đầu tư của chính phủ, 4 trường đại học đào tạo theo định hướng nghiên cứu, 6 viện dịch vụ NC&PT, 29 trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghiệp và 158

công ty (đầu tư nghiên cứu và phát triển) và công ty mạo hiểm (venture

Companies) Trong thành phố khoa học này có phân vùng thuận lợi cho việc

nghiên cứu công nghệ cao, tin học, sinh học

1.1.1.3 Trung Quốc [16], [26]

Theo báo cáo mới công bố của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), từ 2006 Trung Quốc đã nổi lên, vượt qua Nhật Bản, đứng thứ 2 sau

Mỹ về đầu tư cho nghiên cứu phát triển Trung Quốc đã đầu tư nhiều tỷ USD

để đầu tư cho nghiên cứu phát triển, từ vị thế “công xưởng của thế giới” thành

“nguồn tri thức của thế giới” Khoản tiền đầu tư này vượt Nhật Bản và chỉ

đứng sau Mỹ Trong năm 2006, ba nước giành vốn nhiều nhất cho R & D là

Trang 20

Mỹ (với 330 tỷ đô la), Trung Quốc (136 tỷ đô la) và Nhật Bản (với 130 tỷ đô la)1 Hình 1.1 và 1.2 nêu ra một số hình ảnh về đầu tư cho nghiên cứu phát triển của Trung Quốc thời gian gần đây

Hình 1.1- Năm 2004 Trung Quốc phóng thành công “Thần Châu” Hình 1.2 - Một góc của công viên khoa học Zonguancun (Bắc Kinh) Theo ước tính, trong giai đoạn 1995 đến 2006 tỷ trọng ngân sách của Trung Quốc dành cho lĩnh vực nghiên cứu phát triển đã tăng gấp đôi, từ 0,6% lên đến 1,23% tổng quốc nội Số chuyên gia nghiên cứu của Trung Quốc cũng tăng lên 77% Trong một thông cáo báo chí, Trưởng phòng chính sách KHCN của OECD cho biết: “Có thể nói việc sử dụng ngân quỹ vào thực hiện công việc nghiên cứu phát triển và số lượng các nhà nghiên cứu khoa học cho lĩnh vực này của Trung Quốc tăng nhảy vọt thần kỳ trong những năm qua” Từ những năm đầu thập niên 1990, Trung Quốc đã đầu tư vào khoa học công nghệ nano Họ có mạng lưới gồm hơn 20 viện nghiên cứu, 50 trường Đại học và hơn 300 công ty thương mại hoạt động trong lĩnh vực KHCN nano Với đội ngũ giỏi hùng hậu, ước tính khoảng hơn 3000 nhà khoa học, trong đó nhiều người được đào tạo Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ, Trung Quốc

1 Http:// www Businessweek.com/ap/finacialnews/D8LQ0OI00.htm

Trang 21

được xếp vào một trong năm quốc gia đứng đầu thế giới về lĩnh vực đang phát triển rất nhanh này

Từ 1995 đến nay, họ còn tập trung cho nghiên cứu lĩnh vực điện hạt nhân, điện nguyên tử và nghiên cứu không gian vũ trụ Có thể nói việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển đã làm cho nền kinh tế của Trung Quốc phát triển rất cao và hiệu quả rất lớn

Một trong những thay đổi quan trọng nhất trong quá trình cải cách hệ thống KH&CN ở Trung Quốc trong thời gian qua là các biện pháp thúc đẩy thương mại hóa công nghệ, khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và phổ biến công nghệ Các nhà làm chính sách Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng trong việc nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp, đặc biệt là nâng cao nhu cầu về công nghệ của các doanh nghiệp đối với các nguồn công nghệ trong nước, từ đó hạn chế những công nghệ nhập khẩu không phù hợp Các chính sách tiêu biểu mà Chính phủ Trung Quốc thực hiện, cụ thể như: Miễn thuế thu nhập công ty cho doanh thu từ chuyển giao công nghệ, phát triển công nghệ, tư vấn hoặc các dịch vụ kỹ thuật liên quan:

Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp thiết lập các trung tâm nghiên cứu và triển khai; sử dụng các biện pháp giá cả, tín dụng, khấu hao nhanh để khuyến khích doanh nghiệp và khu vực nông thôn áp dụng công nghệ mới

Hiện nay, Trung Quốc cũng rất chú trọng gửi sinh viên ra nước ngoài học tập, trong đó có khoảng 36.000 sinh viên đang theo học tại các trường Đại học ở Mỹ, nhà nước hàng năm cũng chi nhiều tỷ USD cho công tác này

Trung Quốc đang thực thi “chiến lược cường quốc nhân tài và đạt trình độ

KHCN ngang tầm thế giới” Kể từ năm 1978, khi Trung Quốc chủ trương

đường lối cải cách và mở cửa, đến nay đã có trên 700.000 sinh viên Trung Quốc du học nước ngoài tại 100 nước khác nhau, con số này sẽ còn tăng lên cao hơn nữa trong thời gian tới Phần lớn trong số này đã là Tiến sĩ, Thạc sĩ, đóng vai trò tích cực trong các cơ sở sản xuất và kinh doanh Trong khi đó, 350.000 sinh viên khác đang tiếp tục việc học lên cao, hay đang nghiên cứu ở nước ngoài Số sinh viên còn lại (khoảng 180.000 người) đã chọn con đường

ở lại nước ngoài để làm việc sau khi tốt nghiệp Một số người dù cư trú ở nước ngoài song vẫn thường xuyên về nước để tham gia hợp tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và xây dựng cơ sở trong các Công viên lập nghiệp Trong khi đó, vào cuối năm 2003, đã có 77% các vị lãnh đạo và 80% các nhà Hàn

lâm tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (viết tắt là CAS - Chinese

Academy of Sciences) và Viện Hàn lâm Kỹ thuật (CAE- Chinese Academy of Enginering) đi tu nghiệp ở nước ngoài

Trang 22

Về việc cải cách công tác quản lý nhân tài và chuyên gia, Trung Quốc thực hiện công việc cải cách công tác quản lý nhân tài và chuyên gia mà một

trong những nhiệm vụ cấp bách này, Trung Quốc sẽ hình thành một hệ thống

đánh giá mới và một cơ chế tuyển dụng mang định hướng thị trường - như

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đề nghị phải: "kiên trì cải cách theo hướng thị

trường điều phối nguồn nhân tài"

Trung Quốc đã thành lập nhiều công viên khoa học Tới nay, chính phủ Trung Quốc đã hình thành trên 70 Công viên (Khoa học - Kỹ nghệ) lập nghiệp để dành cho các sinh viên hải ngoại trở về và khởi nghiệp trong ấy, với những hỗ trợ về vốn vay để lập nghiệp, kể cả hỗ trợ cho họ và người thân trong chế độ thường trú ở Trung Quốc

Đặc trưng nổi bật của hệ thống KHCN Trung Quốc là có quá nhiều cán

bộ dôi dư, không có trình độ cộng với việc thiếu kinh phí dành cho nghiên cứu Ví dụ theo ước tính tại thời điểm năm 1999 trong tổng số 130.000 cán bộ nghiên cứu trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ có khoảng 70.000 cán bộ được xếp vào nhóm cán bộ có hoạt động nghiên cứu Con số này cao gấp 3 lần của Mỹ và Liên Xô trong cùng ngành Điều này thể hiện số lượng đông đảo cán bộ dôi dư và cán bộ không đủ trình độ của hệ thống nghiên cứu Hệ số cán bộ nghiên cứu/triệu USD GDP nông nghiệp của Trung Quốc là 0.40 cao hơn nhiều lần so với hệ số này của Mỹ (0.14), Nhật Bản (0.13) và Ấn Độ (0,16) và tương đương với hệ số này của Liên Xô cũ (0.46)

Có thể nói đây là vướng mắc cơ bản mà cả Trung Quốc và Việt Nam chưa giải quyết triệt để được

Bên cạnh chính sách kích thích nghiên cứu gắn với kết quả thương mại hoá như trên, Trung Quốc cũng ban hành nhiều chính sách quan trọng để thu hút nhân tài về làm việc tại các tổ chức KHCN Trung Quốc cho phép mời các chuyên gia, các nhà quản lý tài ba trên thế giới (bao gồm Hoa kiều, chuyên gia nước ngoài) về làm cấp phó (Viện phó, Phó Giám đốc trung tâm) ở các tổ chức KHCN Ngoài ra Trung Quốc còn có chính sách trợ cấp nhà ở cho các cán bộ KHCN, chính sách ưu đãi cho con em cán bộ KHCN được đi học tại các trường chuẩn Bên cạnh đó, các tổ chức KHCN cũng được yêu cầu thiết lập các Quỹ nghiên cứu khởi động để dành cho các nhà khoa học trẻ, tài năng bắt đầu cho sự nghiệp nghiên cứu của mình

Về vấn đề đầu tư mạo hiểm (ĐTMH), năm 1985 Chính phủ thành lập Tổng Công ty Quỹ ĐTMH nhằm mục tiêu phát triển công nghê (với vốn khởi đầu 40 triệu nhân dân tệ, khoảng 5 triệu USD) ĐTMH chính thức xuất hiện vào năm 1986 khi Bộ tài chính và Ủy ban Khoa học Công nghệ Trung Hoa

Trang 23

thành lập Công ty ĐTMH chuyên đầu tư vào các doanh nghiệp dựa vào công nghệ mới, hoạt động như một DNNN nhưng được sử dụng như một công cụ nhằm mục tiêu của chính sách phát triển ngành công nghiệp mạo hiểm hơn là hướng vào lợi nhuận như một doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, trong thời gian đó, ĐTMH vẫn được coi là hoạt động tài trợ của Nhà nước cho những công nghệ mới và ý tưởng sáng tạo hơn là một ngành công nghiệp Chỉ sau năm 1998, khi chính sách cho phép thành lập các công ty ĐTMH được ban hành và kéo theo sự ra đời của hàng loạt các công ty hoạt động như một doanh nghiệp hướng vào lợi nhuận thì ĐTMH mới thực sự phát triển Đến năm 2002, Trung Quốc có khoảng 210 doanh nghiệp ĐTMH, trong đó 160 doanh nghiệp trong nước có 50 doanh nghiệp nước ngoài là một trong những kênh cung cấp nguồn vốn cho các ý tưởng sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ mới thành lập

1.1.1.4 Một số nước Châu Âu [16], [26]

Với sức lan tỏa và sự ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các nước trên thế giới hiện nay đều có xu hướng tiếp tục xây dựng kế hoạch/chiến lược quốc gia về phát triển KH&CN

và đổi mới công nghệ hoặc sửa đổi Chiến lược phù hợp với điều kiện hiện tại (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1 - Kế hoạch của một số nước về phát triển khoa học, công nghệ *)

Nước hành động Kế hoạch Thời gian thực hiện Mục tiêu kế hoạch

Phần Lan Khoa học,

công nghệ

và đổi mới

công nghệ

2007 – 2011 Tăng tỷ lệ chi cho KH&CN từ 3,5% lên 4% GDP vào

cuối năm 2010; xúc tiến hệ thống đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các nghiên cứu; tăng trưởng nguồn nhân lực

Italia Chương

trình quốc

gia về

KH&CN

2005 – 2007 Hỗ trợ vào nghiên cứu cơ bản, tăng cường mối quan

hệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp

Thụy Điển Đổi mới hệ

thống công

nghệ

Từ năm 2005 Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia bằng cách

đẩy mạnh phổ biến tri thức Thúc đẩy đổi mới công nghệ và đầu tư công

*) Nguồn: OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ) 2005

Trang 24

Nhìn chung, thông qua các chiến lược này kế hoạch hành động, các nước đều đưa ra chính sách để tăng tỷ lệ chi phí đầu tư cho R&D ( ví dụ, mục tiêu các nước EU tăng tỷ lệ chi này lên đến 3% GDP vào năm 2010) và đưa

ra nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào R&D cũng như

hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ Trong đó, các biện pháp hỗ trợ chính là tài trợ qua dự án và hỗ trợ gián tiếp thông qua thuế

* Tài trợ (hỗ trợ) trực tiếp

Hỗ trợ trực tiếp cho đổi mới của doanh nghiệp bằng các hình thức tài trợ hoặc bao cấp hoặc cho vay tín chấp là những hình thức hỗ trợ doanh nghiệp có xu hướng tăng lên trong thời gian gần đây nếu so với các hình thức

hỗ trợ gián tiếp khác (như thuế) ở các nước Áo, Phần Lan, Hà Lan, Nauy và Anh

Năm 2005, chính phủ Áo đã ban hành Chiến lược 2010, theo đó sẽ nhấn mạnh giữa những chủ thể trong hệ thống đổi mới Một trong ba cột trụ

là tăng cường hệ thống và hợp tác giữa khoa học và công nghiệp Để tăng cường quá trình đổi mới công nghệ, Hội đồng nghiên cứu và phát triển công nghệ Áo (RTD) đã đề nghị tăng cường hơn nữa giữa hợp tác R&D Hai vấn

đề còn lại là nâng cao chất lượng nghiên cứu trong lĩnh vực R&D và cải thiện hiệu quả của hệ thống hỗ trợ tài chính Chiến lược này cũng bổ sung thêm Kế hoạch hành động quốc gia về nghiên cứu và đổi mới công nghệ được sử dụng thông qua của RTD, một cơ quan tư vấn cho Chính phủ

Chính phủ mới Phần Lan cũng nhấn mạnh tăng cường và duy trì khả năng cạnh tranh quốc gia thông qua thúc đẩy R&D, nâng cao năng suất, Hội đồng chính sách KH&CN cũng nhấn mạnh thành công trong đổi mới công nghệ là nhân tố quan trọng để cho doanh nghiệp và xã hội phát triển Do vậy, năm 2005 Chính phủ Phần Lan đã quyết định tăng ngân sách cho Tekes (cơ quan chịu trách nhiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ Phần Lan) một khoản tiền 30 triệu EUR và cho Học viện Phần Lan 20 triệu EUR trong năm 2006-2007

Dự thảo Luật đổi mới công nghệ ở Hà Lan dự kiến sẽ thay đổi các chính sách về nghiên cứu vào năm 2007 – 2008 Hiện tại các biện pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ đang chỉ phù hợp hỗ trợ tài chính cho các chương trình và

dự án mà không có hỗ trợ lẫn nhau giữa các chương trình và dự án Một khung khổ chính sách thống nhất sẽ cho phép linh động và hiệu quả đối với các chương trình Dự thảo Luật đổi mới công nghệ đảm bảo hỗ trợ tài chính khung khổ này Điều này cũng cho phép loại bỏ những phân biệt giữa các

Trang 25

chương trình với nhau được sự tài trợ bởi các tổ chức nghiên cứu và các tập đoàn lớn

Trong khung khổ chiến lược phát triển, Chính phủ Anh đưa ra nhiều chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực KH&CN, với mục tiêu tăng đầu tư từ khu vực này từ 1,25% GDP lên 1,7% GDP vào cuối thập

kỷ này Chiến lược này nhằm mục tiêu thu hẹp khoảng cách tỷ lệ đầu tư vào KH&CN và đổi mới công nghệ ở khu vực doanh nghiệp của các nước hàng đầu EU và Hoa Kỳ trong khu vực công nghiệp Khung khổ chiến lược 10 năm

đã phác thảo các biện pháp hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp về đổi mới công nghệ

để đạt được mục tiêu trên Cùng với chiến lược phát triển công nghệ trên, Cộng Hoà Anh còn có các chương trình nghiên cứu hợp tác và phát triển, chương trình hệ thống chuyển giao tri thức, diễn đàn khoa học Anh cũng hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp trong lĩnh vực KH&CN và đổi mới công nghệ

1.1.2 Trong nước về đầu tư khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ

1.1.2.1 Khoa học công nghệ và nghiên cứu phát triển [2], [10], [12], [26] 1.1.2.1.1 Thực trạng chung

Cho đến nay, chúng ta có Luật Khoa học Công nghệ, ban hành ngày 09/6/2000, Luật sở hữu trí tuệ ban hành ngày 29/11/2005, Luật chuyển giao công nghệ ban hành ngày 29/11/2006,.v.v… Các luật này cùng với các nghị định, quy định dưới luật của Chính phủ và các Bộ/Ngành có liên quan đã bắt đầu phát huy tốt hiệu quả trong nền kinh tế

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (xem Bảng 1.2), từ năm 2002 đến

2007 tốc độ tăng GDP hàng năm từ 7,08 (năm 2002) đến 8,48 % (năm 2007)

và đầu tư của Nhà nước hàng năm cho khoa học công nghệ và môi trường

biến động từ 0,82% đến cao nhất 1,25% tổng chi ngân sách nhà nước (từ

0,279 đến 0,337% GDP)

Trang 26

Bảng 1.2 - Đầu tư qua ngân sách nhà nước*, tỷ đồng

Trang 27

Như vậy cũng theo số liệu trên của Tổng cục Thống kê từ 2002 đến

2007, luợng tăng trung bình hàng năm đầu tư vốn của ngân sách nhà nước cho các hoạt động chung là 15,52 %, cho hoạt động khoa học công nghệ và môi trường là 17,24 % và tỷ lệ trung bình chi cho KHCN & MT là 0,303 %GDP

Từ 2006 đến năm 2007, lượng tăng đầu tư vốn của ngân sách nhà nước đối với hoạt động khoa học công nghệ đến 17,50 %, tỷ lệ chi cho KHCN & MT là 0,325 %GDP

Các con số này chứng tỏ trong thời gian qua, nhà nước đã có quan tâm đúng mức đến hoạt động thuộc lĩnh vực này trong nền kinh tế chung của cả nước Tuy nhiên so với các nước khác, trước hết các nước trong khu vực con

số này còn thấp rất thấp, đặc biệt chưa tính đến sự mất giá của đồng tiền Việt Nam trên thị trường trong nước và Quốc tế, chưa nói đến hiệu quả đầu tư các nguồn vốn này

1.1.2.1.2 Các Viện nghiên cứu và phát triển RD

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước hiện nay, nguồn nhân lực, vốn “con người” là yếu tố cần được coi trọng Theo Ngân hàng thế giới, vốn tài chính và cơ sở vật chất chỉ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế 30%; 70% còn lại do tri thức và thể chế Nói cách khác, sự đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao làm công tác quản lý, công tác nghiên cứu (R) nghiên cứu và phát triển (R & D) có ảnh hưởng quan trọng, có tính quyết định tới sự phát triển

Trong xu thế mở cửa hội nhập, hiện nay ngoài việc quan tâm phát triển nguồn nhân lực nói chung, việc phát triển, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực làm công tác R&D tại các Trung tâm và Viện nghiên cứu của các ngành công nghiệp và nông nghiệp đã bắt đầu được quan tâm

Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá và dự kiến đến năm 2020 sẽ trở thành một nước cơ bản là công nghiệp Như vậy cần phải có khoảng thời gian hơn mười năm để chuyển đổi nền kinh tế từ chỗ tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp, sản xuất nhỏ với lao động thủ công chiếm phần lớn trong thu nhập quốc dân (GDP) sang nền kinh tế trong đó, sản xuất công nghiệp cơ khí hoá, tự động hoá và dịch vụ chiếm ưu thế Để đáp ứng yêu cầu này phải có sự

cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới sản xuất và đổi mới công nghệ cũng như các nước trong khối ASEAN, quá trình đổi mới công nghệ ở Việt Nam cũng bắt đầu từ việc tiếp nhận công nghệ nhập từ nước ngoài, khai thác, sử dụng công nghệ mới Đây là công việc của đội ngũ những con người Việt Nam công

Trang 28

nghiệp làm công tác R&D tại các trung tâm nghiên cứu thuộc Tổng Công ty hoặc Tập đoàn sản xuất công nghiệp và các Viện nghiên cứu - phát triển (R-D)

Hệ thống các Viện Nghiên cứu và Phát triển (Viện R&D)

Theo số liệu của Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ (09/2008)* hiện nay chúng ta có 504 tổ chức khoa học công nghệ thuộc các Bộ/Ngành và địa phương với khoảng trên 200 Viện RD khối nhà nước trực thuộc các địa phương, Bộ/Ngành, Tổng Công ty Nhà nước và Nhà nước quản lý

Trong hệ thống các tổ chức nghiên cứu phát triển, các viện R-D là một trong các tổ chức chính làm nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng thành quả về khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, tiếp nhận, phát triển và chuyển giao các công nghệ mới vào sản xuất Ngoài khoảng gần 20 viện R và R-D thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam với khoảng 2.300 người, trong đó 35% có trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học và tiến sĩ, 52%

có trình độ thạc sĩ và đại học, còn có khoảng 70 Viện R-D trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các Tổng Công ty Nhà nước Trong số 69 Viện trên, có 42 Viện R-D thuộc các Viện Quốc gia quản lý thuộc nhiều Bộ, Ngành**

Riêng tiềm lực con người của 70 Viện trên, có khoảng 15.500 người trong đó 9,2% có trình độ Giáo sư, Phó Giáo sư, tiến sĩ khoa học và tiến sĩ kỹ thuật và 52% có trình độ thạc sĩ, kỹ sư và cử nhân Tuy nhiên, hiện nay số lượng các giáo sư, tiến sĩ khoa học, đặc biệt giáo sư có giảm đi nhiều do lớp giáo sư cũ đã quá tuổi mà lớp mới chưa đủ bù lại

Sự phân bố các Viện R-D trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các Tổng Công ty Nhà nước được giới thiệu trong Bảng 1.3 Các Bộ/Ngành có số lượng Viện R-D đông là Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 29

Bảng 1.3 - Sự phân bố các Viện theo các Bộ/Ngành *

Bộ Tài nguyên và môi trường 2

Bộ Lao động-Thương binh Xã hội 2

Tổng cục Khí tượng thuỷ văn 1

* Không tính Bộ Quốc Phòng và Công An

Nhìn vào Bảng 1.3, có thể thấy hầu hết các lĩnh vực của xã hội và nền

kinh tế đất nước đều có các Viện R–D Riêng trong ngành công nghiệp chế

Trang 30

tạo máy và có liên quan đến ngành công nghiệp cơ khí chế tạo thuộc nhiều Bộ/Ngành đã có khoảng trên 10 viện R-D (kể cả thuộc Tổng Công ty, Tập đoàn)

Riêng khối các Viện, các Trung tâm RD trực thuộc Bộ Công Thương

và trực thuộc các Tổng Công ty và Tập đoàn Công nghiệp là 35

Về đầu tư cho các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia: Hiện nay

chúng ta đã đầu tư 19 phòng thí nghiệm (hiện nay mới có 17 phòng thí nghiệm đã được đầu tư xong) với kinh phí khoảng 1.200 tỷ VNĐ Các phòng thí nghiệm này cho đến nay về cơ bản mới đầu tư xong, bắt đầu đi vào khai thác sử dụng và bắt đầu có cơ chế tổ chức và hoạt động theo quyết định số: 08/2008/QĐ-BKHCN, ngày 08/7/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ

Thực trạng cụ thể của việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển của các Viện R-D thuộc lĩnh vực Cơ khí chế tạo được nêu trong 3.2 của Chương 3 1.1.2.2 Đầu tư đổi mới công nghệ ngành cơ khí trong nước [16], [19], [26] 1.1.2.2.1 Lý luận chung

Hiện nay, Việt Nam chưa đưa ra khái niệm thống nhất về đổi mới công nghệ Tuy nhiên, khái niệm này đã được sử dụng tương đối rộng rãi trên thế giới, trong đó định nghĩa của các nước OECD2 được ghi trong “Cẩm nang Oslo (Oslo MANUAL)” (1995) là phổ biến nhất

Theo định nghĩa này:

“Đổi mới công nghệ (bao gồm đổi mới quá trình sản xuất và sản phẩm 3 (TPP) là tạo ra sản phẩm hoặc quy trình sản xuất mới hoặc có những cải tiến công nghệ đáng kể về sản phẩm hoặc quá trình sản xuất Đổi mới công nghệ diễn ra khi đưa ra thị trường sản phẩm mới (đổi mới sản phẩm) hoặc công nghệ mới được sử dụng trong quá trình sản xuất (đổi mới trong quá trình sản xuất) Đổi mới công nghệ bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại Một doanh nghiệp được coi là đổi mới công nghệ nếu doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sản xuất mới hoặc có những cải tiến đáng kể về công nghệ, sản phẩm hoặc quy trình sản xuất trong thời kỳ xem xét”

Chú ý từ “sản phẩm” ở đây bao hàm cả hàng hóa và dịch vụ

Trang 31

Theo định nghĩa trên, đổi mới công nghệ có thể nằm ở hai dạng; a) Các sản phẩm/ quy trình sản xuất mới do công nghệ tạo ra (technologycally new products): là một sản phẩm/ quy trình sản xuất mà các đặc tính công nghệ hoặc những sử dụng dự định của nó khác đáng kể so với các tính chất hoặc sử dụng các sản phẩm/quy trình đã được sản xuất trước đó

Đầu tư cho đổi mới công nghệ cũng như bất kỳ một dạng đầu tư nào khác là việc sử dụng các nguồn lực nào đó để thực hiện đổi mới công nghệ Theo cách hiểu cụ thể hơn về mặt tài chính thì có thể nói rằng đầu tư cho đổi mới công nghệ là việc bỏ vốn để thay đổi, cải tiến công nghệ góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh

Như vậy, theo khái niệm đổi mới công nghệ của OECD thì doanh nghiệp chỉ được coi là có đổi mới công nghệ nếu doanh nghiệp đó có năng lực sáng tạo và năng lực đổi mới công nghệ Những doanh nghiệp chỉ dừng lại ở mức hấp thụ công nghệ chưa được coi là đổi mới công nghệ

Theo chúng tôi “đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí

trong phạm vi và điều kiện của Việt Nam là phương cách đầu tư tài chính, đầu tư hạ tầng cơ sở, trang thiết bị và công nghệ, nhân lực của ngành (quản

lý, trực tiếp sản xuất, tổ chức thương mại,… ),… nhằm đạt được hiệu quả kinh

tế cao, ổn định về chất lượng, về công nghệ chế tạo với trình độ công nghệ mới, có cải tiến phù hợp với trình độ công nghệ trung bình tiên tiến của thế giới và khu vực, có khả năng cạnh tranh tốt trước hết trong nước và sau này ở ngoài nước”

Có thể phân chia đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ làm 3 hình thức

chính:

a) Đầu tư nghiên cứu và phát triển (R & D);

b) Đầu tư cho máy móc thiết bị hay công nghệ sản phẩm mới;

c) Đầu tư cho việc đào tạo con người để sử dụng các công nghệ mới

Ba loại đầu tư này có các tính chất khác biệt đáng kể Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai là đầu tư mang tính dài hạn, hướng tới tương lai đồng thời kết quả thì chưa thể xác định trước Như vậy, đầu tư này thường mang tính rủi ro cao4, nhưng do đó cũng có thể đem lại lợi nhuận lớn Các công ty lớn, có tiềm năng tài chính đồng thời có chiến lược phát triển dài hạn

4 Hsien – Ta Wang, Tsui Mu, Li – Kung Chen, Tzy – mei, Chih – Ming Chiang, Hsin – Neng Hsieh, Yu – Ting Cheng and Ben – Chang Shia, 2003

Trang 32

thường có thiên hướng đầu tư nhiều hơn cho loại này Tương tự như vậy, các nước lớn, có tham vọng dẫn đầu về công nghệ cũng giành nhiều đầu tư cho hoạt động này Trong năm 2006, ba nước giành vốn nhiều nhất cho R & D là

Mỹ (với 330 tỷ đô la), Trung Quốc (136 tỷ đô la) và Nhật Bản (với 130 tỷ đô la)5 Mục tiêu chiến lược của việc tiến hành nghiên cứu và phát triển là nhằm tạo ra lợi thế so sánh vượt trội ở cấp độ doanh nghiệp, ngành hay quốc gia Đầu tư cho máy móc, thiết bị hay công nghệ sản phẩm mới là những đầu tư ở giai đoạn tiếp theo khi việc sản xuất thử nghiệm các kết quả nghiên cứu và triển khai đã thành công hoặc trong quá trình chuyển giao “phần cứng” của chuyển giao công nghệ Những đầu tư này thực chất là đầu tư trực tiếp cho sản xuất và thường có giá trị lớn do máy móc thiết bị theo công nghệ sản xuất đòi hỏi giá thành cao Loại đầu tư này có độ rủi ro không cao như các hoạt động nghiên cứu và không phải thực hiện thường xuyên mà nhiều năm mới được thực hiện một lần

Loại đầu tư cho con người thường đi kèm với hai loại đầu tư nói trên Máy móc thiết bị bản thân nó không thể tạo ra sản phẩm nếu không có người thao tác một cách thuần thục Bản thân công nghệ kỹ thuật mới đã đòi hỏi những kỹ năng mới, vì vậy nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân làm chủ và vận hành các công nghệ và kỹ thuật này càng rõ ràng hơn Trong quá trình chuyển giao công nghệ chẳng hạn, người ta phân ra làm hai loại nhân

lực chủ yếu Đó là các “nhân lực tiếp xúc” và “nhân lực hỗ trợ” Nhân lực

tiếp xúc là những người vận hành kỹ thuật máy móc hay thiết bị và ngược lại nhân lực hỗ trợ là những người cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trong quá trình sử dụng công nghệ mới như bảo trì và tiến hành sử dụng phần kỹ thuật gián tiếp như các chuyên gia phần mềm đối với những máy công nghệ cao điều khiển

số bằng máy tính và những người quản lý sản xuất6 Trong bất kỳ trường hợp nào, việc đầu tư đào tạo nhân lực có trình độ cao (như các kỹ sư, các thợ bậc cao, công nhân có kỹ năng cao) của các doanh nghiệp cần được hoach định trong kế hoạch đổi mới về công nghệ Các đầu tư này cần bao gồm cả hai loại: đầu tư cho đào tạo về lý thuyết và thực hành Ngoài ra, phần đầu tư thêm của doanh nghiệp do phải trả lương cao hơn cho những công nhân có trình độ cao hơn để có thể sử dụng máy móc thiết bị công nghệ cao cũng là một phần

của đầu tư cho nguồn nhân lực trong quá trình đổi mới công nghệ

1.1.2.2.2 Tình hình chung

5 Http:// www Businessweek.com/ap/finacialnews/D8LQ0OI00.htm

6 Phan Xuân Dũng (2004): Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp,

NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội

Trang 33

Hiện nay theo đánh giá của nhiều Bộ Ngành, các nhà khoa học, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước việc đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí trong nước mới bắt đầu triển khai ở trong một số ngành trong nền kinh tế, được thực hiện song song với các thiết bị công nghệ cũ đã có Tuy nhiên, quá trình đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ này do nhiều lý do cho đến nay còn rất hạn chế, chủ yếu mới được triển khai tại số liên doanh nước ngoài, một số ngành kinh tế quan trọng,….; chưa được đầu tư đúng mức, còn rất nhiều ngành, lĩnh vực còn lỗ hổng hoặc đầu tư còn chồng chéo trong việc trên; chưa đánh giá đúng và chưa triển khai thực hiện công tác trên

Trình độ công nghệ của Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn rất thấp so với mức trung bình của khu vực và quốc tế; nhiều doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm tới đầu tư đổi mới công nghệ, dẫn đến đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trung bình chỉ ở mức 0,3% doanh thu so với mức 5% của Ấn độ, 10% của Hàn Quốc*) Trên thực tế, đầu tư đổi mới công nghệ không chỉ đòi hỏi vốn lớn mà ở đây còn được coi là hình thức đầu tư có mức

độ rủi ro khá cao, chậm đem lại thuận lợi nên kém hấp dẫn đối với các doanh nghiệp

Thực trạng đầu tư thiết bị công nghệ, năng lực của ngành cơ khí chế tạo

và đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ngành cơ khí cụ thể được trình bày trong mục 2.2 của Chương 2

Với các nội dung đã trình bày ở Chương này, đề tài đã nêu được tổng quan trong và ngoài nước, cơ sở thực tế và lý luận các vấn đề cần nghiên cứu Trên cơ sở nội dung đã nêu, ở các chương sau đề tài tiếp tục nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm triển khai của các nước phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam theo giới hạn phạm vi nghiên cứu của tài đã nêu trong mục trước, nhằm

đề xuất và đánh giá các vấn đề cho tập trung, gọn, xúc tích và có hiệu quả

-

* Nguồn của Tổng cục Thống kê, 9/2008

Trang 34

Chương 2 - THỰC TRẠNG NĂNG LỰC VÀ ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ CHẾ TẠO

ĐẾN 2007 2.1 Mục tiêu cần đạt được đến năm 2010 và 2020 và thực trạng cơ chế chính sách [7], [8]

2.1.1 Mục tiêu cần đạt được đến năm 2010 và 2020 của ngành cơ khí trước khi gia nhập WTO

Theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 186/2002/QĐ-TTG, ngày 26/12/2002 phê duyệt chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển, ngành cơ khí chính cần đạt được các chỉ tiêu sau :

Phấn đấu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng 45 - 50% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng, trong

đó :

a) Thiết bị toàn bộ: Phấn đấu đáp ứng 40% nhu cầu thiết bị toàn bộ trong nước vào năm 2010 Trước mắt tập trung cho các lĩnh vực sau: sản xuất bột giấy và giấy, sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, sản xuất điện và dầu khí, cấp nước sạch, công nghiệp chế biến

b) Máy động lực: Đến năm 2010 đáp ứng 60 - 70% nhu cầu trong nước

về máy động lực cỡ trung và cỡ nhỏ, sản xuất được động cơ thủy 400 mã lực trở lên với tỷ lệ nội địa hóa 35 - 40%

c) Máy kéo và máy nông nghiệp:

Đầu tư sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu trong nước về máy kéo 2 bánh có công suất 6 - 8 - 12 mã lực;

Sản xuất máy kéo 4 bánh có công suất 18 - 20 - 25 mã lực, từng bước sản xuất máy kéo 4 bánh công suất tới 30 mã lực;

Đến năm 2010 sản xuất được máy kéo 4 bánh cỡ trung công suất 50 - 80

mã lực

d) Thiết bị điện: Trước mắt cần đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất của các cơ sở hiện có để có thể sản xuất được các loại biến áp lớn đến 125 MVA, điện áp 220 kV, các thiết bị phân phối, truyền dẫn cho ngành điện lực, thiết bị áp lực và các thiết bị điện khác cho ngành công nghiệp và dân dụng e) Cơ khí ôtô và cơ khí giao thông vận tải:

Trang 35

+ Cơ khí ôtô:

Về loại xe thông dụng: đáp ứng 40 - 50% nhu cầu trong nước về số lượng

và đạt tỷ lệ nội địa hóa đến 40% vào năm 2005; đáp ứng trên 80% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2010 (riêng động cơ phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa 50% và hộp số đạt 90%)

Về loại xe chuyên dùng: đáp ứng 30% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% vào năm 2005, tiến tới đáp ứng 60% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2010

Về các loại xe cao cấp: các loại xe du lịch do các liên doanh sản xuất phải đạt tỷ lệ nội địa hóa 20 - 25% vào năm 2005 và 40 - 45% vào năm 2010, đáp ứng 80% nhu cầu các loại xe tải, xe buýt cao cấp đạt tỷ lệ nội địa hóa 20% vào năm 2005 và 35 - 40% vào năm 2010

+ Cơ khí giao thông vận tải:

Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất toa xe lửa cao cấp với tỷ lệ nội địa hóa trên 70% vào năm 2005 và đến 90% vào năm 2010

Thực hiện bảo hộ có điều kiện và có thời hạn đối với một số sản phẩm cơ khí trong nước và ban hành các chính sách nhằm khuyến khích, tăng khả năng tiêu thụ các sản phẩm cơ khí trong nước

b) Chính sách tạo vốn cho ngành cơ khí

Nhà nước có cơ chế hỗ trợ về vay vốn lưu động cho các nhà sản xuất thiết

bị cơ khí, các công trình chế tạo thiết bị toàn bộ cần vốn lớn, chu kỳ sản xuất dài

Các dự án sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm được vay vốn theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 của Chính phủ với mức lãi suất tín dụng 3%/năm, thời hạn vay 12 năm, 02 năm đầu không phải trả lãi

Trang 36

và bắt đầu trả nợ vào năm thứ năm hoặc được bù chênh lệch lãi suất nếu các doanh nghiệp vay vốn thương mại

Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp cơ khí, kể cả bán cổ phần cho người nước ngoài, để tạo vốn đầu tư mới và đa dạng hóa nguồn vốn

Nhà nước có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất phụ tùng, linh kiện theo hướng nâng cao khả năng chuyên môn hóa, hợp tác hóa trong toàn ngành cơ khí

d) Chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển

Đối với các sản phẩm cơ khí trọng điểm, Nhà nước sẽ xem xét hỗ trợ vốn cho các dịch vụ kỹ thuật, như thuê chuyên gia, mua thiết kế, mua công nghệ, chuyển giao công nghệ vượt quá khả năng của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sản xuất cơ khí được trích tối đa đến 2% doanh số bán

ra cho nghiên cứu và phát triển

đ) Chính sách đào tạo nguồn nhân lực

Nhà nước ưu tiên đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo ngành cơ khí và hỗ trợ kinh phí cử cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, công nhân giỏi đi đào tạo

và thực tập tại nước ngoài theo các chương trình, dự án được phê duyệt

2.1.2.2 Đối với ngành cơ khí chế tạo sau khi gia nhập WTO: như mục 2.1.2.1

ở trên

Đối với ngành công nghiệp ưu tiên và mũi nhọn:

1 Đối với các ngành công nghiệp ưu tiên:

a) Về đất đai: ưu tiên bố trí đủ nhu cầu về đất trong các khu, cụm, điểm công nghiệp khi có dự án sản xuất được đầu tư mới, đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu (kể cả dự án kết hợp với di chuyển địa điểm sản xuất) đã được cấp

có thẩm quyền phê duyệt

b) Về xúc tiến thương mại:

- Ưu tiên đưa vào chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu hàng năm;

Trang 37

- Hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp để xây dựng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế (thông qua các hiệp hội ngành hàng);

- Giới thiệu sản phẩm miễn phí trên website của Bộ Công nghiệp (cũ)

- Ngân sách trung ương hỗ trợ:

+ Chuyền giao công nghệ (kể cả sản xuất thử nghiệm theo công nghệ được chuyển giao),

+ Thiết lập và bổ sung, tăng cường năng lực các cơ quan khoa học công nghệ (phòng thí nghiệm, phòng kiểm chuẩn, cơ quan nghiên cứu - triển khai );

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

- Ngân sách địa phương hỗ trợ:

Sản xuất thử nghiệm (sản phẩm mới; nguyên liệu, phụ liệu thay thế hàng nhập khẩu) nhằm hoàn thiện công nghệ, thiết bị mới tiên tiến trước khi ứng dụng vào sản xuất quy mô công nghiệp

2 Đối với các ngành công nghiệp mũi nhọn: áp dụng chính sách của các ngành công nghiệp ưu tiên và được Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí (không quá 50% vốn đầu tư) đối với các dự án bảo vệ môi trường tại các cơ

tư mới, tập trung cho một số dây chuyền sản xuất thiết bị khí cụ điện, dây chuyền đúc, gia công khuôn song hoạt động rất chừng mực so với năng lực:

- Năng lực thiết bị và công nghệ hiện tại ngành cơ khí thích hợp với chế tạo kết cấu và sửa chữa Một số doanh nghiệp nhóm máy động lực, cơ khí

Trang 38

ôtô-xe máy có dây chuyền sản xuất với nhiều thiết bị chuyên dụng nhưng chưa sản xuất được nhiều chi tiết có yêu cầu kĩ thuật cao;

- Ngoài sản xuất chi tiết có tính chất kết cấu, rất ít nhà máy có thiết bị sản xuất các thiết bị có khối lượng lớn, tập trung ở các hạn chế máy gia công

và tạo phôi lớn;

- Năng lực tạo phôi đúc, rèn ngành cơ khí còn rất yếu, chưa có các trung tâm nhiệt luyện lớn với đầy đủ các thiết bị chuyên ngành, điều này hạn chế nhiều chất lượng sản phẩm;

- Chưa có trung tâm nghiên cứu vật liệu có quy mô đầu tư cả thiết bị

thí nghiệm, trang bị nghiên cứu chuyên sâu lẫn con nguời đáp ứng nhu cầu hiện nay và cho năng xuất cao như máy NC, CNC, các trung tâm gia công cơ khí chưa nhiều, còn phân tán, hiệu quả khai thác chưa cao;

- Ngành cơ khí mới khai thác 1/3 tiềm lực thời gian làm việc các máy Với các máy có công suất và khả năng gia công chi tiết lớn, thời gian làm việc còn ít hơn

Một số số liệu về giá trị sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, chỉ số phát triển công nghiệp cơ khí từ năm 2002 đến 2008 được nêu trong Phụ lục 2.1 của đề tài Có thể tham khảo thêm kết quả đánh giá trình độ công nghệ máy móc,

thiết bị các doanh nghiệp theo Ngành và theo Địa phương trong Phụ lục 2.2

Trang 39

đầu tư cho đổi mới thiết bị là 6,5% (2002) và 10% (2004) trong khi tỷ trọng

này ở doanh nghiệp lớn cao hơn khá nhiều, tương ứng là 20% và 38% Theo

sở hữu, doanh nghiệp nhà nước có tỷ trọng đầu tư đổi mới máy móc thiết bị

lớn nhất (40%), trong khi tỷ trọng này ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài là 25% và ở doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là 14% năm 2004

Hình 2.1 - Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư đổi mới máy móc thiết bị *

• Nguồn GSO, 2001, 2002 và 2004

Khác với xu hướng gia tăng nói trên, tỷ trọng doanh nghiệp đầu tư cho

nghiên cứu triển khai lại có xu hướng giảm xuống từ 2002 đến 2004 năm

2002, tỷ trọng doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động này là 10,8% trong khi đó

năm 2004 chỉ còn 2,3% số doanh nghiệp Điều này phần nào thể hiện tính

không ổn định trong đầu tư cho nghiên cứu và triển khai của các doanh

nghiệp Xét theo quy mô, DNV&N ít đầu tư cho nghiên cứu và triển khai hơn

các doanh nghiệp lớn Trong năm 2004, tỷ trọng DNV&N chi cho nghiên cứu

và triển khai chỉ có 0,6% trong khi tỷ trọng này ở doanh nghiệp lớn là 15,8%,

đồng thời 26% doanh nghiệp lớn có đề tài nghiên cứu các cấp trong khi đó tỷ

trọng này ở DNV&N là 0,3% (xem Hình 2.2) Xét theo sở hữu, tỷ trọng

doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) cao nhất, tiếp đến là DNTN trong nước và đến DN có vốn đầu tư

nước ngoài lần lượt với các tỷ lệ là 33%, 3,4% và 0,8% Tỷ trọng doanh

nghiệp có đề tài nghiên cứu các cấp (kể cả cấp cơ sở) trong DNNN là 12%

Trang 40

Phân theo qui

(2002)& 40% (2004) trong khi đó DNTN là 7% (2002) & 14% (2004) và FDI

so với các doanh nghiệp lớn Ví dụ, tỷ trọng này của doanh nghiệp lớn là 6% (2002) & 1,1% (2004), trong khi DNV&N là 8,8% (2002&2004) Đặc biệt, DNV&N có tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và triển khai trên tổng doanh thu thấp nhất trong 3 loại hình doanh nghiệp Điều này cho thấy dấu hiệu động cơ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của DN lớn và của DNV&N chưa mạnh

2.4 Thực trạng huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ của

[12], [17], [20]

Ta có thể thấy bức tranh dưới đây về việc đầu tư đổi mới công nghệ,

các thiết bị, qua một số điều tra khảo sát thống kê một số Tổng Công ty, Công ty, nhà máy chế tạo cơ khí chính, quan trọng từ Bắc xuống Nam

Ngày đăng: 15/05/2014, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Bộ Công nghiệp: Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Hà Nội, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
[8] Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 55/2007/QĐ-TTg ngày 23/4/2007 về “Phê duyệt các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007-2015, tầm nhìn đến 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển” và Thông tư của Bộ Công Thương số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007-2015, tầm nhìn đến 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển
Năm: 2007
[11] “Đánh giá trình độ công nghệ ngành cơ khí chế tạo Việt Nam”- Đề tài cấp Bộ Công nghiệp, Viện Nghiên cứu Cơ khí. Hà Nội, 04/ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ công nghệ ngành cơ khí chế tạo Việt Nam
[13] Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước KX.05.08: “Nghiên cứu con Sách, tạp chí
Tiêu đề: [13] Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước KX.05.08: “Nghiên cứu con
[2] Luật Khoa học và Công nghệ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2001 Khác
[3] Luật Chuyển giao Công nghệ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2007 Khác
[4] Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 do Quốc hội CHXHCNVN ban hành 12/12/2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2006 quy định chi tiết một số điều luật và hướng dẫn thi hành Luật Khác
[5] Nghị định của Chính phủ số: 115/2005/NĐ-CP, ngày 05/9/2005 về Quy định cơ chế tự chịu trách nhiệm, tự chủ các Tổ chức KHCN công lập Khác
[7] Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 186/2002/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020 Khác
[9] Nghị định của Chính phủ số: 80/2007/NĐ-CP, ngày 19/05/2007 về Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ Khác
[10] Quyết định của Thủ tướng chính phủ số: 67/2006/QĐ-TTg về phê duyệt phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ KHCN giai đoạn 2006-2010 Khác
[12] Bộ hồ sơ điều tra khảo sát năng lực các doanh nghiệp chế tạo cơ khí dân sự và ngành công nghiệp Quốc phòng phục vụ cho chế tạo Thiết bị đồng bộ, 9/2007 và Bộ hồ sơ điều tra khảo sát của đề tài thực hiện, 7/2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 - Đầu tư  qua ngân sách nhà nước * , tỷ đồng - Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO
Bảng 1.2 Đầu tư qua ngân sách nhà nước * , tỷ đồng (Trang 26)
Hình 2.1 - Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư đổi mới máy móc thiết bị * - Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO
Hình 2.1 Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư đổi mới máy móc thiết bị * (Trang 39)
Bảng 3.1 - Kết quả hoạt động của Chương trình KC-05 * - Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO
Bảng 3.1 Kết quả hoạt động của Chương trình KC-05 * (Trang 63)
Bảng 3.3 dưới đây trình bày thực trạng đầu tư của của Bộ Công nghiệp - Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO
Bảng 3.3 dưới đây trình bày thực trạng đầu tư của của Bộ Công nghiệp (Trang 70)
Bảng 3.3 -  Đầu tư cho nghiên cứu phát triển của Bộ Công Thương (Bộ Công - Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO
Bảng 3.3 Đầu tư cho nghiên cứu phát triển của Bộ Công Thương (Bộ Công (Trang 71)
Bảng 4.1 - Diễn giải mức thuế cam kết bình quân (%) - Nghiên cứu đề xuất cơ chế huy động vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ cho ngành cơ khí và phương án đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển (r&d) phù hợp với các quy định của WTO
Bảng 4.1 Diễn giải mức thuế cam kết bình quân (%) (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w