1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Thạc Sỹ Quản Lý Kinh Tế Đề Tài Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Đảm Bảo Chất Lượng Xây Dựng Công Trình Thủy Lợi Trong Giai Đoạn Thực Hiện Đầu Tư Xây Dựng.pdf

105 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Đảm Bảo Chất Lượng Xây Dựng Công Trình Thủy Lợi Trong Giai Đoạn Thực Hiện Đầu Tư Xây Dựng
Tác giả Đỗ Văn Chính
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Xuân Phú
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHAN 1 sua Luận văn thạc sỹ Trang 1 GVHD PGS TS Nguyễn Xuân Phú Học viên Đỗ Văn Chính Lớp 17KT TÊN ĐỀ TÀI "MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG GIAI ĐOẠN[.]

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT

LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG GIAI ĐOẠN THỰC

HIỆN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG"

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong công cuộc phát triển đất nước Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến

công tác thủy lợi, công tác quy hoạch thủy lợi Công trình thủy lợi được xây dựng

từ trước cho đến giai đoạn vừa rồi không có sai sót trong vấn đề quy hoạch, công

trình phục vụ tốt, đóng góp quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân nông

thôn và góp phần phát triển ngành kinh tế khác Miền Trung là vùng thiên nhiên

khắc nghiệt nhưng các công trình thủy lợi phát huy hiệu quả rất tốt, những vùng như

Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… không có những công trình thủy lợi lớn thì điều

kiện của người dân không được như bây giờ Đối với Miền Nam, các công trình

thủy lợi lớn tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát huy khá hiệu quả

Tuy nhiên, những năm gần đây, quy hoạch thủy lợi bộc lộ nhiều vấn đề do

biến đổi khí hậu, những trận mưa lớn, hạn hán gây biến động lớn cộng thêm quá

trình đô thị hóa diễn biến nhanh làm đảo lộn hệ thống thủy lợi Hiện nay, hệ thống

thủy lợi đã không còn đáp ứng được do tốc độ đô thị hóa , công nghiệp hóa, biến

đổi khí hậu…

Tốc độ xuống cấp của các công trình thủy lợi nhanh đến mức mà Thứ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đào Xuân Học đã phải nói rằng chúng ta

“Không thể làm một công trình thủy lợi mà 20 năm đã lạc hậu” Điều đó cho thấy

rằng đã đến lúc báo động chất lượng xây dựng các công trình của chúng ta Chất

lượng xây dựng công trình hiện nay còn nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu

sử dụng và đáng báo động ở nhiều khâu từ công tác khảo sát, lựa chọn nhà thầu,

thiết kế, thi công xây dựng….đến công tác quản lý xây dựng công trình, sự phối hợp

giữa các cơ quan chức năng, các ban ngành, đoàn thể

Trên thế giới:

Đập Sayano-Shushenskaya (LBNga) và sự cố khủng khiếp ngày 17/8/2009

Đập và nhà máy thủy điện Sayano-Shushenskaya được xây dựng trên sông Yenisei

Đây là nhà máy thủy điện có công suất lớn nhất LBNga và lớn thứ 6 trên thế giới

Trang 2

Hình 1: Đập Sayano-Shushenskaya (Liên Bang Nga) 1

Hồi 8h13 (giờ địa phương) tức 0h13 GMT ngày 17/8/2009, có thể do áp lực nước

va tăng đột ngột mà toàn bộ buồng tuôcbin số 2 bị phá tung, các thiết bị nặng chừng

900T gắn trong tổ máy bị đập nát và hất văng Các buồng tuôcbin số 7 & 9 bị phá

hủy hầu như hoàn toàn Các tuôcbin số 3, 4 & 5 bị hư hỏng lớn Nước cuốn như lũ

tràn vào các buồng tuôcbin, dầu đổ và nổ 75 người chết và mất tích

Phá hoại nứt đập vòm bê tông Kolnbrein- Áo 2

Hình 2: công trình nhìn từ thượng lưu

1

Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Viêt Nam

2 Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Viêt Nam

Trang 3

Hình 3: Phá hoại nứt ở thượng lưu đập

Hình 4: Thi công gia cố vết nứt

Hình 5: Hạ lưu đập sau khi gia cố

Trang 4

Vỡ đập Delhi (bang Iowa, Hoa Kỳ) 3

Delhi là đập đất nhỏ trên sông Maquoketa, một phụ lưu của sông Missisipi, tại

đông bắc bang Iowa, Hoa Kỳ Đập cao 12m, dài 34m, được xây dựng từ năm 1922

đến năm 1929, tạo hồ chứa có bề mặt trải rộng trên diện tích 218ha Trạm thủy điện

có công suất 1.5MW vận hành trong những năm 1929 ~ 1973 Hồ chủ yếu có nhiệm

vụ cấp nước và nghỉ dưỡng Ngày 24/7/2010 vừa qua, sau trận mưa lớn 250mm

trong 12 giờ liền, nước sông dâng cao trên thượng lưu đập tới 3m cao hơn mức lũ

thiết kế tràn qua đường giao thông tại đỉnh đập Đập bị vỡ , dòng lũ và nước trong

hồ xói trôi toàn bộ đập đất Tuy là đập nhỏ nhưng khi bị vỡ, thiệt hại dưới hạ du,

nhất là hai thành phố Hopkinton và Monticello Khoảng 8000 người phải chạy lụt

50 ngôi nhà và 20 cơ sở kinh doanh bị ngập nặng Các nhà máy xử lý nước không

hoạt động Thiệt hại đến hàng triệu USD

Trang 5

Hình 8: Lũ đã xói hết phần đập đất, còn trơ lại phần bê tông

Trang 6

Đập Teton (Mỹ): Sự cố vỡ đập 4

Hình 9: Vị trí đập Teton trên bản đồ nước Mỹ

Đập đất Teton được xây dưng trên sông Teton, bang Idaho, tây bắc nước Mỹ Đập

có chiều cao 93m, chiều dài ở đỉnh 940m, đáy rộng 520m, tạo hồ chứa có dung tích

Trang 7

Hình 11: Cảnh tượng lúc vỡ đập

Hình 12: Đập Teton sau khi bị vỡ

Trang 8

Ở Việt Nam:

Phần lớn các Hồ chứa ở miền Đông Nam Bộ đều được xây dựng và đưa vào

khai thác sử dụng trên 10 năm đã bị hư hỏng, xuống cấp, nhất là các công trình Đập

đất, Cống lấy nước và tràn xả lũ: Hồ Sông mây (Đồng Nai) có dung tích trên 10

triệu m3, thiết kế tưới cho 1.300 ha Qua kiểm tra từ năm 1999 cho thấy Đập chính

bị rò rỉ, khi lũ lớn có thể xảy ra sự cố mất an toàn cho dân cư khu vực nhưng đến

nay vẫn chưa được tu sửa, nâng cao chất lượng công trình Hệ thống Hồ công ty

Cao su Phú Riềng có 10 hồ nhỏ, hầu hết đã bị hư hỏng nặng ở phần tràn và phần

mái đập bị sạt lở Đập Nha Trinh(Ninh Thuận) xuống cấp nghiêm trọng sửa nhiều

lần nhưng cũng chỉ chắp vá

Tỉnh thừa thiên Huế có khoảng 240 km đê được chia làm 2 tuyến Phía đông

(173 km) và phía tây hơn (66 km) có tác dụng ngăn mặn cho khoảng 18000 ha lúa

và bảo vệ cuộc sống an toàn của gần 30 vạn dân trong mùa mưa bão đến nay đều đã

xuống cấp nghiêm trọng do quy mô nhỏ, kỹ thuật xây dựng kém, vật liệu không

đảm bảo

Hoà Bình có tổng số 600 hồ chứa lớn nhỏ Các công trình này đều được xây

dựng từ những năm 1970 về trước Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng gần 35 hồ chứa

nước đang bị xuống cấp trầm trọng Hầu hết, các hồ chứa nước trong tỉnh đều trong

tình trạng mái đập bị sạt lở, thân đập bị thấm nước, mặt đập có nguy cơ bị tràn

nước Các huyện, như Kim Bôi, Tân Lạc, Yên Thuỷ đang có nhiều hồ chứa nước bị

hư hỏng

Hà Nội có 86 hồ chứa nước thuộc địa bàn các huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc

Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, Sóc Sơn, Sơn Tây có nhiệm vụ trữ nước tưới cho trên

18.000ha đất canh tác, cắt lũ cho vùng hạ du, tạo cảnh quan môi trường phục vụ dân

sinh và phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Hầu hết các hồ chứa này được xây

dựng từ những năm 60-80 của thế kỷ trước, thời gian vận hành khai thác đã trên 30

năm, phần lớn các hạng mục công trình, tràn xả lũ, đập, cống lấy nước, kênh tưới,

kênh xả lũ… đã xuống cấp, lòng hồ bị bồi lắng nhiều gây ảnh hưởng đến sự an toàn

hồ chứa như Hồ chứa nước Đồng Bồ (huyện Quốc Oai); hồ chứa nước Đồng

Quan (huyện Sóc Sơn); hồ Văn Sơn (huyện Chương Mỹ); hồ Cẩm Quý, Mèo Gù,

Bưởi, Đầm, Vống, Cầu Bò, Đầm Đống, Hát Giang (huyện Ba Vì)…

Trang 9

Tỉnh Quảng Ngãi có Tổng chiều dài các tuyến đê sông và đê ngăn mặn gần 82

km trong đó chỉ có 16% được xây dựng kiên cố, số còn lại đều không đảm bảo chất

lượng, hàng năm khi lũ về gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng hơn cả số tiền để dùng để

đầu tư xây dựng kiên cố…

Trang 11

Hình 18: Sau khi tràn qua đê, nước đã lên đến gần nóc nhà dân ở Trường Yên

Hình 19: Sông Hoàng Long mùa lũ nhìn như vịnh Hạ Long

Hình 20: Trường học cũng chìm sâu trong nước

Trang 12

Từ thực tế trên ta thấy rằng chất lượng xây dựng công trình không đảm bảo

được yêu cầu đặt ra ban đầu cho nên, việc đề ra các giải pháp quản lý nhằm đảm bảo

chất lượng xây dựng công trình trong tất cả các giai đoạn, các khâu là một vấn đề rất

cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên trong

luận văn này mới chỉ đề cập đến trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng Vì Vậy

em đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng xây

dựng công trình thủy lợi trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng”

II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Đưa ra một số giải pháp quản lý nhằm đảm bảo và tăng cường hiệu quả chất

lượng xây dựng công trình trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng đối với việc

lựa chọn nhà thầu, khảo sát, thiết kế, thi công, kiểm định, việc phối hợp giữa chủ

đầu tư và nhà thầu

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu

 Phương pháp khảo sát thực tế

Phương pháp phân tích đánh giá

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu một số giải pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng xây

dựng công trình thủy lợi

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng

(Đề tài chỉ nghiên cứu đến các vấn đề về lựa chọn nhà thầu, khảo sát, thiết kế, thi

công xây dựng công trình, giải pháp phối hợp giữa chủ đầu tư và nhà thầu)

V KẾT QỦA DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC

Đưa ra một số giải pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng xây dựng công

trình một cách có hệ thống đối với các công tác khảo sát, lựa chọn nhà thầu, thiết

kế, thi công xây dựng công trình, phối hợp giữa chủ đầu tư và nhà thầu, sự phối hợp

giữa các ban ngành đoàn thể trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng trong khuôn

khổ và trên cơ sở các quy định hiện hành của nhà nước đã quy định

Tác động đến các nhà đầu tư xây dựng công trình nói chung cũng như ngành

công trình thủy lợi nói riêng quan tâm hơn nữa đến vấn đề chất lượng xây dựng

công trình

Trang 13

VI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM XÂY DỰNG

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY

DỰNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ XÂY

DỰNG

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ XÂY

DỰNG

Trang 14

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM XÂY DỰNG

1.1 Giải thích các từ ngữ

1.1.1 Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây

dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng

công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng

công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có

liên quan đến xây dựng công trình

1.1.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến

việc bỏ vốn để đầu tư xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây

dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản

phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao

gồm phần thuyết minh và thiết kế cơ sở8

1.1.3 Sản phẩm của dự án xây dựng có thể là:

 Xây dựng công trình mới;

 Cải tạo sửa chữa công trình cũ;

 Mở rộng, nâng cấp công trình cũ

1.1.4 Công trình xây dựng là sản phẩm của dự án đầu tư xây được tạo thành bởi

sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được

liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất , phần trên mặt đất, phần

dưới mặt nước và phần trên mặt nước được xây dựng theo thiết kế Công trình xây

dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, và

công trình hạ tầng kỹ thuật9

1.1.5 Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao

quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình.10

 Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, Nhà nước quản lý

toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự

án, quyết định đầu tư, thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây

dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng

8 Luật xây dựng Việt Nam số 16 ban hành ngày 26-11-2003

9

Nghị định 209/2004/NĐ-CP về Quản lý chất lượng công trình xây dựng

10 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Trang 15

Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước

khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân

sách Nhà nước

 Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo

lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của

Doanh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô

đầu tư Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản

lý dự án theo các quy định

 Đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà

nước, Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương đầu tư Doanh nghiệp có dự án tự

chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo quy định của pháp

luật

 Đối với dự án sử dụng các nguồn vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ

đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử

dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn theo thỏa thuận

về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ

% lớn nhất trong tổng mức đầu tư

 Đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương đầu

tư và dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần, trong đó nếu từng dự án thành

phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư

được chấp thuận trong văn bản phê duyệt báo cáo đầu tư thì mỗi dự án thành

phần được quản lý và thực hiện như một dự án độc lập

1.1.6 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt

động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong

hoạt động xây dựng

1.1.7 Tổng thầu xây dựng là nhà thầu chính ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu

tư xây dựng công trình để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộ công

việc của dự án đầu tư xây dựng công trình Tổng thầu xây dựng bao gồm các hình

thức chủ yếu sau: Tổng thầu thiết kế, tổng thầu thi công xây dựng công trình, tổng

thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình, tổng thầu thiết kế-cung ứng vật tư,

thiết bị-thi công xây dựng (Tổng thầu theo hợp đồng EPC), tổng thầu lập dự án đầu

Trang 16

tư xây dựng, thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị và thi công xây dựng công trình

(Theo hợp đồng chìa khóa trao tay)

1.1.8 Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận

thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của

một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình

1.1.9 Nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà

thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu

chính hoặc tổng thầu xây dựng

1.1.10 Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của các bên mời

thầu để thực gói thầu thuộc các dự án quy định trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh,

công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế

1.1.11 Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh

nghiệm do chủ đầu tư sử dụng để thay mình tổ chức việc lựa chọn nhà thầu Tổ

chức chuyên môn này có thể là công ty tư vấn có đủ năng lực, kinh nghiệm trong

đấu thầu hoặc có thể là một công ty đấu thầu chuyên nghiệp…theo các quy định của

pháp luật về đấu thầu

1.1.12 Hồ sơ mời sơ tuyển là toàn bộ tài liệu bao gồm các yêu cầu về kinh nghiệm,

năng lực kỹ thuật và năng lực tài chính của nhà thầu, là căn cứ pháp lý để bên mời

thầu lựa chọn danh sách nhà thầu mời tham gia đấu thầu

1.1.13 Hồ sơ dự sơ tuyển là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ

mời sơ tuyển

1.1.14 Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu

thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu

chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để các bên mời thầu Đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa

chọn nhà thầu trúng thầu, là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp

đồng

1.1.15 Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời

thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu

1.1.16 Gói thầu là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là

toàn bộ dự án, gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc

nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên

Trang 17

1.1.17 Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ

sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện

hành

1.1.18 Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu

Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá

1.1.19 Giá đề nghị trúng thầu là giá do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá dự thầu

của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau khi sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch theo yêu

cầu của hồ sơ mời thầu

1.1.20 Giá trúng thầu là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ

sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

1.1.21 Bảo đảm dự thầu là việc nhà thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc,

ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh để đảm bảo trách nhiệm dự thầu của nhà thầu trong

thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu

1.1.22 Quy chuẩn xây dựng là các quy định bắt buộc áp dụng trong hoạt động xây

dựng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về xây dựng ban hành

1.1.23 Tiêu chuẩn xây dựng là các quy định về chuẩn mực kỹ thuật, định mức kinh

tế-kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc kỹ thuật, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ

thuật và các chỉ số tự nhiên được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành

hoặc công nhận để áp dụng trong hoạt động xây dựng Tiêu chuẩn xây dựng gồm

tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng và tiêu chuẩn khuyến khích áp dụng

1.1.24 Thi công xây dựng công trình bao gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với

các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ công

trình, bảo hành, bảo trì công trình

1.1.25 Giám sát thi công xây dựng công trình là công việc bao gồm:

 Nghiệm thu xác nhận công trình đã thi công đúng thiết kế chưa, theo quy

chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng và đảm bảo chất lượng chưa

 Yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện theo đúng hợp đồng;

 Từ chối nghiệm thu khi công trình không đạt yêu cầu về chất lượng;

 Đề xuất với chủ đầu tư công trình những bất hợp lý về thiết kế để kịp thời

sửa đổi

Trang 18

Và công việc giám sát này phải được thực hiện:

 Ngay từ khi khởi công xây dựng công trình;

 Phải thường xuyên liên tục trong quá trình thi công xây dựng công trình;

 Căn cứ vào thiết kế được duyệt, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp

dụng;

 Trung thực, khách quan, không vụ lợi

1.1.26 Giám sát tác giả là hoạt động giám sát của người thiết kế trong quá trình thi

công xây dựng công trình nhằm đảm bảo việc thi công xây dựng công trình theo

đúng thiết kế

1.2 Các khái niệm về chất lượng, quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng

và phạm trù quản lý chất lượng

1.2.1 Khái niệm về chất lượng

Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với loài người chúng ta từ xưa tới

nay tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi

Tùy theo đối tượng sử dụng từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản

xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và các yêu cầu do

khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh với

chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do con người

và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm

bảo chất lượng cũng khác nhau

Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức

người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn

luôn luôn thay đổi Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn ISO, trong dự thảo ISO

9000:2000, đã đưa ra định nghĩa chất lượng như sau:

“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ

thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên

quan”

Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất lượng:

 Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào

đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém,

cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại

Trang 19

 Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn

biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không

gian và điều kiện sử dụng

 Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng nào đó, ta phải xét và chỉ xét

đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu

cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các

bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng

đồng xã hội

 Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn

nhưng cũng có nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có

thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình

sử dụng

 Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu

hằng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình

1.2.2 Khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng

a Khái niệm sản phẩm xây dựng

Sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn chỉnh (bao gồm cả

phần lắp ráp thiết bị bên trong công trình) Sản phẩm xây dựng là kết tinh thành quả

khoa học – công nghệ và tổ chức của toàn xã hội ở thời kỳ nhất định

b Các khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng

Khái niệm về chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được phổ

biến và rất thông dụng hằng ngày trong đời sống cũng như trong sách báo Có rất

nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm:

 Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các thuộc tính của công trình

thỏa mãn các yêu cầu sử dụng

 Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính của một thực thể

có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn

 Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các đặc trưng của công trình

xây dựng bao gồm các khía cạnh: tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tính

sẵn sàng, độ tin cây, tính thuận tiện và dễ dàng trong sửa chữa, tính an

toàn, thẩm mỹ, các tác động đến môi trường

Trang 20

 Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính, đặc trưng cho giá

trị sử dụng công trình do các giai đoạn hình thành công trình xây dựng

quy đinh

 Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản

phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu

dùng xác định Hay nói cách khác chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự

phù hợp với yêu cầu Sự phù hợp này phải được thể hiện trên cả 3

phương diện:

 Khả năng hoàn thiện;

 Giá thỏa mãn nhu cầu;

 Đúng thời điểm

 Theo quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn

hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu

chuẩn, quy cách đã xác định trước

 Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của sản

phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng

Còn nhiều định nghĩa khác nhau về Chất lượng sản phẩm xét theo các quan

điểm tiếp cận khác nhau Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng được thống

nhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO

9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa mãn của một

tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu"

c Khái niệm về chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ

thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn xây dựng, các quy định

trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế (Quyết định số

18/2003/QĐ-BXD ngày 27/06/2003 của Bộ Xây Dựng)

1.2.3 Khái niệm và vai trò quản lý chất lượng xây dựng công trình

a Các khái niệm về quản lý chất lượng chung:

 Kiểm soát chất lượng là những hoạt động kiểm tra xem những thông số,

tiêu chí chất lượng và đặc tính kỹ thuật có đảm bảo trong suốt quá trình

sản xuất không

Trang 21

 Đảm bảo chất lượng là những cách thức và hành động để đảm bảo rằng

cơ chế kiểm soát chất lượng là thích hợp và đang được áp dụng chính

xác, và do vậy đem lại niềm tin cho khách hàng

 Quản lý chất lượng là những cách thức và hành động cho thấy tất cả các

hoạt động kiểm sóat chất lượng, đảm bảo chất lượng đang diễn ra, và do

vậy chất lượng đang được quản lý

 Quản lý chất lượng toàn diện là những hành động để đáp ứng toàn bộ

những nhu cầu về chất lượng có bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

b Khái niệm về quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động chuyên nghiệp của cơ

quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân có tác động gián tiếp hay trực tiếp

vào công trình thông qua hệ thống các quy định pháp luật nhằm đảm bảo chất lượng

công trình xây dựng trong quá trình xây dựng và khai thác sử dụng

c Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng

Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là một nhiệm vụ rất quan

trọng trong việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Thực hiện tốt công tác quản lý

chất lượng công trình xây dựng sẽ góp phần phòng tránh những lãng phí, thất thoát

trong quá trình xây dựng và làm tăng tuổi thọ công trình, tăng hiệu quả vốn đầu tư

xây dựng công trình

1.2.4 Các phạm trù quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng là quản lý những chức năng; giám sát

các hoạt động cần thiết do yêu cầu chất lượng đặt ra và cần đạt đến

Nội dung quản lý chất lượng

 Lập kế hoạch chất lượng;

 Đảm bảo chất lượng;

 Quản lý chất lượng

Lập kế hoạch: là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc được hoàn

thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và quá trình phát triển kế hoạch hành

động theo một trật tự lô gic

Trang 22

Đảm bảo chất lượng: là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và có hệ thống được

tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo

sự tin tưởng thỏa đáng là sẽ đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng

Có 2 mục đích chính:

 Đảm bảo chất lượng nội bộ;

 Đảm bảo chất lượng bên ngoài, tạo niềm tin cho các bên liên quan

Quản lý chất lượng: là những cách thức và hành động cho thấy tất cả các hoạt

động kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng đang diễn ra và do vậy chất lượng

đang được quản lý

thủy lợi có liên quan đên chất lượng xây dựng công trình

1.3.1 Khái niệm:

Sản phẩm xây dựng thủy lợi là những công trình cụ thể, là tổng hợp và kết tinh

sản phẩm của nhiều ngành sản xuất như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp

vật liệu xây dựng, ngành năng lượng, hóa chất, luyện kim…

1.3.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng thủy lợi 11

a Sản phẩm xây dựng là những công trình như cầu, cống, đập, nhà máy thủy

điện, kênh mương… được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm

xây dựng và phân bố tản mạn các nơi trong lãnh thổ khác nhau Sản phẩm xây dựng

thủy lợi phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, có tính đa dạng và cá biệt cao

về công dụng, về cách cấu tạo và về phương pháp chế tạo Phần lớn các công trình

thủy lợi đều nằm trên sông, suối có điều kiện địa hình, địa chất rất phức tạp, điều

kiện giao thông khó khăn, hiểm trở Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp

của điều kiện tự nhiên tại nơi xây dựng công trình Do vậy, nếu các công tác điều

tra khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên không chính xác sẽ làm cho việc thiết

kế công trình không đảm bảo đúng yêu cầu các quy phạm kỹ thuật, kết cấu không

phù hợp với điều kiện và đặc điểm tự nhiên của khu vực dẫn đến chất lượng công

trình bị ảnh hưởng

11 Giáo trình Kinh tế xây dựng 2010 – Bộ môn Kinh tế

Trang 23

b Sản phẩm xây dựng thủy lợi thường có kích thước rất lớn, có tính đơn chiếc

riêng lẻ, nhiều chi tiết phức tạp, do đó cần phải có kế hoạch, tiến độ thi công, có

biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình

c Sản phẩm xây dựng thủy lợi có thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài Sản

phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn thành mang tính chất tài

sản cố định nên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản

xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Vì thời gian sử

dụng lâu dài nên chất lượng phải được đảm bảo, vì vậy cần phải chú trọng nâng cao

chất lượng xây dựng công trình ở tất cả các khâu: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu

tư, thiết kế, giao nhận thầu theo luật đấu thầu, giám sát chất lượng công trình,

nghiệm thu và các chế độ bảo hành, bảo trì công trình…bất kỳ khâu nào trong các

việc trên sai sót có thể gây ra những hậu quả trong quá trình khai thác sử dụng

d Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, nhiều đơn vị cung cấp vật tư,

máy móc, thiết bị cho các công tác như khảo sát, thiết kế, thi công…và đều có ảnh

hưởng đến chất lượng xây dựng công trình

e Sản phẩm xây dựng thủy lợi mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, văn

hóa, xã hội, nghệ thuật và quốc phòng Đặc điểm này đòi hỏi phải có sự đồng bộ

giữa các khâu từ khi chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi

công, từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây lắp, mua sắm thiết bị,

kiểm tra chất lượng, kết cấu công trình…đến khi nghiệm thu từng phần, tổng

nghiệm thu và quyết toán dự án hoàn chỉnh đưa vào khai thác sử dụng

1.3.3 Những đặc điểm chủ yếu của việc sản xuất xây dựng có liên quan đến

chất lượng sản phẩm xây dựng thủy lợi 12

a Việc sản xuất xây dựng luôn luôn biến động, thiếu ổn định theo thời gian và

địa điểm Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng là cố định

Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức thi công xây dựng công trình, quá trình thi

công thường hay bị gián đoạn Đòi hỏi trong công tác quản lý phải lựa chọn hình

thức tổ chức sản xuất linh hoạt, sử dụng tối đa lực lượng xây dựng tại nơi công trình

xây dựng đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông, tuy nhiên lực lượng lao động tại

đây thường không đáp ứng được trình độ tay nghề mà những thợ tay nghề cao lại

Trang 24

không muốn đến Chính điều này ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng

Mặt khác có những địa điểm lại rất khó khăn cho việc cung ứng vật liệu hoặc vật

liệu khai thác không đảm bảo chất lượng vì vậy chất lượng cũng bị ảnh hưởng

b Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng) thường dài Công trình thủy lợi có khối

lượng lớn, thi công trong điều kiện rất khó khăn nên thời gian thi công phải kéo dài

Điều này dẫn đến vốn hay bị ứ đọng hay gặp rủi ro trong thời gian thi công Đòi hỏi

việc quản lý chất lượng phải thường xuyên, liên tục và có hệ thống từ khi khởi công

công trình đến khi đưa vào khai thác sử dụng Nếu một trong các khâu làm không

tốt chất lượng công trình xây dựng cũng bị ảnh hưởng do đó chất lượng toàn công

trình sẽ bị ảnh hưởng

c Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể, thông qua giao

thầu hay đấu thầu do đặc điểm công trình xây dựng có tính đơn chiếc Ta biết rằng

sản phẩm của ngành xây dựng thủy lợi rất khác so với các ngành xây dựng cơ bản

khác, ta không thể tiến hành sản xuất hàng loạt mà có nhu cầu mới sản xuất và phải

đặt hàng trước thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu Do vậy việc

mua, bán sản phẩm được xác định trước khi thi công Người mua và người bán

được biết trước về đối tượng sản phẩm, giá cả, chất lượng sản phẩm, hình thức và

kết cấu sản phẩm…,do đó trong công tác quản lý tìm mọi giải pháp đề đánh giá về

chất lượng và giá thành sản phẩm Muốn thế phải tăng cường công tác quản lý,

giám sát đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng công trình cho đến

khi hoàn thành đưa vào sử dụng

d Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp Vì công trình có nhiều chi tiết phức

tạp nên việc thiết kế phải có nhiều bộ phận tham gia Nhiều đơn vị thi công cùng

tham gia xây dựng một công trình trong điều kiện thời gian và không gian cố định Vì

vậy nó gây khó khăn trong việc tổ chức thi công và ảnh hưởng đến tiến độ thi công

e Sản xuất xây dựng phải thực hiện ngoài trời, bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện

địa hình, địa chất phức tạp Các ảnh hưởng này làm gián đoạn quá trình sản xuất ra

sản phẩm, quá trình thi công…từ đó ảnh hưởng đến vật tư, thiết bị, sản phẩm dở

dang, chi phí, sức khỏe con người và sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình

Nhìn chung đặc điểm của sản xuất xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến chất

lượng sản phẩm của các công trình xây dựng và giá cả trong xây dựng

Trang 25

1.4 Các yếu tố tác động đến chất lượng xây dựng công trình

Các yếu tố ảnh hưởng có thể chia thành hasi nhóm : các yếu tố bên ngoài và

các yếu tố bên trong

1.4.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài :

1 Nhu cầu của nền kinh tế:

Chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và

nhu cầu nhất định của nền kinh tế Tác động này thể hiện như sau:

a Đòi hỏi của thị trường :

Thay đổi theo từng loại thị trường, các đối tượng sử dụng, sự biến đổi của thị

trường Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nhạy cảm với thị trường để

tạo nguồn sinh lực cho quá trình hình thành và phát triển các loại sản phẩm Điều cần

chú ý là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu,

lượng hóa nhu cầu của thị trường để có các chiến lược và sách lược đúng đắn

b Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất :

Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên, tích lũy, đầu tư ) và trình độ kỹ thuật (chủ

yếu là trang thiết bị công nghệ và các kỹ năng cần thiết) có cho phép hình thành và

phát triển một sản phẩm nào đó có mức chất lượng tối ưu hay không Việc nâng cao

chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế

c Chính sách kinh tế:

Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thỏa mãn các loại

nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến chất

lượng sản phẩm

2.Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật :

Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất

trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi

phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của

nó vào sản xuất Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là

tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả Các hướng chủ yếu của

việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là :

 Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế;

 Cải tiến hay đổi mới công nghệ;

 Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới

Trang 26

3 Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế :

chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh tế, kỹ

thuật, xã hội như :

 Kế hoạch hóa phát triển kinh tế;

 Giá cả;

 Chính sách đầu tư;

 Tổ chức quản lý về chất lượng

1.4.2 Nhóm yếu tố bên trong

Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị

bằng qui tắc 5M, đó là :

a Men : con người, lực lượng lao động được biểu hiện ở năng lực, trình độ chuyên

môn, phẩm chất, đạo đức, ý thức và tinh thần hợp tác

b Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức

sản xuất của đơn vị

c Machines: khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của đơn vị thể hiện ở tính

năng, trình độ hiện đại, tương thích với yêu cầu chất lượng ngày càng cao

d Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư,

nguyên nhiên vật liệu của đơn vị: chất lượng vật liệu, phương pháp cung cấp đúng

yêu cầu, đồng bộ và kịp thời gian

e Measuare : Kiểm soát đo lường chất lượng Xác định việc theo dõi và đo lường

cần thực hiện bằng phương tiện theo dõi và đo lường cần thiết, đó là các thiết bị đo

lường

Trong 5 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất

1.5 Vai trò của chủ đầu tư với chất lượng công trình

Để một công trình xây dựng (CTXD) hình thành và tồn tại bền vững với thời

gian thì công trình đó phải đảm bảo chất lượng Quá trình đảm bảo chất lượng cho

công trình còn gọi là quản lý chất lượng Theo pháp luật Việt Nam, có hai tầng quản

lý chất lượng công trình xây dựng (QLCLCTXD) là: quản lý nhà nước (gián tiếp)

và quản lý của các chủ thể (trực tiếp) Tầng quản lý trực tiếp có ba nhóm chủ thể,

gồm: Chủ đầu tư, Chủ sử dụng - Nhà thầu tư vấn - Nhà thầu xây dựng và cung cấp,

lắp đặt thiết bị Trong đó, Chủ đầu tư (CĐT) là nhân vật trọng tâm, thống nhất chỉ

Trang 27

huy và kiểm soát chất lượng từ khâu khảo sát, thiết kế đến khi công trình hoàn

thành đưa vào sử dụng

Trước hết, có thể nói rằng chất lượng công trình được định hình ngay từ

nhiệm vụ thiết kế Đây là những yêu cầu đầu bài về tiêu chuẩn kỹ thuật và chất

lượng tương ứng với giá trị kinh tế của công trình Rồi các bước tiếp theo, thiết kế,

dự toán được duyệt, hợp đồng với nhà thầu xây dựng được ký kết, CĐT (với vai

trò đại diện cho người quyết định đầu tư) đã đặt mua công trình với chất lượng và

giá cả, giá trị tương ứng

Chúng ta đều biết rằng, hai nhân vật chủ yếu nhất tạo ra công trình là nhà thầu

thiết kế và nhà thầu xây dựng Nếu như công trình do họ tự làm rồi mang bán cho

CĐT thì có thể nói ngay rằng chất lượng CTXD là hoàn toàn do họ, họ là người quyết

định chất lượng đó Nhưng thực tế thì lại khác Có rất nhiều nhà thầu thiết kế và xây

dựng, đương nhiên họ có những năng lực và phẩm chất khác nhau Việc CĐT chọn ai

có ý nghĩa rất quan trọng để tạo lên sản phẩm tốt hay xấu Hợp đồng được ký kết với

một nhà thầu kém năng lực thì cũng có nghĩa là đặt mua trước một công trình chất

lượng kém Lại càng tồi tệ hơn, nếu đơn đặt hàng được đưa vào tay nhà thầu thiếu

lương tâm nghề nghiệp, thiếu đạo đức Trong thực tế diễn ra rất nhiều chuyện chọn

nhầm nhà thầu và cuối cùng thì CĐT, người sử dụng và cộng đồng xã hội phải chịu

một công trình không đáp ứng yêu cầu chất lượng, thậm chí "bệnh tật" và "đoản thọ"

Công trình là do CĐT đặt hàng trước rồi mới thiết kế và thi công, quá trình tạo

ra công trình có sự tham gia của rất nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau trong thời

gian dài Quá trình đó, các nhà thầu chịu rất nhiều yếu tố bất lợi về thời tiết, sự trượt

giá vật tư, vật liệu Đối với công trình vốn ngân sách nhà nước lại thường chậm và

thiếu vốn tạo nguy cơ "lỗ" cho nhà thầu Mặt khác, ham lợi nhuận luôn là thuộc tính

của người kinh doanh, cũng là một yếu tố liên quan đến chất lượng: Chỉ cần giảm

chút ít chất lượng thôi thì lợi nhuận có thể tăng lên vài phần trăm Cũng có nhiều điều

kiện thuận lợi để nhà thầu thực hiện ý định đó như: công trình có nhiều bộ phận cấu

kiện bị che khuất sau khi hoàn thiện, đa dạng hoá của các loại vật tư, vật liệu Điều đó

đòi hỏi quá trình tạo ra công trình, nhất là giai đoạn thi công xây dựng cần phải được

CĐT kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục và nghiệm thu hết sức chặt chẽ trong

từng bước, từng giai đoạn thì công trình mới đảm bảo chất lượng CĐT hoàn toàn

có quyền từ chối nghiệm thu nếu không được đáp ứng các cam kết về chất lượng

Trang 28

Một công trình không được CĐT kiểm soát chặt chẽ, về mặt lý thuyết sẽ dẫn

đến ba khả năng:

Thứ nhất: Công trình vẫn được nghiệm thu và đưa vào sử dụng, vẫn được trả đúng

với giá trị đã ký kết

Thứ hai: Công trình được sửa chữa, gia cố và giám định chất lượng, định giá lại

sản phẩm và được trả với giá trị giảm trừ tương ứng với chất lượng của nó

Thứ ba: Công trình không được chấp nhận

Trong thực tế, khả năng thứ hai ít xảy ra vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có

cả lý do tình hình thực thi pháp luật không nghiêm, chế tài xử lý chưa đầy đủ và

đồng bộ, mặt khác việc đánh giá chính xác chất lượng trong trường hợp này rất khó

khăn Khả năng thứ ba gần như không xảy ra vì đặc thù của công trình xây dựng là

gắn liền với đất và giá trị tài chính lớn, tính xã hội hoá cao nên xử lý như vậy ảnh

hưởng lớn đến rất nhiều mặt về kinh tế, xã hội Như vậy, thường vẫn xảy ra khả

năng thứ nhất và đây chính là điểm thất thoát từ hữu hình biến thành vô hình, công

trình cứ thế mà lặng lẽ giảm tuổi thọ

Như vậy thì CĐT chứ không phải ai khác là người quan trọng nhất trong quá

trình quản lý chất lượng công trình:"CĐT các dự án đầu tư xây dựng (không phân

biệt nguồn vốn và hình thức sở hữu) chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp, toàn diện

CLCTXD và hiệu quả dự án của mình"

Vai trò quan trọng như thế nhưng tình hình hiện nay còn nhiều tồn tại đáng lo

ngại về hoạt động của các CĐT

Đối với nguồn vốn nhà nước, hiện tượng CĐT thiếu trách nhiệm, buông lỏng

quản lý, không coi trọng tuyển chọn nhà thầu, uỷ thác cho tư vấn giám sát chất

lượng mà không hề quan tâm chỉ đạo sát sao,v.v không phải là ít

Đối với công trình vốn của tư nhân, tình trạng CĐT không nắm vững pháp

luật về xây dựng, không coi trọng kỹ thuật, tiết kiệm quá mức cần thiết dẫn đến

công trình không đảm bảo chất lượng cũng khá phổ biến Đặc biệt, đối với các công

trình nhà ở riêng lẻ, trong thời gian vừa qua hàng loạt sự cố xảy ra ở Quảng Ninh,

Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, v.v đang là tiếng chuông cảnh báo

cấp bách về chất lượng xây dựng

Trang 29

Vậy cần phải làm gì để cải thiện tình hình này? Trước hết vẫn là vấn đề nhận

thức Theo Luật Xây dựng, CĐT là người sở hữu, sử dụng hoặc quản lý vốn Đối

với dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, thông tư số 02/2007/TT-BXD ngày

14/2/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn giao cho chủ sử dụng công trình làm CĐT

Như vậy, phần lớn các CĐT sẽ không có năng lực quản lý dự án mà phải thuê tư

vấn quản lý dự án Nhưng như thế không có nghĩa CĐT không cần có kiến thức gì

về quản lý dự án CĐT cần được tập huấn để nắm vững trách nhiệm và quyền hạn

của mình, đồng thời nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của các chủ thể Có như vậy

CĐT mới thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình và giám sát trách nhiệm của các

chủ thể khác CĐT phải là người tâm đức, trách nhiệm cao với công trình như người

cha luôn đau đáu một tình yêu thương, lo lắng, phấn đấu để sinh thành và nuôi

dưỡng đứa con lớn lên khoẻ mạnh và thành đạt! Tiếp theo là vấn đề xây dựng bộ

máy phải được quan tâm ngay từ đầu của giai đoạn chuẩn bị đầu tư Nếu thuê tư vấn

quản lý dự án, CĐT vẫn cần phải có một bộ phận tổng hợp được đào tạo nhanh về

nghiệp vụ Vấn đề lựa chọn nhà thầu có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chất

lượng công trình cần được đặc biệt quan tâm Ngoài ra công tác giám sát, kiểm tra

hoạt động của các nhà thầu và nghiệm thu sản phẩm, cần loại bỏ tư tưởng "khoán

trắng" cho Ban QLDA hoặc tư vấn giám sát mà phải kiểm tra sâu sát từ kế hoạch

đến nội dung và kết quả thực hiện, v.v

1.6 Các phương pháp quản lý chất lượng

1.6.1 Quản lý chất lượng theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000

ISO là một tổ chức quốc tế về vấn đề tiêu chuẩn hóa ra đời năm 1947, có trụ sở

chính đặt tại Genever – Thụy Sỹ , ngôn ngữ sử dụng là tiếng Anh, Pháp, Tây Ban

Nha

Nhiệm vụ của ISO là thúc đẩy sự phát triển của vấn đề tiêu chuẩn hóa và những

hoạt động có liên quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, dịch

vụ quốc tế, sự hợp tác phát triển trong các lĩnh vực trí tuệ, khoa học kỹ thuật và mọi

hoạt động kinh tế khác

ISO 9000 là tiêu chuẩn thứ 9000 của tổ chức ISO có tên gọi là “Tiêu chuẩn về

hệ thống quản lý chất lượng” Bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng đầu

tiên ra đời năm 1987 sau đó được bổ sung, sửa đổi liên tục và mỗi lần sửa đổi bổ

sung thì được gọi là các phiên bản Các phiên bản ra đời lần lượt các năm 1987,

1994, 2000

Trang 30

 Đo lường, phân tích và cải tiến

Thể hiện mối quan hệ qua sơ đồ sau:

Hình 21: Mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000

Trong mô hình trên thì khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định

yêu cầu đầu vào và theo dõi sự thỏa mãn của khách hàng là cần thiết để đánh giá và

xác nhận các yêu cầu của khách hàng có được đáp ứng hay không

2 Về thuật ngữ

 Rõ ràng, dễ hiểu hơn

 Một vài định nghĩa đã thay đổi so với tiêu chuẩn cũ, ví dụ:

 ISO 9000 – 1994 Nhà thầu phụ - nhà cung ứng – khách hàng

 ISO 9000 – 2000 Nhà cung ứng – tổ chức – khách hàng

Trang 31

3 Các yêu cầu mới

 Định hướng vào khách hàng nhiều hơn;

 Mục tiêu chất lượng phải đo lường được;

 Tập trung nhiều hơn vào phân tích, đo lường và cải tiến liên tục;

 Phaỉ đánh giá tính hiệu quả của việc đào tạo

4 Ý nghĩa của bộ tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000

Bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 quy tụ kinh nghiệm của Quốc tế trong lĩnh vực quản

lý và đảm bảo chất lượng trên cơ sở phân tích các quan hệ giữa người mua và người

cung cấp (nhà sản xuất) Đây chính là phương tiện hiệu quả giúp các nhà sản xuất tự

xây dựng và áp dụng hệ thống bảo đảm chất lượng ở cơ sở mình, đồng thời cũng là

phương tiện để bên mua có thể căn cứ vào đó tiến hành kiểm tra người sản xuất,

kiểm tra sự ổn định của sản xuất và chất lượng trước khi ký hợp đồng ISO 9000

đưa ra các chuẩn mực cho một hệ thống chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong

các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ ISO 9000 Hướng dẫn các tổ chức

cũng như các doanh nghiệp xây dựng một mô hình quản lý thích hợp và văn bản

hoá các yếu tố của hệ thống chất lượng theo mô hình đã chọn

5 Các nguyên tắc của quản lý chất lượng

a Hướng vào khách hàng

Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thể cần hiểu các

nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, cần đáp ứng các yêu cầu của khách

hàng và cố gắng vươn cao hơn sự mong đợi của họ

b Sự lãnh đạo

Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất giữa mục đích và phương hướng của tổ chức

Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ để có thể hoàn toàn lôi cuốn mọi

người tham gia để đạt được các mục tiêu của tổ chức

c Sự tham gia của mọi người

Mọi người ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổ chức và việc huy động họ tham

gia đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng được năng lực của họ vì tổ chức

d Cách tiếp cận theo quá trình

Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn lực và các

hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình

Trang 32

e Cách tiếp cận theo hệ thống đối với quản lý

Việc xác định, hiểu và quản lý các quá trình có liên quan lẫn nhau như một hệ

thống sẽ đem lại hiệu lực và hiệu quả của tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu đề ra

f Cải tiến liên tục

Cải tiến liên tục các kết quả thực hiện phải là mục tiêu thường trực của tổ chức

g Quyết định dựa trên sự kiện

Mọi quyết định có hiệu lực được dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin

h Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng

Tổ chức và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ cùng có lợi sẽ

nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị

6 Phạm vi ứng dụng ISO 9000

 ISO 9000 hướng dẫn lựa chọn và sử dụng các tiêu chuẩn về quản lí chất

lượng và đảm bảo chất lượng;

 ISO 9001: Mô hình đảm bảo chất lượng trong thiết kế/triển khai, sản

xuất, lắp đặt và dịch vụ kĩ thuật;

 ISO 9002: Mô hình đảm bảo chất lượng trong sản xuất và lắp đặt;

 ISO 9003: Mô hình đảm bảo chất lượng trong kiểm tra và thử nghiệm

cuối cùng

 ISO 9004 hướng dẫn chung về quản lí chất lượng và các yếu tố của hệ

chất lượng

Sự ra đời của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã tạo một bước ngoặt trong hoạt động

tiêu chuẩn hoá và chất lượng trên toàn thế giới nhờ ở nội dung thiết thực của Bộ

tiêu chuẩn và ở sự hưởng ứng rộng rãi, nhanh chóng của nhiều doanh nghiệp thuộc

nhiều nước trên mọi châu lục Việt Nam áp dụng Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 từ 1990

thông qua 5 tiêu chuẩn cơ bản trong Bộ TCVN 5200, sau này sửa đổi, bổ sung thêm

trong Bộ TCVN ISO 9000 Hiện có trên 100 doanh nghiệp ở nước ta được cấp giấy

chứng chỉ đạt TCVN ISO 9001 và TCVN ISO 9002

1.6.2 Hệ thống chất lượng Q-Base

Hệ thống chất lượng Q-Base đưa ra các chuẩn mực cho một loại hình Hệ

thống chất lượng và có thể áp dụng cho một phạm vi rộng rãi các lĩnh vực công

nghiệp và kinh tế Hệ thống Q-Base đề cập đến các lĩnh vực chủ yếu trong quản

Trang 33

lý chất lượng: chính sách và chỉ đạo về chất lượng, xem xét hợp đồng với khách

hàng, kiểm soát thành phẩm, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu, đào tạo,

cải tiến chất lượng Hệ thống Q- Base là tập hợp các kinh nghiệm quản lý chất

lượng đã được thực thi tại New Zealand và một số quốc gia khác như Australia,

Canada, Thuỵ Điển, Đan Mạch Các nước trong khối ASEAN cũng rất quan tâm

đến Q-Base

Hệ thống chất lượng Q-Base chưa phải là tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9000

nhưng đang được thừa nhận rộng rãi, làm chuẩn mực để chứng nhận các hệ

thống đảm bảo chất lượng Hệ thống Q-Base sử dụng chính các nguyên tắc của

ISO9000 nhưng đơn giản và dễ hiểu hơn Hệ thống đảm bảo chất lượng theo mô

hình ISO 9000, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, khó thực hiện và phức tạp, đặc

biệt đối với các xí nghiệp vừa và nhỏ

Hệ thống Q-Base là lý tưởng đối với các công ty đang chập chững trên con

đường chất lượng và những công ty nhỏ là đơn vị cung cấp hay nhận thầu cho

các công ty lớn Mặc dù đơn giản và dễ áp dụng, nhưng Hệ thống Chất lượng

Q-Base có đầy đủ những yếu tố cơ bản của một Hệ thống Chất lượng, giúp doanh

nghiệp kiểm soát được các lĩnh vực chủ chốt trong hoạt động của mình

1.6.3 QS-9000

Các yêu cầu hệ thống chất lượng hay QS-9000 là tiêu chuẩn chất lượng

chung của nhà cung cấp được thiết lập bởi một nhóm làm việc do 3 Công ty lớn

của Mỹ trong ngành công nghiệp ô tô, đó là Chrysler Daimler, Ford và General

Motors thành lập, với sự trợ giúp từ các nhóm ủng hộ khác nhau như Nhóm hoạt

động Công nghiệp Ô tô, Hội đồng Tư vấn các nhà cung ứng và Tổ chức Tiêu

chuẩn hoá Quốc tế (ISO) Nó được xây dựng trên cơ sở của ISO 9000 và bao

gồm thêm những yêu cầu đặc biệt khác đối với ngành công nghiệp ô tô

Mục tiêu của QS-9000 là phát triển hệ thống chất lượng cơ bản phục vụ cho

việc cải tiến liên tục, chú trọng vào việc ngăn ngừa các khuyết tật và giảm độ

dao động và lãng phí trong chuỗi cung ứng

QS-9000 áp dụng cho các nhà cung cấp vật liệu sản xuất, sản xuất các bộ

phận sản xuất và dịch vụ trong nước hay ngoài nước như dịch vụ cuối cùng đến

Trang 34

3 Công ty lớn và các công ty cùng tham gia QS-9000 chủ yếu tác động mạnh

đến các nhà cung cấp cấp 1 (nghĩa là các nhà cung cấp đưa trực tiếp các bộ phận

và dịch vụ đến 3 công ty lớn) Bản thân Ford, GM và Chryler Daimler không

chịu tác động trực tiếp của các nhà cung cấp cấp 2 và cấp 3 Tuy nhiên, nhà cung

cấp cấp 1 có thể và cuối cùng sẽ tác động đến các nhà thầu bên dưới họ (nhà

cung cấp cấp 2 và cấp 3) đề thoả mãn những yêu cầu của QS-9000

QS-9000 mở rộng với cả các công ty địa phương và ngoài nước, giống như

chứng nhận ISO 9000 Nó có thể áp dụng cho tất cả các công ty là nhà cung cấp

các bộ phận sản xuất hay dịch vụ đến các công ty sản xuất ô tô, trực tiếp hoặc

gián tiếp Nó không thể áp dụng cho các công ty phần mềm và các nhà cung cấp

thiết bị

1.6.4 Phương pháp 5S

5S là nền tảng cơ bản để thực hiện các hệ thống đảm bảo chất lượng Xuất

phát từ quan điểm, nếu làm việc trong một môi trường lành mạnh, sạch đẹp,

thoáng đãng, tiện lợi thì tinh thần sẽ thoải mái hơn, năng suất lao động sẽ cao

hơn và tạo điều kiện cho việc áp dụng một hệ thống quản lý chất lượng đem lại

niềm tin cho khách hàng

5S là chữ cái đầu của các từ tiếng Nhật “SERI”, “SEITON”, “SEISO”,

SEIKETSU” “SHITSUKE”, tạm dịch sang tiếng Việt là “Sàng lọc”, “Sắp xếp”,

Trang 35

- SEIKETSU (Săn sóc):

Là luôn săn sóc, giữ gìn về sinh nơi làm việc bằng cách liên tục thực hiện

Seri, Seiton và Seiso

- SHITSUKE (Sẵn sàng) :

Là tạo cho mọi người thói quen tự giác làm việc tốt và luôn tuân thủ

nghiêm ngặt các qui định tại nơi làm việc

1.6.5 Quản lý chất lượng bằng phương pháp quản lý chất lượng toàn

diện-TQM

1 Khái niệm

TQM (Total Quality Management), theo nghĩa tiếng Việt là: Quản lý chất

lượng toàn diện

TQM là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất

lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài

hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty và

của xã hội

2 Mục tiêu của TQM

Trong TQM mục tiêu quan trọng nhất là coi chất lượng là số một, chính sách

chất lượng phải hướng tới khách hàng Đáp ứng nhu cầu của khách hàng được hiểu

là thỏa mãn mọi mong muốn của khách hàng, chứ không phải việc cố gắng đạt được

một số tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra từ trước Việc không ngừng cải tiến, hoàn

thiện chất lượng là một trong những hoạt động quan trọng của TQM

3 Các đặc điểm chung của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay tại

các công ty có thể được tóm tắt như sau:

 Chất lượng định hướng bởi khách hàng

 Vai trò lãnh đạo trong công ty

 Cải tiến chất lượng liên tục

 Tính nhất thể, hệ thống

 Sự tham gia của mọi cấp, mọi bộ phận, nhân viên

 Sử dụng các phương pháp tư duy khoa học như kỹ thuật thống kê, vừa

đúng lúc,…

Trang 36

4 Các đặc trưng cơ bản của TQM

 Chất lượng được tạo nên bởi sự tham gia của tất cả mọi người

 Chú ý đến mối quan hệ với các lợi ích xã hội: tất cả mọi người đều có lợi

 Chú ý đến giáo dục và đào tạo: Chất lượng bắt đầu bằng đào tạo và kết

thúc cũng bằng đào tạo

 Dựa trên chế độ tự quản (sel - control) - chất lượng không được tạo nên

bởi sự kiểm tra mà bởi sự tự giác

 Chú ý đến việc sử dụng các dữ liệu quản lý dựa trên sự kiên

(management by fact)

 Quản lý và triển khai chính sách: xây dựng và triển khai hệ thống chính

sách trên toàn công ty

 Hoạt động chất lượng: thúc đẩy ý thức tự quản và hợp tác của người lao

động

 Chia sẻ kinh nghiệm và ý tưởng: khuyến khích các ý tưởng sáng tạo và

cải tiến

 Xem xét của lãnh đạo và đánh giá nội bộ: đảm bảo hệ thống chất lượng

hoạt động thông suốt và thực hiện chính sách và kế hoạch chất lượng

 Sử dụng các phương pháp thống kê : thu thập và phân tích dữ liệu về sản

phẩm và quá trình

5 Nội dung cơ bản của Quản lý chất lượng toàn diện TQM

Quản lý chất lượng toàn diện là cách tiếp cận về quản lý chất lượng ở mọi

công đoạn nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chung của doanh nghiệp hay của tổ

chức Mặc dù có nhiều quan niệm, triết lý khác nhau của nhiều tác giả, nhưng nhìn

chung mọi người đều cho rằng TQM là sự lưu tâm đến chất lượng trong tất cả các

hoạt động, là sự hiểu biết, sự cam kết, hợp tác của toàn thể thành viên trong doanh

nghiệp/tổ chức, nhất là ở các cấp lãnh đạo

Các đặc trưng của TQM cũng như những hoạt động của nó có thể gói gọn vào

12 điều mấu chốt dưới đây và đó cũng đồng thời là trình tự căn bản để xây dựng hệ

thống TQM:

Nhận thức: Phải hiểu rõ những khái niệm, những nguyên tắc quản lý chung, xác

định rõ vai trò, vị trí của TQM trong doanh nghiệp

Trang 37

Cam kết: Sự cam kết của lãnh đạo, các cấp quản lý và toàn thể nhân viên trong việc

bền bỉ theo đuổi các chương trình và mục tiêu về chất lượng, biến chúng thành cái

thiêng liêng nhất của mỗi người khi nghĩ đến công việc

Tổ chức: Đặt đúng người vào đúng chỗ, phân định rõ trách nhiệm của từng người

Đo lường: Đánh giá về mặt định lượng những cải tiến, hoàn thiện chất lượng cũng

như những chi phí do những hoạt động không chất lượng gây ra

Hoạch định chất lượng: Thiết lập các mục tiêu, yêu cầu về chất lượng, các yêu cầu

về áp dụng các yếu tố của hệ thống chất lượng

Thiết kế chất lượng: Thiết kế công việc, thiết kế sản phẩm và dịch vụ, là cầu nối

giữa marketing với chức năng tác nghiệp

Hệ thống quản lý chất lượng: Xây dựng chính sách chất lượng, các phương pháp,

thủ tục và quy trình để quản lý các quá trình hoạt động của doanh nghiệp

Sử dụng các phương pháp thống kê: theo dõi các quá trình và sự vận hành của hệ

thống chất lượng

Tổ chức các nhóm chất lượng như là những hạt nhân chủ yếu của TQM để cải tiến

và hoàn thiện chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm

Sự hợp tác nhóm được hình thành từ lòng tin cậy, tự do trao đổi ý kiến và từ sự

thông hiểu của các thành viên đối với mục tiêu, kế hoạch chung của doanh nghiệp

Đào tạo và tập huấn thường xuyên cho mọi thành viên của doanh nghiệp về nhận

thức cũng như về kỹ năng thực hiện công việc

Lập kế hoạch thực hiện TQM: Trên cơ sở nghiên cứu các cẩm nang áp dụng

TQM, lập kế hoạch thực hiện theo từng phần của TQM đẻ thích nghi dần, từng

bước tiếp cận và tiến tới áp dụng toàn bộ TQM

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và toàn

cầu hóa Việc tạo ra sự khác biệt về sản phẩm là khổng dễ dàng chút nào Do đó

để tồn tại và phát triển trên thị trường đầy cạm bẫy thì các doanh nghiệp phải

đảm bảo chất lượng ở tất cả các lĩnh vực “Chất lượng trong công việc, chất

lượng trong dịch vụ

Trang 38

Trong TQM việc kiểm tra chất lượng chủ yếu do nhân viên tự thực hiện Nếu

sản phẩm có khuyết tật ngay trong quá trình sản xuất thì dù có kiểm tra nghiêm ngặt

đến đâu đi nữa cũng không thể loại trừ được hết mà kết quả là người tiêu dùng sẽ

không hài lòng Cho nên thay vì thực hiện các hoạt động kiểm tra, người ta sẽ tiến

hành kiểm soát các nhân tố có thể gây nên khuyết tật trong suốt quá trình sản xuất

Công việc này giúp tiết kiệm nhiều tiền bạc hơn là việc kiểm tra và sửa chữa khuyết

tật Hình thức kiểm tra đã dần thay thế bằng hình thức kiểm soát và tự kiểm soát bởi

chính những nhân viên trong hệ thống Hoạt động quản lý chất lượng chủ yếu bắt

đầu bằng kế hoạch hóa và phối hợp đồng bộ các hoạt động trong doanh nghiệp và từ

đó phong trào cải tiến chất lượng mới có thể phát huy và hệ thống quản lý theo

TQM vì vậy mang tính nhân văn sâu sắc

Muốn nâng cao chất lượng trước hết cần nâng cao chất lượng quản lý, điều

hành trong doanh nghiệp Trách nhiệm về chất lượng trước hết phụ thuộc vào trình

độ các nhà quản lý Việc tuyên truyền, huấn luyện về chất lượng cần triển khai đến

mọi thành viên trong tổ chức Đồng thời, việc lựa chọn các phương pháp quản lý

chất lượng cần thiết phải nghiên cứu cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng

doanh nghiệp TQM đã trở thành một thứ triết lý mới trong kinh doanh của thập

niên 90 và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Qua thực tiễn áp

dụng phương pháp này, càng ngày người ta càng nhận thấy rõ tính hiệu quả của nó

trong việc nâng cao chất lượng ở bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào TQM là một sự

kết hợp tính chuyên nghiệp cao và khả năng quản lý, tổ chức một cách khoa học

Trang 39

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY

DỰNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ XÂY

DỰNG

2.1 Một số suy nghĩ về chất lượng xây dựng công trình

Chất lượng sản phẩm xây dựng phụ thuộc hàng loạt yếu tố từ chuẩn bị đầu tư

đến thực hiện đầu tư và đưa công trình vào sử dụng Trong quá trình ấy tồn tại song

song các chủ thể có liên quan và quan trong trọng là:

- Chủ đầu tư (có đại diện ban QLDA)

- Tư vấn (thiết kế, khảo sát, kiểm định, giám sát )

- Nhà thầu xây lắp (chính, phụ )

Ba chủ thể này luôn chi phối lẫn nhau, kiểm soát lẫn nhau, có tác động qua lại

với nhau (mà ta vẫn gọi là tam giác quản lý) Hệ thống này thường được nhấn mạnh

vừa có quan hệ hành chính, vừa có quan hệ hợp đồng nếu hệ thống được tổ chức

khép kín trong một ngành, một địa phương Như vậy ta hy vọng ở sự khách quan

công tâm trong việc kiểm tra giám sát lẫn nhau, trong mỗi quan hệ được phân ra

như luật định Mặt khác ai cũng rất coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ

quan chức năng nhà nước Như vậy ít khi nhấn mạnh, thậm chí bỏ qua một số vấn

đề hệ trọng và quyết định đến chất lượng sản phẩm xây dựng là tổ chức kiểm tra

của chính nhà thầu Với tư cách là người làm ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch

vụ…các chủ thể không coi trọng chế độ tự kiểm tra của chính mình Đây là vấn đề

lớn song vẫn còn là những tồn tại trong doanh nghiệp xây dựng và tư vấn

Phải chăng là những vấn đề cơ bản sau đây:

- Vấn đề thể chế, chính sách định giá sản phẩm xây dựng;

- Vấn đề thương hiệu - cạnh tranh lành mạnh;

- Vấn đề lương tâm nghề và văn hoá doanh nghiệp

2.1.1 Vấn đề thể chế, chính sách định giá sản phẩm xây dựng

Nhà nước vẫn đang can thiệp trực tiếp vào quá trình định giá sản phẩm xây

dựng như ban hành định mức, đơn giá đầu vào, tỷ lệ các chi phí khác liên quan…mà

chưa thực sự chuyển sang cơ chế thị trường, quan trọng hơn nữa việc xác định giá

công trình hoàn thành lại hoàn toàn tách rời chất lượng của công trình ấy.Việc xác

định chất lượng lại chung chung, đôi khi còn hình thức và dẫu thế nào cũng không

Trang 40

ảnh hưởng đến giá công trình khi quyết toán Sản phẩm chất lượng xấu đôi khi lại

bán được giá cao và ngược lại Đây là nguyên nhân nguồn cội thủ tiêu ý chí, các bên

phấn đấu có sản phẩm tốt trước hết vì lợi ích của chính mình Ngược lại dễ dàng

nhìn thấy lợi nhuận - đương nhiên không chính đáng - khi gian dối làm giảm khối

lượng cũng như chất lượng công trình

Vì vậy phải đổi cơ chế sao cho sản phẩm chất lượng cao phải được bán giá

cao và ngược lại Những phẩm cấp không sử dụng được phải chịu trách nhiệm và

phạt nặng do gây hại đến mức chỉ có thể phá sản Đối với các khâu quyết định đầu

tư, tư vấn…cần có chế tài xử lý trách nhiệm và bồi thường

Ở đây cần phân biệt chức năng quản lý nhà nước với chức năng quản lý, điều

hành của các chủ thể trong quá trình thực hiện đầu tư Chủ đầu tư được chủ động và

tự chịu trách nhiệm trong quản lý chi phí xây dựng sau khi nhà nước duyệt tổng chi

phí nếu là công trình có liên quan vốn nhà nước; trên cơ sở chất lượng sản phẩm và

hiệu qủa đầu tư Nhà nước hướng dẫn, qui định các phương pháp xác lập các định

mức kinh tế, kỹ thuật

Các tổ chức tư vấn chuyên định giá xây dựng được tham gia xác định giá

một cách độc lập với các bên tham gia xây dựng cũng như chủ sử dụng Đó là tổ

chức tư vấn định giá gồm những kỹ sư chuyên định giá bất động sản Mốc giá này

gắn chặt với mức độ chất lượng của sản phẩm Có nghĩa là quá trình trả dần chi phí

đầu tư là quá trình có mặc cả Điều này phải được hoàn chỉnh và đưa vào hợp đồng

giữa các bên theo thông lệ

Với đầu tư bằng vốn nhà nước, nhà nước là người tiêu dùng (tất nhiên là lớn

nhất) do đó nhà nước không thể vừa là người sản xuất lại vừa là người tiêu dùng

Nhà nước lựa chọn các bên cung cấp thông qua đấu thầu đúng đắn Như vậy nhà

nước tập trung vào khâu ra yêu cầu và khâu mua sản phẩm , các khâu còn lại các

bên nhận thầu tự chịu trách nhiệm, tự kiểm tra Làm được như vậy cũng tức là làm

cho quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị …điều tiết thị trường xây dựng mà bỏ đi

những can thiệp hành chính chủ quan hiện nay

2.1.2 Về thương hiệu và cạnh tranh

Trong mọi trường hợp nhấn mạnh công tác kiểm tra, kiểm định trong xây dựng

là hoàn toàn đúng, chức năng chính quản lý nhà nước cần phải có Ngoài ra còn có

Ngày đăng: 22/04/2023, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w