TRƯỜNG ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC SƯ PHẠM BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG HÌNH THỨC” CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO GIẢNG DẠY MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG PHỔ THÔNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM ĐỒNG NAI Họ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC” CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO GIẢNG DẠY MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG PHỔ THÔNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM
ĐỒNG NAI
Họ và tên Học viên: ĐÀO THỊ THU
Ngành học: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Lớp: K31
Mã sinh viên: 2021TPP053
Khóa: K31
Giaó viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Tiến Dũng
HUẾ, 2023
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC” CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1 Một số vấn đề chung về phạm trù
1.2 Cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của Phép biện chứng duy vật
Chương 2: VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC” VÀO THỰC TIỄN GIẢNG DẠY MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG PHỔ THÔNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM ĐỒNG NAI 1
2.1 Khái quát về Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm Đồng Nai 11
2.2 Phương thức vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” trong dạy học môn Toán ở Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm Đồng Nai 13
2.3 Một sô lưu ý khi vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” trong dạy học môn Toán ở Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm Đồng Nai 15
PHẦN KẾT LUẬN17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học duy vật biện chứng có mối liên hệ biện chứng với toán học vàquá trình dạy học toán Nắm vững các nội dung, hiểu rõ các quan điểm của duy vật biện chứng giúp chúng ta có phương pháp nghiên cứu, giảng dạy cũng như học tập toán đúng đắn
và hiệu quả Triết học duy vật biện chứng được xem là cơ sở phương pháp luận của mọi ngành khoa học Triết học cùng các quy luật và phạm trù của nó có mối liên hệ biện chứng với toán học và quá trình dạy học toán Nắm vững các nội dung, hiểu rõ các quan điểm của triết học duy vật biện chứng giúp chúng ta có phương pháp nghiên cứu, giảng dạy cũng như học tập toán đúng đắn và hiệu quả: xem xét những hiện tượng trong quá trình phát triển và trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, trong sự mâu thuẫn và thống nhất, trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, phát hiện những sự biến đổi số lượng dẫn tới sự biến đổi chất lượng
Trong thời đại ngày nay không một ai có thể nghi ngờ về vai trò quan trọng của toán học trong đời sống xã hội cũng như trong sự phát triển của khoa học, kinh tế và
kỹ thuật, … Vì vậy, việc sử dụng toán học như một công cụ không thể thiếu được trong nền kinh tế tri thức là một thực tế quá rõ ràng Như vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn nguồn gốc và bản chất của đối tượng toán học, tìm hiểu những khía cạnh triết học trong toán học trên cơ sở phân tích đối tượng của nó là vấn đề có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với sự phát triển của khoa học, mà còn cả trong thực tiễn xã hội
Là một giáo viên dạy toán ở trường trung học phổ thông, tôi có thể làm được gì
để giúp cho hoc sinh của mình hiểu được một cách đúng đắn các đối tượng toán học,
từ đó giúp học sinh gắn kết các đối tượng toán học lại với nhau và có một phương pháp học tập đúng đắn nhất đạt hiệu quả cao nhất Từ đó, việc làm sáng tỏ những vấn
đề triết học khi phân tích đối tượng của toán học sẽ góp phần làm sáng tỏ bản chất, vai trò của sự phát triển toán học nói riêng và khoa học nói chung, đáp ứng việc dạy và học theo hướng hiện đại như hiện nay “Lấy học sinh làm trung tâm” Đồng thời, việc làm đó cũng chính là cơ sở chỉ ra sự thống nhất biện chứng giữa các tri thức toán học với thực tại khách quan, từ đó chúng ta mới có căn cứ để xác lập giá trị nhận thức của toán học thông qua đối tượng của nó
Trang 4Muỗn dạy tôn môn Toán trong nhà trường phổ thông, giáo viên cần có những hiểu biết nhất định về khoa học toán học, … tất cả những lĩnh vực ấy đều dựa trên cơ
sở triết học nhất định Vì vậy, để dạy tốt môn Toán, trước tiên chúng ta hay tìm hiểu những đặc điểm của khoa học toán học theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, bao gồm những nội dung về đối tượng, nguồn gốc, phương pháp của Toán học, về tiêu chuẩn chân lý của khoa học này Để nhận thức mặt nội dung của “hiện thực” cần có tư duy biện chứng và để nhận thức mặt hình thức của “hiện thực” cần có tư duy lôgic; cho nên tư duy toán học cũng phải là sự thống nhất biện chứng giữa tư duy lôgic và tư duy biện chứng
Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người
học, qua thực tiễn dạy và học môn Toán ở trường phổ thông, tôi chọn đề tài: Vận dụng
cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của phép biện chứng duy vật vào giảng dạy môn Toán tại Trường Phổ thông Thực hành sư phạm Đồng Nai làm bài tiểu luận
cho Chuyên đề Triết học cơ sở của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài vận dụng phép biện chứng duy vật vào giảng dạy Toán học
đã có một số bài báo đề cập đến Bài báo: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong dạy học Toán ở phổ thông của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hưng và Nguyễn Thị Thu
Thủy (2011), đã chỉ ra sự vận dụng sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật vào thực tiễn giảng dạy môn Toán ở bậc trung học phổ thông Từ
sự phân tích lý luận, bài báo cũng đưa ra những ví dụ vận dụng cụ thể Đây là những ví
dụ sinh động cho việc áp dụng phép biện chứng duy vật vào giảng dạy toán học bậc phổ thông
Bài báo: Một số phương thức vận dụng các quan điểm duy vật biện chứng trong dạy học Toán nhằm bồi dưỡng năng lực biến đổi thông tin cho học sinh của tác giả Lê
Thị Hương (2013), đề cập tới các phương thức vận dụng một số quan điểm của duy vật biện chứng như mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, quan điểm về mối liên hệ giữa cặp phạm trù cái chung, cái riêng, cặp phạm trù nội dung, hình thức trong quá trình dạy học môn toán ở trường Trung học cơ sở nhằm bồi dưỡng năng lực biến đổi thông tin cho học sinh
Bài báo: Vận dụng cặp phạm trù “chủ quan và khách quan” trong nghiên cứu và dạy học toán, của tác giả Cao Thị Hà (2011), đã chỉ ra mối quan hệ yếu tố chủ quan và
Trang 5khách quan trong giảng dạy Toán học Bài báo: Rèn luyện cho sinh viên sư phạm Toán
kỹ năng vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” trong dạy học môn Toán ở phổ thông, của tác giả Nguyễn Chiến Thắng (2011), đã đưa ra những tình huống cụ thể
trong việc ứng dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức”cho sinh viên ngành sư phạm Toán có thể ứng dụng vào trong thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy môn Toán cho bậc phổ thông
Như vậy, đã có một số bài báo, công trình viết về đề tài vận dụng phép biện chứng trong giảng dạy Toán học trong trường phổ thông Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến quá trình vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” trong dạy học Toán ở trường Phổ thông Thực hành sư phạm Đồng Nai Đây chính là lý do
tác giả muốn chọn đề tài: Vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của phép biện chứng duy vật vào giảng dạy môn Toán tại Trường Phổ thông Thực hành sư
phạm Đồng Nai cho bài tiểu luận của mình.
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm của triết học Mác - Lênin về cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” trong phép biện chứng duy vật Vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức”trong triết học vào dạy học toán ở Trường Phổ thông Thực hành sư phạm Đồng Nai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của Phép biện chứng duy vật
- Nghiên cứu thực trạng vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của Phép biện chứng duy vật vào dạy Toán học ở Trường Phổ thông Thực hành sư phạm Đồng Nai
- Đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của Phép biện chứng duy vật vào dạy Toán học ở Trường Phổ thông Thực hành sư phạm Đồng Nai hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó đáng chú ý là các phương pháp: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn
5 Kết cấu của đề tài
Trang 6Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu thành
2 chương và 5 tiết
PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC” CỦA PHÉP
BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẠM TRÙ
1.1.1 Khái niệm phạm trù và phạm trù của phép biện chứng duy vật
Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định. Mỗi bộ môn khoa học đều có hệ thống phạm trù riêng của mình phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu thí dụ, trong toán có phạm trù “số”, “hình”, “điểm”, “mặt phẳng”, trong vật lý học có các phạm trù “khối lượng”, “vận tốc”, “gia tốc”, trong kinh tế học có phạm trù “hàng hóa”, “giá trị”, “tiền tệ”, “thị trường”,
Các phạm trù trên đây, chỉ phản ánh những mối liên hệ chung trên một lĩnh vực hiện thực nhất định thuộc phạm vi nghiên cứu của các môn khoa học chuyên ngành Khác với điều đó, các phạm trù của phép biện chứng duy vật như “vật chất”, “ý thức”,
“vận động”, “không gian”, “thời gian”, là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định nào đấy của hiện thực, mà của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động, biến đổi, đều có mâu thuẫn, có nội dung và hình thức, nghĩa là đều có những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ được phản ánh trong các phạm trù của phép biện chứng duy vật Do vậy, giữa phạm trù của các khoa học cụ thể và phạm trù của phép biện chứng có mối quan hệ biện chứng với nhau; đó là mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất bao quát các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản, đó là các cặp phạm trù cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, …
1.1.2 Bản chất của phạm trù
Trang 7Trong lịch sử triết học, các trường phái triết học đã đưa ra cách giải quyết khác nhau về vấn đề bản chất của phạm trù Những người thuộc phái duy thực cho rằng: Phạm trù là những thực thể ý niệm, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người Ngược lại những người thuộc phái duy danh lại cho rằng: Phạm trù chỉ là những từ trống rỗng, do con người tưởng tượng ra, không biểu hiện một cái gì của hiện thực Khác với các quan niệm trên đây, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Các phạm trù không có sẵn trong bản thân con người một cách bẩm sinh, cũng không tồn tại sẵn ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người như quan niệm của những người duy thực, mà được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Mỗi phạm trù xuất hiện đều là kết quả của quá trình nhận thức trước
đó, đồng thời lại là bậc thang cho quá trình nhận thức tiếp theo của con người để tiến gần đến nhận thức đầy đủ hơn bản chất của sự vật V.I.Lênin viết: “Trước con người,
có màng lưới những hiện tượng tự nhiên Con người bản năng, con người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên Người có ý thức tự tách khỏi tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là sự nhận thức thế giới Chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm được màng lưới“.
Các phạm trù được hình thành bằng con đường khái quát hoá, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có bên trong của bản thân sự vật Vì vậy nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dù hình thức thể hiện của nó là chủ quan V.I.Lênin viết: “Những khái niệm của con người là chủ quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc”
Các phạm trù là kết quả của quá trình nhận thức của con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý thức của con người, mà còn luôn vận động, phát triển, chuyển hoá lẫn nhau Mặt khác, khả năng nhận thức của con người cũng thay đổi ở mỗi giai đoạn lịch sử Do vậy các phạm trù phản ánh thế giới khách quan cũng phải vận động và phát triển để có thể phản ánh đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan Vì vậy, hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà nó thường xuyên được bổ sung bằng những phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức khoa học
Trang 81.2 CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC” CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.2.1 Khái niệm về phạm trù “Nội dung - Hình thức”
Phạm trù nội dung là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng Trong khi đó, phạm trù hình thức dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng đó, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó
Ví dụ: Nội dung trong một cuốn sách như thế nào sẽ quyết định phải làm bìa như thế đó, nếu nội dung buồn mà lại có cách bố trí tiêu đề và màu bìa là gam màu vui nhộn thì sẽ rất phản cảm, người đọc sẽ không bao giờ quyết định đọc cuốn sách đó Hoặc, chữ “ANH” có nội dung là các chữ cái “A; N; H”, còn hình thức là các chữ cái phải xếp theo thứ tự ANH; giữa 3 chữ cái này có mối liên hệ tương đối bền vững, nếu ta đảo phương thức sắp xếp thì sẽ không còn là chữ “ANH” nữa mà thành chữ khác (Ví dụ, thành chữ NHA hoặc HNA)
1.2.2 Quan hệ biện chứng giữa “Nội dung - Hình thức”
- Giữa nội dung và hình thức có sự thống nhất hữu cơ với nhau
Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, vì vậy không có một hình thức nào không chứa dựng nội dung, đồng thời không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức, và cùng một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung. Nội dung nào sẽ có hình thức tương ứng vậy
Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức còn thể hiện ở chỗ, các yếu tố tạo thành sự vật vừa góp phần tạo nên nội dung vừa tham gia tạo nên hình thức Vì vậy, nội dung, hình thức không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau Trong ví dụ chữ ANH ở trên, thì ba yếu tố (ba chữ cái) A,N,H vừa tham gia làm nên nội dung, vừa tham gia cấu thành hình thức Do vậy, nội dung và hình thức của chữ ANH là thống nhất với nhau
- Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vật
Trong quan hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức Nội dung biến đổi nhanh, hình thức thường biến đổi chậm hơn nội dung Do
Trang 9vậy, hình thức khi ấy sẽ trở nên lạc hậu so với nội dung và kìm hãm nội dung phát triển Hình thức sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung
Khi nội dung thay đổi thì sớm hay muộn hình thức cũng thay đổi theo Ví dụ, lực lượng sản xuất là nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất Do vậy, khi lực lượng sản xuất thay đổi thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất phải thay đổi theo cho phù hợp với lực lượng sản xuất
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung quyết định hình thức và hình thức tác động trở lại nội dung Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là khuynh hướng biến đổi còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện tượng
Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình thức Nội dung quyết định hình thức nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung Hình thức phù hợp với nội dung thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển Nếu hình thức không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung.
- Nội dung và hình thức có tính độc lập tương đối với nhau, mặc dù bị quy định bởi nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung nên có thể tác động trở lại nội dung
Điều này thể hiện ở chỗ:
Một nội dung có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Ví dụ, cùng là quá trình giáo dục đào tạo (gồm đội ngũ giáo viên, người học, cơ sở trường lớp, …) nhưng
có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (đó là cách thức tổ chức phân công việc dạy và học, sử dụng giảng đường, v.v khác nhau) Cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau Ví dụ, cùng một hình thức giảng dạy như nhau nhưng được thực hiện trong những điều kiện, môi trường, khu vực khác nhau và với những kết quả khác nhau
Hình thức cũng có tác động đối với nội dung, nhất là khi hình thức mới ra đời, theo hướng hoặc là tạo điều kiện, hoặc kìm hãm nội dung phát triển Nếu hình thức phù hợp với nội dung sẽ thúc đẩy nội dung phát triển Ngược lại, nếu hình thức không phù hợp với nội dung sẽ kìm hãm nội dung phát triển Ví dụ, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược
Trang 10lại, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển
1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nội dung và hình thức là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa Nội dung tức phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật và Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó
Nội dung và hình thức luôn luôn thống nhất hữu cơ với nhau Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, không được tách rời giữa nội dung và hình thức, hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó. Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trước hết phải căn cứ vào nội dung Muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội dung của nó. Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với nội dung; mặt khác cũng cần phải thực hiện những thay đổi đối với những hình thức không còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung
Phải biết sử dụng sáng tạo nhiều hình thức khác nhau trong hoạt động thực tiễn Bởi lẽ, cùng một nội dung có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau; đồng thời, phải chống chủ nghĩa hình thức Vì nội dung quyết định hình thức, nhưng hình thức có ảnh hưởng quan trọng tới nội dung Do vậy, nhận thức sự vật phải bắt đầu từ nội dung nhưng không coi nhẹ hình thức Phải thường xuyên đối chiếu xem xét xem giữa nội dung và hình thức có phù hợp với nhau không để chủ động thay đổi hình thức cho phù hợp Khi hình thức đã lạc hậu thì nhất thiết phải đổi mới cho phù hợp với nội dung mới, tránh bảo thủ