DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Acne Mụn trứng cá Autoimmune Tự miễn Autoinflammatory Viêm tự miễn Coepitope theory Giả thuyết cùng vị trí biểu hiện Dendritic Tế bào tua Hyperostosis Tăng sản
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
- Mục tiêu 1: Khảo sát yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh VKVN: Tiến cứu, mô tả cắt ngang
- Mục tiêu 2: Xác định tỉ lệ HLA-B27, Cw06, DR7 và mối liên quan đến lâm sàng bệnh VKVN: Tiến cứu, phân tích cắt ngang
- Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả điều trị của MTX trong vảy nến thể khớp:
Tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng tự so sánh trước sau
- Mục tiêu 1: Khảo sát yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh VKVN: 42 bệnh nhân VKVN
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỉ lệ HLA-B27, Cw06, DR7 và mối liên quan của chúng đến lâm sàng bệnh viêm khớp vảy nến (VKVN) Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu thuận tiện, bao gồm 40 bệnh nhân VKVN, 37 bệnh nhân viêm nhiễm mạn tính (VNM) và 33 người bệnh da mắc bệnh vảy nến, các bệnh về khớp và các bệnh tự miễn khác.
- Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quảđiều trị của MTX trong VKVN: 37 bệnh nhân VKVN
Các kỹ thuật và tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
2.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán vảy nến thể khớp
Tiêu chuẩn CASPAR sửa đổi (2006)
2.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán mức độ nặng của vảy nến da (phụ lục 2)
Dựa vào thang điểm PASI (Psoriasis Aera & Severity Index) Đểxác định độ nặng của bệnh, một số tác giảđề nghị áp dụng “quy tắc số10”:
Mức độ trung bình PASI 10 – 20
2.3.3 Tiêu chuẩn DAS28 [55] Đánh giá mức độ hoạt động của VK theo chỉ số DAS28 (Disease Activity Score), công thức tính DAS28 như sau:
- Visual Analog Scale (VAS) 100 mm: thang điểm nhận biết đau của bệnh nhân
Thang đo đau 100 mm cho phép bệnh nhân tự đánh giá mức độ đau, với 0 mm tương ứng với "không đau" và 100 mm là "đau không chịu nổi" Sau khi được giải thích, bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân đánh dấu mức độ đau cao nhất mà họ cảm nhận hôm nay do VKVN bằng một vạch dọc (I) trên thang.
Hình 2.3 Thang tựđánh giá đau của bệnh nhân (VAS 100 mm)
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá mức độ nặng của bệnh theo EULAR (Tiêu chuẩn đáp ứng EULAR dựa trên điểm số DAS28 phối hợp với sự cải thiện DAS28)
Mẫu nghiên cứu được thu nhận và phân tích tại phòng xét nghiệm của Công ty TNHH Thương Mại và Dịch vụ Nam Khoa, địa chỉ 793/58 Trần Xuân Soạn, Phường Tân Hưng, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Nguồn lực: TS Phạm Hùng Vân và cộng sự thực hiện
2.3.4.1 Qui trình kỹ thuật phân tích mẫu nghiên cứu:
Sơ đồ 2.1 Qui trình kỹ thuật phát hiện mẫu dương tính với
HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DR7
Ghi nhận kết quảxác định allen HLA tương ứng với sản phẩm khuếch đại đã biết trước
Khuếch đại gen đặc hiệu tương ứng cho các trình tự allen HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DRb7
Tách chiết DNA tổng số
Mẫu nghiên cứu Điện di phát hiện sản phẩm khuếch đại Mẫu âm tính
2.3.4.2 Qui trình kĩ thuật kiểm tra serotype HLA-B và HLA-C bằng kỹ thuật giải trình tự
Sơ đồ 2.2 Qui trình kỹ thuật kiểm tra serotype HLA-B và HLA-C bằng kỹ thuật giải trình tự
2.3.4.3 Quy trình kỹ thuật phát hiện HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DRb7 bằng kỹ thuật Sequence Specific Primer-Polymerase Chain Reaction (SSP-PCR)
Quy trình được thực hiện trong buồng hút vô trùng, tránh tạp nhiễm Các thao tác thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Hỳt 200 àl huyết tương cho vào tube eppendorff sạch Bổ sung 20 àl Proteinase K Ủở 56 o C trong 15‟.
Thờm 200 àl Buffer AL, vortex đều Ủ 56 o C trong 10‟.
Load toàn bộ dịch mẫu vào Cột (Collection Column), ủ1‟ ở nhiệt độ phòng để các DNA bắt lại trên màng Silica Ly tâm trong 1‟ ở tốc độ 8000 rpm
Chuyển cột qua Collection tube mới, bổ sung vào cột 500 àl Buffer AW1
Ly tâm ở tốc độ8000 rpm trong 1‟.
Chuyển cột qua Collection tube mới, bổ sung vào cột 500 àl Buffer AW2
Ly tâm ở tốc độ8000 rpm trong 1‟.
Chuyển cột sang ống Collection mới và ly tâm ở 13000 rpm trong 3 phút để làm khô hoàn toàn màng silica Sau đó, chuyển cột sang ống Elution mới và thêm 100 µl Buffer AE (Elution Buffer) vào cột Ủ ở nhiệt độ phòng trong 1 phút để thu DNA.
Ly tâm trong 2‟ ở tốc độ 13000 rpm để thu hồi dịch ly trích
Kiểm tra nồng độ DNA ly trích được thực hiện bằng cách sử dụng thiết bị Eppendorf BioPhotometer ở bước sóng 260nm/280nm để xác định nồng độ và độ tinh sạch của dịch DNA thu được.
Thực hiện SSP-PCR phát hiện HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DRb7:
Mỗi mẫu tách chiết DNA từ mẫu thử cần sử dụng 5 µl dịch ly trích DNA, sau đó bổ sung vào hỗn hợp HLA-SSP PCR tương ứng cho HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DRb7.
Sau khi đã cho tách chiết DNA của mẫu thử vào các tube PCR mix, ly tâm lắng bọt trong 5 giây trước khi cho vào buồng ủ của máy PCR
Chạy chương trình chu kỳ nhiệt HLA SSP PCR như sau: o 1 chu kỳ: 95 o C - 15 phút o 40 chu kỳ 95 o C – 30 giây, 60 o C - 30 giây, 72 o C - 1 phút o 1 chu kỳ 72 o C - 10 phút
Kiểm tra HLA DNA trong sản phẩm phản ứng PCR bằng điện di trên thạch agarose:
Để chuẩn bị gel agarose 2%, bạn cần hòa tan 4g agarose trong 200 ml dung dịch đệm TBE 0,5X bằng cách đun trong lò vi sóng cho đến khi agarose tan hoàn toàn Sau đó, để dung dịch nguội xuống khoảng 50 °C và đổ vào khuôn gel đã lắp sẵn lược Sau khoảng 1 giờ, khi gel đã đông, gỡ lược ra và đặt bản gel vào bể điện di Cuối cùng, đổ dung dịch đệm TBE 0,5X vào bể sao cho dung dịch ngập cách mặt gel từ 1 - 2 mm.
Để tra mẫu DNA, cần lấy 5 µl sản phẩm PCR pha trong 3 µl đệm tra mẫu 5X và cho vào các giếng nhỏ trong gel Đồng thời, tra 15 µl DNA marker thang 100 bp vào một giếng trên gel để làm chỉ thị phân tử.
Chạy điện di với hiệu điện thế 135 V trong 25 phút, DNA sẽ di chuyển từ cực âm sang cực dương Theo dõi sự di chuyển của màu Bromophenol Blue để xác định thời điểm dừng điện di Bromophenol Blue đã được hòa tan với Gelred theo tỉ lệ 100:1.
Sau đó lấy bản gel ra tráng nước rồi quan sát và chụp ảnh dưới ánh sáng tia tử ngoại
Hình 2.4 Phát hiện HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DR7 bằng kỹ thuật Sequence Specific Primer-Polymerase Chain Reaction (SSP-PCR) Nguồn: phòng xét nghiệm công ty Nam Khoa Biotek
Giải thích: A Thang điểm ADN, B Nhóm chứng nội, C HLA-B27(+) với 150bps,
D HLA-DR7(+) với 231bps, E HLA-Cw06(+) với 297 bps
2.3.4.4 Quy trình kỹ thuật xác định serotype HLA-B và HLA-C bằng kỹ thuật giải trình tự
Quy trình được thực hiện trong buồng hút vô trùng để ngăn ngừa tạp nhiễm, tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất Thí nghiệm được thực hiện trên mẫu thử dương tính với HLA-B27 và HLA-Cw06 (được xác định bằng kỹ thuật SSP-PCR), cùng với một số mẫu âm tính để kiểm tra độ chính xác của kết quả.
Tách chiết DNA: Thực hành theo hướng dẫn của nhà sản xuất tương ứng với bộ QIAamp Mini Kit
Kiểm tra nồng độ DNA ly trích được thực hiện bằng cách sử dụng thiết bị Eppendorf BioPhotometer ở bước sóng 260nm/280nm để xác định nồng độ và độ tinh sạch của dịch DNA thu được.
Thực hiện PCR khuếch đại đặc hiệu gen HLA-B và HLA-C:
Với mỗi mẫu tỏch chiết DNA từ mẫu thử, sử dụng 5 àl dịch ly trớch DNA bổ sung vào HLA-C và HLA-B PCR mix
Sau khi đã cho tách chiết DNA của mẫu thử vào các tube PCR mix, ly tâm lắng bọt trong 5 giây trước khi cho vào buồng ủ của máy PCR
Chạy chương trình chu kỳ nhiệt HLA SSP PCR bao gồm các bước sau: bắt đầu với 1 chu kỳ ở 95 °C trong 12 phút, tiếp theo là 20 chu kỳ với nhiệt độ 95 °C trong 30 giây, 65 °C trong 45 giây và 72 °C trong 45 giây Sau đó, thực hiện 15 chu kỳ ở 95 °C trong 30 giây, 60 °C trong 45 giây và 72 °C trong 45 giây Tiếp theo là 10 chu kỳ ở 95 °C trong 30 giây, 55 °C trong 45 giây và 72 °C trong 45 giây Cuối cùng, kết thúc với 1 chu kỳ ở 72 °C trong 10 phút.
Kiểm tra HLA DNA trong sản phẩm phản ứng PCR bằng điện di trên thạch agarose:
Để chuẩn bị gel agarose 2%, bạn cần cho 4g agarose vào 200 ml dung dịch đệm TBE 0,5X và đun trong lò vi sóng cho agarose tan hoàn toàn Sau khi agarose đã tan, để nguội xuống khoảng 50 độ C và đổ dung dịch vào khuôn gel đã cài sẵn lược Sau khoảng 1 giờ, khi gel đã đông, gỡ lược và đặt bản gel vào bể điện di Cuối cùng, đổ đệm TBE 0,5X vào bể sao cho dung dịch ngập cách mặt gel từ 1-2 mm.
Để thực hiện tra mẫu DNA, cần lấy 5 µl sản phẩm PCR và pha trộn với 3 µl đệm tra mẫu 5X, sau đó cho vào các giếng nhỏ trong gel Đồng thời, tra 15 µl DNA marker thang 100 bp vào một giếng trên gel để làm chỉ thị phân tử.
Chạy điện di với hiệu điện thế 135 V trong 25 phút, DNA sẽ di chuyển từ cực âm sang cực dương Theo dõi sự di chuyển của màu Bromophenol Blue để xác định thời điểm dừng điện di, trong đó Bromophenol Blue đã được hòa tan với Gelred theo tỉ lệ 100:1.
Sau đó lấy bản gel ra tráng nước rồi quan sát và chụp ảnh dưới ánh sáng tia tử ngoại
Purify PCR products using the illustra ExoProStar kit by adding 2 µl of enzyme to 5 µl of the amplified PCR product in a 0.2 ml tube, ensuring the specificity of the amplified product is recorded.
Ly tâm lắng nhẹ hỗn dịch Thực hiện chu kỳ luân nhiệt:
Các bước tiến hành
Mục tiêu 1 của nghiên cứu là khảo sát các yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh VKVN Để thực hiện điều này, thông tin sẽ được điền vào mẫu hồ sơ bệnh án, bao gồm bảng kiểm thu thập số liệu nhằm thu thập các thông tin của bệnh nhân như đặc điểm chung, thời điểm khởi bệnh, thời gian mắc bệnh, triệu chứng thực thể, chỉ số PASI, và các xét nghiệm cận lâm sàng (phụ lục 1).
Khi bệnh nhân đến khám, nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn, sẽ được giải thích chi tiết về mục tiêu và phương pháp thực hiện nghiên cứu Nếu bệnh nhân đồng ý tham gia, họ sẽ ký vào bản thỏa thuận tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân được hỏi kỹ về bệnh sử, khám lâm sàng, ghi nhận tất cả các yếu tố liên quan vào bảng thu thập thông tin
- Bệnh nhân được lấy máu làm các xét nghiệm: Công thức máu, CRP, SGOT, SGPT, RF, axit Uric
- Bệnh nhân có viêm khớp thì chụp phim X- quang
Mục tiêu 2: Xác định tỉ lệ HLA- B27, -CW-06, -DR7 và mối liên quan đến lâm sàng bệnh VKVN:
Xét nghiệm định tính HLA-B27, CW6, DR7 được thực hiện tại Mẫu nghiên cứu và phân tích tại phòng xét nghiệm công ty Nam Khoa Biotek, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Quá trình lấy mẫu bao gồm 2 ml máu ngoại vi được thu thập vào ống vô trùng có chất chống đông EDTA và chuyển về phòng xét nghiệm trong thời gian quy định.
Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quảđiều trị của MTX trong vảy nến thể khớp:
- Bệnh nhân VKVN đủ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được tiến hành điều trị MTX
- Đường dùng thuốc: Đường uống
Thuốc được sử dụng hàng tuần vào một ngày cố định, cụ thể là thứ năm, với liều lượng chia thành 2 lần uống cách nhau 12 giờ Bệnh nhân nên uống thuốc vào lúc 8 giờ sáng và 8 giờ tối.
- Liều lượng: bắt đầu 10 mg/1tuần, tuần thứ 2 là 15 mg, và duy trì 3 tháng (12 tuần)
Điều trị kèm theo bao gồm việc uống acid folic 5mg mỗi tuần, thực hiện sau ít nhất 24 giờ sau khi dùng thuốc MTX hoặc trước 24 giờ khi sử dụng MTX nếu có tác dụng phụ trên đường tiêu hóa kéo dài Nếu cần thiết, có thể sử dụng thuốc chống nôn và bổ sung thuốc giảm đau.
- Đánh giá lúc bắt đầu điều trị, sau 4 tuần, 8 tuần và 12 tuần Đánh giá kết quả chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn đáp ứng của VNK: DAS28.
Các thông số theo dõi, đánh giá
Mục tiêu 1: Khảo sát yếu tốliên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh VKVN: + Giới tính: Biến định tính có 2 giá trị nam, nữ
+ Tuổi (năm): Biến định lượng, tính theo ngày sinh
+ Nghề nghiệp: Biến định tính có 2 giá trị lao động trí óc, lao động chân tay
+ Cư ngụ: Biến định tính có 2 giá trị thành thị, nông thôn
Tuổi khởi phát vảy nến da là một biến định lượng, phản ánh độ tuổi của bệnh nhân khi bắt đầu mắc bệnh vảy nến trên da Tương tự, tuổi khởi phát vảy nến khớp cũng là một biến định lượng, cho biết độ tuổi của bệnh nhân khi phát hiện vảy nến khớp Thời gian từ khi mắc vảy nến da đến khi phát triển thành vảy nến khớp là một biến định lượng quan trọng, thể hiện khoảng thời gian giữa hai loại bệnh này.
+ Thời khoảng VKVN (năm): Biến định lượng, khoảng thời gian từ khi VKVN đến thời điểm nghiên cứu
Tiền căn gia đình vảy nến có thể được xem xét trong ba thế hệ, bao gồm: Thế hệ 1 với cha, mẹ, chị, em và con ruột; Thế hệ 2 với ông, bà, cháu, dì, cậu, chú, cô ruột; và Thế hệ 3 với con bác, con chú, con dì, con cậu ruột.
+ Chẩn đoán đầu tiên: Biến định tính, thểlâm sàng đầu tiên của khởi phát vảy nến o Vảy nến o Viêm khớp o Vảy nến và viêm khớp cùng một lúc
+ Biến dạng khớp (có/không): Biến định tính, tổn thương khớp gây biến dạng + Viêm khớp ngoại vi (có/không): Biến định tính, viêm khớp ngoại vi
+ Viêm khớp cùng chậu (có/không): Biến định tính
+ Viêm đốt sống cổ (có/không): Biến định tính
+ Tổn thương móng (có hoặc không): Biến định tính
+ Viêm khớp liên đốt ngón xa (có hoặc không): Viêm các khớp liên đốt xa các ngón
+ ESR (mm/1 giờ): Biến định lượng, tốc độ lắng máu
+ HLA-B27 (có/không): Biến định tính
+ HLA-CW06 (có/không): Biến định tính
+ HLA-DR7 (có/không): Biến định tính
Mục tiêu 2: Xác định tỉ lệ HLA- B27, -Cw06, -DR7 và mối liên quan đến lâm sàng bệnh VKVN:
+ HLA-B27 (có/không): Biến định tính
+ HLA-CW06 (có/không): Biến định tính
+ HLA-DR7 (có/không): Biến định tính
DAS 28 là một chỉ số định lượng dùng để đánh giá mức độ hoạt động của bệnh, trong khi PASI cũng là một chỉ số định lượng nhưng tập trung vào diện tích và độ nặng của bệnh vảy nến.
+ Hút thuốc lá (có/không): Biến định tính, có hút thuốc là hút > 1 điếu/ngày, hút thuốc lá trước đây khi ngưng hút thuốc lá < 5 năm [68]
+ Uống rượu (có/không): Biến định tính, trên 6 lon bia hoặc 6 ly rượu vang trong
Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả điều trị của MTX trong vảy nến thể khớp:
+ Sốlượng khớp đau (n): Biến định lượng
+ Sốlượng khớp sưng (n): Biến định lượng
+ Viêm đa khớp (có/không): Biến định lượng, viêm trên 4 khớp
+ VAS 100 (thang điểm nhận biết đau của bệnh nhân): Biến định lượng, từ 0 – 100 mm
+ Theo dõi chức năng gan (SGOT, SGPT): Biến định lượng
+ Hemoglobine (g/dL): Biến định lượng, hàm lượng huyết sắc tố hồng cầu
+ Sốlượng bạch cầu: Biến định lượng (đơn vị/L)
+ Số lượng BCĐN: Biến định lượng (đơn vị/L)
+ DAS28 = DAS28 tuần 12 – DAS28 tuần 0 (là hiệu số của giá trị DAS28 sau 12 tuần điều trị và trị số của DAS28 trước khi điều trị)
+ Tiêu chuẩn đáp ứng EULAR dựa trên điểm số DAS28 phối hợp với sự cải thiện DAS28
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá mức độ nặng của bệnh theo EULAR
Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng được phân loại thành ba mức độ: Nhẹ, thường có tính chất thoáng qua và không ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường; Trung bình, gây khó chịu đủ để cản trở các hoạt động hàng ngày; và Nặng, hoàn toàn ngăn chặn các hoạt động bình thường.
Xử lý số liệu
Nhập và phân tích dữ liệu với phần mềm Epi Info TM 7 cho phép trình bày dữ liệu dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn và trung vị.
Sử dụng phép kiểm chi bình phương (\(\chi^2\)) để xác định mối liên hệ giữa các biến định tính, hoặc áp dụng phép kiểm chính xác Fisher khi tần số mong đợi lớn hơn 20% trong bảng có dưới 5 Tính toán tỷ lệ odds (OR) với khoảng tin cậy 95% và thực hiện phân tích phương sai bằng phép kiểm ANOVA.
So sánh các trị số trung bình của các biến số định lượng có phân phối chuẩn có thể thực hiện bằng phép kiểm T Test để kiểm định hai trị số trung bình, trong khi phân tích phương sai ANOVA được sử dụng để so sánh nhiều trị số trung bình Đối với các biến số có phân phối không chuẩn, phép kiểm Wilcoxon Two-Sample Test là phương pháp thích hợp.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu mối liên quan giữa kháng nguyên HLA-B27, CW6, DR7 và các biểu hiện lâm sàng của viêm khớp vẩy nến (VKVN) cho thấy việc lấy máu qua tĩnh mạch là an toàn cho bệnh nhân Kết quả nghiên cứu này bổ sung vào cơ chế sinh bệnh học của vảy nến Đánh giá hiệu quả điều trị bằng Methotrexate (MTX) trong VKVN là một thử nghiệm lâm sàng, yêu cầu xem xét kỹ các chống chỉ định trước khi điều trị Trong quá trình điều trị, chúng tôi theo dõi chặt chẽ các biểu hiện bất lợi và thực hiện các xét nghiệm công thức máu, chức năng gan Bệnh nhân được thông tin đầy đủ về các tác dụng phụ có thể xảy ra và đồng ý tham gia thử nghiệm Những kết quả thu được sẽ giúp đưa ra các khuyến cáo điều trị VKVN bằng MTX.
Trước khi bắt đầu nghiên cứu, các đối tượng tham gia được thông báo và giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu, đồng thời họ cũng đồng ý tự nguyện tham gia thông qua một bản thỏa thuận.
Các xét nghiệm trong nghiên cứu được tài trợ bởi người thực hiện đề tài Bệnh nhân nhận được tư vấn chi tiết về bệnh vảy nến, bao gồm hướng dẫn chăm sóc da, chế độ ăn uống và hoạt động thể lực phù hợp Ngoài ra, cần chuyển khám chuyên khoa và theo dõi khi có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa, viêm phổi hoặc tình trạng viêm khớp nặng để tiến hành hội chẩn.
Tất cả thông tin cá nhân và bệnh tật được thu thập nhằm phục vụ cho nghiên cứu và sẽ được bảo mật thông qua mã hóa trên máy tính, đảm bảo quyền riêng tư cho người tham gia.
Hạn chế của đề tài
- Xác định sự hiện diện của kháng nguyên HLA-B27, HLA-Cw06, và HLA- DR7 với 42 bệnh nhân VKVN, nếu được trên 100 bệnh nhân thì cho kết quả tốt hơn
- Chưa theo dõi được tái phát sau điều trị (3 tháng)
Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng
Tương quan các yếu tố liên quan, lâm sàng với VKVN
Xác định tỷ lệ và so sánh mối tương quan giữa các HLA
Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng
HLA-B27, HLA- Cw06, HLA-DR7 Đánh giá hiệu quả, tác dụng phụ MTX
Theo dõi lâm sàng, xét nghiệm
Tiêu chuẩn chọn, và loại trừ điều trị MTX
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hiệu quả điều trị VKVN bằng MTX
3.3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu Đồ thị 3.7 Tỷ lệ giới tính và VKVN (n = 37)
Nhận xét: Nữ chiếm đa số 67,6% tổng số các trường hợp.
Bảng 3.35 Phân bố tuổi hiện tại, tuổi khởi phát (da, khớp) và thời gian viêm khớp
Yếu tốtương quan Trung bình (năm)
Tuổi khởi phát VN da 37,5 ± 14,9
Thời khoảng từVN đến VKVN 9,1 ± 9,1
Nhận xét: Tuổi trung bình khởi phát VKVN là 37,5 tuổi, khoảng thời gian chuyển từ VN da sang VKVN trung bình là 9,1 năm.
Bảng 3.36 Phân bố mức độ hoạt động của bệnh theo EULAR(n = 37)
DAS28 EULAR Sốtrường hợp (n) Tỷ lệ (%)
Bệnh nhân viêm khớp mức độ nhẹ có thể gặp phải các yếu tố tiên lượng xấu, bao gồm việc tổn thương hơn 5 khớp, tổn thương được xác định qua X quang, phản ứng viêm nặng, và tổn thương ngoài khớp, đặc biệt là viêm ngón.
Nhận xét: Viêm khớp mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (54,1%), viêm khớp mức độ nặng chiếm 29,7% tổng số các trường hợp
3.3.2 Hiệu quảđiều trị VKVN bằng MTX
3.3.2.1 Hiệu quả điều trị VKVN bằng MTX trên tổn thương da do vảy nến theo thang điểm PASI
Bảng 3.37 Đáp ứng của tổn thương da do VN dựa theo chỉ số PASI (n = 37) Đáp ứng PASI 4 tuần 8 tuần 12 tuần n % n % n %
Sau 12 tuần điều trị vảy nến bằng Methotrexate (MTX), triệu chứng lâm sàng trên da đã cải thiện rõ rệt Tỷ lệ bệnh nhân đạt PASI 50 trở lên là 40,5%, trong khi đó, tỷ lệ đáp ứng PASI 75 là 24,3% và có 16,2% trường hợp đạt PASI 90.
Bảng 3.38.Cải thiện mức độ nhận biết đau của bệnh nhân VAS100 (n = 37)
Nhận xét: Mức độ nhận biết đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS100 cải thiện rõ rệt theo thời gian điều trị.
3.3.2.2 Hiệu quả trên cận lâm sàng cải thiện tốc độ máu lắng
Bảng 3.39.Thay đổi tốc độ máu lắng giờ đầu khi điều trị VKVN bằng MTX (n7)
ESR mm/1 giờ Trung bình (X±SD)
Nhận xét: Tốc độ máu lắng giảm dần trong quá trình điều trị theo thời gian
3.3.2.3 Hiệu quả đáp ứng điều trị chung theo thang điểm DAS28 và theo
Bảng 3.40.Cải thiện chỉ số về mức độ hoạt động của bệnh DAS28(n = 37)
Chỉ số DAS28 cho thấy sự cải thiện đáng kể trong mức độ hoạt động của bệnh khi điều trị bằng MTX ở VKVN Trị số trung bình của DAS28 đã được cải thiện liên tục trong suốt quá trình điều trị.
Bảng 3.41.Đáp ứng điều trị theo EULAR dựa trên DAS28 (n = 37) Đáp ứng theo EULAR
Trước điều trị n = 37 Sau 4 tuần Sau 8 tuần Sau 12 tuần n % n % n % n %
(*) VKVN có yếu tố tiên lượng xấu
Mức độ nặng của viêm khớp dạng thấp (VKVN) giảm dần theo thời gian điều trị Sau 12 tuần điều trị bằng Methotrexate (MTX), không còn bệnh nhân nào có VKVN mức độ nặng, và 37,8% bệnh nhân đã hoàn toàn lui bệnh.
3.3.3 Mối tương quan giữa đáp ứng điều trị theo thang điểm DAS28 với một sốyếu nguy cơ nhƣ: tuổi, giới, lâm sàng và một số kháng nguyên HLA
Bảng 3.42 Mối tương quan của đáp ứng điều trị theo DAS28 với một số yếu tố nguy cơ tuổi, giới, lâm sàng và một số kháng nguyên HLA (n = 37)
Một số yếu tố nguy cơ DAS28
Tuổi khởi phát VKVN > 40 tuổi
Thời gian VK đợt này > 6 tháng
Viêm khớp liên đốt ngón xa
Viêm khớp ngoại vi Có
Bệnh nhân viêm khớp vảy nến (VKVN) có HLA-B27 dương tính (+) cho thấy tỷ lệ đáp ứng điều trị bằng methotrexate (MTX) cao hơn so với bệnh nhân VKVN có HLA-B27 âm tính (-) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p là 0,04, nhỏ hơn 0,05.
3.3.4 Tính dung nạp và độ an toàn của MTX trong điều trị VKVN
3.3.4.1 Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng
Bảng 3.43 Tần suất các tác dụng không mong muốn trên lâm sàng của MTX (n 37)
Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng
Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng chủ yếu là nôn và buồn nôn, chiếm 8,1% tổng số trường hợp Hầu hết các tác dụng phụ này là thoáng qua và không cần điều trị Chỉ có một trường hợp bệnh nhân buồn nôn gây khó chịu, được điều trị triệu chứng nhưng vẫn tiếp tục điều trị bằng MTX.
3.3.4.2 Biểu hiện tác dụng không mong muốn của thuốc trên cận lâm sàng
Bảng 3.44 Thay đổi trị số các giá trị trung bình của các chỉ số xét nghiệm trước điều trị và 12 tuần sau điều trị VKVN bằng MTX (n = 37)
Xét nghiệm Trước điều trị Sau 12 tuần Thay đổi Điểm %
Nhận xét: Hầu hết các giá trị trung bình của các xét nghiệm theo dõi trước và sau
Sau 12 tuần điều trị, sự thay đổi không đáng kể được ghi nhận, với giá trị men SGPT tăng 16,6% so với trị số trung bình ban đầu.
Bảng 3.45 Các trường hợp bất thường về giá trị các chỉ số xét nghiệm huyết học trong suốt quá trình điều trị (n = 37)
Các xét nghiệm Trước ĐT, n
Nhận xét: Ở tuần thứ 8 có 1 trường hợp (2,7%) tăng men SGPT, 1 trường hợp
Trong nghiên cứu, có 2,7% trường hợp giảm số lượng bạch cầu và 2,7% trường hợp giảm Hemoglobin mà không có biểu hiện lâm sàng, do đó chúng tôi tiếp tục điều trị Đến tuần thứ 12, ghi nhận thêm 2,7% trường hợp tăng men gan vượt quá 2 lần giá trị bình thường và 2,7% trường hợp giảm Hemoglobin dưới ngưỡng bình thường.
BÀN LUẬN
Tỷ lệ một số KNPHTC (HLA - B27, Cw06, DR7) và mối tương quan đến lâm sàng VKVN
VN ở da và 11 vị trí trên hệ gen có mối tương quan với VKVN, bao gồm IFNLR1, IFIH1 và NFKBIA Ngoài ra, TNFRSF9, LCE3C/B, TRAF3IP2, IL23A và NFKBIA cũng liên quan đến vảy nến ở da.
4.2.1 Đặc điểm của 3 nhóm nghiên cứu
Sự khác biệt về giới giữa nhóm VKVN và VNM không có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,79, và sự khác nhau về giới giữa nhóm VKVN và nhóm người khỏe cũng không có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,19 Điều này cho thấy các nhóm VKVN, VNM và nhóm người khỏe có sự tương đồng về tuổi và giới, phù hợp với thiết kế nghiên cứu của chúng tôi nhằm đảm bảo tính đồng nhất giữa các nhóm trong đề tài nghiên cứu này.
Mối tương quan về tuổi giữa VKVN với VNM và nhóm người khỏe không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với giá trị p lần lượt là 0,75 và 0,35 Điều này cho thấy các nhóm nghiên cứu VKVN, VNM và nhóm người khỏe có yếu tố tuổi tương đồng, điều này cũng phù hợp với mục tiêu thiết kế nghiên cứu của chúng tôi nhằm khám phá mối liên hệ giữa HLA-B27, HLA-Cw06 và HLA-DR7 với VKVN.
4.2.2 Kết quả tỷ lệdương tính HLA-B27, HLA-Cw06, HLA-DR7 ở 3 nhóm 4.2.2.1 Kết quả tỷ lệdương tính HLA-B27 ở 3 nhóm
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ HLA-B27 ở bệnh nhân viêm khớp vảy nến (VKVN) là 32,5%, cao hơn so với nhóm bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu (VNM) với 18,9% và nhóm người khỏe mạnh chỉ 9,1% (bảng 3.21) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,01, cho thấy người có HLA-B27 dương tính có nguy cơ mắc VKVN cao hơn so với người khỏe mạnh (bảng 3.19) Tỷ lệ HLA-B27 ở bệnh nhân VKVN phù hợp với các nghiên cứu trước đây [94, 95].
Tỷ lệ HLA-B27 trong VKVN
Trong nhóm bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán VKVN theo tiêu chuẩn CASPAR sửa đổi (2006) thì kháng nguyên HLA-B27 dương tính chiếm tỷ lệ 32,5% (bảng 3.21)
Nghiên cứu của Alenius và cộng sự cho thấy 25,7% trong số 88 bệnh nhân viêm khớp vảy nến (VKVN) tại Thụy Sĩ có kháng nguyên HLA-B27 dương tính Tương tự, nghiên cứu của Danafa và cộng sự trên 158 bệnh nhân VKVN cho thấy 15,8% có HLA-B27 dương tính Một nghiên cứu khác của Woodrow và cộng sự cũng đã được thực hiện trong lĩnh vực này.
Trong một nghiên cứu về bệnh nhân VKVN, tỷ lệ HLA-B27 (+) được ghi nhận là 26% [94] Tương tự, một nghiên cứu khác của Ivo Jaje‟ [38] cũng cho thấy tỷ lệ HLA-B27 (+) là 26,7% khi xem xét kháng nguyên HLA với VNM và VKVN.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ HLA-B27 dương tính trong bệnh VKVN cao hơn so với một số tác giả nước ngoài Tại Việt Nam, mặc dù có một vài nghiên cứu về HLA-B27 trên bệnh VCSDK, nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát tỷ lệ HLA-B27 ở bệnh nhân VKVN để so sánh Do đó, đây có thể được coi là khảo sát bước đầu về tỷ lệ HLA-B27 ở bệnh nhân VKVN, tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về VKVN tại thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam Thêm vào đó, tỷ lệ kháng nguyên HLA dương tính còn phụ thuộc vào yếu tố chủng tộc, có thể là đặc điểm khác biệt của VKVN trong nghiên cứu này.
Tỷ lệ HLA-B27 trong VNM
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ HLA-B27 trong VNM chiếm 18,9% (bảng 3.21)
Nghiên cứu của Danafa và cộng sự đã chỉ ra mối tương quan giữa kháng nguyên HLA và viêm khớp vảy nến (VKVN) trên 101 bệnh nhân viêm khớp mạn tính (VNM), trong đó có 6,9% bệnh nhân VNM có HLA-B27 dương tính Tương tự, nghiên cứu của Woodrow và cộng sự cũng đã xác nhận những phát hiện này.
Trong một nghiên cứu về bệnh nhân VNM, tỷ lệ HLA-B27 (+) được ghi nhận là 8% [94] Một nghiên cứu khác của Ivo Jaje‟ [38] cũng cho thấy tỷ lệ HLA-B27 (+) trong VNM là 7,7%.
Tỷ lệ HLA-B27 dương tính trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với một số nghiên cứu quốc tế, và hiện tại chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam so sánh tỷ lệ HLA-B27 ở bệnh nhân viêm khớp vảy nến (VNM) Theo Queiro và cộng sự, khoảng 30-60% bệnh nhân VNM có HLA-B27 dương tính có nguy cơ chuyển biến sang viêm khớp vảy nến (VKVN) Do đó, bệnh nhân VNM có HLA-B27 dương tính cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ để phát hiện sớm các dấu hiệu chuyển sang viêm khớp, từ đó chẩn đoán và điều trị kịp thời nhằm ngăn ngừa biến dạng khớp và cải thiện chất lượng sống.
Tỷ lệ HLA-B27 trong nhóm người khỏe
Nhóm người khỏe trong nghiên cứu của chúng tôi có đặc điểm dân số học tương đồng với nhóm VKVN, không mắc các bệnh vảy nến hay bệnh về khớp Chúng tôi đã thu thập được 33 đối tượng trong nhóm người khỏe, với tỷ lệ HLA-B27 (+) là 9,1% (bảng 3.21).
Nghiên cứu của Danafa và cộng sự cho thấy có mối tương quan giữa kháng nguyên HLA với viêm khớp vẩy nến (VKVN) trên 243 người khỏe mạnh, trong đó 8% có HLA-B27 (+) [97] Tương tự, nghiên cứu của Woodrow và cộng sự trên 550 người khỏe mạnh ghi nhận tỷ lệ HLA-B27 (+) là 5,5% [94].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ HLA-B27 ở nhóm người khỏe tương đồng với một số nghiên cứu quốc tế Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về mối liên quan giữa HLA-B27 và người khỏe, do đó, nghiên cứu này cung cấp dữ liệu ban đầu về tỷ lệ kháng nguyên HLA-B27 ở người khỏe tại Việt Nam, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về kháng nguyên HLA.
4.2.2.2 Tỷ lệdương tính HLA-Cw06 ở 3 nhóm nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kháng nguyên HLA-Cw06 ở nhóm VNM chiếm tỷ lệ cao nhất là 18,9%, vượt trội so với tỷ lệ 7,5% ở VKVN và 3,0% ở nhóm người khỏe (bảng 3.22) Tỷ lệ này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, cho thấy HLA-Cw06 có tỷ lệ cao ở bệnh nhân VNM so với VKVN và người khỏe [94-96].
Tỷ lệ HLA-Cw06 trong VKVN
Tỷ lệ kháng nguyên HLA-Cw06 nhóm VKVN trong nghiên cứu của chúng tôi là 7,5% (bảng 3.22)
Nghiên cứu năm 2015 của FitzGerald và cộng sự cho thấy tỷ lệ HLA-Cw06 (+) trong bệnh viêm khớp dạng thấp (VKVN) là 28,5% Tương tự, nghiên cứu của Danafa và cộng sự trên 158 bệnh nhân VKVN cho thấy 12% bệnh nhân có HLA-Cw06 (+) Ngoài ra, nghiên cứu của Woodrow và cộng sự trên 50 bệnh nhân VKVN ghi nhận tỷ lệ HLA-Cw06 (+) lên đến 56%.
Hiệu quả của MTX trong điều trị VKVN
Trong 42 bệnh VKVN mà chúng tôi nghiên cứu có 40 trường hợp bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia vào điều trị MTX và không có các chống chỉ định, trong quá trình điều trị có 3 bệnh nhân không theo dõi đầy đủđiều trị Vì vậy, mẫu nghiên cứu điều trị VKVN bằng MTX của chúng tôi phân tích là 37 bệnh nhân
4.3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ giới chiếm 67,6% (đồ thị 3.7), tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ trong mô tả các yếu tố tương quan và đặc điểm lâm sàng của VKVN tại Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh (Bảng 3.1) Tương tự, các yếu tố như tuổi khởi phát VN da, tuổi khởi phát VKVN, khoảng thời gian bị viêm khớp (Bảng 3.35) và mức độ hoạt động của viêm khớp (Bảng 3.36) cũng cho thấy sự tương đồng.
4.3.2 Hiệu quảđiều trị của MTX
In 2015, the European League Against Rheumatism (EULAR) and the Group for Research and Assessment of Psoriasis and Psoriatic Arthritis (GRAPPA), along with the American Academy of Dermatology (AAD), recommended the use of MTX for the treatment of psoriasis and psoriatic arthritis.
Theo nghiên cứu của Theo Keith và cộng sự, MTX là thuốc điều trị hiệu quả cao với chi phí thấp hơn nhiều so với các thuốc chống thấp khớp sinh học như apremilast và adalimumab Đánh giá theo chỉ số ARC20 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hiệu quả điều trị của apremilast và MTX.
4.3.2.1 Hiệu quả điều trị VKVN bằng MTX trên tổn thương da do vảy nến theo thang điểm PASI
MTX không chỉ có tác dụng điều trị viêm khớp trong VKVN mà còn hiệu quả trong việc cải thiện triệu chứng vảy nến ở da Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sau 12 tuần điều trị bằng MTX, có 40,5% bệnh nhân đạt PASI 50 và 24,3% đạt PASI 75, cao hơn so với 27,2% trong nghiên cứu của Laura Theo Mease và cộng sự, MTX cũng có hiệu quả trong việc cải thiện các biểu hiện ngoài da của VKVN Hầu hết bệnh nhân VKVN trong nghiên cứu của chúng tôi đều có vảy nến da đi kèm, cho thấy tầm quan trọng của MTX trong điều trị.
4.3.2.2 Cải thiện chỉ số mức đau theo thang điểm nhận biết đau của bệnh nhân VAS100 Đánh giá về mức độ đau của bệnh nhân trong VKVN được thực hiện bằng cách dùng VAS100 để chọn từ không có đau đến mức độ rất đau sau câu hỏi “Đánh giá mức độ đau của khớp, xin đánh giá bằng một vạch dọc () trên thang để chỉ rõ ông/bà cảm thấy mức đau như thế nào?” Trước điều trị, trị số trung bình của VAS100 là 38,0, sau 12 tuần điều trị điểm giảm của VAS100 là 33,7 tương ứng với giảm 88,7% (bảng 3.38) Như vậy, đáp ứng của thang điểm đánh giá mức độ đau của bệnh nhân có đáp ứng tốt với điều trị VKVN bằng MTX
4.3.2.3 Hiệu quảđiều trị trên tốc độ máu lắng
Tốc độ máu lắng (ESR) được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi để đánh giá tình trạng viêm và theo dõi điều trị, đồng thời là chỉ số trong công thức tính mức độ hoạt động của bệnh DAS28 Trị số ESR trung bình trước điều trị là 60,6 + 40,8 mm/1 giờ, cao hơn so với nghiên cứu của Frannova (23 mm/1 giờ) và tương đương với nghiên cứu của Trần Thị Minh Hoa (58,4 ± 35,8) Điều này cho thấy đối tượng nghiên cứu có chỉ số ESR cao, chứng tỏ bệnh đang trong giai đoạn hoạt động viêm nặng Trong quá trình điều trị, chỉ số ESR giảm dần, sau 12 tuần ghi nhận trị số trung bình là 52 mm/1 giờ, cho thấy tình trạng viêm của bệnh khi điều trị bằng MTX, mặc dù mức độ đáp ứng viêm vẫn còn thấp.
ESR là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá mức độ hoạt động của bệnh Để xác định chỉ số DAS28, cần xem xét không chỉ chỉ số ESR mà còn số lượng khớp sưng, số lượng khớp đau và thang điểm nhận thức đau VAS100 của bệnh nhân Chỉ số này cũng được sử dụng để đánh giá mức độ đáp ứng với điều trị VKVN bằng MTX.
4.3.2.4 Hiệu quả đáp ứng điều trị chung theo thang điểm DAS28 và theo
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng chỉ số DAS28 để đánh giá mức độ hoạt động của bệnh và theo dõi hiệu quả điều trị bằng MTX trên bệnh nhân VKVN Để đánh giá mức độ đáp ứng với điều trị, chúng tôi dựa theo tiêu chuẩn của EULAR.
Tiêu chuẩn của Khớp Châu Âu (European League Against Rheumatism) dựa trên điểm số DAS28, chia giai đoạn hoạt động của bệnh thành 4 mức độ, từ giai đoạn lui bệnh với DAS28 < 2,6 đến mức độ viêm khớp nặng với DAS28 > 5,1 Trong nghiên cứu của chúng tôi, đã thu thập được 42 trường hợp viêm khớp dạng thấp, trong đó có 2 trường hợp không thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh và 3 trường hợp bệnh nhân bỏ điều trị, không theo dõi đầy đủ, do đó đã loại bỏ khỏi nhóm tham gia điều trị.
Methotrexat (MTX), một loại thuốc 4-amino-10 methylfoliacid, đã được sử dụng để điều trị vảy nến từ năm 1958 và cho bệnh viêm khớp dạng thấp (VKVN) từ trung bình đến nặng Tại Na Uy, trong giai đoạn 2000 – 2005, khoảng 39% bệnh nhân VKVN được điều trị bằng MTX, trong khi ở Thụy Sĩ, hơn một nửa bệnh nhân hiện nay cũng đang sử dụng MTX MTX là một trong những thuốc DMARD tổng hợp phổ biến nhất trong điều trị VKVN.
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, 54,1% trường hợp viêm khớp có mức độ trung bình, 29,7% trường hợp nặng và chỉ 16,2% trường hợp nhẹ Bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (VKVN) mức độ nhẹ có thể có yếu tố nguy cơ hoặc không có yếu tố tiên lượng xấu, như tổn thương trên 5 khớp, tổn thương X quang, phản ứng viêm nặng, tổn thương ngoài khớp, đặc biệt là viêm ngón Một số trường hợp bệnh nhân đến khám trong giai đoạn lui bệnh không được đưa vào nghiên cứu này.
Cải thiện về chỉ số mức độ hoạt động của bệnh DAS28 điều trị VKVN bằng MTX
Chỉ sốDAS28 trước điều trị của chúng tôi có trị số trung bình 4,4 + 1,1, sau
Sau 12 tuần điều trị bằng MTX, chỉ số DAS28 đã cải thiện rõ rệt với trị số trung bình đạt 3,0 + 1,0 Điểm giảm của DAS28 là 32% so với trước điều trị, cho thấy hiệu quả tích cực của phương pháp điều trị VKVN bằng MTX trong việc cải thiện chỉ số hoạt động của bệnh Chúng tôi cũng tiến hành so sánh để tìm ra mối tương quan giữa các chỉ số cải thiện.
DAS28 tại tuần lề thứ 12 so với trước khi bắt đầu tiến hành điều trị Như vậy,
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trị số trung bình của \$\Delta DAS28\$ cải thiện được -1,43 (+ 0,79), tương tự như kết quả của Laura và cộng sự với mức giảm -1,11 điểm sau 12 tuần điều trị trên 188 bệnh nhân MTX cho thấy sự cải thiện rõ rệt về các biểu hiện lâm sàng và tốc độ lắng của hồng cầu Fagerli và cộng sự cũng ghi nhận \$\Delta DAS28\$ là -1,8 sau 12 tuần điều trị Mặc dù mức độ đáp ứng điều trị của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu quốc tế, nhưng tại Việt Nam chưa có nghiên cứu lâm sàng nào về điều trị VKVN bằng MTX để so sánh Hiện nay, nhiều thuốc DMARD sinh học hiệu quả nhưng có chi phí cao hơn MTX Chúng tôi nhận thấy mức độ đáp ứng tốt trong nghiên cứu này, tuy nhiên, hạn chế là chỉ tiến hành thử nghiệm lâm sàng so sánh trước và sau điều trị mà không có nhóm chứng Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị VKVN bằng MTX với nhóm chứng trong tương lai, theo tiêu chuẩn EULAR.
Trong tuần điều trị thứ 8, 27,0% trường hợp viêm khớp dạng thấp (VKDV) đã lui bệnh với mức độ hoạt động viêm DAS28 < 2,6, theo tiêu chuẩn EULAR Sau 12 tuần điều trị, tỷ lệ này tăng lên 37,8%, phù hợp với nghiên cứu của Laura và cộng sự, trong đó 22,4% bệnh nhân đạt được lui bệnh hoàn toàn sau khi điều trị bằng MTX 15 mg/tuần Các trường hợp khác cũng cho thấy sự cải thiện về mức độ nặng của bệnh, không có bệnh nhân nào không đáp ứng với điều trị Tỷ lệ này cũng tương đồng với nghiên cứu năm 1983 của Kragaelle và cộng sự, trong đó 21 bệnh nhân cải thiện sau khi điều trị MTX với liều khởi đầu 15 mg mỗi tuần.