1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng buổi thảo luận thứ ba vấn đề chung của hợp đồng (tiếp)

23 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề chung của hợp đồng (tiếp)
Người hướng dẫn ThS. Đặng Thái Bình
Trường học Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Hợp đồng và Bồi thường Thiệt hại Ngoài Hợp Đồng
Thể loại Buổi thảo luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 261,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ LỚP QUẢN TRỊ LUẬT 46A1 MÔN HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP) GIẢNG VIÊN ThS ĐẶNG T[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ LỚP QUẢN TRỊ - LUẬT 46A1

MÔN: HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA: VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP)

GIẢNG VIÊN: ThS ĐẶNG THÁI BÌNH

Trang 2

MỤC LỤCVẤN ĐỀ 1: HỢP ĐỒNG VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC 1

Tóm tắt Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi 1 Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng 1 Câu 1: Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực? 1 Câu 2: Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực? 2 Câu 3: Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao? 2 Câu 4: Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao? 3 Câu 5: Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật? 3 Câu 6: Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao? 4 Câu 7: Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 chưa được công chứng, chứng thực? 5 Câu 8: Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu về hình thức 5 Câu 9: Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực? 5 Câu 10: Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? 5

VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HUỶ BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 6

Tình huống 6

Trang 3

Tóm tắt Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 6 Câu 1: Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm 7 Câu 2: Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ? 9 Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) 9 Câu 4: Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? 9 Câu 5: Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 10 Câu 6: Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm 10 Câu 7: Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 12

VẤN ĐỀ 3: ĐỨNG TÊN GIÚM MUA BẤT ĐỘNG SẢN 12

Tóm tắt quyết định số 17/2015/DS-GĐT ngày 19/05/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao: 12 Câu 1: Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao?

13

Câu 2: Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? 13 Câu 3: Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không? 13 Câu 4: Ngày nay, theo Toà án nhân dân tối cao, bà Tuệ có được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? 14 Câu 5: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào?14 Câu 6: Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó 15 Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 15

VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU 16

Trang 4

Yêu cầu 1 16

Yêu cầu 2 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

I Văn bản quy phạm pháp luật 1

II Tài liệu tham khảo 1

Trang 5

Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Nguyên đơn là ông Mến và bà Nhiễm Bị đơn là ông Cưu và bà Lắm Nội dungbản án: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất được lập ngày 10/8/2009giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm Hợp đồng này đã

vi phạm hình thức vì không được công chứng, chứng thực Và bị đơn cũng không yêucầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng trong thời hạn 2 năm Vì thế hợp đồng đã có hiệu lực.Tòa căn cứ vào quy định tại Điều 425 BLDS 2005, hợp đồng không được công chứng,chứng thực không phải là căn cứ để yêu cầu hủy hợp đồng, Tòa công nhận hợp đồng

và bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượngquyền sử dụng đất nêu trên

Câu 1: Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?

Điều này được thể hiện trong bản án ở đoạn: “…vì biết thông tin gia đình bị đơn bị thu hồi đất sẽ được cấp ba lô đất tái định cư, trong đó có một lô A và hai lô B,

Trang 6

nên ngày 10/8/2009 nguyên đơn ông M, bà N cùng phía bị đơn ông C, bà L và anh Đoàn Tấn L1 thỏa thuận và lập “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” (Bút lục 27), nội dung thỏa thuận là bị đơn và anh L1 chuyển nhượng cho nguyên đơn một lô đất thuộc

lô B, diện tích 5m x 20m (tự chọn khi Nhà nước cấp đất) trong phần đất của gia đình

bị đơn sẽ được cấp tái định cư với giá 90.000.000 đồng, anh L1 có trách nhiệm làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao đất trên thực địa cho nguyên đơn, các bên tham gia giao dịch đều thống nhất ký tên; bị đơn đã giao đủ 90.000.000 đồng cho phía nguyên đơn ”

“ Khi lập hợp đồng, Nhà nước chưa cấp đất cho bị đơn nên không có đất để giao cho nguyên đơn Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực; đất là của hộ gia đình bị đơn gồm nhiều thành viên nhưng chỉ có bị đơn thỏa thuận chuyển nhượng là không đúng pháp luật.

Vì vậy, bị đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

và giải quyết hậu quả của hợp đồng là các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận ”

Câu 2: Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS

2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?

Đoạn “Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm

2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ

về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.”

Trong Bản án số 16 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợpđồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệulực

Câu 3: Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?

Căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 “Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này.” Như vậy, để áp

dụng Điều 688 này thì phải thỏa 2 điều kiện: giao dịch chưa được thực hiện hoặc đangthực hiện và nội dung và hình thức của giao dịch phải phù hợp với quy định của Bộluật này

Xét thấy, trong Bản án có các tình tiết:

Thứ nhất, thời hạn thực hiện giao dịch trên là từ khi xác lập giao dịch cho đến

khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho nguyên đơn nhưng bị đơn lại chưa hoàn thành thủ tục chuyển nhượngđất cho nguyên đơn, nên đây là giao dịch đang được thực hiện

Trang 7

Thứ hai, thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất

thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏathuận Trong khi đó, hợp đồng chuyển nhượng đất phải được công chứng, chứng thực

theo Điều 127 Luật Đất đai 2003 “Hợp đồng chuyển nhượng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước” và tại khoản 2 Điều 124 BLDS 2005 “Trong

trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó Như vậy, nội dung và hình thức của hợp đồng trên phù hợp với

khoản 2 Điều 119 BLDS 2015 và Điều 167 Luật Đất đai 2013 Do đó, nội dung và

hình thức của giao dịch trên phù hợp với quy định của BLDS 2015

Như vậy, vụ việc trong Bản án trên đủ điều kiện để áp dụng Điều 129 BLDS

2015 để giải quyết Do đó, việc Tòa áp dụng Điều 129 để giải quyết vụ việc là phùhợp với quy định của pháp luật

Câu 4: Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?

Trong vụ việc này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyênđơn và bị đơn chưa được công chứng, chứng thực Theo điểm a khoản 3 Điều 167

Luật Đất đai 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này” Như vậy, giao dịch dân sự giữa hai bên là giao dịch dân sự không tuân

thủ quy định về hình thức luật định

Điều 129 BLDS 2015 mà Tòa án đã áp dụng theo đó điều kiện để giao dịch dân

sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định về công chứng, chứng thực

được Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực gồm: “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch” và “theo yêu cầu của một bên hoặc các bên” Nhận thấy trong vụ việc này, bên nguyên đơn (chỉ có nghĩa vụ thanh

toán) đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền

sử dụng đất cho nguyên đơn (cũng là nghĩa vụ duy nhất) là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa

vụ trong giao dịch nên Tòa án xác định là thỏa đáng Còn ở điều kiện thứ hai, có thểcho thấy nguyên đơn mong muốn công nhận hợp đồng này nên cũng đáp ứng đượcđiều kiện có một hoặc các bên yêu cầu Như vậy, nhóm em nhận thấy Tòa án áp dụngĐiều 129 BLDS khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ là thuyết phục,phù hợp với quy định của pháp luật Qua đó, Toà án đã xem xét, đánh giá được mộtcách đầy đủ, toàn diện và khách quan về công việc đã thực hiện giữa các bên để đưa ramột đường lối xử lý phù hợp

Trang 8

Câu 5: Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật?

Trong Bản án số 16, đoạn cho thấy khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bánkhông cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án

đã có hiệu lực pháp luật là:

“…Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn

đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch

là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết, khi Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.”

Câu 6: Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án là thuyết phục Theo điểm b khoản 1

Điều 688 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì

áp dụng quy định của Bộ luật này.”

Trong trường hợp này, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập vàongày 10/8/2009 tức là trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và giao dịch này đang đượcthực hiện đồng thời có nội dung và hình thức phù hợp với quy định BLDS 2015 nên

có thể áp dụng Bộ luật này cụ thể là thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 129:

“Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc

về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”

Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất này không tuân thủ về hình thức,

cụ thể ở đây là không công chứng, chứng thực Tuy nhiên, theo như nội dung Bản án:

“…Hợp đồng chuyển nhượng đất là Giấy chuyển nhượng đất thổ cư ngày 10/8/2009

đã được thực hiện bằng việc nguyên đơn giao 90.000.000 đồng cho phía bị đơn Sau

đó vì bị đơn không được cấp đất tái định cư là lô B nên các bên thay đổi thỏa thuận thành chuyển nhượng lô A với giá 120.000.000 đồng, phía nguyên đơn đưa tiếp 20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng sẽ giao khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng.”

Trang 9

Vậy theo như Bản án thì bên nguyên đơn đã thực hiện hơn hai phần ba nghĩa

vụ trong giao dịch nên căn cứ theo Điều 116 và khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì giaodịch được Toà án công nhận có hiệu lực, trong trường hợp này thì giao dịch chuyểnnhượng quyền sử dụng đất này không cần phải thực hiện việc công chứng, chứngthực

Câu 7: Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/08/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất ngày 10/08/2009 chưa được công chứng, chứng thực: “Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688

Bộ luật Dân sự năm 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức…”

Câu 8: Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu về hình thức.

Theo điểm d khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 quy định thì thời hiệu yêu cầu Toà

án tuyên bố giao dịch vô hiệu do không tuân thủ về hình thức là hai năm kể từ ngày

giao dịch được xác lập Còn theo khoản 2 Điều 132 BLDS 2015: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực” Vậy, nếu hết thời hiệu khởi kiện thì giao dịch không

tuân thủ về hình thức vẫn có hiệu lực mà không bị vô hiệu

Câu 9: Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong quyết định số 93 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về thời hiệutại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng chứng thực là: “[5] Tuy nhiên từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện ngày 18/4/2017, đã quá thời hạn 2 năm,

bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 điều 132

Bộ luật dân sự 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 điều 132 Bộ luật dân sự 2015.” và “[9] Như trên đã phân tích, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không vi phạm về nội dụng, về hình thức của hợp đồng tuy không được công chứng hoặc chứng thực nhưng trong thời hạn 2 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập, ông Cưu bà Lắm không yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu nên giao dịch này có hiệu lực theo khoản 2 điều 132 BLDS 2015.”.

Trang 10

Câu 10: Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cưu, bà Lắm không cócông chứng, chứng thực, đã vi phạm về mặt hình thức Mà khi vi phạm về hình thức,thì một bên có thể yêu cầu tuyên bố vô hiệu nếu không phạm vào trường hợp ngoại lệđược quy định tại điều 129 BLDS 2015 Nhưng ông Cưu, bà Lắm lại không yêu cầuTòa án tuyên bố vô hiệu và từ thời điểm xác lập hợp đồng cho đến lúc nguyên đơnkhởi kiện đã quá thời hạn 2 năm nên theo khoản 2 Điều 132 của BLDS 2015 thì khiquá 2 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng thì hợp đồng sẽ có hiệu lực, hai bên sẽ thựchiện nghĩa vụ với nhau nên Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất dù chưa được công chứng chứng thực là thuyết phục

Hoặc theo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực

mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Nếu ta xác định được một bên hoặc hai bên thực hiện được 2/3

nghĩa vụ thì ta sẽ áp dụng được khoản 2 Điều 129 Mà dựa trên những gì được ghitrong quyết định số 93 thì ta thấy rằng ông Mến bà Nhiễm đã giao tổng 110.000.000đồng với 90.000.000 đồng là tiền thỏa thuận ban đầu, 20.000.000 đồng là tiền để lấyđược lô A Mà tổng số tiền mà ông Cưu bà Lắm đề nghị phải giao để mua đất lô A là120.000.000 đồng nhưng ông Mến bà Nhiễm đã giao 110.000.000 đồng đã vượt qua2/3 số tiền Ông Cưu bà Lắm đã nhận tiền, đã giao đất và giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho ông Mến bà Nhiễm Nên theo nhóm thì ta có thể áp dụng khoản 2 Điều

129 BLDS 2015 để tuyên bố hợp đồng có hiệu lực khi chưa thực hiện công chứng,chứng thực

VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HUỶ BỎ DO KHÔNG

THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

Tình huống:

Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng mộtmảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giao đất cho ông Cườngnhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc dù ông Minh đã nhiều lần nhắcnhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất

Trang 11

Tóm tắt Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long:

Bà Dệt mua xe của Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ do ôngNguyễn Thành Tơ thừa kế quyền và nghĩa vụ Trong hợp đồng mua bán xe giữa bàDệt và Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ có ghi bên mua là “Trang trí nộithất Thanh Thảo”, nhưng bà Dệt không phải đại diện của “Trang trí nội thất ThanhThảo”, giám đốc đại diện của “Trang trí nội thất Thanh Thảo” là ông Trương HoàngThành Song, người ký kết hợp đồng với Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơlại là ông Trương Văn Liêm Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, chiếc xe vẫn thuộcquyền sở hữu của Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ Vì Tòa án xét thấy lỗidẫn đến vô hiệu hợp đồng của các bên giao dịch là ngang nhau, nên các bên khôngphát sinh quyền và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng mà phải hoàn trả cho nhau những

gì đã nhận

Câu 1: Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng

do có vi phạm.

Giống nhau:

- Đều là các hình thức chấm dứt hiệu lực của hợp đồng dân sự

- Khi hợp đồng chấm dứt thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết CSPL:

“Hợp đồng vô hiệu” theo khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 và “Hủy bỏ hợp đồng do có

vi phạm” theo khoản 1 Điều 427 BLDS 2015

- Hậu quả là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận CSPL: “Hợp đồng vô hiệu”theo khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 và “Hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm” theo khoản

2 Điều 427 BLDS 2015

- Phát sinh bồi thường CSPL: “Hợp đồng vô hiệu” theo khoản 4 Điều 131 BLDS

2015 và “Hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm” theo khoản 3 Điều 427 BLDS 2015

Khác nhau:

Hợp đồng vô hiệu Hủy bỏ hợp đồng do có vi

phạm

Điều kiện Hợp đồng vi phạm một trong các

điều kiện dẫn tới hợp đồng vôhiệu của pháp luật:

Quy định từ Điều 123 đến Điều

129 BLDS 2015 và Điều 408BLDS 2015:

Một trong các bên trong hợpđồng vi phạm các điều khoản cótrong hợp đồng:

Khoản 1 Điều 423 “Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại

Ngày đăng: 23/04/2023, 08:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w