3- Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp 3.1- Tổng quan về phương pháp luận: Phương pháp luận Atlas công nghệ là kết quả của Dự
Trang 1TRƯờNG ĐạI HọC BáCH KHOA Hà NộI TRUNG TÂM NGHIÊN CứU Và TƯ VấN Về QUảN Lý
Tài liệu tập huấn chuyển giao phương pháp luận đề tài
Điều tra, đánh giá hiện trạng, xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng công nghệ trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Trần Văn Bỡnh
6595-1
02/10/2007
Hà Nội, 5/2007
Trang 2MỤC LỤC
1 Khái niệm cơ bản về công nghệ: 4
2 Khái niệm về quản lý công nghệ 5
3- Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp 6
3.1- Tổng quan về phương pháp luận: 6
3.2 Nội dung áp dụng phương pháp Atlas công nghệ cho dự án Hải Phòng 11
3.2.1- Xây dựng hệ tiêu chí, thiết kế mẫu phiếu điều tra, thiết kế thang điểm, các hệ số tính toán 13
3.2.2- Quy trình tiến hành điều tra thu thập thông tin: 16
4 Cấu trúc phần mềm cơ sở dữ liệu và hướng dẫn khai thác thông tin 19
4.1- Các chức năng lưu trữ của hệ thống 19
4.2- Đối tượng sử dụng 21
4.3 Các quy trình nghiệp vụ 21
4.3.1 Quy trình quản lý chung 21
4.3.2 Quy trình quản lý, khai thác dữ liệu theo đối tượng sử dụng 21
4.4 Các chức năng quản trị hệ thống 31
5 Nội dung và phương pháp phân tích đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ: 32
5.1- Đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ cấp doanh nghiệp: 32
5.2- So sánh đánh giá hiện trạng trình độ cấp nhóm ngành, loại hình doanh nghiệp hoặc theo khu vực địa lí: 32
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, công nghệ phải được xem là biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội và sức cạnh tranh của mỗi quốc gia Đã từ lâu, vai trò quan trọng của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhận một cách rộng rãi Thật vậy, công nghệ cho phép ta tạo ra môi trường sống nhân tạo đầy đủ và tiện nghi hơn, quan hệ giữa công nghệ và quá trình biến đổi xã hội
đã tăng thêm sức mạnh cho nhau Mặc dù công nghệ nằm trong tay các doanh nghiệp, song việc quản lí công nghệ không chỉ là vấn đề riêng của doanh nghiệp Nó là mối quan tâm chung của doanh nghiệp và cơ quan quản lí nhà nước Việc nhìn nhận công nghệ như một yếu tố cấu thành trong các nỗ lực phát triển luôn đòi hỏi một cơ sở dữ liệu hỗ trợ cho việc ra các quyết định thực tiễn để có thể trả lời các câu hỏi mang tính sống còn như: hiện trạng năng lực công nghệ, những nhu cầu công nghệ cấp bách, những lĩnh vực công nghệ cần chuyên môn hoá của một quốc gia
Sau 20 năm của thời kỳ đổi mới, nền kinh tế của Việt nam đã có bước phát triển vượt bậc Những thành tựu phát triển của chúng ta đã làm cho đất nước thay da, đổi thịt; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện Chắc chắn là khoa học và công nghệ đã
có những đóng góp không nhỏ trong quá trình phát triển vừa qua Nhưng con số cụ thể
là bao nhiêu? KH & CN đóng góp bao nhiêu % trong tăng trưởng của GDP? Nhìn lại
hệ thống cơ sở dữ liệu, kết quả những công trình nghiên cứu đã qua chúng ta chưa có
cơ sở để đưa ra câu trả lời Trong công tác quản lí công nghệ còn nhiều vấn đề tồn đọng cả về phía các doanh nghiệp lẫn phía các cơ quan quản lí làm trì trệ quá trình đổi mới và phát triển công nghệ
Từ phía các doanh nghiệp:
• Quan niệm sai lầm cho rằng việc đổi mới công nghệ là mua sắm máy móc thiết
bị tiên tiến mà không quan tâm đến các yếu tố đào tạo về con người, cải tiến bộ máy tổ chức, tổ chức và sử dụng thông tin Dẫn đến mua về những công nghệ không phù hợp, gây lãng phí;
• Không chú trọng và có mức đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ mới Không có các chế độ rỏ ràng và thích đáng nhằm khuyến khích người lao tìm tòi sáng tạo, đổi mới công nghệ;
• Chỉ quan tâm đến những kết quả và lợi ích trước mắt và ít quan tâm đến những lợi thế cạnh tranh lâu dài do công nghệ mang lại
Đối với các cơ quan quản lí nhà nước:
• Xuất phát từ nhận thức không đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của đổi mới công nghệ mà thiếu sự quan tâm, chậm ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới và chuyển giao công nghệ;
• Tạo sự bảo hộ quá mức đối với nền sản xuất trong nước, ngăn chặn sự cạnh tranh của nước ngoài, không tạo thuận lợi cho môi trường cạnh tranh trong nước Tạo tâm lí ỉ lại, không đầu tư đổi mới công nghệ từ phía các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trang 4• Cơ chế đăng k í nhãn hiệu hàng hóa và cấp bằng sáng chế chưa thích hợp và thiếu tuân thủ pháp luật Đấu tranh ngăn chặn nạn hàng giả, hàng nhái, vi phạm bản quyền không hiệu quả
• Các đơn vị nghiên cứu, các phòng thí nghiệm khoa học, công nghệ hoạt động kém hiệu quả Thiếu khung pháp lí để hình thành và đưa vào hoạt động thị trường khoa học – công nghệ
Xuất phát từ nhận thức những bất cập này mà trong kế hoạch năm 2003 Bộ Khoa học
và Công nghệ đã thành lập tổ công tác và đưa vào chương trình triển khai đánh giá hiện trạng năng lực công nghệ của các ngành và các địa phương Mục tiêu của chương trình là trên cơ sở hỗ trợ một số địa phương triển khai công tác đánh giá từ đó tổng kết thành bộ tiêu chuẩn và phương pháp, quy trình đánh giá làm cơ sở nhân rộng ra các địa phương, tỉnh thành trên toàn quốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC)1, Đại học Bách khoa Hà nội đươc giao nhiệm vụ thực hiện tiếp đề tài “Điều tra
đánh giá hiện trạng, xây dựng định hướng chiến lược và cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ trên địa bàn TP Hải Phòng” Mục tiêu của nghiên cứu nhằm:
1 Đưa ra báo cáo tổng hợp về thực trạng về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hải Phòng, dựa trên dữ liệu điều tra cụ thể và phân tích có hệ thống
2 Thiết lập cơ sở dữ liệu và xây dựng trang Web về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong địa bàn phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển KT - XH của thành phố
3 Tập huấn chuyển giao phần mềm cơ sở dữ liệu để các doanh nghiệp tự đánh giá trình độ công nghệ, nhằm mục tiêu phát triển bền vững của dự
án sau khi nghiệm thu
4 Phân tích, đề xuất phương hướng tiếp tục đầu tư, phát triển công nghệ thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2006 - 2010
Tài liệu này được biên soạn nằm giới thiệu cho đội ngũ cán bộ tham gia dự án, cũng như những người sử dụng kết quả nghiên cứu nắm được phương pháp tiến hành thu thập thông tin, phân tích đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ các doanh nghiệp và các ngành kinh tế và khai thác phần mềm cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lí
và cập nhật thông tin Nội dung của tài liệu bao gồm các phần:
- Khái niệm cơ bản về công nghệ
- Khái niệm về quản lí công nghệ
- Phương pháp luận Alast công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp
- Cấu trúc phần mềm cơ sở dữ liệu và hướng dẫn khai thác thông tin
- Nội dung và phương pháp phân tích và đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ
1 Center for Research and Consulting on Management
Trang 51 Khái niệm cơ bản về công nghệ:
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về công nghệ Theo luật Khoa học và Công nghệ
của Việt nam thì: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí
quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Qua định nghĩa trên chúng ta thấy bất cứ một công nghệ nào dù đơn giản cũng phải gồm có 4 thành phần:
• Thành phần hàm chứa trong phương tiện kỹ thuật
• Thành phần hàm chứa trong kỹ năng của con người
• Thành phần hàm chứa trong khung thể chế; và
• Thành phần hàm chứa trong các tư liệu
Các thành phần này tác động qua lại lẫn nhau để thực hiện các quá trình biến đổi tạo ra các sản phẩm mong muốn
• Công nghệ hàm chứa trong các phương tiện kỹ thuật: Chúng bao gồm các công
cụ, thiết bị, máy móc và cơ sở hạ tầng Trong sản xuất, các vật thể này thường được tổ chức thành dạng các dây chuyền để thực hiện các quá trình biến đổi Người ta thường gọi thành phần này là thành phần kỹ thuật (Technoware – ký
hiệu T)
• Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng của con người: Chúng bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động
Thành phần này được gọi là thành phần con người (Humanware– ký hiệu H)
• Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế: Chúng bao gồm những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những quy trình đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết
bị nhằm sử dụng tốt nhất thành phần kỹ thuật, thành phần con người Thành
phần này được gọi là thành phần tổ chức (Orgaware– ký hiệu O)
• Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá: Chúng bao gồm các
dữ liệu về phần kỹ thuật, phần con người và phần tổ chức Ví hụ như về phần
kỹ thuật là các thông số về đặc tính của thiết bị, về vận hành thiết bị, các sổ tay hướng dẫn duy tu, bảo dưỡng thiết bị Người ta gọi thành phần này là thành
phần thông tin của công nghệ (Infoware– ký hiệu I)
Các thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau và không thể thiếu bất cứ một thành phần nào Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ sự chuyển đổi nào Nó được phát triển, lắp đặt và vận hành bởi con người Phần con người là yếu tố chủ chốt của bất kỳ thao tác chuyển đổi nào Đến lượt mình con người được hướng dẫn bởi thành phần thông tin Phần thông tin được tạo ra và cũng được sử dụng bởi thành phần con người để ra quyết định và vận hành phần kỹ thuật Phần tổ chức có vai trò tiếp nhận và kiểm soát phần thông tin, phần con người và phần kỹ thuật để tiến hành quá trình chuyển đổi
Trang 6Chính vì vậy mà người ta thường ví thành phần H như bộ não, thành phần T như trái tim, thành phần I như không khí xung quanh và tất cả nằm trong ngôi nhà tổ chức O
2 Khái niệm về quản lý công nghệ
Quản lý công nghệ là một bộ môn khoa học liên ngành, kết hợp khoa học-công nghệ
và các tri thức quản lý để hoạch định, triển khai và hoàn thiện các năng lực công nghệ nhằm xây dựng và thực hiện các mục tiêu trước mắt và lâu dài của một tổ chức
Công Nghệ Tự nhiên KH
Quản
Lý CN
KH
Xã hội Thực tiễn Công nghiệp
LT Kinh doanh
Trang 7Ở cấp các doanh nghiệp vấn đề quản lý công nghệ nhằm:
• Đưa vấn đề công nghệ vào mục tiêu chiến lược chung của doanh nghiệp;
• Lựa chọn hình thức chuyển giao công nghệ đạt hiệu quả nhất;
• Cập nhật và đánh giá thường xuyên hiện trạng trình độ công nghệ của DN;
• Quản lý tốt hệ thống thiết bị, công nghệ sản xuất mà DN đang sử dụng;
• Quản lý, đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nghệ của DN;
• Rút ngắn thời gian phát triển các sản phẩm mới
Doanh nghiệp phải xây dựng cơ sở dữ liệu cho phép cập nhật, theo dõi sự biến động của các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức) Đánh giá mức độ tương thích của từng thành phần công nghệ trong mối tương quan tổng thể của DN Đánh giá tính hiệu quả của các dự án, sáng kiến đầu tư đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Đối chiếu so sánh trình độ công nghệ của DN với trung bình chung của ngành, của khu vực và quốc tế
3- Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp
3.1- Tổng quan về phương pháp luận:
Phương pháp luận Atlas công nghệ là kết quả của Dự án Atlas công nghệ - Technology
Atlas Project được khởi xướng trên cơ sở của tiên đề cho rằng công nghệ là biến số
chiến lược quyết định sự phát triển, tăng tốc kinh tế-xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng Đây là dự án công nghệ do trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á Thái Bình Dương (APCTT), thuộc Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Châu Á Thái Bình Dương (UN-ESCAP) đã nghiên cứu và ban hành
bộ tài liệu “Nguyên lý phát triển dựa trên cơ sở công nghệ” dùng để áp dụng cho các quốc gia trong khu vực.v.v từ năm 1986 đến năm 1988, dưới sự tài trợ của chính phủ Nhật Bản2 Tài liệu này hướng dẫn các nội dung và phương pháp đánh giá hiện trạng công nghệ của một quốc gia
Mục tiêu chính yếu của “Technology Atlas Project” là đưa ra một công cụ hỗ trợ quyết định ở dạng một bộ tài liệu phương pháp luận để hợp nhất các công việc xem xét vấn đề công nghệ trong quá trình lập kế hoạch phát triển Dự án trình bày các biện pháp trong những lĩnh vực quan trọng mà tới nay vẫn chưa được chú ý thích đáng và cung cấp phương tiện nhằm giới thiệu một cách rộng rãi các cách tiếp cận phân tích để
đề ra và hoàn thiện các chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ ở mỗi đơn vị kinh
tế, ngành, mỗi quốc gia
2 Tham khảo chi tiết: UN-ESCAP (1989): “Technology Atlas Project Tokyo Program On Technology for Development in Asie and Pacific”, Bangalore, India
Trang 8Với tựa đề chung là “Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ”, nội dung của phương pháp luận Atlas công nghệ bao gồm việc phân tích đánh giá chỉ số công nghệ mà cán
bộ dự án đã xây dụng (Atlas S&T indicators: hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ) được xem xét ở
ba quy mô khác nhau sau (xem chi tiết được mô phỏng theo hình 1):
Hình 1 Lập kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ trong phương pháp luận
Atlas công nghệ
Các khía cạnh phát triển kinh tế xã hội kinh điển
Tình trạng cơ sở
hạ tầng và dịch
vụ hỗ trợ
Đội ngũ cán bộ KHKT và chi phí cho NC-TK
ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ
Khoa học và công nghệ trong hệ thống sản xuất
Khoa học và công nghệ hàn lâm
Những tiến bộ và nỗ lực trong những khu vực chuyên môn hoá được lựa chọn
Các cam kết của cấp vĩ mô đối với KH&CN vì sự phát triển
Cấp công ty
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU CÔNG NGHỆ
ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ
ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ
So sánh
Hệ số đóng góp của công
Tổng hợp các đóng góp của
Mức độ đổi mới
Các chuỗi phát triển
Các tác nhân thúc đẩy công
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
Các mặt của
cơ sở hạ tầng
Các nguồn
Kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội quốc gia
Cấp bậc tinh xảo
Các thành phần của công nghệ
Hàm lượng xuất khẩu
Thị trường
quốc tế
Cấp giai
Đánh giá cấu trúc của công nghệ
Loại giai đoạn
Trang 9Ở cấp doanh nghiệp:
Các các chỉ số công nghệ được xem xét là: các thành phần công nghệ (thành phần kỹ thuật, thành phần thông tin, thành phần con người, thành phần tổ chức), kết quả đóng góp trực tiếp của bốn thành phần này xác định hàm lượng công nghệ gia tăng, đây là cơ sở để đánh giá hàm lượng công nghệ; năng lực công nghệ; và chiến lược công nghệ
Ở cấp độ của một ngành công nghiệp:
Thông thường ở quy mô của một ngành công nghiệp, các đặc trưng công nghệ được đánh giá là các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ
Ở quy mô một quốc gia 3
Với quy mô là một quốc gia, những chỉ số công nghệ được xem xét là môi trường công nghệ và nhu cầu công nghệ
Để việc hợp nhất các xem xét công nghệ với quá trình kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội
có ý nghĩa, thì điều kiện cơ bản là các nhà nghiên cứu về kinh tế và công nghệ phải hỗ trợ lẫn nhau khi tiến hành các phân tích Nếu sử dụng 4 hình thực biểu hiện của công nghệ theo cách
phân chia theo phương pháp Atlas (thành phần kỹ thuật - Technoware, thành phần con người
- Humanware, thành phần thông tin - Infoware, thành phần tổ chức- Orgaware) ở trên làm cơ
sở để điều tra, thì có thể đạt được sự bổ sung cho nhau giữa kế hoạch hoá kinh tế thông thường và kế hoạch hoá dựa trên công nghệ ở cấp công ty, phân ngành, ngành, tỉnh, quốc gia tuỳ theo mức độ dự án thực hiện Hình dưới đây trình bày mô phỏng việc ứng dụng phương pháp luận Alast công nghệ cho dự án Hải Phòng
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ (NGÀNH)
HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ (DN)
Phiếu điều tra Ngành/Địa phương
Đóng góp CN TCC (DN70)
Đóng góp CN TCC(DN2)
Phiếu điều tra DN
ß1 ß30
Đóng góp CN TCC (DN1)
Phiếu điều tra Ngành/
Địa phương
NHU CẦU CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NHU CẦU CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
3 Trên thực tế việc nghiên cứu đánh giá môi trường công nghệ cũng có thể được xem xét ở quy mô địa phương vì ngay với quy mô nhỏ hơn mức quốc gia vẫn tồn tại những yếu tố môi trường có tính đặc thù mà nếu chỉ khai thác môi trường công nghệ ở cấp quốc gia thì rất khó được đề cập đến Việc xem xét môi trường công nghệ ở quy mô nào phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng đề tài
Trang 10Quá trình đánh giá được tiến hành thông qua việc điều tra khảo sát nhằm thu thập các thông tin cho phép lượng hóa các thành phần Kỹ thuật (Technoware – T), thành phần Con người (Humanware – H), thành phần Thông tin (Inforware – I) và thành phần Tổ chức (Orgaware – O) của từng doanh nghiệp 120 câu hỏi thu thập thông tin được đặt
ra cho từng doanh nghiệp
Phần Kỹ thuật có thể coi như hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ Nó
bao gồm tất cả các phương tiện vật chất cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ như các dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu và các xưởng máy…
Phần Con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ Nó bao gồm
các năng lực cần thiết mà con người đã tích luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi
Phần Thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của công nghệ Nó bao gồm toàn
bộ các dữ kiện và các số liệu cần cho các hoạt động chuyển đổi, ví dụ: các bản thiết kế, các bản tính toán, các đặc tính, các quan sát, các phương trình, các biểu đồ, các lý thuyết…
Phần Tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ Nó bao gồm các
cơ cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ: sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm, hệ thống các tổ chức, các mạng lưới quản lý…
Song song với quá trình điều tra thu thập thông tin từ các doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập kiến của các chuyên gia nhằm xây dựng hệ thống các thang điểm đánh giá lượng hóa mức độ quan trọng, sự đóng góp của từng yếu tố trong việc xác lập nên các thành phần T,H,I,O cho từng ngành, từng lĩnh vực nghiên cứu (xác lập các hệ số βt, βh, βi, βo)
Trên cơ sở các thông tin thu thập được từ các doanh nghiệp, các thang điểm, hệ số đánh giá được xác lập thông qua kiến đánh giá của các chuyên gia, chúng ta có thể tiến hành tính toán xác định các hệ số đóng góp công nghệ (Hàm lượng công nghệ) của từng doanh nghiệp và sau đó tổng hợp cho từng nganh và xác định chỉ số trung bình chung cho toàn bộ các doanh nghiệp được khảo sát
Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) cho qúa trình chuyển đổi có thể được tính theo công thức sau:
TCC = Tβt Hβh Iβi Oβo (phương trình 1)
Trong đó T,H,I,O là mức độ đóng góp riêng tương ứng của từng thành phần công nghệ βt, βh, βi, βolà cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng Để tính được TCC người ta tiến hành theo các bước sau:
Bước1: Đánh giá cấp bậc tinh xảo của 4 thành phần công nghệ
Trang 11Thông qua thu thập thông tin từ doanh nghiệp và thủ tục cho điểm bởi các chuyên gia
tiến hành xác định mức độ tinh xảo của các thành phần công nghệ
Mức độ tinh xảo xếp từ thấp đến cao của 4 thành phần công nghệ có thể được mô tả ở
bảng sau:
Thành phần Kỹ thuật
(T) Thành phần Con người (H) Thành phần Thông tin (I) Thành phần Tổ chức (O)
Vạn năng Sửa chữa Lắp đặt Bảo toàn
Chuyên dùng Thích nghi Sửa chữa Ổn định
Bước 2: Đánh giá trình độ hiện đại
Khi chúng ta có được giới hạn cấp bậc tinh xảo trên, dưới của 4 thành phần công nghệ
thì vị trí của mỗi thành phần công nghệ trong khoảng giới hạn này phụ thuộc vào trình
độ hiện đại của nó Trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ được đánh giá
thông qua các tiêu chí như: xuất xứ công nghệ, năm sản xuất, lắp đặt, suất tiêu hao
nguyên, nhiên vật liệu, trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, hạ tầng thông tin, mục
đích sử dụng máy tính, Bằng phương pháp thu thập kiến của chuyên gia chúng ta có
thể xác định các tiêu chí, hệ thống các thang điểm cho phép lượng hóa mức độ ảnh
hưởng của từng tiêu chí đến từng thành phần công nghệ cũng như lượng hóa mức độ
ảnh hưởng của từng thành phần T,H,I,O đến hệ số đóng góp công nghệ của từng nhóm
ngành
Bước 3: Xác định những đóng góp của thành phần công nghệ trên cơ sở các giới hạn
của cấp bậc tinh xảo và điểm số trình độ hiện đại đã được xác định Đây là bước tính
toán điểm số, tổng hợp, xác định hệ số từ tập nhiều tiêu chí khác nhau Đối chiếu các
thông tin thu thập được từ doanh nghiệp với hệ thống thang điểm đánh giá được xây
dựng cho nhóm ngành tương ứng, chúng ta có thể tính toán lượng hóa các thành phần
công nghệ của doanh nghiệp nghiên cứu
Bước 4: Đánh giá cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ: ở đây đề xuất
phương pháp đánh giá bằng cách sử dụng cách tiếp cận ma trận so sánh từng đôi một4
Việc xác định các hệ số β sẽ được thực hiện cho từng ngành với sự trợ giúp của phần
mềm Expert Choice cũng như sự tham gia đóng góp của các chuyên gia đầu ngành
Bước 5: Tính toán hệ số TCC
4 Xin xem chi tiết trong tập II tài liệu của dự án Atlas công nghệ có tựa đề: Đánh giá hàm lượng công nghệ
Trang 12Sử dụng các giá trị T,H,I,O và các cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ (βT,H,I,O) có thể tính được TCC bằng phương trình 1 ở trên TCC của công ty cho biết
sự đóng góp của công nghệ của toàn bộ hoạt động chuyển đổi vào đầu ra của công ty
Việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể cho ta biết được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp liên quan đến công nghệ và các động lực chuyển đổi ở cấp công ty Nó cho phép xác định các ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nhằm nâng cấp các thành phần công nghệ Nó không ảnh hưởng bởi sự không hoàn chỉnh của thị trường công nghệ và
có thể bổ sung cho việc phân tích tài chính thông thường Hơn nữa, việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể làm tăng khả năng sàng lọc kho công nghệ quốc gia và nâng cao năng lực quốc gia về mặt đánh giá công nghệ khi hợp tác với nước ngoài
3.2 Nội dung áp dụng phương pháp Atlas công nghệ cho dự án Hải Phòng
Trên cơ sở của những yêu cầu về chuyên môn là đánh giá hiện trạng công nghệ của hơn 450 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hải Phòng và xây dựng trang Web về cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý, hoạch định chiến lược phát triển công nghệ cho thành phố, nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm CRC của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai ứng dụng phương pháp luận Alast công nghệ để xác định bốn thành phần công nghệ T,H,I,O và tính toán hàm lượng công nghệ gia tăng cho từng doanh nghiệp và tổng hợp cho từng nhóm ngành
Do số lượng các doanh nghiệp thuộc đối tượng điều tra trên địa bàn thành phố khá cho nên nhóm nghiên cứu đã thống nhất với sở Khoa học và Công nghệ chọn lọc, lựa chọn các doanh nghiệp khảo sát Các doanh nghiệp khảo sát được phân tổ thành 16 nhóm ngành kinh tế phục vụ cho việc tổng hợp và so sánh giữa các nhóm ngành và với các địa phương khác
Sau khi đã có những thống nhất về các nhóm ngành điều tra, tiến hành đo lường 4 thành phần công nghệ theo các bước đã nêu ở trên Các thông tin dùng để đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ của các doanh nghiệp được thu thập thông qua điều tra Các cán bộ của nhóm nghiên cứu phối hợp và hướng dẫn các cán bộ thuộc các lĩnh vực chuyên môn có liên quan của các doanh nghiệp điền các thông tin theo mẫu phiếu
đã được chuẩn bị sẳn Phiếu bao gồm 120 câu hỏi phản ánh chi tiết các tiêu chí sử dụng cho đánh giá các thành phần công nghệ: Kỹ thuật, Con người, Thông tin và Tổ chức (Chi tiết về mẫu phiếu điều tra xem phụ lục )
Bốn thành phần công nghệ được xác định ở cấp cơ sở tức là ở các doanh nghiệp được chọn nghiên cứu, sau đó sẽ được tổng hợp cho từng ngành theo các hệ số β mà việc xác định các hệ số β này được thực hiện trên cơ sở phương pháp chuyên gia Có nghĩa
là nhóm nghiên cứu đã lần lượt mời các nhóm chuyên gia đại diện cho từng nhóm ngành tham gia các Hội thảo chuyên đề qua đó xây dựng hệ tiêu chí cho phép đánh trình độ công nghệ của các doanh nghiệp và tổng hợp cho từng nhóm ngành Thông qua các tiêu chí để thiết kế nên mẫu phiếu thu thập thông tin và các thang đánh giá lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng tiêu chí đến từng thành phần công nghệ
Quá trình thu thập thông tin được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp Nhóm công tác bao gồm các cán bộ điều tra thuộc Trung tâm CRC đã kết hợp với các cán bộ của sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng đã tiến hành trực tiếp
Trang 13phỏng vấn các cán bộ chuyên môn có liên quan của từng doanh nghiệp qua đó thu thập
thông tin vào phiếu điều tra Đây là quá trình tuy có tốn kém về thời gian và kinh phí
nhưng nó đảm bảo cho quá trình thu thập thông tin được chính xác Các cán bộ điều
tra qua gặp gở và trao đổi trực tiếp với các cán bộ của doanh nghiệp, cùng nhau làm rỏ
những vấn đề qua đó việc thu thập thông tin chuẩn xác hơn 409 doanh nghiệp đang
hoạt động trên địa bàn thành phố thuộc 16 nhóm ngành đã được điều tra
Cùng với quá trình điều tra thu thập thông tin, tổ chức hội thảo thu thập kiến chuyên
gia, nhóm nghiên cứu đã tiến hành xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu có các chức
năng:
• Lưu trữ các dữ liệu điều tra từ các doanh nghiệp dưới dạng một cơ sở dữ
liệu thuận tiện cho việc truy cấp và xuất dữ liệu phục vụ cho các công tác
quản lý và nghiên cứu đánh giá về hiện trạng trình độ công nghệ, máy
móc thiết bị, nguồn nhân lực của từng doanh nghiệp, từng nhóm ngành và
toàn bộ các doanh nghiệp được điều tra;
• Lưu trữ các thang điểm đánh giá trình độ công nghệ mà các chuyên gia đã
xây dựng cho từng nhóm ngành dưới dạng một “thư viện các hệ số chuyên
gia” phục vụ cho quá trình so sánh đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ
của các doanh nghiệp được khảo sát
• Thực hiện quá trình tính toán lượng hóa các tiêu chí phản ánh trình độ
công nghệ của các doanh nghiệp từ các số liệu điều tra Trên cơ sở đó xác
định các thành phần công nghệ T,H,I,O và hệ số đóng góp công nghệ TCC
cho từng doanh nghiệp, tổng hợp cho từng nhóm ngành và tính trung bình
chung cho toàn tỉnh;
• Truy xuất dữ liệu phục vụ cho các mục đích quản lí và nghiên cứu khác
nhau như: truy xuất dữ liệu thô của từng doanh nghiệp (nguyên bản số liệu
điều tra thu thập từ doanh nghiệp), các dữ liệu lượng hóa trình độ của các
Trang 14yếu tố ảnh hưởng và các thành phần công nghệ, hệ số đóng góp công nghệ, so sánh trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp trong cùng nhóm ngành, giữa các nhóm ngành với nhau và so sánh của Hải Phòng với các địa phương khác như Đồng Nai, Quảng Bình, Các số liệu có thể so sánh dưới dạng các bảng, các đồ thị rất sinh động làm cho người truy cập dễ dàng trong việc xem xét đánh giá.
Sau khi đã hoàn thành các bước nghiên cứu ở trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích, đánh giá viết báo cáo về hiện trạng công nghệ của thành phố Hải Phòng trên cơ
sở đó đề xuất giải pháp nâng cao trình độ côn nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố nhằm góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế
Một cách khái quát, phương pháp Atlas công nghệ được áp dụng cho dự án Hải Phòng
ở mức đánh giá bốn thành phần công nghệ để tiến tới đánh giá trình độ công nghệ cho các ngành kinh tế trọng điểm của thành phố Hải Phòng Các kết quả này được quản lý, phát triển thông qua việc xây dựng trang web về cở sở dữ liệu với phần mềm quản lý
có độ hoàn thiện cao Các bước triển khai phương pháp Atlas công nghệ đối với dự án Hải Phòng được thực hiện theo các bước dưới đây
3.2.1- Xây dựng hệ tiêu chí, thiết kế mẫu phiếu điều tra, thiết kế thang điểm, các
hệ số tính toán
Để có thể đo lường được bốn thành phần công nghệ T, H, I, O, cần thiết phải thiết kế
bộ phiếu điều tra hoàn chỉnh phản ảnh đầy đủ bản chất, đặc tính của các thành phần công nghệ này Có hai nội dung cần đề cập trong bảng câu hỏi là câu hỏi đánh giá mức
độ tinh xảo và câu hỏi đánh giá trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ Để có thể thiết kế bộ phiếu điều tra bốn thành phần công nghệ, qua tham khảo kiến của các chuyên gia và kinh nghiệm của một số dự án tương tự đã và đang được thực hiện ở Việt nam, chúng tôi đã xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá để từ đó xây dựng bảng các câu hỏi điều tra đảm bảo phản ánh đầy đủ nội dung của các thành phần công nghệ (T,H,I,O) theo tinh thần của phương pháp Atlas công nghệ, đơn giản, dễ hiểu, có giải thích cặn kẽ các từ khoá kỹ thuật để đảm bảo việc cung cấp thông tin đầy
đủ nhất, bộ số liệu hoàn chỉnh nhất Về cơ bản, có thể khái quát bộ phiếu điều tra doanh nghiệp với tổng số khoảng trên 120 câu hỏi trong đó bao gồm:
• Một số câu hỏi tổng quát về doanh nghiệp và nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, đây là những thông tin ban đầu cần thiết cho việc tổ chức bảo quản dữ liệu, xây dựng phần mềm quản lý, tạo cho việc hình thành một techmart trên mạng
• Khoảng 4x30 câu hỏi để đo lường, đánh giá bốn thành phần công nghệ ở cấp doanh nghiệp: kỹ thuật, thông tin, con người và tổ chức Riêng phần đánh giá thành phần kỹ thuật và thành phần con người, phiếu điều tra thu thập thông tin được xây dựng chi tiết cho từng công đoạn trong chu trình sản xuất Một bước cải tiến hơn so với dự án Đồng Nai là nhóm nghiên cứu đã xây dựng 6 mẫu phiếu điều tra: 01 mẫu phiếu chung và 05 mẫu phiếu cho 5 nhóm ngành đặc thù (Đóng tàu, Nuôi trồng thủy sản, Dịch vụ khách sạn-du lịch, Vận tải, Dịch vụ cảng) Đây là cơ sở cần thiết để có thể xác định chính xác hàm lượng công nghệ Cần tiến hành tổ chức làm việc với chuyên gia của các ngành để xác định
Trang 15các đặc thù của từng ngành khi xây dựng các câu hỏi cho phần kỹ thuật Theo danh sách trên 450 doanh nghiệp mà nhóm nghiên cứu đã thống nhất với Sở KHCN Hải Phòng chúng ta có thể phân tổ thành 16 nhóm ngành
Việc hoàn thiện bộ phiếu điều tra cấp doanh nghiệp phải luôn đi kèm với việc xây dựng hệ thống các thang điểm chi tiết cho từng câu hỏi định lượng hoá các câu hỏi đánh giá theo đúng tinh thần của Atlas công nghệ để xác định trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ Có 5 dạng thang điểm chúng tôi dự kiến sử dụng là:
Thang điểm tuyến tính,
Thang điểm cấp số nhân
Thang điểm Likert (đánh giá chủ quan)
Thang điểm số lượng lựa chọn
Thang điểm phân đoạn
Hệ thống chỉ số β để tổng hợp, quy đổi ra kết quả cuối cùng xác định độ tinh xảo, trình
độ hiện đại của bốn thành tố công nghệ THIO được xác định thông qua phưong pháp chuyên gia Tương tự là việc xác định các hệ số β lớn (βT βH βI βO) để tổng hợp xác định hàm lượng công nghệ gia tăng (TCA) và hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của một phương tiện chuyển đổi Phương pháp chuyên gia, cũng được đặc biệt sử dụng cho việc xác định này
Sơ đồ trên là một thí dụ để xác định thành phần Kỹ thuật (T) Các tiêu chí như tính đồng bộ, xuất xứ công nghệ, thế hệ công nghệ, tình trạng hiện tại của thiết bị, định mức tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, chỉ số phát thải các chất ô nhiểm, được lựa chọn để xây dựng bảng câu hỏi Trong bảng câu hỏi, các chuyên gia sẽ đưa ra thang điểm khác nhau đối với từng tiêu chí ví dụ xuất xứ thiết bị ở Mỹ và Tây Âu, Nhật bản được xếp vào thang điểm 10, trong khi sản xuất tại Trung quốc chỉ được thang điểm 4
Có các câu hỏi, khi quy đổi còn phải sử dụng cả các hệ số β nhỏ kết hợp với thang điểm để xác định Ví dụ trong các bảng dưới đây, các chuyên gia ngành cơ khí đã cho điểm đánh giá về xuất xứ và thế hệ công nghệ của các thiết bị gia công cơ khí
+
Trang 16Bảng 1 : Điểm đánh giá trình độ hiện đại các thiết bị theo thời kỳ sản xuất và niên đại
Bảng 2 : Điểm đánh giá trình độ hiện đại các thiết bị theo xuất xứ công nghệ
Đức, Nhật, ý, Anh, Mi 10 Nga (7), G7 còn lại 8 Các nước Đông âu, Đài loan, HQ 6
Trung quốc 5
So với các phương pháp đánh giá, các mẫu phiếu được xây dựng trước đây, chúng tôi
thừa kế được nhiều kinh nghiệm bổ ích, những điểm mạnh được phát triển và những
điểm yếu được khắc phục Vì thế khái quát chung phương pháp luận và triển khai
Atlas công nghệ cho Hải Phòng của chúng tôi có những tiến bộ sau:
Phần đánh giá về công nghệ được xem xét tỉ mỉ hơn, được đánh giá đặc thù cho
từng ngành Vì thế việc đánh giá sẽ thiết thực hơn, chính xác hơn
Phiếu điều tra Doanh nghiệp có những câu hỏi về nhu cầu mua bán, chuyển
giao công nghệ, đây là hình thức thiết thực để có thể tiến hành xây dựng
Techmart trên mạng
Thang điểm được xây dựng rất khoa học Các hệ số β được tổng hợp từ ý kiến
các chuyên gia đầu ngành, sau khi đã trao đổi, thảo luận
Việc tổng hợp các chỉ số định lượng cụ thể ở các cấp (cấp câu hỏi, cấp thành
phần công nghệ, TCC), cho từng phạm vi (doanh nghiệp, ngành, khu công
nghiệp, địa phương), cho phép đưa kết quả đánh giá vào cơ sở dữ liệu và đưa
lên Internet với các biện pháp bảo mật và phân quyền cần thiết Từ đó các đối
tượng người dùng khác nhau (doanh nghiệp, sở KHCN và các cơ quan địa
phương, bộ KHCN và các cơ quan ban ngành trung ương, các tổ chức và cá
nhân có quan tâm, các tổ chức và cá nhân có đóng lệ phí) có thể thực hiện truy
cập và so sánh cần thiết về năng lực và nhu cầu công nghệ của các đối tượng
được đánh giá Tất cả các chi tiết này đều được đề cập trong báo cáo về cấu trúc
cơ sở dữ liệu và giao diện của trang Web sử dụng
Trang 173.2.2- Quy trình tiến hành điều tra thu thập thông tin:
Trên cơ sở phân tích kết quả các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, rút kinh nghiệm từ việc triển khai thành công tại Đồng Nai, nhóm nghiên cứu tiếp tục lựa chọn
và hoàn thiện phương pháp Atlas công nghệ để áp dụng cho đề tài tại Hải Phòng Phương pháp luận đề xuất đã được trình bày tại nhiều cuộc Hội thảo: Hội thảo giới thiệu phương pháp luận tổ chức tại TP Biên Hoà (1/4/2004), Hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu với đồng chí Bộ trường Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong (25/6/2004), Hội thảo về đánh giá hiện trạng công nghệ trong khuôn khổ của Hội chợ Techmark năm 2004 tại Hải Phòng (26/10/2004), Hội thảo báo cáo sơ bộ kết quả nghiên cứu của Đồng Nai (9/11/2004), Hội thảo xin í kiến chuyên gia tổ chức tại Hải Phòng (4/2005), Hội nghị giao ban Khoa học-Công nghệ các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên (11/2005) tai Quảng Ngãi Ý kiến đóng góp từ các Hội thảo đều nhất trí đánh giá cao phương pháp tiến hành nghiên cứu mà nhóm đề tài đã triển khai cho Đồng Nai, Hải Phòng Quy trình tiến hành triển khai thực hiện đề tài được trình bày tại
sở đồ 1 dưới đây
Công tác điều tra thu thập số liệu sẽ được tiến hành theo các bước sau:
Hoàn thiện đầy đủ bộ phiếu điều tra,
CRC soạn thảo tài liệu để tập huấn cho cán bộ điều tra về phương pháp
và cách thức, quy trình điều tra (xem phụ lục đính kèm)
Tiến hành điều tra thử,
Tiến hành tổng điều tra cho các doanh nghiệp thuộc diện khảo sát
Xử lý dữ liệu số liệu
Xử lí các phiếu điều tra bị thiếu thông tin
Bước 1: Hoàn thiện đầy đủ bộ phiếu điều tra
Bộ phiếu điều tra được xây dựng theo các tiêu chí, yêu cầu về nội dung đã nêu ở phần cơ sở phương pháp luận Trên thực tế, nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm CRC đã nhiều lần rút kinh nghiệm và cải tiến mẫu phiếu điều tra
Từ Hội thảo về phương pháp luận Alast công nghệ được tổ chức tại thành phố Biên Hòa tháng 4/2004 cho đến các cuộc Hội thảo với đội ngũ các chuyên gia được tổ chức tại Hà Nội và Hải Phòng, mẫu phiếu điều tra đã ngày càng được hoàn thiện Hiện tại, mẫu phiếu phải đảm bảo ba yêu cầu: hoàn chỉnh về nội dung, đẹp về hình thức và thuận tiện nhất cho người trả lời Một cải tiến so với các kết quả thực hiện ở Đồng Nai
và Quảng Bình là các câu hỏi thu thập thông tin được thiết kế cho 6 nhóm ngành riêng biệt so với chỉ 01 mẫu phiếu trước đây: Đóng tàu, Dịch vụ vận tải, Khách sạn-du lịch, Dịch vụ cảng biển, Nuôi trồng thuỷ sản và mẫu phiếu chung (các mẫu phiếu xem phụ lục )