TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC VIỆN ĐTQT BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH TÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂY VÀ NÊU 1 S.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC - VIỆN ĐTQT
TRƯỞNG KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN NÀY
Nhóm : 01 Lớp : 23107MAEC0111
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Minh Quang
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ
1 Nguyễn Thanh An
Khái quát tình hìnhtăng trưởng củakinh tế VN trướcdịch bệnh
Thành viên
3 Lê Quang Anh Mở đầu + Kết luận+ PPT Thư ký
5 Nguyễn PhươngAnh
Khái quát tình hìnhtăng trưởng củakinh tế VN trongdịch bệnh
Thành viên
7 Đoàn Huy Bình Các giải pháp Nhóm trưởng
9 Trần Mai Chi
Khái quát tình hìnhtăng trưởng củakinh tế VN saudịch bệnh
Thành viên
Trang 3Do sự tác động của lạm phát nên thông thường chỉ tiêu GNP và GDP theothực tế dùng để đanh giá mức tăng trưởng kinh tế thực tế Trong đó, chỉ tiêu GDP là một chỉ tiêu thường được sử dụng nhft để đánh giá tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, một khu vực hay một địa phương trong một thời kì nhất định Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), có nhiều cách tính GDP như tính GDP bằng phương pháp giá trị gia tăng, bằng phương pháp chi tiêu, phương pháp thu nhập Trong đó, phương pháp chi tiêu là thường được sử dụng để đo lường GDP Tăng trưởng kinh tế có vai trò vôcùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, là mối quan tâm nhiều nhất của chính phủ các nước bởi vì tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất để tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập của người dân, xóa đói giảm nghèo, …Do đó, nền kinh tế của mỗi quốc gia có tăng trưởng vàphát triển hợp lý hay không thường dựa vào chỉ số GDP để nhận định.Đối với một quốc gia có nền tảng vững chắc như Việt Nam, vào
năm 2017 là nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Sản xuất gặp khó khăn với sự sụt giảm của ngành khai
khoáng, hàng loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đều ở mức thấp gây ra không
ít những hoài nghi trong đối với mục tiêu tăng trưởng Tuy nhiên sau khi trải qua nhiều giai đoạn cho đến năm 2022, nền kinh tế đã góp phần xây dựng nhiều thành tích cho mọi lĩnh vực điển hình như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến và công nghiệp xây dựng Bài thảo luận của nhóm chúng em lấy dấu mốc trong 5 năm gần đây để phân tích khái quát tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (2017-2022) vànêu một số chính sách kích cầu của Chính phủ Việt Nam
Trang 4Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1.Khái niệm
1.1.Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này
có năng suất hơn Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu
tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa
lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất
cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI).
1.2.Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính).
1.3.Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
1.4.Tổng sản phẩm bình quân đầu người (PCI)
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số.
Trang 51.5.Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ.
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế
Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và
những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức
độ hạnh phúc hơn.
2 Phương pháp đo lường
Phương pháp luồng sản phẩm(phương pháp chi tiêu) GDP
là tổng của bốn bộ phận cấu thành chính sau:
– Chỉ tiêu cho tiêu dùng cá nhân vê hàng hoắ và dịch vụ (C): Bao gồm tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của các hộ gia đình mua được trên thị trường để chi dùng trong đời sống hàng ngày của họ Như vậy bộ phận này chỉ bao gồm những sản phẩm được bán trên thị trường.
– Tổng đầu tư tư nhân trong nước (I):
Theo phương pháp hạch toán GDP
Bao gồm trang thiết bị là những tài sản cố định của doanh
nghiệp; nhà ở; vãn phòng mới xây dựng; chênh lệch hàng tồn kho của các hãng kinh doanh Như vậy đầu tư tính trong tổng sản phẩm quốc nội là việc mua tư liệu mới; tạo ra tư bản hiộn vật như các nhà máy mới; không bao gồm cho vay và đầu tư tài chính Tổng đầu tư cấu thành GDP là đầu tư cuối cùng; không bao gồm đầu tư tài chính Đầu tư vào dự trữ; thay đổi hàng tồn kho là đầu tư vào vốn luân chuyển; Tuy nhiên; khi tính toán bộ phận này người ta chỉ tính phần chênh lệch tồn kho giữa cuối và
Trang 6đầu năm Thay đổi hàng tồn kho có thể là có kế hoạch cũng có thể là ngoài kế hoạch.
Phân chia này được mô phỏng theo sơ đồ sau:
Theo sơ đồ này; tổng đầu tư được xác định theo công thức sau:
Theo quan hệ với nguồn quỹ vốn hay mục đích đầu tư; tổng đầu
tư tư nhân còn có thể phân chia thành 2 bộ phận:
Đầu tư bù đắp hao mòn tài sản cố định (TSCĐ); đây chính là phần khấu hao TSCĐ.
Đầu tư ròng là phần còn lại trong tổng chi đầu tư tư nhân Nó có tác dụng làm tãng thêm giá trị tài sản cố định hoặc hàng tồn kho Như vậy; tổng đầu tư được xác định theo công thức sau:
Tổng đầu tư (I) = Đầu tư ròng (lN) + Khấu hao (De)
Suy ra: Đầu tư ròng (In) = Tổng đầu tư – Khấu hao
Chi tiêu của chính phủ cho hàng hoá và dịch vụ (G):Là các chi phí thực sự mà chính phủ bỏ ra để mua sắm hàng hoá và dịch
vụ Chính phủ vừa là người tiêu dùng đồng thời vừa là người sản xuất; vì vậy chính phủ các nước đều phải chi tiêu hàng năm những khoản tiền rất lớn Tuy nhiên không phải mọi khoản chi tiêu trong ngân sách nhà nước đều được tính vào GDP; mà nó chỉ bao gồm những khoản chi tiêu để mua sắm hàng hoá và dịch vụ.
Xuất khẩu ròng (NX):Các nước có nền kinh tế mở đều tham gia vào các hoạt xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ Đây là bộ phận cấu thành cuối cùng của GDP; và bộ phận này ngày càng quan trọng trong những năm gần đây Xuất khẩu ròng chính là chênh lêch giữa xuất khẩu (X) trừ nhập khẩu (IM) hàng hoá và dịch vụ.
Tóm lại: GDP = C+ I + G + NX
Phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí
Trang 7Theo phương pháp này GDP bao gồm tổng các bộ phận cấu thành sau đây:
Tiền lương (w – wages)là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động.
Tiền lãỉ (chỉ phí thuê vốn – ỉ – interest)là thu nhập nhận được do cho vay; tính theo một mức lãi suất nhất định.
Tiên thuê nhày đất (r – rent)là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai; nhà cửa và các loại tài sản khác Thực chất nó bao gồm hai phần; một là khấu hao tài sản cho thuê và hai là lợi tức của chủ sở hữu tài sản.
Lọi nhuận (Pr) là khoản thu nhập còn lại của doanh thu do bán sản phẩm sau khi đã thanh toán tất cả các chi phí sản xuất.
Khấu hao (De) là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của tài sản cố định.
Thuế gián thu (Ti) là thuế gián tiếp đánh vào thu nhập; được coi
là một khoản chi phí để sản xuất ra luồng sản phẩm.
Tóm Lại: GDP = w + i + r + Pr + De +
Ti
Vậy hai phương pháp tính GDP này thì phương pháp nào tốt hơn? Thật ngạc nhiên là chúng hoàn toàn giống nhau Tại sao vậy? VI chúng ta tính cả “lợi nhuận” vào cung dưới Đây là phần dư sẽ tự điều chỉnh để làm cho chi phí hay thu nhập ở cung dưới sẽ vừa vặn thích ứng với giá trị hàng hoá ở cung trên Tóm lại; vì lợi nhuận là phần dư nên cả hai phương pháp này đều sẽ cho cùng một giá trị GDP như nhau; tức là tuân thủ nguyên tắc hạch toán theo giá trị gia tăng và theo đúng định nghĩa lợi nhuận
Trang 8một phần tiền lương của người lao động đã đi vào ngân sách chính phủ dưới dạng thuế trực thu Các khoản thuế trực thu này chắc chắn được tính vào cấu thành tiền lương trong phí tổn kinh doanh và cũng như đối với các khoản thu nhập khác (kể cả thuế
cá nhân và thuế công ty) VI vậy; không tính khoản thuế trực thu vào GDP vì nếu tính sẽ bị tính trùng.
Còn thuế gián thu thi sao? Giá bán hàng hoá và dịch vụ tính theo luồng sản phẩm đã bao gồm giá có thuế (tức thuế gián thu) Vì thế theo cách tính này GDP theo luồng chi phí phải có thêm một khoản mục thuế gián thu – thuế này được coi là một bộ phận cấu thành của chi phí để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
3 Các yếu tố quyết định tăng trường kinh tế
Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế tác động tăng trưởng kinh tế là những nhân
tố có tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, bao gồm vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài
nguyên. Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được hiểu vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị) Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết
bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế trường phái Keynes đánh giá rất cao Cụ thể, nó được lượng hóa thông qua mô hình Harrod-Domar.
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Trước đây, người ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng số lượng lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động). Những
mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành máy móc thiết bị phức tạp, lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế… Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô (số lượng) lao
Trang 9động, còn vốn nhân lực có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn nhân lực của các nước này còn thấp.
Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng ở các nền kinh tế ngày nay Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:
Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm
và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất. Vai trò của công nghệ đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá cao đối với tăng trưởng như Solow (1956) Solow (1956) cho rằng “toàn bộ tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật”.
Tài nguyên bao gồm đất đai và các nguồn lực sẵn có trong tự nhiên Các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển. Song, nguồn tài nguyên thì có hạn, không thể tái tạo được, hoặc nếu tái tạo được phải mất nhiều thời gian, sức lực và chi phí.Do đó, tài nguyên được đưa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo chúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề
có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên của quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển Sử dụng lãng phí tài nguyên có thể được xem như sự hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố tài nguyên với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế Họ cho rằng tài nguyên là yếu tố cố định, vai trò của chúng có xu hướng giảm dần, hoặc tài nguyên có thể được quy về vốn sản xuất.
Như vậy, có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợp thành, vai trò tương đối của chúng phụ thuộc vào hoàn cảnh
và thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia Đối với các nước nghèo, vốn vật chất, lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng Ngược lại đối với các nước công nghiệp thì vai trò
Trang 10của vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng của Romer (1986) cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế từ hậu công nghiệp sang kinh tế tri thức, thì vốn nhân lực và khoa học công nghệ có vai trò vượt trội hơn các yếu tố truyền thống khác đối với tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố phi kinh tế
Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế, có tác động gián tiếp
và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế Có thể kể ra một số nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng như: vai trò của nhà nước, các yếu tố văn hóa –
xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng.
Ngày nay nhà nước là yếu tố vật chất thực sự cho quá trình tăng trưởng, và mọi quốc gia không thể coi nhẹ vấn đề này Nhà nước và khuôn khổ pháp lý không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn
là yếu tố của cả đầu ra trong quá trình sản xuất Rõ ràng cơ chế chính sách có thể có sức mạnh kinh tế thực sự, bởi chính sách đúng có thể sinh ra vốn, tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng Ngược lại, nhà nước đưa ra các quyết sách sai, điều hành kém,
cơ chế chính sách không hợp lý sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế, kỳm hãm tăng trưởng cả về mặt số lượng và chất lượng Stiglitz (2000) cho rằng thị trường hiệu quả chỉ có được dưới các điều kiện nhất định Do đó trong nhiều trường hợp, một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quả đầu ra sẽ khó đạt được nếu không có sự can thiệp của chính phủ Thomas, Dailami và
Dhareshwar (2004) cũng đã chỉ ra tác động tích cực của quản lý nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế về số lượng và chất lượng Như vậy, có thể nhận thấy tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào năng lực của bộ máy Nhà nước, trước hết là trong việc thực hiện vai trò quản lý của nhà nước Quản lý hiệu quả của nhà nước vào quá trình tăng trưởng có thể xem xét thông qua các tiêu chí là ổn định vĩ mô, ổn định chính trị, xây dựng thể chế và hiệu lực của hệ thống pháp luật Triển vọng tăng trưởng được duy trì trong tương lai ở mức cao sẽ dễ đạt được hơn ở những nước có thể chế và quy định minh bạch, rõ ràng và tính thực thi
Trang 11của pháp luật cao, có bộ máy nhà nước ít quan liêu, tham nhũng, đồng thời tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện tốt các
quyền của họ.
Văn hóa – xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nhân tố văn hóa – xã hội bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông đến những tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống, phong tục tập quán…
Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và
sự phát triển cao của mỗi quốc gia Nhìn chung trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển.
Thể chế được hiểu là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữa người với người Các thể chế chính trị – xã hội được thừa nhận có tác động đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp
lý và môi trường đầu tư.
Vì nền tảng của kinh tế thị trường là dựa trên trao đổi giữa các
cá nhân và các nhóm người với nhau, bởi vậy nếu không có thể chế thì các hoạt động này không thể diễn ra bởi vì người này không thể tương tác với người kia mà không có chế tài nào đó ngăn cản người kia hành động Tùy tiện và ngược lại với thoả thuận.
Các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có thể mua, bán, thuê mướn hợp đồng, đầu tư nếu họ có một mức độ tin tưởng nhất định rằng các thoả thuận hợp đồng của họ sẽ được thực hiện (Kasper và Streit, 1998) Theo họ, các cá nhân tham gia giao dịch
thường không có đủ thông tin Do đó, sẽ có các chi phí phát sinh gọi là chi phí giao dịch.
Tất cả các chi phí này liên quan đến thể chế. Một thể chế không tốt sẽ làm cho chi phí thực thi các hợp đồng cao và như vậy sẽ không khuyến khích các giao dịch kinh tế Hơn nữa, một cấu trúc thể chế tốt sẽ tạo ra sự khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ nguồn lực con người theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế.
Trang 12Về nhân tố dân tộc và tôn giáo: Nhìn chung một nước càng đa dạng về các thành phần tôn giáo và sắc tộc thì đất nước đó càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột trong nước Những xung đột và bất ổn chính trị trong nước này có thể dẫn đến các xung đột bạo lực và thậm chí là các cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạng lãng phí các nguồn lực quý giá đáng ra phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu phát triển khác. Chẳng hạn như cuộc chiến ở
Afganistan, Sri Lanca, các xung đột ở Indonesia, Thái Lan… Ngược lại, một đất nước càng đồng nhất thì càng có điều kiện đạt được các mục tiêu phát triển của mình, chẳng hạn như Hàn Quốc, Hồng Kông hay Đài Loan.
4.Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
(3) Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, theo dõi sát tình hình hoạt động của DN, các dự án lớn để tháo
gỡ kịp thời các vướng mắc;
(4) Đẩy mạnh phát triển dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ bán buôn, bán lẻ, logistics, du lịch, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng;
(5) Đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công;
(6) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ, thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh, nhất là một số văn bản quy định pháp luật đang gây vướng mắc, ảnh hưởng đến sự phát triển.
Trang 13Chương 2: Thực trạng tình hình tăng trưởng kinh tế VN
trong thời gian qua và một số các biện pháp của chính phủ và các cơ quan chức năng
1, Giai đoạn 1: Trước dịch bệnh (2017-2019)
Trong năm 2017:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016, trong đó quý I tăng 5,15%; quý II tăng 6,28%; quý III tăng 7,46%; quý IV tăng 7,65% Mức tăng trưởng năm nay vượt mục tiêu đề
ra 6,7% và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2016, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện Trong mức tăng 6,81% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản đã có sự phục hồi đáng kể với mức tăng 2,90% (cao hơn mức tăng 1,36% của năm 2016), đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,00%, đóng góp 2,77 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,44%, đóng góp 2,87 điểm phần trăm
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy sản có mức tăng cao nhất với 5,54% do sản xuất thủy sản năm 2017 có nhiều khởi sắc
so với năm 2016, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng chung Ngành lâm nghiệp tăng 5,14%, do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm Ngành nông nghiệp tăng 2,07% (năm 2016 tăng 0,72%), đóng góp 0,24 điểm phần trăm, cho thấy dấu hiệu phục hồi của ngành nông nghiệp sau những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai năm 2016,
xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội bộ ngành theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có giá trị kinh tế cao đã mang lại hiệu quả
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,85%,cao hơn mức tăng 7,06% của năm 2016, đóng góp 2,23 điểm phần trăm vào mức tăng chung Điểm sáng của khu vực này là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 14,40% (là mức tăng cao nhất trong 7 nămgần đây, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 2,33 điểm phần trăm Ngành khai khoáng giảm 7,10%, làm giảm 0,54 điểm phần trăm của mức tăng chung, đây là mức giảm sâu nhất từ năm 2011 trở lại đây, chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảm hơn 1,6 triệu tấn so với năm trước; sản lượng khai thác than cũng chỉ đạt 38 triệu tấn, giảm hơn
Trang 14180 nghìn tấn Ngành xây dựng duy trì tăng trưởng khá với tốc độ 8,70%,đóng góp 0,54 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ đạt mức tăng 8,36%
so với năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung (0,79 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống có mức tăng trưởng khá cao 8,98% so với mức tăng 6,70% của năm 2016, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,14% (mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đâyđóng góp 0,46 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,07% (mức tăng cao nhất
kể từ năm 2011, đóng góp 0,21 điểm phần trăm
Quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016 Về cơ cấu nền kinh
tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng
15,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%; khu vực dịch
vụ chiếm 41,32%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,00% (Cơcấu tương ứng của năm 2016 là: 16,32%; 32,72%; 40,92%; 10,04%)
Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2017, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,35%
so với năm 2016, đóng góp 5,52 điểm phần trăm (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 5,04 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 9,8%, đóng góp 3,30 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 2,01 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung
- Giải pháp của chính phủ trong giai đoạn 2017:
Dự thảo Nghị quyết đầu tiên năm 2017 của Chính phủ nêu 10 nhóm giảipháp, nhiệm vụ chủ yếu
Về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát: Chính phủ yêu cầu các bộ trong tổ điều hành vĩ mô phải theo dõi sát diễn biến, cập nhật tình hình các đối tác kinh tế lớn để có phản ứng chính sách phù hợp Năm 2016 đã
đi qua những rung lắc dữ dội như sự kiện Brexit, chứng khoán Trung Quốc, FED tăng lãi suất, điều chỉnh chính sách sau bầu cử ở một số nước
NHNN điều hành chính sách chủ động linh hoạt, tăng trưởng tín dụnggắn với chất lượng, lưu ý kết cấu tín dụng, ổn định lãi suất năm 2017,
Trang 15phấn đấu giảm lãi suất trung dài hạn, quản lý thị trường ngoại tệ, vànghiệu quả.
Phó Thủ tướng cho biết, năm tới dự kiến tổng mức phát hành trái phiếuchính phủ là 250.000 tỷ, giảm so với 280.000 tỷ của năm 2016 Cơ cấutrái phiếu chính phủ có sự thay đổi tích cực khi nguồn vốn từ ngân hànggiảm, các tổ chức tài chính khác tăng, kỳ hạn tăng
Theo ông Vương Đình Huệ, việc điều hành ngân sách cần chủ động chặtchẽ, hạn chế tối đa ban hành chính sách giảm thu, trừ những cam kết quốc
tế, hạn chế ban hành chính sách tăng chi trừ trường hợp đặc biệt Songsong với đó, cần tiết kiệm chi tiêu ngân sách là quốc sách, tăng cường kỷluật kỷ cương, kỷ luật ngân sách, thu trong nền kinh tế, chi theo khả năng,vay trong năng trả nợ Triển khai quyết liệt giải ngân vốn đầu tư ngânsách ngay từ đầu năm 2017
Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, dự thảo Nghị quyết nêu rõviệc khuyến khích khởi nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế,
dự thảo nghị quyết yêu cầu rà soát đồng bộ các quy định cải thiện môitrường đầu tư kinh doanh trong đó tập trung hỗ trợ tiếp cận vốn choDNNVV, DN siêu nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể chuyển thành DN, DNkhởi nghiệp sáng tạo
Trong thực hiện nhóm giải pháp cải cách hành chính, dự thảo nghị quyếtnhấn mạnh yêu cầu các bộ ngành, địa phương phải thực hiện nghiêm tăngcường kỷ luật kỷ cương, nâng cao hiệu quả trong phòng chống thamnhũng, lãng phí; tập trung xử lý các vụ án tham nhũng lớn, nghiêmtrọng…
Đồng thời tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh quốc thựchiện hiệu quả chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới Bảo đảm trật
tự an toàn xã hội, giảm tai nạn giao thông trên 3 tiêu chí, thực hiện chiếnlược quốc gia phòng chống tội phạm Bộ Quốc phòng, Công an sẵn sàngchuẩn bị lực lượng tham gia ứng phó với thiên tai, bão lũ
Phó Thủ tướng cũng nêu thực tế: “Khâu yếu nhất của chúng ta là tổ chứcthực hiện Vì vậy, Nghị quyết giao ngay trong tháng 1/2017, các bộngành, địa phương phải ban hành kế hoạch hành động, có đơn vị, cơ quanchủ trì cụ thể Thường xuyên kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch
đã đề ra, chủ động xử lý hoặc đề xuất cấp trên để xử lý kịp thời nhữngvấn đề phát sinh”./
Trong năm 2018
Trang 16Năm 2018 là một năm phấn khởi, tự hào bởi những thành tựu to lớn, toàn diện mà đất nước đã đạt được Năm 2018, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội đạt 7,08%, mốc cao nhất trong 10 năm trở lại đây Kinh tế vĩ môđược duy trì ổn định, lạm phát thấp, lãi suất được duy trì ổn định ở mức thấp đã hỗ trợ mạnh mẽ cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, những hạn chế, yếu kém tích tụ trong nội tại nền kinh tế như chất lượng tăng trưởng
và năng suất lao động ở mức thấp vẫn sẽ tiếp tục hiện hữu Nợ công đang
ở mức cao và tỷ lệ trả nợ lớn trong những năm tới đây có thể gây tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô Tăng trưởng kinh tế của Việt Namđang phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), điều này chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với nền kinh tế Việt Nam Bài viết phân tích rõ những đóng góp của từng khu vực tới nền kinh
tế năm 2018; những tồn tại, hạn chế mà nền kinh tế đang gặp phải; đồng thời dự báo triển vọng kinh tế năm 2019 và đề xuất các giải pháp khuyến nghị
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong phiên họp Chính phủ cuối năm thông báo năm 2018 đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kinh
tế - xã hội, có chỉ tiêu cao hơn Quốc hội giao, cao hơn chỉ tiêu ghi trong Nghị quyết 01 của Chính phủ Trong năm qua, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát Tăng trưởng GDP năm 2018 của đất nướcđạt 7,08% cao nhất trong 10 năm qua
Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ ở mức cao, tăng hơn 11,4% Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn tiếp tục tăng trưởng ấn tượng 13,7% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,7% Khách quốc tế trong năm đạt 15,5 triệu lượt, tăng 11,7% Xuất siêu ở mức kỷ lục 7,2 tỷ USD Thành lập mới doanh nghiệp tiếp tục tăng mạnh Các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký tăng 14,1%, tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt hơn 3,8 triệu tỷ đồng Hơn 34 nghìndoanh nghiệp trở lại hoạt động
Đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội năm 2018, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch
và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, năm 2018 là năm bản lề và có ý nghĩa trong việc đánh giá, định hình lại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 - 2020 Đây cũng được coi là một năm “bứt tốc thần kì” của nền kinh tế Việt Nam
- Các biện pháp của chính phủ
Trang 17Để giữ vững mức tăng trưởng như hiện tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề
ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong năm 2019 Trong đó, đáng chú ý nhất là chủ trương tiếp tục củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu
tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng GDP Đồng thời, tiếp tục thực hiện quyết liệt ba đột phá chiến lược và cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mạnh hơn nữa mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế theo các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, tạo sự chuyển biến rõ nét hơn, thực chất hơn trong từng ngành, lĩnh vực, nhất là trong bối cảnh thực hiện chiến lược quốc gia
về cách mạng công nghiệp 4.0
Trong năm 2019
Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2019 — Kinh tế Việt Nam đạt kết quả
tích cực trong năm 2019 với tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt 6,8%, nợ công giảm gần 8 điểm % GDP so với năm 2016 và thương mại thặng dư liên tiếp bốn năm qua Đây là những kết quả ấn tượng trong bối cảnh kinh
tế toàn cầu đang chững lại
Báo cáo Điểm lại, cập nhật tình hình kinh tế bán thường niên của Ngân
hàng Thế giới, được công bố hôm nay, khẳng định khả năng chống chịu của nền kinh tế Việt Nam Tăng trưởng GDP được duy trì nhờ vào khu vực kinh tế đối ngoại vững mạnh, với xuất khẩu dự kiến tăng 8% trong năm 2019 - cao hơn gần 4 lần so với bình quân trên thế giới Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, bình quân dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cam kết gần 3 tỷ USD mỗi tháng Bên cạnh đó, tiêu dùng cá nhân của các hộ gia đình là một yếu tố ngày càng quan trọng đóng góp cho tăng trưởng GDP, khi tầng lớp trung lưu đang lớn mạnh và mức lương tăng lên Đầu tư của các doanh nghiệp
ở khu vực tư nhân cũng tăng ở mức 17% so với cùng thời kỳ
Triển vọng trước mắt và trong trung hạn là tích cực khi Ngân hàng Thế giới dự báo GDP tăng trưởng quanh mức 6,5% trong những năm tới Các yếu tố căn bản của nền kinh tế Việt Nam vẫn vững vàng, Chính phủ đã
Trang 18tạo được dư địa tài khóa nhất định thông qua chính sách tài khóa thận trọng Tuy nhiên, quốc gia vẫn chưa hoàn toàn miễn dịch với các cú sốc bên ngoài, với minh chứng là tăng trưởng xuất khẩu giảm từ 21% xuống còn 8% từ năm 2017 đến năm 2019 Tăng trưởng xuất khẩu còn giảm rõ rệt hơn nếu nhìn vào các thị trường xuất khẩu ngoài Mỹ, chỉ tăng được 3,6% trong 11 tháng đầu năm 2019 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các cơ sở sản xuất kinh doanh mới cũng tăng chậm lại 30% so với hainăm trước đó, kể cả sau khi đã tính đến sự tăng trưởng trong đầu tư qua kênh mua bán sát nhập (M&A).
Xét những rủi ro bên ngoài nêu trên, đồng thời để mang đến động lực tăng trưởng bổ sung cho nền kinh tế, báo cáo khuyến nghị cần ưu tiên phát triển khu vực tư nhân vững mạnh và năng động Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động ở thị trường trong nước vẫn đang phải đối mặt với những trở ngại lớn, hạn chế sự phát triển, trong đó được nói đến nhiều nhất là khả năng tiếp cận tín dụng
- Các biện pháp của chính phủ trong năm 2019
Trong bối cảnh chịu áp lực từ biến động thị trường quốc tế, NHNN đãđiều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, điều chỉnh tỷ giá mua/bán ngoại tệvới các TCTD bám sát diễn biến thị trường Nhờ đó, tỷ giá và thị trườngdiễn biến ổn định, thanh khoản dồi dào; các nhu cầu ngoại tệ hợp phápđược đáp ứng đầy đủ, kịp thời; NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ bổsung Dự trữ ngoại hối Nhà nước.
Về điều hành tín dụng, tín dụng tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ, tậptrung phân bổ vào lĩnh vực sản xuất, ưu tiên tạo động lực cho phát triển,góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốncủa nền kinh tế, đáp ứng kịp thời nhu cầu hợp pháp về vốn, nhất là vốntín dụng tiêu dùng của người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen Tíndụng ngoại tệ tiếp tục được kiểm soát theo đúng lộ trình hạn chế đô lahóa theo chủ trương của Chính phủ; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi
ro được kiểm soát ở mức hợp lý
Trong năm 2019, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, để góp phần hạn chế,đẩy lùi tín dụng đen, trong các Chỉ thị từ đầu năm, Thống đốc NHNN đềuyêu cầu các TCTD đẩy mạnh triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn,tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và người dân tiếp cận vốn; có giảipháp tín dụng phù hợp đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân, gópphần hạn chế tín dụng đen Đồng thời, Thống đốc NHNN đã ban hànhQuyết định 1178/QĐ-NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động củangành Ngân hàng triển khai Chỉ thị 12/CT-TTg ngày 25/4/2019 của Thủ