1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

176 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Người hướng dẫn TS. Trịnh Quang Cảnh, ThS. Nguyễn Văn Dũng
Trường học Uỷ ban Dân tộc
Chuyên ngành Nghiên cứu xã hội, Phát triển cộng đồng
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức người DTTS trong sự nghiệp CNH, HĐH 78 Phần III: định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS t

Trang 1

Uỷ ban dân tộc

Báo cáo tổng hợp dự án

điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cơ quan quản lý Dự án : Uỷ ban Dân tộc

Trang 2

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 3

3 Vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số 16

Phần II: Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS hiện nay 23

Vấn đề thứ nhất: Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS ở 3 tỉnh

Lai Châu, Gia Lai, An Giang

23

1 Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS tỉnh Lai Châu trong thời kỳ CNH, HĐH 23

2 Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS tỉnh Gia Lai trong thời kỳ CNH, HĐH 32

3 Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS tỉnh An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH 45

Vấn đề thứ hai: Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS trong cả nước 53

1 Thực trạng về số lượng và đánh giá số lượng đội ngũ trí thức người DTTS 53

2 Thực trạng về chất lượng và đánh giá về chất lượng đội ngũ trí thức người DTTS 60

3 Thực trạng về điều kiện sống, điều kiện làm việc và nguyện vọng của đội ngũ

trí thức người DTTS

67

4 Thực trạng về cơ cấu, phân bố đội ngũ trí thức người DTTS 69

5 Thực trạng về công tác đào tạo, quản lý đội ngũ trí thức người DTTS 75

6 Vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức người DTTS

trong sự nghiệp CNH, HĐH

78

Phần III: định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng

đội ngũ trí thức người DTTS trong thời kỳ CNH, HĐH

ở vùng núi, vùng DTTS

97

Vấn đề thứ nhất: Quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự phát triển đội ngũ

Vấn đề thứ hai: Quan điểm Nghị quyết Đại hội X về trí thức và hướng phát

triển vùng dân tộc và miền núi

113

Trang 4

B Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS trong

thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH vùng núi, vùng DTTS

115

Vấn đề thứ nhất: Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức cho 3 vùng: Tây Bắc,

Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

Trang 5

Mở đầu

I Tính cấp thiết của Dự án

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang tác động mạnh mẽ

đến đời sống của mọi quốc gia trên thế giới Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng này và việc ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của nó vào phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội có ý nghĩa to lớn đối với mỗi quốc gia, dân tộc Trí tuệ đã trở thành một trong những nguồn lực quan trọng của sự phát triển Điều đó cũng đồng thời khẳng định vai trò to lớn của tầng lớp trí thức nói chung, trí thức người dân tộc thiểu số nói riêng đối với tiến trình phát triển của các quốc gia và từng dân tộc thiểu số

Trên đất nước ta có 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có những dân tộc thiểu số đã có đội ngũ trí thức của mình với tính cách là bộ phận của tầng lớp trí thức Việt Nam Đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số góp phần to lớn thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ở địa phương phù hợp với

điều kiện dân tộc mình Đội ngũ này đã lý giải các quan điểm của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm rõ cơ sở khoa học của việc lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng ta Từ đó, góp phần hoạch định chủ trương phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu

số góp phần to lớn thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, địa phương phù hợp từng dân tộc Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số Trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội X của

Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ

tạo bước đột phá về chất lượng, hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế Chú trọng công tác đào tạo và bổ sung cơ chế, chính sách sử dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và trọng dụng nhân tài” [1]

Thực tiễn công cuộc đổi mới đang đặt ra cho đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số những nhiệm vụ lớn lao cần giải quyết Trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số (DTTS) đang đặt

ra những đòi hỏi có tính bức thiết Từ thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ cấu chưa hợp lý Do vậy, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số cần phải được nghiên cứu, xây dựng thành đội ngũ lớn mạnh, có đủ lực lượng đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ mới

II Mục tiêu của Dự án

- Trên cơ sở đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tại 3 tỉnh Lai Châu, Gia Lai, An Giang ở nước ta hiện nay để đưa ra

đánh giá chung về số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

1 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb.CTQG, 2006, Tr.210-211.

Trang 6

- Xác định nguyên nhân, từ đó làm cơ sở để đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời

kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

III Phạm vi và đối tượng điều tra

1 Phạm vi điều tra

- Phạm vi không gian:

+ Tây Bắc: Chọn tỉnh Lai Châu (Mỗi tỉnh chọn một huyện)

+ Tây Nguyên: Chọn tỉnh Gia Lai (Mỗi tỉnh chọn một huyện)

+ Tây Nam Bộ: Chọn tỉnh An Giang (Mỗi tỉnh chọn một huyện)

- Phạm vi thời gian:

+ Điều tra, đánh giá thực trạng năm 2008

+ Đề xuất kiến nghị và giải pháp cho giai đoạn 2010- 2015 và tầm nhìn đến năm 2020

- Phạm vi vấn đề:

+ Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

2 Đối tượng điều tra

- Là cán bộ dân tộc thiểu số có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên công tác tại các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị, các viện nghiên cứu

IV Phương pháp điều tra

1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

V Nội dung của điều tra (3 nội dung)

Phần I: Một số vấn đề chung về Trí thức - Trí thức người dân tộc thiểu số

Trang 7

Phần II: Thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số hiện nay Vấn đề thứ nhất: Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS ở ba tỉnh:

Lai Châu, Gia Lai, An Giang

1 Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS tỉnh Lai Châu trong thời kỳ CNH, HĐH

2 Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS tỉnh Gia Lai trong thời kỳ CNH, HĐH

3 Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS tỉnh An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH

Vấn đề thứ hai: Thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc

thiểu số trong cả nước

1 Thực trạng về số lượng và đánh giá số lượng đội ngũ trí thức người DTTS

2 Thực trạng về chất lượng và đánh giá chất lượng trí thức người dân tộc thiểu số

3 Thực trạng về điều kiện sống, điều kiện làm việc và nguyện vọng của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

4 Thực trạng về cơ cấu, phân bố đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

5 Thực trạng về công tác đào tạo, quản lý đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

6 Vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu

Phần III : Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng

đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ

B Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS trong thời

kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

Vấn đề thứ nhất: Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức cho 3 vùng:

Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

- Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc

- Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS vùng Tây Nguyên

- Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS vùng Tây Nam Bộ

Trang 8

Vấn đề thứ hai: Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức

dân tộc thiểu số trong thời kỳ CNH, HĐH

- Giải pháp Về tạo nguồn và đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

- Giải pháp Thu hút trí thức người dân tộc thiểu số tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng trở về quê hương công tác

- Giải pháp thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội vùng núi, vùng DTTS nhằm xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS và thu hút, huy động trí thức trẻ người DTTS đến làm việc

- Giải pháp về bồi dưỡng nâng cao trình độ, khả năng của đội ngũ trí thức người DTTS

- Giải pháp Trí thức người dân tộc thiểu số tự vươn lên về tư tưởng, đạo đức, tác phong, nghiên cứu khoa học

- Giải pháp Đảng, Nhà nước có chính sách đặc biệt nhằm phát triển kinh tế - xã hội và chăm lo công tác đào tào, bồi dưỡng trí thức người DTTS ở vùng DTTS

có số dân dưới 10.000 người như: Xinh mun, Churu, Lahủ, Pàthẻn, Cống, Brâu, Pu péo, Rơ măm, Si La, Lự … giai đoạn 2010 - 2020

- Giải pháp Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức người DTTS;

Đồng thời, đổi mới về phong cách lãnh đạo và đánh giá cán bộ trong hệ thống chính trị

Kết luận

VI Thời gian thực hiện dự án: Năm 2008

VII Thành viên tham gia thực hiện dự án

2 PGS TS Lê Ngọc Thắng CVC Viện Dân tộc, UBDT Thành viên

3 Th.S Nguyễn Xuân Khuê Trưởng Khoa Kiến thức bổ trợ

Trang 9

6 Th.S Phạm T Kim Cương Khoa Lý luận cơ bản,

Trường Cán bộ dân tộc

Thành viên

7 ThS Nguyễn Thị Tâm Học viện Hành chính Quốc gia Thành viên

8 CN Võ Thanh Liêm Trưởng Ban Dân tộc

11 CN Sơn Thị Ngọc Bích Cán bộ Vụ địa phương III Thành viên

12 CN Nguyễn Thị Minh Chánh văn phòng Ban dân tộc

15 CN Mùa A Trừ Phó Ban Dân tộc tỉnh Lai Châu Thành viên

16 CN Lò Thị Hương Phó ban Dân tộc tỉnh Lai Châu Thành viên

17 CN Hoàng Văn Hữu Phó Văn phòng Ban Dân tộc

Trang 10

Nội dung

Phần 1:Một số vấn đề chung về trí thức - trí thức dân tộc thiểu số

1 Một số khái niệm

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang tác động mạnh

mẽ đến đời sống xã hội của mọi quốc gia trên thế giới Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và việc ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của nó vào phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội có ý nghĩa to lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc Trí tuệ đã trở thành một trong những nguồn lực quan trọng của sự phát triển Điều đó cũng đồng thời khẳng định vai trò to lớn của tầng lớp trí thức nói chung và trí thức người dân tộc thiểu số nói riêng,

đối với tiến trình phát triển của các quốc gia và của từng các dân tộc

Để hiểu rõ đội ngũ trí thức, trí thức người dân tộc thiểu số trước hết ta cần tìm hiểu khái niệm

1.1 Trí thức

Khái niệm "trí thức" được dùng ở nhiều nước trên thế giới và có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia (Intelligentia - nghĩa là thông minh, hiểu biết, có suy nghĩ) Khái niệm này trở nên thông dụng từ những năm nửa sau của thế kỷ XIX, để chỉ những người có học thức, học vấn cao

Trong luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, giáo sư Phạm Tất Dong đã nêu rằng: Trong từng giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia các nhà khoa học thường đưa ra những định nghĩa trí thức khác nhau Hiện nay người ta đã thống kê có trên 60 định nghĩa trí thức

ở nước ta hiện nay một số định nghĩa trí thức đã được nêu trong các cuốn từ điển Trong từ điển triết học viết: "Trí thức - Tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận viên chức" [1] và từ điển chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu:

"Trí thức - một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao

động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao

động đó Sự tồn tại của trí thức với tính cách là một nhóm xã hội đặc biệt gắn liền với việc phân công xã hội giữa lao động trí óc và lao động chân tay" [2] Trong từ điển chính trị: "Trí thức là tầng lớp xã hội gồm những người chuyên lao động trí óc Trí thức bao gồm những nhà hoạt động khoa học và nghệ thuật, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, kỹ thuật nông học, thầy thuốc, luật sư, giáo viên, giáo sư, một bộ phận lớn công chức Trí thức không phải

là một giai cấp riêng biệt vì không giữ địa vị độc lập trong hệ thống sản

1 Từ điển triết học (1996) NXB TB.M trang 598

2 Từ điển CNXH khoa học (1996) TB,.M và NXB ST.H, trang 360

Trang 11

xuất xã hội Trong xã hội (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) trí thức được hình thành và bổ sung chủ yếu là từ những tầng lớp có của" Giáo sư Phạm Tất Dong cho rằng trong rất nhiều định nghĩa về trí thức ta thấy có hai dấu hiệu cơ bản:

- Lao động trí óc có chuyên môn cao

- Có trình độ học vấn cao

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc trong chiến lược phát triển Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, lực lượng trí thức luôn là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức

Trí thức là người lao động trí óc, nhưng không phải là người lao động trí óc nào cũng là trí thức Bởi vì lao động trí óc bao hàm cả những người lao động trí óc từ mức đơn giản đến phức tạp Những người lao động trí óc giản đơn mang tính thừa hành, thì không thể coi là trí thức được Chỉ những người lao động trí óc phức tạp có một trình độ học vấn chuyên môn ở mức

độ cần thiết cho lĩnh vực lao động ấy mới trở thành trí thức

Trong tổng quan kết quả nghiên cứu đề tài “Phát huy nguồn lực chất xám phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá thủ đô”, TS Lưu Minh Trị và PGS.TS Phan Thanh Khôi có nêu: "ở nước ta và nhiều nước khác, việc xác

định mặt bằng cấp ấy của trí thức là được đào tạo từ bậc cao đẳng và đại học trở lên" [3] Trong thời hiện đại, người trí thức phải có trình độ học vấn ít nhất từ bậc cao đẳng trở lên song bằng cấp chỉ là một dấu hiệu Trong thực

tế có những người có trình độ học vấn cao nhưng không đóng vai trò là người trí thức vì họ đi vào hướng lao động của nhóm xã hội khác hoặc chưa vươn tới mức độ lao động sáng tạo của trí thức Ngược lại, cũng có người do

điều kiện này, khác, ít, hoặc không được đào tạo quy củ đến nơi, đến chốn nhưng thông minh có chí tiến thủ, đã tự học hỏi qua sách vở, thực tiễn mà

có được học vấn cao, tiếp cận được kiểu lao động trí tuệ phức tạp của trí thức Nhưng nói chung, đối với điều kiện hiện tại đội ngũ trí thức phải được

đào tạo chính quy, hơn nữa thường xuyên phải được nâng cao trình độ, thậm chí phải đào tạo lại Vấn đề chủ yếu làm cho trí thức khác với bộ phận lao

động xã hội khác là ở kiểu lao động của họ Tất nhiên trong hoạt động lao

động trí óc của người trí thức phải có một điều kiện nữa có ý nghĩa quyết

định là lao động sáng tạo khoa học Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận diện trí thức

Trong quá trình sản xuất, truyền bá và ứng dụng những tri thức khoa học trên cơ sở lao động sáng tạo, trí thức phải đưa ra những nội dung khoa học mới tiến bộ, hữu ích truyền đạt nó trong xã hội và ứng dụng vào thực

3 Lưu Minh Trị - Phan Thanh Khôi (1997) Phát huy nguồn lực chất xám phục vụ CNH - HĐN Thủ đô HN Tr 6

Trang 12

tiễn để nâng cao chất lượng hoạt động xã hội Lao động sáng tạo của trí thức còn có khả năng dự đoán tương lai và đề xuất phương hướng giải quyết các vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội Đặc trưng lao động sáng tạo ấy của trí thức là cơ sở phân biệt tầng lớp này với nhóm xã hội khác

Chúng ta có thể thấy, trong những người lao động trí óc thuộc nhóm xã hội "viên chức" nhiều người có trình độ học vấn đại học, sau đại học Nếu những người ấy chỉ dùng tri thức khoa học của mình nhằm làm tốt nhiệm vụ hành chính mang tính thừa hành, mệnh lệnh, thì họ nghiễm nhiên thuộc nhóm xã hội "viên chức" Nhưng nếu trong số họ có những người ngoài công việc viên chức của mình ra, còn tham gia hoạt động trí óc, lao

động sáng tạo như nghiên cứu khoa học thì đó chính là những người trí thức

Do vậy, người lao động sáng tạo phải có kiến thức cơ bản hệ thống, kiến thức chuyên sâu chuyên ngành và được trang bị phương pháp làm việc khoa học, biết phân tích tổng hợp, lịch sử, logic Trong lao động sáng tạo đòi hỏi yếu tố tình cảm (xúc cảm) tích cực thể hiện trong "cảm hứng sáng tạo" Lao

động khó có thể bắt đầu và đạt kết quả mỹ mãn nếu chủ thể - người trí thức

- chưa có những kích thích cần thiết cho sự hưng phấn cao của hệ thần kinh, tạo ra sự say mê hào hứng thực sự để chiếm lĩnh đối tượng nghiên cứu

Sản phẩm sáng tạo của người trí thức mang tính kế thừa nhưng không lặp lại Những người trí thức khác nhau về trình độ, năng khiếu và phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu nên sản phẩm của họ đa dạng phong phú Tuy nhiên, có những sản phẩm của trí thức đòi hỏi phải hợp tác khoa học giữa các nhà nghiên cứu trong nước, thậm chí cả ngoài nước Trước hết người trí thức phải chủ động lựa chọn tìm ra phương án tối ưu, bao gồm cả việc xác định không gian, thời gian để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Vai trò của các giai cấp trong sản xuất xã hội còn tuỳ thuộc vào mối quan hệ của các giai cấp đó đối với tư liệu sản xuất Do đó, trí thức không

có quan hệ riêng và trực tiếp với tư liệu sản xuất Vậy nên, trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội Tuy vậy, tầng lớp này không phải "siêu giai cấp hay "đứng trên giai cấp", "trọng tài giai cấp" Khi nghiên cứu vị trí của trí thức Lênin chỉ rõ: "Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không" [4] Cho nên, tầng lớp trí thức có khuynh hướng giai cấp Lênin viết: "Sở dĩ trí thức được gọi là Trí thức, chính vì nó phản ánh và thể hiện sự phát triển của các lợi ích giai cấp và của các nhóm phái chính trị trong toàn xã hội một cách có ý thức hơn cả, kiên quyết hơn cả và chính xác hơn cả" [5]

Trong cách mạng vô sản và trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân nhất định phải xây dựng cho mình một tầng lớp trí

4 Lênin V.I (1975) Toàn tập, tập 6, NXB.M Trang 300

5 Lênin V.I (1974) Toàn tập, tập 1, NXB.M Trang 416

Trang 13

thức mới, bằng cách cải tạo, sử dụng trí thức cũ và đào tạo trí thức mới từ con em nhân dân lao động Tầng lớp trí thức mới ngày càng đông đảo, có thế giới quan vô sản có kiến thức khoa học kỹ thuật chuyên môn cần thiết,

có phẩm chất đạo đức cách mạng và môi trường thuận lợi phát huy tài năng trong lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc XHCN

Nói chung, qua nhiều định nghĩa về trí thức đều nhận thấy một đặc trưng cơ bản sau đây: Một tầng lớp xã hội, lao động trí óc phức tạp, có học vấn cao; thực hiện lao động sáng tạo, phổ biến và vận dụng tri thức khoa học vào đời sống xã hội

Tuy nhiên, ta không thể xem định nghĩa trí thức là bất biến mà nó cần

được bổ sung những nội dung mới cho phù hợp với từng điều kiện khách quan trong từng giai đoạn lịch sử của mỗi đất nước

Ngày nay, trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, trí thức vừa là nguồn lực chủ thể của cuộc cách mạng này Đồng thời, cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục làm cho trí thức phát triển nhanh chóng về số và chất lượng; đẩy mạnh quá trình trí tuệ hoá người lao động nói chung và làm xích lại gần nhau giữa các nguồn lực xã hội

Trong những điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước ta, trí thức là lực lượng cách mạng nằm trong khối liên minh công nhân - nông dân và trí thức Khối liên minh đó là nền tảng chính trị - xã hội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trí thức nước ta ngày càng càng phát huy vai trò quan trọng Hồ Chí Minh đã từng nói: "Trí thức là một bộ phận trong lực lượng cách mạng, trí thức có nhiệm vụ thi đua phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì vậy Đảng và Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của nhân dân, vì nhân dân" [6] Trong công cuộc xây dựng đất nước,

Hồ Chí Minh khẳng định: "Trí thức công nông hoá, trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên chủ nghĩa xã hội cũng cần, tiến lên chủ nghĩa cộng sản lại càng cần"[7]

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW Đảng Khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước (BCH Trung ương - Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội ngày 06/8/2008) khẳng

định và chúng ta thống nhất khái niệm trí thức:

“Trí thức là những người lao động trí óc có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với x∙ hội”

Những nội dung cơ bản của khái niệm trí thức đã nêu và phân tích sẽ giúp ta nghiên cứu đội ngũ trí thức tốt hơn; đồng thời, đó cũng là cơ sở để

6 Hồ Chí Minh: Vấn đề, học tập, NXB ST HN 1997, tr 39

7 Hồ Chí Minh : Về vấn đề trí thức cách mạng , NXB Sự thật, HN 1996, tr 395

Trang 14

nghiên cứu trí thức người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

1.2 Trí thức người dân tộc thiểu số

Xuất phát từ định nghĩa trí thức “Nghị quyết Trung ương bảy - Đại hội

X của Đảng Cộng sản Việt Nam” cố nhiên để nhận diện trí thức người DTTS phải vận dụng những tiêu chí chung đã nêu ở trên một cách có tính lịch sử -

cụ thể chúng ta có thể đưa ra khái niệm trí thức người dân tộc thiểu số:

Khái niệm trí thức người DTTS:

Trí thức người DTTS trước hết phải là người của 53 DTTS; là những người lao động trí óc, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị đối với xã hội vùng DTTS Đồng thời, là những người tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên có thể được xem là những tiêu chí để xác định là trí thức người DTTS Song ở một điều kiện nhất định nào đó (mặc dù chưa đạt chuẩn có bằng cao

đẳng trở lên) Có những Già Làng, Trưởng Bản, Thầy Mo, Thầy Thuốc, Thầy Sư và một số người có hiểu biết cao ở một số DTTS có khả năng lao động sáng tạo có năng lực tư duy độc lập, ảnh hưởng lớn đến một vùng đồng bào DTTS thì cũng có thể coi đó là một trong những tiêu chí để nhận diện trí thức người DTTS của dân tộc ấy

Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số được Đảng, Nhà nước ta chăm

lo, xây dựng từng bước căn cứ vào nhu cầu và trình độ phát triển của từng dân tộc và của cả nước Họ là những người có phẩm chất đạo đức, hoạt động nghiên cứu khoa học và vận dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội vùng núi, vùng dân tộc ít người Trí thức là những kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, nhà báo, những cán bộ khoa học kỹ thuật từ cao đẳng trở lên hoạt động trong lĩnh vực lao động sáng tạo Họ vận dụng những hệ thống tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội làm thay đổi trạng thái, tính cách, hình dáng của sự vật hiện tượng Đồng thời, họ là những người góp phần thúc đẩy truyền bá tri thức khoa học trong điều kiện hoàn cảnh của từng vùng, từng dân tộc, góp phần làm giàu thêm vốn tri thức của mỗi dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng Họ trực tiếp góp phần ứng dụng tri thức khoa học - công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng các dân tộc ở nước ta Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì đồng bào các dân tộc hiện nay có chất lượng cuộc sống thấp so với dân tộc Kinh sống ở đồng bằng, do phương thức canh tác lạc hậu và còn một bộ phận sống du canh du cư

Từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27/11/1989) và Quyết

định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (ngày 18/3/1989) đến nay vùng núi nói chung và vùng đồng bào các dân tộc nói riêng đã có bước chuyển biến tốt, kinh tế - xã hội có những bước phát triển Nhiều vùng đồng bào các dân tộc

đã định canh định cư, có cuộc sống ổn định và đang trên đà phát triển Đồng

Trang 15

bào các dân tộc đã có những mô hình làm ăn giỏi ở hầu hết các tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng Nam Bộ, làm cho bộ mặt nông thôn vùng núi có nhiều thay đổi Tất nhiên, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ trí thức

Trí thức người dân tộc thiểu số trên đất nước ta ngoài những yếu tố cơ bản chung của đội ngũ trí thức Việt Nam còn có đặc điểm riêng, do điều kiện sống, điều kiện làm việc, kinh tế - xã hội và môi trường công tác ở vùng núi, vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn làm cho khả năng lao động sáng tạo của họ bị hạn chế; Đảng, Nhà nước cần có sự quan tâm đào tạo thoả đáng để trí thức người dân tộc thiểu số ngày càng phát triển đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH trong thời kỳ đổi mới

2 Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - x∙ hội đất nước thời kỳ CNH, HĐH

Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Châu á Điều kiện địa

lý tự nhiên có đường bờ biển dài, địa hình 3/4 diện tích đất liền là núi và cao nguyên, khí hậu nhiệt đới gió mùa khá thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành kinh tế cũng như hình thành nhiều nét văn hoá đặc sắc, phong phú và mang đậm bản sắc Việt Nam

Lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam đã minh chứng cho sự tồn tại, phát triển của đặc trưng kinh tế nông nghiệp lúa nước là chủ yếu cũng như của truyền thống văn hoá - xã hội phương Đông ở mỗi thời kỳ lịch sử, sự phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá có những đặc trưng riêng và có những bước tiến triển nhất định Sau thắng lợi ở hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, đất nước Việt Nam lại phải đối mặt với khó khăn trong nước có dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng toàn diện cả về kinh tế - xã hội lẫn mô hình vận động phát triển, sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch trong và ngoài nước

Trước bối cảnh đó, Đảng ta tỏ rõ được bản lĩnh và vai trò lãnh đạo của mình, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới Sự nghiệp đổi mới hơn hai mươi năm qua với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới

ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử: “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh Đời sống nhân dân đang được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố

Trang 16

đời sống xã hội Trong đó, việc nắm bắt những biểu hiện mới trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và nhận thức xu thế khách quan của nền kinh tế để hoạch

định đường lối, chính sách phát triển thích hợp, đóng vai trò hết sức quan trọng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã xác định mục tiêu tổng quát 2006-2010: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để

đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”[9]

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả

và thành tựu đáng kể, làm thay đổi tình hình đất nước Đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập WTO tạo cho nước ta khả năng tiếp cận thị trường rộng hơn; tiếp tục đổi mới, chấp nhận cạnh tranh quốc tế với các nguyên tắc đối xử quốc gia bình đẳng hơn; vị thế về mặt pháp lý của các doanh nghiệp Việt Nam được giải quyết thoả

đáng; luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng lên rõ rệt, đầu tư trong nước cũng tăng lên và chất lượng đầu tư cũng cao hơn Có thể khái quát đặc điểm tình hình phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

- Công cuộc đổi mới đã đưa nước ta từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài Trước đây, nền kinh tế Việt Nam thời bao cấp mang nặng tính tự cấp tự túc, công nghiệp nhỏ bé và lạc hậu, các ngành dịch vụ chưa phát triển Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), công cuộc đổi mới được triển khai

đã đưa nước ta từng bước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Lạm phát được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, nền kinh tế bắt đầu có tích luỹ,

đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, những đổi mới trong nền kinh tế còn chậm, tốc độ tăng trưởng một số ngành còn chưa thật vững chắc; đời sống nhân dân nhiều vùng còn khó khăn, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn khá cao, sự phân hoá giàu nghèo đang có xu hướng tăng

- Nền kinh tế có sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành, cụ thể là chuyển dịch cơ cấu từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sự chuyển dịch này thể hiện rõ thông qua sự thay đổi của cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) Tỷ trọng của nông - lâm - ngư nghiệp tăng dần đến năm 1988 sau đó giảm dần Tỷ trọng công nghiệp giảm cho đến năm 1990 do những xáo trộn trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu và hiện nay đang tăng dần Khu vực dịch vụ tăng khá nhanh, từ năm 1992 đã vượt tỷ trọng của khu vực nông-lâm-ngư nghiệp Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành kinh tế biểu hiện ở quá trình phát triển của công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm

- Nền kinh tế có sự chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ tương ứng với sự

9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội X, NXB CTQG HN 2006, tr 185

Trang 17

chuyển dịch cơ cấu ngành Hiện nay, đang phát triển vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá, khu vực công nghiệp tập trung, khu chế xuất Nước ta đã hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc, Trung, Nam Đây cũng chính là những vùng trọng điểm đầu tư, được ưu tiên phát triển, có tầm quan trọng chiến lược nhằm đạt

được hiệu quả cao về kinh tế - xã hội

- Cơ cấu lao động đã có những chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng số lao động xã hội tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao

động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3% Tỷ trọng lao động đã qua

- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho

sự phát triển kinh tế

- Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại được mở rộng, xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 2000-2005 đạt 130,2

tỷ USD Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực

- Vốn đầu tư nước ngoài duy trì đều đặn và tăng khá nhanh cả vốn ODA (vốn hỗ trợ phát triển chính thức) và vốn FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) Vốn ODA từ 1993-2005 với tổng giá trị ký kết hiệp định đạt 24,7 tỷ USD và giải ngân được 15,8 tỷ USD

Tình hình xã hội:

Nhìn chung, tình hình văn hoá và xã hội tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, mức sống dân cư đã được cải thiện rõ rệt Công tác xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã thu được nhiều kết quả tốt, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm từ 58% năm

1993 xuống còn 19,5% năm 2004

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng Mạng lưới

y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển, hầu hết các xã phường đều

có trạm y tế và trên 65% trạm có bác sĩ Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi còn 18%o, trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,4% năm 2000 xuống dưới 25% năm 2005 Tuổi thọ bình quân dân số nước ta nâng lên 71,5 tuổi năm 2005 Kiềm chế tốc độ phát triển dân số, năm 2003 tốc độ tăng dân số là 1,47%, năm

2005 là 1,35%

Trang 18

Hoạt động văn hoá - thông tin phát triển đa dạng góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, làm tăng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phổ biến pháp luật Phong trào xây dựng đời sống văn hoá, gia đình văn hoá phát triển sâu rộng Hoạt động thể dục thể thao tiếp tục phát triển Việc chăm sóc người có công với cách mạng được duy trì và mở rộng Công tác phòng chống tệ nạn xã hội được đẩy mạnh và có hiệu quả

Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đã có nhiều thay đổi quan trọng Hệ thống trường tiểu học và trung học cơ sở thành lập đến tận các xã, phường Đổi mới trong giáo dục được triển khai từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học Giáo dục dân lập, bán công được thành lập Hiện nay, cả nước đã xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng, trình độ dân trí được nâng lên rõ rệt Đầu tư cho giáo dục và đào tạo tăng lên đáng

kể, đặc biệt là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (năm 2005, chi cho giáo dục và đào tạo chiếm 18% tổng chi ngân sách)

Khoa học và công nghệ đã chuyển sang tập trung nghiên cứu ứng dụng phục

vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội: cung cấp tư liệu, luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc; tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ có chất lượng, có sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

2.2 Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế-x∙ hội vùng núi, vùng DTTS hiện nay

Vùng núi, vùng dân tộc thiểu số chiếm một diện tích lớn (3/4 diện tích cả nước) trải rộng trên lãnh thổ 37 tỉnh trong đó có 14 tỉnh hoàn toàn thuộc miền núi

Có diện tích tự nhiên 23 nghìn km2, chiếm 75% đất đai cả nước, có dân số 24 triệu người, chiếm 30% dân số chung của cả nước Có gần 4 nghìn km đường biên giới với các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia; là địa bàn trọng yếu về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hoá - xã hội của nước ta

Những đặc điểm chủ yếu:

+ Vùng núi, vùng dân tộc thiểu số là nơi có địa hình phức tạp, chia cắt bởi các dãy núi và sông suối; ngay trong một không gian không lớn, địa hình cao thấp cũng rất khác nhau; do địa hình, điều kiện tự nhiên như vậy hình thành nên nhiều tiểu vùng khí hậu - sinh thái đặc thù cho pháp phát triển các loại cây trồng, vật nuôi đa dạng

+ Quỹ đất đã sử dụng và có thể sử dụng cho nông, lâm, nghiệp là một tiềm năng rất lớn của vùng núi, vùng DTTS Đất nông nghiệp có trên 5 triệu ha nhưng mới sử dụng được khoảng 65%, trong đó có thể trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả vài triệu ha Đất đỏ ba zan ở Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ thích hợp với cây cao su, điều, cà phê còn khoảng 13 triệu ha đất trống, đồi núi trọc

và mặt nước lớn chưa được khai thác Đương nhiên, diện tích trên đều thuộc loại đất dốc, ở vị trí không thuận lợi, đòi hỏi đầu tư cho khai thác lớn

+ Vùng núi, vùng dân tộc thiểu số là địa bàn phân bố phần lớn các khoáng

Trang 19

sản của nước ta nổi bật là than, apatít, sắt, chì, đồng, vàng, đá quý phục vụ phát triển công nghiệp trong cả nước Hiện nay, nhiều loại khoáng sản đã được khai thác, nhưng khai thác kém hiệu quả, lãng phí Thậm chí ở một số nơi khai thác bừa bãi gây tác hại xấu đến môi trường sinh thái nhân văn

+ Nơi đây còn là địa bàn có trữ năng thuỷ điện lớn đóng vai trò chủ yếu không chỉ đối với cung cấp nguồn điện cho miền núi mà còn đối với cả nước; là

điều kiện quan trọng để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

+ Vùng núi vùng dân tộc thiểu số có nhiều cửa khẩu giao lưu với Trung Quốc, Lào, Campuchia - ở các nước đó cũng đang trong quá trình phát triển Điều

đó đã tạo cho cả vùng một tiềm năng, giao lưu hợp tác thương mại với nước ngoài -

là một xu thế mới để phát triển ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, trong những năm gần đây, kinh

tế trên địa bàn vùng núi, vùng dân tộc thiểu số đã có bước phát triển mới: sự nghiệp trồng rừng, trồng cây ăn quả, chăn nuôi, khai thác khoáng sản, năng lượng

có phát triển đã góp phần đáng kể vào nông sản hàng hoá - xuất khẩu Xu hướng sản xuất gắn với thị trường Hình thành và phát triển vùng sản xuất tập trung cây công nghiệp, cây ăn quả Nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số vươn lên làm ăn giỏi bằng kinh tế trang trại đồi rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng núi, vùng dân tộc thiểu số trên cả nước đã giảm mạnh từ 55% năm 1998 xuống còn dưới 20% năm 2008 Các ngành nghề truyền thống của các dân tộc

được khôi phục Một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và du lịch văn hoá đang có xu hướng phát triển ở các vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

+ Sự nghiệp phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho các dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi Hệ thống trường học đã cơ bản hoàn thành, phần lớn các xã và trung tâm cụm xã đã có trường tiểu học, trung học cơ sở, các huyện có trường trung học phổ thông Hệ thống trường Dân tộc nội trú của các tỉnh ưu tiên nuôi dạy, tạo nguồn cán bộ cho các dân tộc thiểu số ở địa phương

+ Mạng lưới y tế chăm sóc và nâng cao chất lượng sức khoẻ cộng đồng, chất lượng dân số vùng núi, vùng DTTS được củng cố và phát triển Hiện nay, tất cả các huyện có trung tâm y tế, hơn 95% các xã có trạm y tế, các hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, chương trình tiêm chủng mở rộng được thực hiện rộng khắp

+ Văn hoá các dân tộc được giữ gìn và phát huy trong chiến lược xây dựng

và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng bào các dân tộc tích cực hưởng ứng các phong trào, cuộc vận động như: Ngày văn hoá các dân tộc, Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá góp phần gìn giữ, làm giàu thêm các giá trị cao đẹp của văn hoá các dân tộc

Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá được củng cố về tổ chức, số lượng và chất lượng Hơn 85% các địa phương vùng núi, vùng dân tộc thiểu số được phủ sóng phát thanh và truyền hình Các tỉnh, huyện có chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí, các ấn phẩm phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 20

bằng tiếng dân tộc Giao lưu văn hoá giữa các dân tộc được tăng cường để hiểu biết lẫn nhau Các hình thức sinh hoạt văn hoá, di sản văn hoá của các dân tộc được tôn vinh, được công nhận là di sản văn hoá thế giới: Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn; Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

Duy trì nền văn hoá các dân tộc, bảo đảm tiếng nói, chữ viết dân tộc song song tồn tại cùng tiếng Việt Sự phát triển của con em các DTTS sống ở núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Song phần lớn con em đồng bào một số DTTS vẫn mù chữ do không được đến lớp đến trường (vì không đủ ăn, phải đi nương rẫy, trường lớp xa không có điều kiện

đi học và học tập chưa thành nhu cầu cấp bách của nhân dân các DTTS )

Do vậy, sự chênh lệch về học vấn giữa các vùng khá rõ rệt Cho đến nay trình độ học vấn của cư dân các dân tộc thiểu số sống ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số trong cả nước vẫn thấp hơn nhiều so với các tỉnh ở trung du và đồng bằng + Do điều kiện kinh tế còn khó khăn và trình độ dân trí còn thấp nên việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại như: nạn cờ bạc, hút thuốc phiện, bói toán, mê tín dị đoan, đặc biệt là sinh đẻ không có kế hoạch Người dân ở vùng núi, vùng DTTS quan niệm

“nhiều con hơn nhiều của”, “một mặt con hơn mười mặt của” và truyền thống gia

đình đông con, mỗi gia đình có 5-6 con không phải là hiếm, tỷ lệ sinh con của các dân tộc như sau: Êđê 3,37; Xơ đăng 2,7; Sán chay 2,6; Cơ ho 3,3; Chăm 2,9; M’nông 3,2; Xtiêng 3,0; Thổ 2,9; Tà ôi 2,9; Kháng 9,1; Chơ ro 4,1; Xinh mun 5,0;

Hà nhì 3,4; La chí 3,1; Si la 3,5; Pu péo 6,1; Rơ măm 4,4 tỷ lệ số con đông phần nào đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế và chất lượng cuộc sống đồng bào; dồng thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến nâng cao trình độ dân trí, tạo nguồn cho đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Từ những đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội và những mặt thuận lợi khó khăn chủ yếu ở vùng núi, vùng DTTS tác động rất lớn đến mặt hình thành và xây dựng phát triển của đội ngũ trí thức người DTTS trong hiện tại cũng như trong tương lai Đồng thời, những điều kiện ấy đã tạo cho đội ngũ trí thức những nét đặc thù ngoài đặc điểm chung của trí thức Việt Nam thì đội ngũ trí thức vùng DTTS còn có đặc điểm mang sắc thái riêng:

Một là; Trí thức người DTTS thường sống đan xen với các DTTS và dân tộc đa số Hai là; Trí thức người DTTS thường sống ở các đô thị, thị tứ, thị trấn vùng DTTS

Ba là; Trí thức người DTTS hiểu biết truyền thống văn hoá dân tộc mình

đồng thời hiểu biết truyền thống văn hoá Việt Nam

3 Vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số

Đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Là nước đi sau lại muốn rút ngắn khoảng cách phát triển thì phải tăng tốc Nhưng

điều kiện tăng tốc là gì? Thế giới đã tổng kết và thấy rằng thứ “nhiên liệu” dùng để

Trang 21

tăng tốc là “trí tuệ” Thiếu tài nguyên trí tuệ chúng ta sẽ không có sự phát triển trong thời đại ngày nay Nhưng tài nguyên đó lại nằm trong mỗi con người, mà

đặc biệt là nằm trong tầng lớp trí thức Cuộc chạy đua vào thế kỷ XXI đang ở vòng

đua giáo dục - vòng đua nâng cao dân trí, làm phong phú tài nguyên trí tuệ và hình thành đội ngũ nhân tài Những nước phát triển muộn đều ráng sức tạo ra “kho tàng” trí tuệ của mình Còn những nước đã bứt lên hàng đầu cuộc đua cũng hiểu rằng chỉ có trí tuệ mới giữ được lợi thế trong cuộc cạnh tranh

Mấy trăm năm trước ở nước ta, Lê Quý Đôn đã có sự tổng kết tài tình: “Phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng” Sự hưng thịnh của quốc gia phụ thuộc rất lớn vào thái độ của tầng lớp trí thức đối với thể chế xã hội và con đường phát triển của quốc gia đã được vạch ra Ông cha ta đã hiểu rõ điều này, từ đó hình thành nên truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “chiêu hiền

đãi sĩ”, trọng dụng nhân tài Bia đá Quốc Tử Giám ghi rằng: “Các bậc hiền nhân tài giỏi là yếu tố cốt tử đối với một chính thể Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước tăng tiến mạnh mẽ và phồn vinh Khi yếu tố này yếu kém thì quyền lực đất nước bị suy giảm Những người tài giỏi là một sức mạnh đặc biệt quan trọng đối với đất nước”

Đảng ta khẳng định vai trò của trí thức ngày càng quan trọng, bởi vì: “Trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia ” Cuộc đấu tranh giành độc lập, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không thể thiếu sự tham gia của lực lượng trí thức Tư tưởng đó tập trung ở chính sách của Đảng đối với trí thức công bố ngày 21-10-1957: Trí thức là vốn quý của dân tộc, không có trí thức hợp tác với công - nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây đựng đất nước Việt Nam mới không thể hoàn thành được Tầng lớp trí thức là đại biểu tập trung trí tuệ của dân tộc; những trí thức tiến bộ, những nhà lý luận cách mạng vô sản đã góp phần thức tỉnh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đưa họ

đến trình độ tự giác về lý tưởng Trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, với tư cách

là lực lượng có học vấn cao, trí thức tham gia trực tiếp và chủ yếu vào sự nghiệp nâng cao dân trí, đồng thời là bộ phận chủ yếu của nguồn lực khoa học kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất lên chất lượng mới

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là một đòi hỏi tất yếu trong giai đoạn hiện nay Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta phải tiếp thu một cách thông minh những trí thức của nhân loại, tận dụng lợi thế của nước đi sau bằng cách rút kinh nghiệm của các nước đi trước để phát triển kinh

tế gắn với việc giải quyết những vấn đề xã hội và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Tất cả những điều đó cần đến sự tư vấn của các chuyên gia, sự đóng góp thực tế có trách nhiệm và lương tâm của giới trí thức, cần có sự hợp tác nghiên cứu sáng tạo của đông đảo nhà khoa học Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin thường nhắc nhở những người cộng sản phải tạo điều kiện cho trí thức làm việc theo nguyện vọng, sở trường, tài năng và Người chủ trương trả lương cao cho các chuyên gia Tư sản và coi đó là khoản “học phí” để có được học vấn, kỹ thuật, kinh nghiệm Trong công cuộc đổi mới đất nước Đảng ta đã định hướng chiến lược

Trang 22

khoa học và công nghệ trong thời kỳ từ nay đến năm 2020 Vai trò của trí thức Việt Nam là: Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng-an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của đất nước Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhập từ bên ngoài, tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của

đất nước trong thế kỷ XXI

Trong hoàn cảnh mới, chúng ta phải nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của nước nhà; đào tạo, bồi dưỡng sử dụng

đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ Trong hoàn cảnh ấy đòi hỏi chúng ta phải kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, trong bước hình thành nền khoa học công nghệ hiện đại của Việt Nam, có khả năng giải quyết các vấn

đề lớn, vấn đề then chốt nảy sinh trong qúa trình Đó là trách nhiệm lớn lao, nặng nề của đội ngũ trí thức Việt Nam trong đó có đội ngũ trí thức người DTTS Sự hiện diện của đội ngũ trí thức người DTTS đã góp phần hoàn chỉnh bức tranh cơ cấu tầng lớp trí thức Việt Nam trong bức tranh toàn diện về cơ cấu xã hội, dân tộc ở nước ta

Cho đến nay, đội ngũ trí thức Việt Nam có trên 1.477.752 người (cao đẳng,

đại học và sau đại học) và hơn 40.000 trí thức Việt kiều sống ở nước ngoài trong

đó trí thức người DTTS có trên 176 người có trình độ trên đại học và hơn 13.000 người có trình độ đại học, cao đẳng và 78.000 người trình độ trung học chuyên nghiệp (tỷ lệ quá ít, so với trí thức cả nước chỉ khoảng 6,16 %) Số lượng trí thức người dân tộc thiểu số phân bố không đều ngay ở các DTTS, có 5 dân tộc có số lượng trí thức từ 1.500 đến 10.000 người như (Tày, Mường, Hoa, Nùng, Thái), 9 dân tộc có số lượng trí thức từ 150 đến 500 người (như Khơme, Dao, Êđê, Sán Dìu, Sán Chay, H’Mông, Thổ…) và hơn 20 dân tộc chỉ có vài chục người trí thức, có 10 dân tộc chưa có con em tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

Nếu chúng ta đem so sánh trí thức người dân tộc thiểu số với trí thức người Kinh thì số lượng trí thức người dân tộc thiểu số ít ỏi, song như trên đã nói, sự hiện diện của đội ngũ trí thức người DTTS góp phần hoàn chỉnh bức tranh về tầng lớp trí thức, thể hiện dưới dạng thu nhỏ bức tranh về thành phần dân tộc của nước ta

*Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số với vai trò:

Một là, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số là một nguồn lực quan trọng

Trang 23

cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

Khái niệm “nguồn lực” trước đây ít được nhắc đến, nhưng ngày nay đã

được in trong văn kiện của Đảng và Nhà nước Nguồn lực là toàn bộ những yếu tố

đã có và có khả năng góp phần trực tiếp thúc đẩy các qua trình cải tiến xã hội theo con đường đã được lựa chọn tự giác của dân tộc quốc gia Xác định đúng nguồn lực và biến nó thành các yếu tố hiện thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số là một qúa trình phát huy bản lĩnh khoa học và nghệ thuật lãnh đạo quản lý của Đảng và Nhà nước ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

Trên con đường đi lên của vùng núi, vùng DTTS, trí thức người dân tộc là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số vừa là bộ phận quan trọng của nguồn lực con người, vừa là bộ phận chủ chốt của tiềm lực khoa học - kỹ thuật ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

và vì thế đó là: “Nguồn lực quan trọng nhất” Đảng và Bác Hồ luôn khẳng định trí thức là vốn quý của dân tộc, vì vậy đã hết sức tạo điều kiện cho trí thức công tác và học tập, phát huy tài năng của mình để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở các vùng núi, vùng dân tộc thiểu số thực sự có vai trò to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Họ là người tuyên truyền và đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nhằm dần xoá

đi ranh giới cách biệt giữa vùng núi, vùng sâu, vùng xa với đồng bằng Đồng thời,

họ góp phần thực hiện tốt chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc tạo điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh tiến bộ, gắn

bó với sự phát triên chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Với tư duy mới, chất xám là tài nguyên quý báu của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, là điều kiện cho sự giàu có và phát triển ở mỗi vùng, đặc biệt là vùng DTTS, nơi mà nền kinh tế còn kém phát triển và nhiều tiềm năng chưa được khai thác Việc huy động chất xám cho sự phát triển có tầm quan trọng đặc biệt và với tư cách là nguồn lực phát triển thì trí thức người DTTS là lực lượng trực tiếp tham gia lao động sáng tạo trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội vùng núi, vùng DTTS

Hai là; Trong công cuộc đổi mới, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số là chủ thể của cách mạng khoa học - công nghệ ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

Trí thức người dân tộc thiểu số có trách nhiệm chủ yếu trong việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nghiên cứu khoa học về phân công lao động xã hội Những thành tựu mới của nghiên cứu khoa học của trí thức người dân tộc thiểu số được kết tinh ở những sản phẩm như: Các kế hoạch, dự án, phương án … và ở mức độ khác là những phát minh, sáng chế, sáng kiến, giải pháp hữu ích nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

Khi bàn về lao động của trí thức, Lênin chỉ ra rằng phương thức lao động của trí thức là lao động trí tuệ, cá nhân, sản phẩm lao động trực tiếp của học là những trí thức khoa học sáng tạo Lênin cũng chỉ cho chúng ta thấy lao động sáng tạo của trí thức khác biệt so với lao động chân tay hoặc lao động trí óc giản đơn

Trang 24

Người trí thức phải sáng tạo, tìm tòi tổng kết thực tiễn, tiếp cận chân lý Do vậy, thành tựu nghiên cứu khoa học của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số giúp

Đảng, Nhà nước hoạch định những chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn ngay trên mảnh đất quê hương họ

Trong thời đại ngày nay khoa học và kỹ thuật càng gắn kết với nhau Khoa học không tách rời kỹ thuật, khoa học đi trước dẫn đường làm cơ sở cho kỹ thuật Khoa học kỹ thuật rất cần thiết cho vùng núi, vùng dân tộc thiểu số nới mà kinh tế còn kém phát triển Hoạt động khoa học của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu

số không chỉ làm thay đổi căn bản sản xuất truyền thống không chỉ làm thay đổi căn bản hệ thống sản xuất truyền thống mà còn làm xuất hiện những ngành sản xuất mới do những yêu cầu của đời sống xã hội đặt ra Thực tiễn công cuộc đổi mới đòi hỏi hoạt động khoa học của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số không ngừng đáp ứng yêu cầu của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số Đồng thời, công cuộc

đổi mới cũng tạo điều kiện cho trí thức người dân tộc thiểu số tham gia hoạt động lao động sáng tạo Trí thức người dân tộc thiểu số là những người tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, đời sống ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số Hoạt động này của trí thức người dân tộc thiểu

số thể hiện tính tích cực xã hội và cải tạo xã hội một cách thực tế Mác đã thường nói: Nếu để phát minh khoa học - kỹ thuật tự phát đi vào cuộc sống thì nó rất lâu mới “biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp” Tính hữu ích của lao động sáng tạo trí tuệ của trí thức người dân tộc thiểu số phải được đo bằng kết quả của phong trào quần chúng, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất cũng nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao Trí thức người dân tộc thiểu số phải chuyển được sản phẩm nghiên cứu khoa học vào sản xuất đại trà ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc thiểu số Bước chuyển ấy phải vượt qua những trở ngại lớn về tập tục, truyền thống lạc hậu ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số Tuy vậy, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số vừa thông thạo tiếng Kinh vừa thông thạo tiếng mẹ đẻ thì việc tuyên truyền và ứng dụng khoa học - kỹ thuật đến các bản làng sẽ dễ hơn nhiều so với người Kinh sống ở trên vùng dân tộc thiểu số

Ba là; Trong các bước đi lên của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vai trò của trí thức người dân tộc thiểu số góp phần quan trọng thực hiện trí tuệ hoá lao

động nhằm nâng cao năng xuất lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Việc nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ to lớn của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số Đảng ta khẳng định, cùng với khoa học

và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu Do vậy, nét nổi bật trong công việc nâng cao dân trí cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số là huy động tối đa con em dân tộc thiểu số đến lớp đến trường, xoá nạn mù chữ và tái mù chữ ở các bản, buôn làng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Công việc này đòi hỏi

đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, trong đó trực tiếp là đội ngũ giáo viên phổ thông gồm con em dân tộc thiểu số, những giáo viên ở đồng bằng lên hỗ trợ và giúp đỡ vùng núi, phải có sự cố gắng, nỗ lực rất cao mới có thể hoàn thành nhiệm

Trang 25

vụ Nâng cao dân trí vùng đồng bào dân tộc thiểu số là thực hiện trí tuệ hoá lao

động; khi sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ đã làm cho lao động trí óc và lao động chân tay xích lại gần nhau cả về nội dung và tính chất, phương pháp lao động Do đó, Đảng, Nhà nước ta coi giáo dục là động lực quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội và việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đầu tư tập trung vào con người là một đặc trưng quan trọng nhất của cách mạng khoa học - công nghệ mới

ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, việc trí tuệ hoá lao động và nâng cao dân trí đòi hỏi phải phát huy vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số và điều

đó liên quan chặt chẽ đến việc xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, liên quan đến hiệu quả lao động sáng tạo của họ Ngược lại, chỉ có trên mặt bằng dân trí nhất định mới có đủ điều kiện truyền bá tri thức, phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài, mới có thể tạo ra xu hướng phát triển tốt của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số sau này

Nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số là nhằm mục đích trí tuệ hoá lao động, làm cho sản phẩm lao động tăng lên dồi dào Ngày nay, kinh tế tri thức lại càng đòi hỏi trí tuệ hoá lao động Hàm lượng chất xám kết tinh trong mỗi sản phẩm vật chất tăng lên không ngừng Qua đó, sản phẩm của xã hội đa dạng hơn và chất lượng cao hơn, đồng thời chất lượng cuộc sống các dân tộc được nâng lên không ngừng và sẽ rút dần được khoảng cách giữa vùng núi và vùng đồng bằng Chính điều đó đảm bảo cho sự thực hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là bình đẳng - đoàn kết - tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ đưa

về miền núi tiến kịp miền xuôi

Bốn là, Trí thức người DTTS có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá của các dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn hoá Việt Nam nói chung

Dân tộc nào cũng có nền văn hoá riêng, bởi lẽ văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội Trước hết, trí thức người dân tộc thiểu số góp phần duy trì và phát triển nền văn hoá dân tộc thiểu số Qua các tác phẩm nghệ thuật của mình, các văn nghệ

sĩ dân tộc thiểu số luôn cố gắng nêu lên những khát vọng của nhân dân các dân tộc thiểu số về chân, thiện, mỹ và hướng cho nền văn hoá của họ phát triển cùng nhịp với văn hoá của cả nước, của thời đại

Nhân loại đã bước vào thiên niên kỷ mới Người ta dự đoán thế kỷ XXI vừa

có nhiều thuận lợi, thời cơ và cũng đầy thách thức Giới trí thức, văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số có trách nhiệm càng lớn lao khi mà sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ với những thành tựu kỳ diệu về mọi mặt, đưa con người đến nền văn minh mới, lực lượng sản xuất phát triển, khoa học - công nghệ phát triển đột biến, các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại…phát triển chưa từng có Sự phát triển đó của khoa học - công nghệ đã rút ngắn khoảng cách giữa các châu lục và quốc gia Xu thế toàn cầu hoá đã đưa các nước, các dân tộc xích lại gần nhau Do vậy, sự ảnh hưởng và tác động lẫn nhau giữa các nền văn hoá, sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại đang trở thành cơ hội của mọi quốc gia, của các dân tộc “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, các hoạt động văn hoá văn nghệ có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách, làm phong phú

Trang 26

đời sống tinh thần Việt Nam Bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hoá phải được thấm đậm”

Trong điều kiện ấy, trí thức người DTTS với vai trò trách nhiệm lớn lao của mình trước đồng bào dân tộc thiểu số, cần phải đấu tranh không khoan nhượng với

xu hướng lai căng làm băng hoại văn hoá bản địa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hoá tiên tiến phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị của từng DTTS Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số hiểu rõ thời đại ngày nay dù quốc gia nào, dân tộc nào, có trình độ văn hoá kinh tế, chính trị, xã hội …ở mức nào cũng không thể phát triển mạnh mẽ nếu không mở rộng giao lưu với bên ngoài Thế giới đương đại đòi hỏi mỗi dân tộc phải tự khẳng định mình để hội nhập với cộng đồng thế giới Nếu chúng ta không

mở rộng giao lưu với bên ngoài, “Bế quan toả cảng”, bài ngoại mù quáng, tự bằng lòng với những gì đã có, chắc chắn chúng ta sẽ bị tụt hậu so với thế giới Nhưng nếu mở cửa vô điều kiện để “nhập siêu” tất cả những gì xa lạ với truyền thống văn hoá dân tộc thì sớm muộn gì “ta cũng sẽ chẳng là ta” Do đó, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, dân tộc; là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc Đây chính là đòi hỏi sự nhạy cảm trong lao động sáng tạo không mệt mỏi của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở vùng núi, vùng DTTS

Năm là, Trí thức người DTTS có trách nhiệm trực tiếp trong việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại ngày nay ở vùng núi, vùng DTTS

Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, bằng các hoạt động chuyên môn của mình góp phần trực tiếp tuyên truyền và giải quyết các vấn đề bức xúc, mang tính toàn cầu, động viên tuyên truyền đồng bào các dân tộc thiểu số định canh định cư, xây dựng bản làng văn minh, không khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, bảo

vệ nguồn nước, thực hiện tốt vấn đề dân số kế hoạch hoá gia đình, v.v theo kế hoạch và các chỉ thị của nhà nước ban hành

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhấn mạnh: “Khoa học và công nghệ là vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia, phần thắng của cuộc chiến ai thắng ai trên thị trường quy cho cùng là do trí tuệ và năng lực sáng tạo của cả dân tộc biết học hỏi một cách khôn ngoan kinh nghiệm và thành tựu tri thức của nhân loại Muốn vậy phải chú trọng bồi dưỡng và sử dụng tốt nguồn nhân lực có trình độ văn hoá kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao”

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc đào tạo, bồi dưỡng quy tụ đông đảo đội ngũ trí thức người DTTS có phẩm chất chính trị vững vàng, có tinh thần yêu nước thiết tha, có lòng nhiệt tình say

mê nghề nghiệp là trực tiếp giúp Đảng, Nhà nước c/ó những quyết sách đúng đắn trong qúa trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng đồng bào DTTS

Vai trò của trí thức người DTTS ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết Trí thức vừa là nguồn lực của sự phát triển kinh tế -xã hội đồng thời còn là một thành phần trong khối liên minh công - nông - trí trong công cuộc xây dựng CNXH Khi nhận thức đúng đắn điều đó, chúng ta càng thấy việc xây dung đội ngũ trí thức người DTTS và phát huy vai trò của họ trong lao động sáng tạo, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và cấp bách hiện nay

Trang 27

Phần II: Thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số hiện nay

Vấn đề thứ nhất:Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS ở ba tỉnh:

Lai Châu, Gia Lai, An Giang

1 Thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu trong thời

kỳ CNH, HĐH

1.1 Điều kiện tự nhiên

Lai Châu là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc Việt Nam, nằm trên toạ độ 22051 đến 22049 vĩ độ Bắc Từ 102019 đến 103059 kinh độ Đông Diện tích

tự nhiên toàn tỉnh 9.112,32 km2, diện tích đứng thứ 6/63 tỉnh thành cả nước; phía Bắc tiếp giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc; phía Tây và Nam tiếp giáp với tỉnh

Điện Biên và Sơn La; phía Đông tiếp giáp với tỉnh Lào Cai, Yên Bái; có đường biên giới với Trung Quốc dài 273km2, có cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng Tỉnh có

vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia

Là một tỉnh miền núi có địa hình chia cắt phức tạp, trên 60% diện tích nằm trên độ cao hơn 1.000m, 90% diện tích có độ dốc lớn hơn 250 Khí hậu chia làm 2 mùa: mùa mưa và mùa khô; mùa mưa thường có lũ quét, gió lốc và mưa đá Là tỉnh thuộc khu vực đầu nguồn xung yếu của sông Đà, có tiềm năng rất lớn về thuỷ điện

và cấp nước cho đồng bằng Bắc Bộ

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Lai Châu là tỉnh có vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh, là khu vực phòng hộ cho đồng bằng Bắc Bộ nên luôn luôn được sự quan tâm của Chính phủ và

sự giúp đỡ, hỗ trợ có hiệu quả của tổ chức trong nước và quốc tế

Tỉnh có 6 huyện, thị (3 huyện biên giới với tổng số 98 xã, phường, thị trấn, với 72 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn Hiện tại tỉnh được phê duyệt 66 xã đặc biệt khó khăn thuộc diện thụ hưởng chương trình 135 giai đoạn II - trong đó có 21 xã biên giới, 1 xã an toàn khu)

Về dân số: Toàn tỉnh có 336.936 người, mật độ dân số 36 người/km2 (so với cả nước là 51 người/km2) Dân số đô thị 8,5%, dân số nông thôn 91,5%/dân số toàn tỉnh Dự kiến đến năm 2010 dân số toàn tỉnh khoảng 350 đến 360 ngàn người, năm 2020 dân số của tỉnh 410 - 415 ngàn người Tỉnh có 20 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn; dân tộc Thái chiếm 31,19%, dân tộc Mông 21,87%, dân tộc Dao 11,81%, dân tộc Kinh 12,7%, dân tộc Hà Nhì 5,12%, còn lại là các dân tộc khác Có 5 dân tộc đặc biệt khó khăn là: La Hủ, Mảng, Khơ Mú, Cống, Si La

Về kinh tế: giai đoạn 2004 - 2008 nền kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt trên 10%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng xác định, tỷ trọng các ngành công nghiệp xây dựng, thương mại, dịch vụ đều tăng so với năm 2003

Tỷ trọng ngành nông, lâm, nghiệp năm 2007 giảm 7,2% so với năm 2003 Lợi thế cho phát triển kinh tế của tỉnh là: có vị trí nằm cạnh hành lang kinh tế Côn

Trang 28

Minh - Hà Nội - Hải Phòng; tiếp giáp tỉnh Lào Cai và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)

là nơi kinh tế đang trên đà phát triển nên có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thu hút các nhà đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; các trục giao thông: Quốc lộ 4D, quốc lộ 12, quốc lộ 32 nối Lai Châu với Hà Nội và các tỉnh tạo điều kiện để Lai Châu giao lưu với các vùng trong cả nước Lai Châu có cửa khẩu với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

Về đất cho sản xuất nông, lâm nghiệp: diện tích tự nhiên lớn và hiện còn 49,7% diện tích đất trống chưa sử dụng Với lợi thế về khí hậu như lượng mưa lớn, khí hậu mát mẻ là điều kiện thuận lợi cho tỉnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

Có tiềm năng lớn về thuỷ điện: với lượng mưa hàng năm cao, lượng nước sông, suối dày đặc, độ dốc lớn nên có tiềm năng phát triển thuỷ điện như: thuỷ

điện Bản Chát khoảng 200MW; thuỷ điện Huối Quảng khoảng 560 MW, thuỷ điện Lai Châu khoảng 1.100 MW; ngoài ra còn có khoảng 20 điểm có thể xây dựng các công trình thuỷ điện có công xuất từ 3-30 MW

Có tiềm năng về khoáng sản: Qua tài liệu điều tra ban đầu, Lai Châu có trên

120 điểm mỏ với chủng loại rất phong phú như: đất hiếm, sắt, đồng, chì, vàng có khả năng khai thác, chế biến và xuất khẩu Nhiều núi đá vôi với hàm lượng canxi lớn, các mỏ đá đen, đá trắng, đá màu có thể phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

Có tiềm năng về du lịch: có thể tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, văn hoá dân tộc, các tua du lịch đến tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

Đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh đa số còn trẻ, có năng lực, năng động,

đoàn kết, dám nghĩ, dám làm và đặc biệt là có tâm huyết xây dựng tỉnh Lai Châu chính trị ổn định, kinh tế phát triển, quốc phòng - an ninh vững chắc, phát triển bền vững thoát khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi, Lai Châu còn tồn tại những khó khăn nhất định:

- Về giao thông: toàn tỉnh có 5 tuyến quốc lộ đi qua nhưng mặt đường hẹp, lắm cua nhiều dốc Đa số các tuyến đường giao thông nông thôn vẫn đang là

đường đất, mùa mưa đi lại rất khó khăn; còn 3 xã chưa có đường ôtô đến trung tâm Mật độ đường quốc lộ, tỉnh lộ thấp 0,1km/km2

- Về điện: năm 2006 tỉnh mới được đầu tư 2 tuyến đường dây điện 110 KV, thị xã và 4 huyện đã có điện lưới quốc gia, 1 huyện sử dụng điện tự phát Toàn tỉnh

có 56% số hộ được dùng điện

- Về thuỷ lợi: Hầu hết là những công trình nhỏ, thiếu đồng bộ, mới đáp ứng tưới tiêu chủ động được 4.000 ha/12.000 ha ruộng nước Số hộ được dùng nước sạch chiếm 35%

- Cơ sở hạ tầng xã hội: bệnh viện, trường học, trường đào tạo, trung tâm văn hoá trong tình trạng vừa thiếu về số lượng, vừa kém về chất lượng là thách thức lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

- Trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất và sinh hoạt của một số dân tộc

Trang 29

còn lạc hậu, tình hình lợi dụng tự do tín ngưỡng để tuyên truyền đạo trái Pháp luật còn diễn biến phức tạp; hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều xã còn yếu kém

- Quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, phần lớn là tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hoá nhỏ bé, phân tán, kém hiệu quả

- Tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnh ở mức cao là 39,9% và số hộ nghèo chủ yếu là

đồng bào DTTS Dân tộc La Hủ, Mảng tỷ lệ đói nghèo cao (trên 90%)

- Nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, một bộ phận yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, lao động được đào tạo chiếm tỷ lệ thấp 11%

*Từ kết quả điều tra cho thấy thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu trong giai đoạn hiện nay được đánh giá như sau:

Một là, Tình hình chung về đội ngũ trí thức của tỉnh Lai Châu

Tổng số cán bộ, công chức, viên chức trong toàn tỉnh là 17.609 người trong

đó khối Đảng, đoàn thể là 1.317 người; khối quản lý Nhà nước và sự nghiệp là 14.865 người; khối doanh nghiệp là 1.347 người; khối nội chính 80 người Cán bộ người dân tộc Kinh: 12.978 người chiếm 73,7%; cán bộ người dân tộc thiểu số: 4.631 người chiếm 26,3% so với tổng số đội ngũ cán bộ trong toàn tỉnh Cán bộ có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên là 6.673 người, trong đó cán bộ người dân tộc thiểu số là 1.048 người chiếm 15,7% đội ngũ trí thức toàn tỉnh

Hai là, thực trạng đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu (Xem Biểu

Trang 30

(Nguồn số liệu: Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Sở Nội vụ tỉnh Lai Châu)

Thống kê số l−ợng đội ngũ trí thức DTTS tỉnh Lai châu

Trang 31

(Nguồn số liệu: Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Sở Nội vụ tỉnh Lai Châu cung cấp)

Thông qua số liệu cho ta thấy: Đội ngũ trí thức toàn tỉnh có trình độ từ cao

đẳng trở lên là 6.708 người, trong đó cán bộ người dân tộc thiểu số là 1.048 người chiếm 15,7% Nếu so với dân số thì tỷ lệ này rất bất cập; Người Kinh chiếm 12,7% dân số nhưng đội ngũ trí thức chiếm đến 84,3% trong khi đó người dân tộc thiểu số chiếm 87,3% nhưng đội ngũ trí thức chỉ chiếm có 15,7% đội ngũ trí thức toàn tỉnh

Về giới tính: Nam chiếm 55,1%, nữ chiếm 44,9%; người dân tộc thiểu số nam chiếm 52%, nữ chiếm 48% Về độ tuổi, cán bộ dưới 35 tuổi là 4.730 người chiếm 70,5%; từ 36-45 tuổi là 1.580 người chiếm 23,6%; từ 46-60 tuổi là 398 người chiếm 5,9%

Về độ tuổi, người dân tộc thiểu số dưới 35 tuổi là 701 người chiếm 66,9%;

từ 36-45 tuổi là 245 người chiếm 23,4%; từ 46->60 tuổi là 102 người chiếm 9,7% Qua số liệu về độ tuổi cho thấy, phần lớn cán bộ trí thức của tỉnh trẻ tuổi dưới 35 tuổi chiếm 70,5% và người dân tộc thiểu số trẻ tuổi chiếm 66,9%; từ 46-60 tuổi tỷ

lệ chung là 5,9% và người dân tộc thiểu số ở độ tuổi này là 9,7% Nhiều trí thức trẻ, đây là lợi thế rất lớn của tỉnh phục vụ cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Lai Châu

Theo lĩnh vực công tác khối quản lý Nhà nước cán bộ dân tộc thiểu số có

945 người chiếm 15,6% tổng số cán bộ quản lý Nhà nước và so với tổng số chiêm 14,2%; Nam chiếm 50,8%, nữ chiếm 49,2%; Về độ tuổi dưới 35 tuổi chiếm 70,2%; từ 36-45 tuổi chiếm 21,4%; từ 46-60 tuổi chiếm 8,4%

Cán bộ dân tộc thiểu số của khối Đảng, đoàn thể có 66 người chiếm 18,6%

Trang 32

so với tổng số cán bộ của khối, nên so với tổng số cán bộ toàn tỉnh chiếm 0,9%; về giới tính: Nam chiếm 57,6%, nữ chiếm 42,4%; về độ tuổi dưới 35 tuổi chiếm 46,4%, từ 36-45 tuổi chiếm 37,9%; từ 46-60 tuổi chiếm 15,2%

Cán bộ dân tộc thiểu số khối sản xuất kinh doanh và khác chiếm 14% trong tổng số; trong đó nam chiếm 65,7%, nữ chiếm 34,3%; về độ tuổi dưới 35 chiếm 60%, từ 36-45 tuổi chiếm 30%, từ 46-60 tuổi chiếm 10%

Tỷ lệ trí thức so với số dân toàn tỉnh là 1,9% Về tình hình trí thức dân tộc thiểu số của tỉnh: Dân tộc Phù Lá; Mảng, Giáp, Kháng, La Hủ không có cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên Tỷ lệ trí thức dân tộc thiểu số so với dân số: Tỷ lệ trí thức

so với số dân của dân tộc Tày là 3,2%, tương tự dân tộc Thái là 0,6%, Dao là 0,2%, H’Mông là 0,1%, Mường là 3,4%, Hà Nhì 0,6%, Cao Lan 1,7%, Cống 0,6%, Khơ

Mú 0,2%, Lào 0,2%, Lự 0,1%, Si La 0,4%, Lô lô 2,2%, Thổ 2,7%, Hoa 0,7%; các dân tộc khác 0,1% Qua số liệu cho thấy tỷ lệ trí thức DTTS so với số dân rất thấp như dân tộc Thái (0,6%), Dao (0,2%), H’Mông (0,1%), Hà Nhì (0,6%), Khơ Mú (0,2%), Lự (0,1%) tỷ lệ bình quân chung toàn tỉnh là 1,9% Trí thức của dân tộc Tày, Mường, Thổ có tỷ lệ so với dân số khá cao, điều này chưa thể nói lên chất lượng dân số cao mà là do cán bộ ở các tỉnh và địa phương khác chuyển đến công tác tại tỉnh Lai Châu (mới tách tỉnh)

Theo Báo cáo của Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Cục Thống kê tỉnh Lai Châu: Đội ngũ trí thức người DTTS nếu chia theo tỷ lệ số dân của các DTTS trong một tỉnh thì trí thức người DTTS bản địa có sự chênh lệch đáng kể

+ Sự chênh lệch về trình độ ở khối Đảng:

Nếu đem so sánh đội ngũ trí thức của dân tộc H’Mông với số dân của dân tộc ấy ở trình độ cao đẳng thì cứ 61.844 người dân có 1 người có trình độ ở bậc cao

đẳng; Tương tự như vậy, ở các DTTS khác thì tỷ lệ là 1/19.690; dân tộc Dao 1/11.571; Dân tộc Thái 1/10.210; Dân tộc Hà Nhì 1/792

ở trình độ đại học, dân tộc H’Mông cứ 20.614 người có 1 người đạt trình độ

đại học; Các DTTS khác cứ 7.876 người có 1 người đạt trình độ đại học; tương tự như vậy, ở dân tộc Thái cứ 1/4640; dân tộc Dao 1/4.339; dân tộc Hà Nhì 1/3.792

Qua đó cho ta thấy sự chênh lệch về trình độ giữa các DTTS bản địa ( dân tộc Thái) với dân tộc thiểu số Hà Nhì, Dao, H’Mông và các DTTS khác…

+ Sự chênh lệch về trình độ ở khối Quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp:

- ở trình độ cao đẳng: Nếu đem so sánh đội ngũ trí thức của dân tộc H’Mông với số dân của dân tộc ấy ở trình độ cao đẳng thì cứ 7.773 người dân có 1 người có trình độ ở bậc cao đẳng; dân tộc Hà Nhì cứ 892 người dân có 1 người có trình độ ở bậc cao đẳng; Tương tự như vậy, ở dân tộc Dao tỷ lệ là 1/670; dân tộc Thái 1/413; dân tộc Tày 1/350; dân tộc Mường 1/270

- ở trình độ đại học: nếu đem so sánh đội ngũ trí thức của dân tộc H’Mông với số dân của dân tộc ấy ở trình độ đại học thì cứ 6.184 người dân có 1 người có trình độ ở bậc đại học; ở dân tộc Dao cứ 1.928 người dân có 1 người ở trình độ đại

Trang 33

học; Tương tự như vậy, dân tộc Hà Nhì 1/798; dân tộc Thái 1/397; dân tộc Mường 1/179; dân tộc Tày1/160

Từ đó cho ta thấy sự chênh lệch về trình độ giữa các DTTS bản địa (dân tộc Thái) với dân tộc Hà Nhì, Dao, H’Mông, Mường, Tày và các DTTS khác…

ở Lai Châu khi phân tích số liệu khảo sát ở các huyện và 10 sở, ban, ngành của tỉnh để nắm chất lượng và tâm tư nguyện vọng của đội ngũ trí thức người DTTS cho thấy:

Số phiếu phát ra là 100 phiếu điều tra trí thức người DTTS có tới 64% là nam, 36% là nữ, tuổi đời chủ yếu từ 22 -> 29 tuổi chiếm tới 40% ; Từ 30-> 40 tuổi chiếm trên 50%; Trình độ đại học chiếm tới 63% (Dân tộc Thái đông nhất chiếm tới 57%, Nùng 55%, Tày 12%; Đảng viên chiếm tới 65% số người được hỏi)

- Trình độ lý luận chính trị chủ yếu là trình độ sơ cấp 43%, trung cấp 27% Trình độ quản lý Nhà nước sơ cấp 60%, trung cấp 15%, cử nhân 3%

* Điều kiện làm việc, qua điều tra cho thấy:

- Phần lớn đội ngũ trí thức đời sống khó khăn, đủ sống và đời sống trung bình có tới 92%, phương tiện đi lại chưa tốt chiếm 67%, các phương tiện nghe nhìn

ở mức trung bình và tạm được chiếm 95%, môi trường sống và làm việc thấp, chưa tốt chiếm 89%

* Đầu tư cho nghiên cứu khoa học:

87% số người được điều tra cho rằng, đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế, 97% chưa có phòng thí nghiệm để nghiên cứu

* Sự phát triển vùng núi rất cần sự đòi hỏi của trí thức người dân tộc thiểu số chiếm tới 37% cần sự giúp đỡ của trí thức người Kinh

*Tâm tư, nguyện vọng của sinh viên mới ra trường:

88% số sinh viên ra trường muốn về địa phương công tác và có tới 98% người được hỏi cảm thấy tin tưởng vào đường lối của Đảng Phần lớn số người

được hỏi cho rằng 84% chưa được tự do sáng tạo, không được tranh luận khoa học, không dân chủ, 59% chưa được đãi ngộ thoả đáng

* Về bố trí đào tạo, sử dụng trí thức dân tộc thiểu số:

59% được hỏi cho rằng chưa được đào tạo đầy đủ, 82% chưa được sử dụng tốt, 77% cho rằng chưa cải tiến chế độ tiền lương, 97% chưa đi nghiên cứu nước ngoài, 70% cần tăng phụ cấp cho trí thức dân tộc thiểu số 61% cho rằng cần có

Trang 34

chế độ đặc biệt cho trí thức tài năng; 5% số người cho rằng cần có chế độ đặc biệt

về vật chất cho trí thức có đề tài nghiên cứu được ứng dụng và 77% số người được hỏi cho rằng phải tăng gấp 3 lần lương cho trí thức DTTS vùng sâu vùng xa

* Nhu cầu được trả công xứng đáng đối với khả năng lao động sáng tạo của trí thức:

70% số người được hỏi cho rằng cần phải trả công xứng đáng; 99% có nhu cầu muốn được đi học tập nước ngoài; 65% đề nghị được đào tạo ở bậc cao hơn và 61% cho rằng xu thế phát triển của người dân tộc thiểu số là rất chậm so với đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

* Trong hoạt động nghiên cứu khoa học của trí thức dân tộc thiểu số:

- 26% là thích hoạt động đến nơi đến chốn và có đến 71% không thích hoạt

động động não và 90% cho rằng không thích suy nghĩ về những điều trừu tượng

- Nếu phải hoạt động và nghiên cứu 41% số người được hỏi cho rằng do trách nhiệm và 60% cho rằng không thích suy nghĩ là do điều kiện vật chất thiếu thốn

*Về trình độ và cơ sở vật chất đào tạo con em dân tộc thiểu số

52% số người được hỏi cho rằng cơ sở vật chất trường học ở mức trung bình, 63% giáo viên THCS và 74% THPT, trình độ và phương pháp giảng dạy chỉ ở mức trung bình, đồng thời 62% số người cho rằng học sinh tiểu học; 73% học sinh THCS và THPT có nhận thức ở mức độ trung bình

* Về chính sách giáo dục hiện nay 60% số người được hỏi cho rằng chính sách của Đảng và Nhà nước cho giáo dục là tốt, chỉ có 40% số người cho rằng cần thay đổi chính sách giáo dục Đồng thời, có 43% số người được hỏi cho rằng cần

có chính sách miễn giảm học phí, và trợ cấp về giáo dục

89% số người được hỏi và cho rằng muốn có nguồn đào tạo cần nâng cao

đời sống nhân dân và ưu tiên đầu tư cho học sinh, sinh viên đi học

Đánh giá đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở Lai Châu

* ưu điểm:

Thứ nhất; Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, có phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh; là lực lượng nòng cốt trong công tác áp dụng khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, vận động quần chúng nhân dân và được người dân tín nhiệm

- Đa số cán bộ có ý thức trách nhiệm cao, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

- Phần lớn đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh và lập trường chính trị vững vàng, có tinh thần trách nhiệm trong công tác, được rèn luyện, trưởng thành từ thực tiễn công tác tại cơ sở, nắm bắt được tình hình của cơ sở, luôn gắn bó và giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị,

Trang 35

nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trình độ quản lý của Nhà nước

Thứ hai; Về cơ cấu đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực

Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ được nâng lên đáng kể Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba; Trình độ đào tạo về các mặt của trí thức dân tộc thiểu số đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đang từng bước được nâng lên

*Tồn tại, hạn chế

Trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu còn bộc lộ những hạn chế yếu kém như sau:

Thứ nhất; Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai; Cơ cấu đội ngũ trí thức còn có những mặt bất hợp lý về ngành, nghề, tuổi, giới tính

Chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và công nghệ còn

ít và thiếu, đội ngũ kế cận còn nhiều bất cập và hạn chế

Thứ ba; Năng lực nghiên cứu, sáng tạo khoa học của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập

Khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ cũng như sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin còn hạn chế, tính độc lập và khả năng thích ứng còn thấp, tính sáng tạo chưa cao

- Sự phân bố cán bộ trong các lĩnh vực hoạt động, trong các cấp, các ngành còn bất cập, không đồng đều

Thứ tư; Tính chuyên nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng sự thay đổi nhiệm vụ, môi trường công tác của đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số còn bộc lộ nhiều hạn chế; phong cách, lề lối làm việc thiếu tính khoa học trong thời đại công nghiệp hoá

Thứ năm, Đội ngũ trí thức đã được bổ sung về số lượng nhưng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn còn hạn chế

Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo, quản lý một số cán bộ chưa đáp ứng

được yêu cầu nhiệm vụ mới, nhất là quản lý kinh tế, quản lý xã hội, ý thức chấp hành pháp luật

* Nguyên nhân:

Thứ nhất; Lai Châu là một tỉnh miền núi mới chia tách, thành lập, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn

Xuất phát kinh tế - xã hội thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, trình độ dân trí không

đồng đều, hạ tầng cơ sở chưa phát triển, các điều kiện hoạt động cho đội ngũ trí

Trang 36

thức còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn Do vậy, đời sống của cán bộ trí thức dân tộc thiểu số còn khó khăn, nên đã ảnh hưởng đến công tác của từng cán bộ, một số cán bộ trí thức dân tộc thiểu số còn có những tư tưỏng ỷ lại vào chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước dẫn đến thiếu chủ động trong công tác, rèn luyện

và học tập

Thứ hai; Sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ, chính quyền các cấp với việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức còn chưa nhận thức đúng

Việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức chưa tương xứng với chiến lược

và quy mô phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh

Thứ ba; Công tác quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số đã có hướng dẫn nhưng chủ yếu mới quy hoạch trên cơ sở đội ngũ cán bộ hiện có

Chưa có quy hoạch nguồn từ học sinh dân tộc thiểu số ở các trường (đặc biệt là các Trường Dân tộc nội trú) và số học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp và thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự

Thứ tư; Cơ chế, chính sách đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút đội ngũ trí thức trong thời gian qua còn nhiều bất cập

Chưa có chính sách phát triển, tuyển chọn trí thức có năng lực vào các lĩnh vực trọng yếu của địa phương

Thứ năm; Cơ cấu đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số còn chưa phù hợp

Cơ cấu về độ tuổi hiện nay chưa thoát khỏi tình trạng và hẫng hụt và thiếu

đồng bộ, tỷ lệ cán bộ trí thức nữ dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ thấp, thiếu nguồn,

Đội ngũ trí thức tỉnh tuổi đời còn trẻ, chưa nhiều kinh nghiệm thực tiễn, chưa thực

sự phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong công việc

2 Thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai trong thời

kỳ CNH, HĐH

2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế x∙ hội

Gia Lai là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 15.536,92 km2, phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp với Đắk Lăk, phía

đông giáp với Bình Định, Phú Yên, phía Tây giáp với tỉnh Ratanakiri (Campuchia) với 90 km đường biên giới

Tỉnh Gia Lai có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng,

an ninh đối với cả nước; có quốc lộ 14, 19, 25 nối với các tỉnh trong khu vực, các tỉnh duyên hải miền Trung; có cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh nối với nước Campuchia

và có sân bay Pleyku là cầu hàng không nối liền với mạng hàng không trong cả nước Đất đai ở tỉnh rất rất màu mỡ, chủ yếu là đất đỏ bazan (chiếm 33% quỹ đất toàn tỉnh) phù hợp với các loại cây trồng, đặc biệt là loại cây: cao su, cà phê, chè,

điều, bông để phát triển các vùng cây công nghiệp tập trung nhiều trang trại có qui mô nhỏ, vừa và lớn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá Khí hậu vừa mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu, ánh sáng dồi dào, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220C đến 230C,

Trang 37

lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.223mm, độ ẩm trung bình năm 83%, rất thích hợp cho phát triển nông nghiệp đa dạng quanh năm Nguồn tài nguyên rừng phong phú, có trữ lượng lớn với nhiều đặc sản có giá trị cao và có ý nghĩa lớn về kinh tế như: song, mây, trầm hương, nhiều loại gỗ thuộc các nhóm quý hiếm cùng các loại muông thú có thể khai thác cho ngành tiểu thủ công nghiệp để chế biến và xuất khẩu

Nguồn tài nguyên nước: Tỉnh có 3 hệ thống sông chính là hệ thống sông Ba,

hệ thống sông Sê San, sông Sêrêpok Các con sông này có tiềm năng về thuỷ điện rất lớn; ngoài ra tỉnh có biển hồ trữ lượng nước 46 triệu m3; hồ Ayun Hạ có trữ lượng 235 triệu m3, các hồ nước khác trữ lượng nước khoảng 550 m3 cùng với nguồn nước ngầm trong lòng đất; đây là nguồn tài nguyên quí giá phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cho nhân dân và nước tưới cây trồng phục vụ sản xuất nông nghiệp

Toàn tỉnh có 16 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 2 thị xã và 13 huyện), 215 đơn vị hành chính cấp xã, 34 dân tộc anh em sinh sống tạo thành một cộng đồng dân tộc đa dạng, phong phú với dân số 1,2 triệu người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 56,2%, dân tộc Gia Rai và Ba na chiếm 43,5% các dân tộc khác 0,3% Mật độ dân số 65,7 triệu người/km2; dân số thành thị chiếm 27,8% tổng dân số, dân số vùng nông thôn chiếm 72% tổng dân số Trong đó nam chiếm 50,1%, nữ chiếm 49,9% Tổng số cán bộ, viên chức toàn tỉnh là 27.038 người, trong đó cán

bộ cấp xã 3.613 người, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện là 23.425 người chiếm 86,6%

Về kinh tế: có những bước phát triển khá rõ rệt, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng kinh tế thị trường, bộ mặt kinh tế - xã hội có bước phát triển vượt bậc Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn dịch chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, sản xuất công nghiệp phát triển nhanh nhưng tỷ trọng GDP của nông - lâm nghiệp vẫn dịch chuyển đúng hướng Công nghiệp điện phát triển nhanh, công nghiệp chế biến nông lâm sản phát triển gắn với vùng nguyên liệu, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần tiếp tục được thực hiện có hiệu quả Đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân ngày một tăng cao, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cả tỉnh Tuy nhiên diện thiếu đói chiếm tới gần 32% ở một số dân tộc thiểu số Mặc dù tốc độ phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh vẫn còn chậm chưa đúng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Cở sở vật chất hạ tầng kỹ thuật vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu Trình độ dân trí, mức thu nhập bình quân trên đầu người của người dân so với khu vực và cả nước vẫn còn thấp

đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn

Từ kết quả điều tra thấy thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay được đánh giá như sau:

Một là; Thực trạng đội ngũ trí thức chung toàn tỉnh

Hiện tại toàn tỉnh có 20.885 người có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm

Trang 38

1,74% trên tổng dân số toàn tỉnh, cứ 57,5 người thì có 1 người trình độ cao đẳng trở lên, trong đó có 5 tiến sĩ chiếm 0,03%; 197 thạc sỹ chiếm 0,84%, 14.570 người có trình độ đại học chiếm 69,8%, 5.978 người có trình độ cao đẳng chiếm 28,6%; 4 bác sỹ chuyên khoa cấp II chiếm 0,02%; 151 thạc sỹ với bác sĩ chuyên khoa cấp I chiếm 7%

Đội ngũ trí thức của tỉnh có bước phát triển nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng, góp phần xây dựng tỉnh phát triển nhanh, nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết được các yêu cầu cụ thể, thiết thực do cuộc sống đặt ra Đội ngũ trí thức của tỉnh đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương Tham mưu, đề ra các chính sách, giải pháp nhằm giải phóng sức lao động, phát huy nhân tố con người, tạo ra những chuyển biến trong tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, tạo điều kiện chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật; bảo tồn, giữ gìn phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Đội ngũ trí thức của tỉnh đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương

Tuy vậy, đội ngũ trí thức còn bộc lộ một số vấn đề hạn chế, yếu kém Việc quản lý, đánh giá đội ngũ trí thức còn hạn chế, chưa xây dựng được chiến lược phát triển đội ngũ trí thức và chưa có kế hoạch để phát triển, sử dụng nguồn nhân lực và chưa có kế hoạch để phát triển,sử dụng nguồn nhân lực của địa phương, ngành hợp

lý, phục vụ cho định hướng phát triển của từng ngành, địa phương

Cơ cấu phân bổ đội ngũ trí thức của tỉnh theo ngành nghề chưa phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội của địa phương Đội ngũ trí thức của tỉnh tập trung chủ yếu

ở khu vực sự nghiệp (giáo dục, y tế, văn hoá ) và trong hệ thống chính trị Trí thức, nhất là trí thức có trình độ cao (sau đại học) trong các ngành nông, lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững

Phân bổ đội ngũ trí thức theo vùng lãnh thổ không đều Đa số trí thức chỉ tập trung ở các vùng kinh tế phát triển như: Pleyku, An Khê, Ayunpa, Chư sê và một

số đối phương có điều kiện khác các địa phương có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp Đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn

cứ địa cách mạng rất thiếu trí thức Trí thức dân tộc thiểu số tuy có tăng trưởng nhưng rất chậm

Tỉnh chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút tập hợp và sử dụng đội ngũ trí thức về công tác tại địa phương Việc phát hiện, tuyển, bồi dưỡng, sử dụng các trí thức có tài, chưa được coi trọng đúng mức Tình trạng một số trí thức đã và

đang xin ra làm việc cho các doanh nghiệp tư nhân có xu hướng gia tăng

Hoạt động nghiên cứu khoa học chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống Việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống còn thấp

Trang 39

Đội ngũ trí thức của tỉnh tuy có bước phát triển nhanh nhưng vẫn còn thiếu

về số lượng, yếu về chất lượng Đặc biệt thiếu các chuyên gia đầu ngành, trình độ ngoại ngữ, tin học còn yếu Đời sống của trí thức còn khó khăn, nên chưa tập trung vào công tác chuyên môn, vào nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ, dẫn

đến lãng phí chất xám Về chủ quan, ở một số nơi chưa tạo được môi trường, điều kiện để phát huy sáng kiến, tài năng, sáng tạo, phát minh của trí thức Cơ chế chính sách đối với đội ngũ trí thức còn thiếu hợp lý và bất cập, chưa phát huy hết hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức

Hai là Thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai

Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, tỉnh Gia Lai

đã đạt được kết quả trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức tỉnh Gia Lai đã có bước phát triển đáng kể

Theo nguồn báo cáo điều tra nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Gia Lai tháng 7/2008 như sau:

- Tỷ số trí thức người dân tộc thiểu số: 778 người

Trong đó:

+ Khối quản lý Nhà nước và sự nghiệp: 437 người

+ Khối đảng và đoàn thể : 43 người

+ Khối sản xuất kinh doanh và khác : 298 người

Nếu so với đội ngũ trí thức toàn tỉnh, trí thức dân tộc thiểu số 778 người chiếm 3,8% Trong đó trí thức nữ dân tộc thiểu số 305 người chiếm 39,2% tổng số +trí thức dân tộc thiểu số, cao nhất là dân tộc Gia Rai có 523 người chiếm 67,2%; dân tộc Ba-na 57 người chiếm 7,3% và dân tộc khác 198 người chiếm 25,5% về trình độ đào tạo thạc sĩ 4 người, đại học 537 người và cao đẳng 237 người

Nếu so sánh với số dân ta thấy rõ sự bất cấp Dân tộc Kinh có 674.400 người chiếm 56,2% dân số toàn tỉnh, đội ngũ trí thức chiếm 96,2% trí thức toàn tỉnh Trong khi đó dân tộc thiểu số 525.600 người chiếm 43,8% dân số toàn tỉnh, đội ngũ trí thức chỉ chiếm 3,8% trí thức toàn tỉnh

Theo lĩnh vực công tác:

- Khu vực quản lý Nhà nước và khối sự nghiệp trí thức dân tộc thiểu số 437 người chiếm 11,8% Tổng số cán bộ công chức dân tộc thiểu số 3,5% tổng số trí thức trong khu vực (quản lý Nhà nước và sự nghiệp) của tỉnh và 1,72% tổng số cán

bộ công chức khu vực quản lý Nhà nước, sự nghiệp của tỉnh

Phân theo độ tuổi: Dưới 35 tuổi có 174 người chiếm 4,72% tổng số cán bộ công chức dân tộc thiểu số, 39,8% tổng số trí thức trong khu vực quản lý nhà nước,

sự nghiệp của tỉnh và 0,64% tổng số cán bộ công chức từ 35 đến 45 tuổi có 218 người chiếm 5,91% tổng số cán bộ công chức người dân tộc thiểu số; 51,5% tổng

số trí thức trong khu vực quản lý Nhà nước, sự nghiệp của tỉnh và 0,8% tổng số cán

Trang 40

bộ công chức của tỉnh Từ 46 đến 60 tuổi có 45 người chiếm 1,2% tổng số cán bộ công chức dân tộc thiểu số 10,3% tổng số trí thức trong khu vực quản lý Nhà nước,

sự nghiệp của tỉnh và 0,2% tổng số cán bộ công chức của tỉnh

Phân theo giới tính: Nam có 135 người chiếm 30,8% tổng số trí thức dân tộc thiểu số, chiếm 3,07% tổng số cán bộ công chức dân tộc thiểu số, 1,5% tổng số trí thức nam giới trong khu vực quản lý Nhà nước, sự nghiệp của tỉnh và 1,2% tổng số cán bộ công chức của tỉnh Nữ có 302 người chiếm 69,2% tổng số trí thức dân tộc thiểu số chiếm 8,2% tổng số cán bộ công chức dân tộc thiểu số, 9,7% tổng số trí thức là nữ giới và 1,95 tổng số cán bộ công chức nữ giới trong khu vực quản lý Nhà nước, sự nghiệp toàn tỉnh

Khối uỷ Đảng, đoàn thể trí thức dân tộc thiểu số có 43 người chiếm 5,5% tổng số trí thức toàn tỉnh và chiếm 0,2% đội ngũ trí thức toàn tỉnh, trong đó nam 58%, nữ chiếm 42% Về độ tuổi dưới 35 tuổi chiếm 32%, từ 36 đến 60 tuổi chiếm 25% Trí thức khối Đảng 23 người chiếm 53,5% khối Đảng, đoàn thể và chiếm 2,9% trí thức dân tộc thiểu số, chiếm 0,1% trí thức toàn tỉnh

+ Trí thức DTTS khối đoàn thể có 20 người trong đó nam chiếm 52%, nữ chiếm 48% Về độ tuổi dưới 35 tuổi chiếm 31%, từ 36 – 45 tuổi chiếm 45% Từ 46

đến 60 tuổi chiếm 24%, chiếm 2,5 đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số; chiếm 0,1%

đội ngũ trí thức toàn tỉnh, chiếm 46,5% đội ngũ trí thức khối Đảng, đoàn thể

- Khối sản xuất kinh doanh và khác 298 người trong đó nam chiếm 54%, nữ chiếm 46%; dưới 35 tuổi chiếm 45% Từ 36-45 tuổi chiếm 32%, từ 46 tuổi đến 60 tuổi chiếm 7,7% Nếu so với đội ngũ trí thức toàn tỉnh chiếm 1,5%, so với đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số chiếm là 38,3%

Theo Báo cáo của Ban Tổ chức tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Cục Thống kê tỉnh Gia Lai:

Đội ngũ trí thức người DTTS nếu chia theo tỷ lệ số dân của các DTTS trong tỉnh thì trí thức người DTTS bản địa có sự chênh lệch đáng kể Nếu đem so sánh

đội ngũ trí thức của dân tộc Gia rai với số dân của dân tộc ấy ở trình độ cao đẳng thì cứ 12.050 người dân có 1 người đạt trình độ ở bậc cao đẳng; Tương tự như vậy, dân tộc Bana cứ 8.244 người dân có 1 người có trình độ ở bậc cao đẳng; và các DTTS khác trong tỉnh cứ 612 người dân có 1 người đạt trình độ ở bậc cao đẳng

ở trình độ đại học: dân tộc Gia rai cứ 1.049 người có 1 người đạt trình độ

đại học; dân tộc Bana cứ 3.805 người có 1 người đạt trình độ đại học và các DTTS khác cứ 170 người có 1 người đạt trình độ đại học;

Trình độ trên đại học: dân tộc Gia rai cứ 120.292 người DTTS có 1 người đạt trình độ trên đại học; dân tộc Bana ở trình độ này không có người trên đại học và các DTTS khác thì cứ 26.316 người có 1 người trên đại học

Qua đó cho ta thấy sự chênh lệch về trình độ giữa các DTTS bản địa với dân tộc Gia rai, Ba na và giữa DTTS khác với DTTS bản địa

Từ kết quả điều tra phỏng vấn đội ngũ trí thức DTTS tỉnh Gia Lai về chất lượng, tâm tư nguyện vọng của đội ngũ này được phản ánh như sau:

Ngày đăng: 15/05/2014, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph−ơng pháp điều tra bằng bảng hỏi 2. Ph−ơng pháp phỏng vấn sâu Khác
2. Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và vùng núi, vùng dân tộc thiểu số nói riêng trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay Khác
3. Vai trò của trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Phần II: Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS hiện nayVấn đề thứ nhất: Thực trạng đội ngũ trí thức người DTTS ở ba tỉnh Lai Ch©u, Gia Lai, An Giang Khác
5. Thực trạng về công tác đào tạo, quản lý trí thức người dân tộc thiểu số Khác
6. Vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong sự nghiệp CNH, HĐH- Vấn đề đặt ra Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê sau phản ánh đ−ợc phần nào sự mất cân đối về so sánh tỷ lệ đội  ngũ trí thức giữa các DTTS ở một số dân tộc trong cả n−ớc (Xem biểu 5) - Điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bảng th ống kê sau phản ánh đ−ợc phần nào sự mất cân đối về so sánh tỷ lệ đội ngũ trí thức giữa các DTTS ở một số dân tộc trong cả n−ớc (Xem biểu 5) (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w