Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài nhờ áp dụng phương pháp thu thập thông tin hợp lý, được sự chỉ đạo kịp thời của tổ công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ và đặc biệt có sự phố
Trang 1TRUNG TÂM NGHIÊN CứU Và TƯ VấN Về QUảN Lý
Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước
Điều tra, đánh giá hiện trạng, xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng công nghệ trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Trần Văn Bỡnh
6595
04/10/2007
Hà Nội, 5/2007
Trang 2Mục lục
Mục lục 1
LỜI NÓI ĐẦU 4
Phần 1: Phương pháp luận đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ áp dụng cho các doanh nghiệp tại Hải Phòng 6
1.1 Đặt vấn đề 6
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 7
1.2.1 Nghiên cứu về công nghệ trên thế giới 7
1.2.2 Nghiên cứu về công nghệ ở Việt nam 9
1.3 Tổng quan về các phương pháp luận cho các dự án đánh giá công nghệ 11
1.3.1 Đánh giá công nghệ về mặt kinh tế 11
1.3.2 Phương pháp đo lường công nghệ học 12
1.3.3 Tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình 12
1.3.4 Phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ phân lập 15
1.3.5 Phương pháp luận Atlas công nghệ 16
1.3.6 Tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược 18
1.4 Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 21
1.4.1 Tổng quan về phương pháp luận: 21
1.4.2 Nội dung áp dụng phương pháp Atlas công nghệ cho dự án Hải Phòng 25
1.4.3 Xây dựng hệ tiêu chí, thiết kế mẫu phiếu điều tra, thiết kế thang điểm, các hệ số tính toán 27
1.4.4 Tổ chức điều tra thu thập và xử lý số liệu 31
1.5 Kết luận 33
Phần 2: Hệ thống phần mềm Cơ sở dữ liệu Quản lý hiện trạng trình độ công nghệ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 34
2.1 Tổng quan 34
2.2 Mục tiêu 34
2.3 Giải pháp 35
2.3.1 Mô hình ứng dụng kỹ thuật 35
2.3.2 Cơ sở dữ liệu (Database) 35
2.3.3 Thành phần hỗ trợ (Business Component) 35
2.3.4 Giao diện cho người dùng cuối (Application Client) 35
2.3.5 Các yếu tố về kỹ thuật 35
2.4 Các chức năng lưu trữ của hệ thống 36
2.4.1 Thông tin lưu trữ trong hệ thống 36
2.4.2 Đối tượng sử dụng 38
2.5 Các quy trình nghiệp vụ 38
Trang 32.5.1 Quy trình quản lý chung 38
2.5.2 Quy trình quản lý, khai thác dữ liệu theo đối tượng sử dụng 39
2.6 Các chức năng quản trị hệ thống 55
2.7 Hướng mở rộng 56
Phần 3: Kết quả phân tích đánh giá trình độ công nghệ các nhóm ngành trên địa bàn TP Hải Phòng 57 3.1 Tình hình điều tra và cơ cấu mẫu 57
3.1.1 Tình hình điều tra 57
3.1.2 Cơ cấu mẫu điều tra 58
3.2 Quy trình nhập/quản lý và xử lý dữ liệu: 59
3.3 Tổng quan hiện trạng công nghệ Thành phố Hải Phòng 61
3.3.1 Tổng quan tình hình kinh tế – xã hội 61
3.3.2 Phân tích các chỉ số hiện trạng công nghệ cuả thành phố và so sánh một số chỉ số cuả các nhóm ngành 63
3.4 Hiện trạng cộng nghệ của các nhóm ngành công nghiệp 71
3.4.1 Ngành sản xuất giày dép: 71
3.4.2 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dệt-may: 75
3.4.3 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành cơ khí, điện tử: 79
3.4.4 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dịch vụ giao nhận vận tải: 83
3.4.5 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Đóng tàu: 87
3.4.6 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Hoá chất, cao su và nhựa: 90
3.4.7 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành sản xuất Thuỷ tinh và Vật liệu xây dựng: 95 3.4.8 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Xây dựng: 98
3.4.9 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Sản xuất đồ gỗ, giấy in và bao bì: 102
3.4.10 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Nuôi trồng thuỷ sản: 106
3.4.11 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc: 109 3.4.12 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Thép-Đúc và Luyện kim 113
3.4.13 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dịch vụ, du lịch, thương mại 116
3.4.14 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dịch vụ bưu chính viễn thông và CNTT 119 3.4.15 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dịch vụ công ích đô thị: 122
3.4.16 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành cơ khí vận tải: 125
Phần 4: Một số đề xuất định hướng chiến lược nâng cao trình độ công nghệ và phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng 128
4.1 Những thế mạnh và hạn chế về điều kiện tự nhiên: 128
4.2 Những định hướng kinh tế vĩ mô và cơ hội-thách thức cho quá trình phát triển của Hải Phòng: 129
Trang 44.3 Những thách thức từ hiện trạng công nghệ các nhóm ngành kinh tế: 129
4.4 Phân tích yếu tố chiến lược : 129
4.5 Một số đề xuất định hướng chiến lược nâng cao trình độ công nghệ các doanh nghiệp và phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng: 132
4.5.1 Nhóm ngành đóng tàu: 133
4.5.2 Nhóm ngành Dịch vụ vận tải: 135
4.5.3 Nhóm ngành Dịch vụ cảng, giao nhận và bốc xếp hàng hóa: 136
4.5.4 Nhóm ngành Da giầy: 137
4.5.5 Nhóm ngành Dệt may: 139
4.5.6 Nhóm ngànhcơ khí, sản xuất Thép, đúc và luyện kim: 140
4.5.7 Nhóm ngành du lịch: 140
4.5.8 Nhóm ngành điện tử - tin học: 142
4.5.9 Nhóm ngành Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: 143
4.5.10 Nhóm ngành Công nghiệp nuôi trồng thủy sản và chế biến thực phẩm: 143
4.5.11 Nhóm ngành Hóa chất, cao su và nhựa: 144
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Sau 20 năm của thời kỳ đổi mới, nền kinh tế của Việt nam đã có bước phát triển vượt bậc Những thành tựu phát triển của chúng ta đã làm cho đất nước thay da, đổi thịt; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện Chắc chắn là khoa học và công nghệ đã có những đóng góp không nhỏ trong quá trình phát triển vừa qua Nhưng con số cụ thể là bao nhiêu?
KH & CN đóng góp bao nhiêu % trong tăng trưởng của GDP? Nhìn lại hệ thống cơ sở dữ liệu, kết quả những công trình nghiên cứu đã qua chúng ta chưa có cơ sở để đưa ra câu trả lời Xuất phát từ nhận thức những bất cập này mà trong kế hoạch năm 2003 Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập tổ công tác và đưa vào chương trình triển khai đánh giá hiện trạng năng lực công nghệ của các ngành và các địa phương Mục tiêu của chương trình là trên cơ sở
hỗ trợ một số địa phương triển khai công tác đánh giá từ đó tổng kết thành bộ tiêu chuẩn và phương pháp, quy trình đánh giá làm cơ sở nhân rộng ra các địa phương, tỉnh thành trên toàn quốc Đồng Nai với đặc điểm là địa phương đứng đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã được Bộ Khoa học và Công nghệ lựa chọn là địa phương đầu tiên triển khai quá trình đánh giá Tiếp theo là các địa phương tỉnh, thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng và Quảng Ninh cũng được triển khai trong khuôn khổ chương trình mục tiêu của Bộ Song song với chương trình của Bộ, một loạt các địa phương cũng đã triển khai như Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Khánh Hòa, Vĩnh Phúc Tháng 6/2005, sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng cũng đã triển khai chương trình với đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng, xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng
Quản lý (CRC)1, Đại học Bách khoa Hà nội đã được lựa chọn đảm nhận thực hiện Mục tiêu của đề tài có thể tóm tắt ở bốn điểm chính sau:
1 Đưa ra báo cáo tổng hợp về thực trạng về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hải Phòng, dựa trên dữ liệu điều tra
cụ thể và phân tích có hệ thống
2 Thiết lập cơ sở dữ liệu và xây dựng trang Web về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong địa bàn phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển KT - XH của thành phố
3 Tập huấn chuyển giao phần mềm cơ sở dữ liệu để các doanh nghiệp tự đánh giá trình độ công nghệ, nhằm mục tiêu phát triển bền vững của dự án sau khi nghiệm thu
4 Phân tích, đề xuất phương hướng tiếp tục đầu tư, phát triển công nghệ thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2006 - 2010
1 Center for Research and Consulting on Management
Trang 6Trên cơ sở phân tích kết quả các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn và phát triển phương pháp Atlas công nghệ để áp dụng cho đề tài ở Hải Phòng Phương pháp luận đề xuất đã được trình bày tại nhiều cuộc Hội thảo: Hội thảo giới thiệu phương pháp luận tổ chức tại TP Biên Hoà (1/4/2004), Hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu với đồng chí Bộ trường Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong (25/6/2004), Hội thảo về đánh giá hiện trạng công nghệ trong khuôn khổ của Hội chợ Techmark năm 2004 tại Hải Phòng (26/10/2004), Hội thảo báo cáo sơ bộ kết quả nghiên cứu của Đồng Nai (9/11/2004) Ý kiến đóng góp từ các Hội thảo đều nhất trí đánh giá cao phương pháp tiến hành nghiên cứu mà nhóm đề tài đã triển khai cho các tỉnh, thành phố trong đó có Hải Phòng
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài nhờ áp dụng phương pháp thu thập thông tin hợp lý, được sự chỉ đạo kịp thời của tổ công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ và đặc biệt có
sự phối hợp rất hiệu quả của sở Khoa học và Công nghệ cùng các Ban, Ngành của thành phố Hải Phòng, nhóm công tác đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu số doanh nghiệp điều tra, xây dựng được cở sở dữ liệu chuyên gia, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu và đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ các doanh nghiệp, các ngành và trung bình chung cho các doanh nghiệp được khảo sát và xây dựng được cơ sở dữ liệu dạng trang Web, tiến hành tập huấn và chuyển giao cơ sở dữ liệu và phương pháp luận đánh giá cũng như quản l ý khai thác cơ sở dữ liệu cho sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng, tập huấn chuyển giao phần mềm cơ sở dữ liệu cho các doanh nghiệp
Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ sự cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đã tin tưởng giao cho Trung tâm thực hiện đề tài và đã có sự theo dõi sát sao và chỉ đạo kịp thời trong quá trình thực hiện đề tài Cảm ơn sự chỉ đạo có hiệu quả của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng, sự hợp tác chặt chẽ của sở Khoa học và Công nghệ cùng các Ban, Ngành của thành phố trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
Dưới đây là những nội dung chính mà đề tài đã đạt được trong quá trình 12 tháng triển khai thực hiện Ngoài lời nói đầu, kết luận và các phụ lục, bản báo cáo gồm 4 phần minh hoạ chi tiết kết quả nghiên cứu:
• Phần 1: Phương pháp luận đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ áp dụng cho các doanh nghiệp Hải Phòng;
• Phần 2: Mô hình hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý và đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ các doanh nghiệp và các nhóm ngành công nghiệp
• Phần 3: Kết quả phân tích đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ các doanh nghiệp và các nhóm ngành công nghiệp của thành phố Hải Phòng
• Phần 4: Một số đề xuất định hướng chiến lược nâng cao trình độ công nghệ và phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 7Phần 1: Phương pháp luận đánh giá hiện trạng trình
độ công nghệ áp dụng cho các doanh nghiệp tại Hải Phòng
1.1 Đặt vấn đề
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, công nghệ phải được xem là biến
số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Đã từ lâu, vai trò quan trọng của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhận một cách rộng rãi Thật vậy, công nghệ cho phép ta tạo ra môi trường sống nhân tạo đầy đủ và tiện nghi hơn, quan hệ giữa công nghệ và quá trình biến đổi xã hội đã tăng thêm sức mạnh cho nhau Tuy nhiên, việc nhìn nhận công nghệ như một yếu tố cấu thành trong các nỗ lực phát triển luôn đòi hỏi một cơ sở dữ liệu
hỗ trợ cho việc ra các quyết định thực tiễn để có thể trả lời các câu hỏi mang tính sống còn như: hiện trạng trình độ công nghệ, những công nghệ phù hợp, những nhu cầu công nghệ cấp bách, những lĩnh vực công nghệ cần chuyên môn hoá của một quốc gia
Với đề tài “Điều tra, đánh giá hiện trạng, xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng công nghệ trên địa bàn thành phố Hải Phòng” do Trung
tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC)2, Đại học Bách khoa Hà nội đảm nhận, mục tiêu mà chúng tôi đưa ra có thể tóm tắt ở bốn điểm chính sau:
1 Đưa ra báo cáo tổng hợp về thực trạng về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng, dựa trên dữ liệu điều tra cụ thể và phân tích có hệ thống
2 Thiết lập cơ sở dữ liệu và xây dựng trang Web về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong địa bàn phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển KT - XH của thành phố
3 Xây dựng và chuyển giao phần mềm đánh giá trình độ công nghệ cho các doanh nghiệp tham gia điều tra khảo sát trong phạm vi đề tài
4 Phân tích, đề xuất phương hướng tiếp tục đầu tư, phát triển công nghệ thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2006 - 2010
Đây là đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên quy mô
một thành phố của một nước đang phát triển Và với những tham vọng đã nêu trong mục đích của đề tài, rõ ràng đề tài phải được thực hiện trên cơ sở của các phương pháp luận hợp lý, tức
là những công cụ lý thuyết hỗ trợ để xem xét các vấn đề về công nghệ trong quá trình hoàn
2 Center for Research and Consulting on Management
Trang 8thiện các chính sách và lập kế hoạch phát triển Trên thực tế, với lĩnh vực nghiên cứu này, đã
có khá nhiều các đề tài, công trình, dự án nghiên cứu, cho ra các phương pháp luận khác nhau,
sử dụng các phương pháp luận, và những kết quả nghiên cứu nhất định Chính vì vậy, cần thiết phải lựa chọn và xây dựng một cơ sở phương pháp luận hợp lý cho đề tài công nghệ Hải Phòng mới có thể đạt được kết quả nghiên cứu như mong muốn
Lựa chọn và xây dựng phương pháp luận cho đề tài là nội dung mà chúng tôi sẽ thực hiện trong chương này Rõ ràng là, để xây dựng phương pháp luận cho đề tài và hệ tiêu chí đánh giá trình độ công nghệ cho từng ngành nghề phải được dựa trên các kết quả nghiên cứu của từng phương pháp luận được sử dụng trong và ngoài nước và những đóng góp của các chuyên gia Chúng tôi sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực nghiên cứu
về công nghệ, giới thiệu một cách tổng quan về các phương pháp luận được xây dựng và áp dụng trên thế giới cũng như ở nước ta Phần việc cuối cùng nhưng hết sức quan trọng là, dựa trên các cơ sở lý thuyết mà chúng tôi đã đề cập, những đặc tính, mục đích của đề tài, sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà chuyên môn từ các đơn vị phối hợp sẽ lựa chọn và xây dựng phương pháp luận có độ nhất trí cao cho đề tài Hải Phòng
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Việc trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về công nghệ là hết sức cần thiết Nó cho phép tổng hợp được các cơ sở lý thuyết đã sử dụng, các kết quả đạt được từ những dự án, công trình nghiên cứu về công nghệ đã thực hiện, đặc biệt là những kết quả nghiên cứu đạt được trong lĩnh vực của đề tài Từ đó xác định các phương pháp luận được nghiên cứu, áp dụng trên thế giới và trong nước, để lựa chọn và xây dựng cơ sở phương pháp luận cho dự án định thực hiện
1.2.1 Nghiên cứu về công nghệ trên thế giới
Sự ra đời của khái niệm về công nghệ, đánh giá công nghệ và quá trình phát triển của các hoạt động đánh giá về công nghệ trong thực tiễn là những cố gắng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách và chiến lược phát triển công nghệ
Vào những năm 60 của thế kỷ trước, làn sóng khởi đầu cho việc đánh giá công nghệ được coi là hệ thống cảnh báo sớm, phục vụ cho việc hoạch định chính sách về công nghệ Tuy nhiên, cùng với thời gian cũng như sự phát triển của khoa học và công nghệ, người ta dần dần hiểu rằng việc dự báo về phát triển công nghệ là công việc vô cùng khó khăn nếu như không muốn nói là không thể làm được Hơn nữa, người ta cũng nhận thức rằng, cho dù có được một công trình đánh giá về công nghệ hoàn mỹ đến đâu chăng nữa thì cũng không có gì đảm bảo là các nhà hoạch định chính sách sẽ thực sự sử dụng các thông tin này Mãi đến
Trang 9từ dự báo công nghệ sang việc làm sao và khi nào những thông tin công nghệ sẽ được các nhà hoạch định chính sách và những tổ chức, đưa vào quá trình phát triển và sử dụng công nghệ Việc đánh giá về công nghệ, một mặt giúp tăng cường mối quan hệ giữa nghiên cứu, triển khai về phát triển sản phẩm, mặt khác tăng cường phạm vi áp dụng công nghệ
Xét về mặt lịch sử, đánh giá công nghệ được thể chế hoá ở những hình thức khác nhau Đầu tiên là ở Mỹ, những tổ chức đánh giá công nghệ phục vụ cho Quốc hội Văn phòng đánh giá công nghệ là cơ quan đảm nhận các hoạt động về đánh giá công nghệ được thành lập từ năm 1973 Sau đó các cơ quan tương tự cũng được thành lập ở một số nước châu Âu Hình thức thể chế thứ hai là những chương trình quốc gia về công nghệ nhằm thúc đẩy những sáng kiến đánh giá công nghệ Với thể chế thứ 3, công tác đánh giá công nghệ dần dần được thể chế tại các trường đại học thành những khoa, bộ môn có chức năng nghiên cứu giữa khoa học, công nghệ và xã hội Ở hình thức thể chế thứ tư, đánh giá công nghệ được tiến hành ở quy mô các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ cho việc lập kế hoạch mang tính chiến lược, công việc mà người ta thường gọi dưới cái tên khác là “lập kế hoạch doanh nghiệp” hay đánh giá công nghệ ứng dụng
Hiện nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới coi công nghệ là một biến số làm tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội Vì thế, nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê
về khoa học và công nghệ (KH&CN) làm căn cứ cho việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ Trong số rất nhiều nước này, cần đặc biệt kể đến những cường quốc công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Nhật, Pháp, Đức Bài học từ các quốc gia phát triển chỉ ra rằng, đối với các nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vấn đề mang tính trọng tâm là xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu về trình độ, năng lực công nghệ Chúng tôi sẽ giới thiệu một số quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển, đặc biệt là trong khu vực Đông nam Á, đã và đang coi KH&CN là một tác nhân quan trọng phát triển kinh tế Ở các nước này, nhiều công trình nghiên cứu về công nghệ đã và đang được thực thi:
3 Tham khảo; Papitek and Lipi (1989): “UNDP-UNESCO project Science and Technology Management
Information (STMIS)”, Published by Center for Analysis of Science & Technology Development and Indonesia
Institute of Science, Indonesia
Trang 10là tổng quan tình hình nghiên cứu về công nghệ trên thế giới và trong khu vực Có thể nói đã
có khá nhiều phương pháp luận được vận dụng đặc biệt là ở các nước đang phát triện trong khu vực, phương pháp Atlas công nghệ được sử dụng khá phổ biến Vậy ở Việt nam, những nghiên cứu về công nghệ được quan tâm thế nào?
1.2.2 Nghiên cứu về công nghệ ở Việt nam
Đối với nước ta, việc thực hiện đánh giá năng lực công nghệ chỉ được chính phủ quan tâm từ những năm đầu của thời kỳ mở cửa Ở các quy mô khác nhau, có thể liệt kê từ đó tới nay, một số nghiên cứu về công nghệ như sau9:
• Năm 1991, uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (nay là bộ Khoa học và Công nghệ) công bố " Hệ thống chỉ tiêu đặc trưng trình độ công nghệ sản xuất công
4 Tham khảo: STAID (1993): “Science and Technology Indicators, Science & Technology for Industrial
Development (STAID)”, Bandan Penkajian Dan Penrapan Technology (BPPT), Indonesia
5 Tham khảo: Six Malaysia Plan 1991-1995, Printed by national printing department, Kuala Lumpur, Malaysia,
1995
6 Tham khảo: Aggarwal J.C (1993): “Eighth Five Year Planning and Development in India 1993”, Shipra
Publications, New Delhi, India
7 Tham khảo: “The Seventh National Economic and Social Development Plan”, National Economic and Social
Development Board, Thailand
8 Tham khảo: UN-ESCAP (1989): “Technology Atlas Project Tokyo Program on Technology for Development
in Asia and Pacific”, Bangalore, India
9 Tất cả các dự án nghiên cứu về công nghệ ở Việt nam mà chúng tôi đề cập ở đây được tham khảo từ nhiều
Trang 11nghiệp" để làm cơ sở hướng dẫn các địa phương và các doanh nghiệp đánh giá trình
độ công nghệ
• Năm 1997, Dự án " Điều tra khảo sát trình độ công nghệ một số ngành sản xuất công nghiệp tỉnh Đồng Nai" của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Đồng Nai
• Năm 1999, Dự án “Đánh giá và thẩm định Công nghệ, bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
• Năm 2002, Dự án " Đánh giá hiện trạng công nghệ Quận 8" Của Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành Phố Hồ Chí Minh
• Năm 2002, Dự án " Đánh giá thực trạng trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu và đề xuất phương án đổi mới trong giai đoạn 2005 - 2010"
• Năm 2003, Dự án " Điều tra, đánh giá thực trạng công nghệ một số ngành sản xuất chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bình Dương" của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương
• Năm 2003, Dự án “Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện
• Năm 2004, Dự án: “ Xây dựng phương pháp đánh giá trình độ công nghệ sản xuất trên cơ sở phương pháp Atlas công nghệ”, Vụ Khoa học & Công nghệ, Bộ Công nghiệp
• Năm 2005, đề tài “Điều tra, đánh giá trình độ công nghệ sản xuất và đề xuất giải pháp cải tiến, đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhà nước và công
ty cổ phần trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”, sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình.
Có thể nói các dự án nghiên cứu về công nghệ trong và ngoài nước đã trải qua chặng đường khá phức tạp, với nhiều cơ sở phương pháp luận khác nhau được sử dụng Để có thể lựa chọn và xây dựng phương pháp luận cho dự án Hải Phòng, chúng tôi xin được trình bày một cách ngắn gọn các phương pháp luận đã được sử dụng trên thế giới cũng như ở Việt nam cho các dự án, đề tài nghiên cứu về công nghệ
Trang 121.3 Tổng quan về các phương pháp luận cho các dự án đánh giá công nghệ
Hiện nay, đã có khá nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để đánh giá trình độ công nghệ với các quy mô khác nhau Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng
về nội dung cũng như việc triển khai ứng dụng Xin được nhắc lại rằng, các nghiên cứu về công nghệ bắt đầu được các quốc gia, các viện nghiên cứu, các trường đại học trên thế giới quan tâm từ những năm 1950 Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng công nghệ của quốc gia, vùng, xây dựng hệ thống các tiêu chí về KH&CN Tuy nhiên để có được
hệ thống chỉ tiêu này thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của các nhà khoa học trong việc xây dựng một phương pháp luận hoàn chỉnh, để áp dụng cho việc thu thập dữ liệu, ứng dụng dữ liệu làm chỉ dẫn KH&CN
Nhìn chung, bằng nhiều cách khác nhau, các công trình nghiên cứu về công nghệ và năng lực công nghệ thường cố gắng tìm cách chi tiết hoá mỗi một yếu tố cơ bản trong chuỗi phát triển năng lực “mua - sử dụng – thích nghi – hoàn thiện” ra thành từng vấn đề cụ thể Qua nhiều chặng đường khá phức tạp, các nghiên cứu trong lĩnh vực này được thực hiện trên
cơ sở của 6 phương pháp luận mà một số các tổ chức, viện nghiên cứu đã đưa ra, trợ giúp cho các nước làm cẩm nang để nghiên cứu, hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển công nghệ:
1 Phương pháp tiếp cận công nghệ về mặt kinh tế
2 Phương pháp tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình,
3 Chiết trung (Phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ phân lập)
4 Phương pháp đo lường công nghệ học (phân lập theo từng thành tố công nghệ)
5 Phương pháp luận Atlas công nghệ,
6 Phương pháp tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược.(Sharif 1995)
1.3.1 Đánh giá công nghệ về mặt kinh tế
Trước đây, để so sánh đánh giá trình độ công nghệ, các nước phát triển thường sử dụng phương pháp đánh giá về phương diện kinh tế Theo đó, đối tượng đánh giá chủ yếu là trình
độ công nghệ và tỷ lệ thay đổi trình độ công nghệ của nước này so với nước khác Theo phương pháp này, trình độ, năng lực, chức năng sản xuất của một ngành được đánh giá thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hay các thông số kinh tế của ngành công nghiệp đó Việc sử dụng chức năng sản xuất làm cơ sở cho đánh giá trình độ công nghệ chính là hình thức cải tiến của phương pháp đánh giá giản đơn năng suất lao động
Trang 13Xét tổng quát, phương pháp này cho phép nhận biết những thông tin cần thiết cho việc phân tích Tuy vậy, việc đánh giá công nghệ đơn thuần chỉ bao gồm việc so sánh các đặc tính vận hành của một dây chuyền sản xuất cụ thể hay so sánh chất lượng các sản phẩm cuối cùng
Do đó việc phân tích ở cấp ngành công nghiệp phải cần sử dụng thêm một số chỉ tiêu khác Ngoài ra, phương pháp này còn tồn tại một số vấn đề phức tạp trong việc xác định các giá trị đầu vào mà cốt lõi là phải xác định được số lượng vốn Thông thường, việc đánh giá trình độ công nghệ về mặt kinh tế của các nước thường hay được tiến hành đối với công nghệ đặc thù của các nước đó
1.3.2 Phương pháp đo lường công nghệ học
Phương pháp này cũng thường được sử dụng để tính toán, so sánh trình độ công nghệ ở một số nước mà chủ yếu là so sánh các đặc trưng của một quy trình công nghệ hoặc chất lượng sản phẩm của quy trình công nghệ đó Phương pháp đo lường công nghệ học nhằm xác định các đặc trưng kỹ thuật riêng biệt của các sản phẩm và quy trình công nghệ, đồng thời so sánh chúng trên phạm vi vùng, lãnh thổ, khu vực và trên thế giới
Đo lường công nghệ học sử dụng một số chỉ số phân lập các đặc trưng kỹ thuật của sản phẩm hay quy trình công nghệ và xem chúng như là các đơn vị vật lý Đây là phương pháp đã được sử dụng ở các nước phát triển như CHLB Đức, Nhận bản và Mỹ trong một số lĩnh vực như mođun điện quang, laze, các chất xúc tác sinh học, người máy công nghiệp
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là rất thích hợp cho việc đánh giá các sản phẩm hay quy trình công nghệ đang ở giai đoạn sản xuất thử và chuẩn bị đưa ra ngoài thị trường Các nhà công nghệ học và các nhà lập kế hoạch công nghệ quan tâm phương pháp này hơn là các nhà hoạch định chính sách quốc gia hay xây dựng kế hoạch kinh tế
1.3.3 Tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình
Một trong những cố gắng đầu tiên để xây dựng nên được một phương pháp luận để phục vụ các công việc xem xét vấn đề về công nghệ là cách tiếp cận theo quan điểm đầu vào
và đầu ra của quá trình (science & technology input and output indicators) Theo cách tiếp cận này, năng lực công nghệ liên quan đến năng lực của doanh nghiệp có thể tiến hành những hoạt động xác định gắn liền với các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhằm chuyển hoá đầu vào thành đầu ra Để đánh giá hiện trạng công nghệ của một đơn vị kinh tế, một vùng, một quốc gia v.v người ta tiếp cận đo lường các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình Bằng cách thống kê, so sánh các yếu tố đó, người ta có thể đánh giá, theo dõi , được hiện trạng công nghệ cũng như đóng góp của công nghệ của một đơn vị kinh tế, một vùng, một quốc gia
Trang 14Nổi lên theo nguyên lý tiếp cận input-output này, các công trình nghiên cứu của các tổ chức OECD và UNESCO để xây dựng chỉ số về khoa học & công nghệ (S&T) Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu tổng quan của hai phương pháp tiếp cận này
1.3.3.1 Phương pháp dùng nhiều chỉ số của OECD
Đây là phương pháp đã được sử dụng để so sánh trình độ công nghệ của Liên Xô cũ với trình độ công nghệ của một số nước phương Tây trong một số lĩnh vực Mục đích chủ yếu của các nhà nghiên cứu OECD là xây dựng hệ thống các chỉ số về Khoa học và Kỹ thuật (S&T) nhằm đưa ra những đánh giá về hiện trạng khoa học công nghệ hiện tại của các quốc gia thành viên của tổ chức này, đồng thời nắm được những thay đổi về công nghệ, ảnh hưởng của khoa học & công nghệ tới tăng trưởng kinh tế, năng suất, năng lực cạnh tranh v.v.10
Để xây dựng hệ thống các chỉ số đặc trưng trình độ S&T, cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu OECD là đánh giá hiện trạng công nghệ trên hai phạm trù là đầu vào và đầu ra
Đầu vào (input indicators) bao gồm tất cả các các nguồn lực về vốn và nguồn lực con người
của cả khu vực công cộng cũng như của khu vực tư nhân cần thiết dành cho các lực lượng Nghiên cứu và Phát triển (R&D) Các lực lượng R&D này là đầu vào của các hoạt động S&T được theo đuổi Đầu ra phần lớn được xác định từ lợi ích các ứng dụng của S&T Đầu ra đo lường giá trị các sản phẩm trực tiếp của các hoạt động S&T11 Về cơ bản đầu ra bao gồm: cán cân thanh toán về công nghệ nảy sinh từ việc chuyển giao công nghệ, phản ánh mức độ phụ thuộc của một quốc gia vào công nghệ của nước ngoài; thống kê các loại phát minh sáng chế phổ biến; và chuyển giao công nghệ Với việc xác định các thông số đầu vào và đầu ra của các hoạt động công nghệ, thông qua việc so sánh input và output indicators, hiệu quả của các chính sách về công nghệ của mỗi quốc gia được xác định
Bảng 1 1: OECD S&T Indicators
OECD S&T
Indicators
Input Indicators Output Indicators
1 Nguồn lực về vốn cho R&D ở khu
vực công cộng
Cán cân thanh toán về công nghệ
2 Nguồn lực con người cho R&D ở
khu vực công cộng
Thống kê các phát minh, sáng chế
3 Nguồn lực về vốn cho R&D ở khu
vực tư nhân
Chuyển giao công nghệ
4 Nguồn lực con người cho R&D ở
khu vực tư nhân
10 Theo Pavitt K (1984): R&D Patenting and Innovative Activities: A statistical Exploration, in Research Policy,
n 0 11 pp 33-35
11 Fabian Y (1984): “The OECD International S&T Indicators System”, in Science and Public Policy n0 11, pp
Trang 15Như vậy, hệ thống các chỉ số của OECD đã đạt được một vài thành công tối thiểu là về mặt thuật ngữ hợp nhất (unifying terminology) Các nhà nghiên cứu OECD đã phát triển những định nghĩa chuẩn đối với những thuật ngữ được sử dụng trong các chỉ số đầu vào, đầu
ra của OECD Theo đánh giá của Sharif (1986)12, nó cung cấp những công cụ nhằm giải thích các thành ngữ có những nghĩa rộng như “public funding” hay government R&D funding v.v , bằng việc sử dụng hệ thống các chỉ số đầu vào, đầu ra về S&T được phát triển ở các nước khác nhau
Tuy nhiên hệ thống các chỉ số mà OECD xây dựng tồn tại những hạn chế lớn, đặc biệt
là trong việc lập các chính sách phát triển công nghệ Trước hết, cách tiếp cận của OECD dựa trên cơ sở của các phân tích đầu vào và đầu ra (inflow-outflow), nên không có chỉ số mô tả công nghệ có tính kế thừa, biến số chính yếu để xác định sự thay đổi, tiến bộ về công nghệ Ngoài ra, một yếu tố khác của tiến bộ về công nghệ cũng nằm ngoài các hoạt động R&D những đổi mới được thực hiện bởi các xí nghiệp nhỏ Đặc biệt, hệ thống các chỉ tiêu S&T được xây dựng trên điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật, cán cân thanh toán về công nghệ của tổ chức các nước OECD, nhìn chung không thể áp dụng cho các dự án về công nghệ được thực hiện ở các nước đang phát triển
1.3.3.2 Phương pháp luận UNESCO
Các nhà nghiên cứu của UNESCO cũng xây dựng phương pháp luận theo cách tiếp cận đầu vào và đầu ra Cũng như OECD, UNESCO xây dựng hệ thống các chỉ số để đánh giá trình độ công nghệ Trên thực tế, các chỉ số S&T của UNESCO bắt đầu được thảo luận trong
kỳ họp thứ 20 tại Paris vào tháng 11 năm 1978, nhằm giúp cho các nước thành viên xây dựng
và cải thiện các thống kê về S&T của họ Bằng việc chỉ ra các hạn chế của phương pháp luận OECD, UNESCO đã phát triển một bộ chuẩn các chỉ số S&T mà phạm vi ứng dụng lớn hơn13
Hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO là bộ các chỉ số S&T được xây dựng cho các áp dụng ở các nước đang phát triển Trong hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO, các chỉ số đầu vào bao gồm : Chỉ số đầu vào chính là R&D được xây dựng bởi NAF (National Science Foundation) và OECD; thêm nữa là giáo dục đào tạo cho S&T cũng được xây dựng bởi NAF; dịch vụ cho khoa khoa học công nghệ Còn các chỉ số đầu ra của quá trình bao gồm: số lượng các công trình về khoa học công nghệ được công bố, số lượng các sáng chế phát minh đã đăng
ký v.v
12 Sharif M.N (1986): “Measurement of Technology for National Development” in Technology Forecasting and
Social Change n 29, pp 119-172
13 Để có thêm thông tin chi tiết về phương pháp luận UNESCO, xin tham khảo:
UNESCO (1977): “Manual for Surveying National Scientific and Technology Potential”, Paris,
UNESCO (1977): “Guild to the Collection of Statistics on Science and Technology”, Paris
UNESCO (1984): “Manual on the National Budgeting of Scientific and Technological Activites, Paris Unesco
Trang 16Bảng 1.2: Unesco S&T indicators
Unesco S&T
Indicators
Input Indicators Output Indicators
1 Hoạt động R&D xác định ở quy mô
“UNESCO S&T indicators” không tránh khỏi những hạn chế đặc biệt là khả năng hỗ trợ quyết
định trong các chính sách về S&T của các nước đang phát triển Đó cũng chính là yếu điểm lớn nhất của phương pháp luận được xây dựng trên cơ sở của việc chuyển hoá đầu vào thành đầu ra của S&T
1.3.4 Phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ
phân lập
Đây là phương pháp mà tổ chức UNIDO đã ứng dụng để nghiên cứu, đánh giá trình độ công nghệ của một số ngành công nghiệp trong một vài năm gần đây Về mặt cơ sở lý luận, phương pháp hỗn hợp này kết hợp cả phương pháp đo lường công nghệ học và phương pháp phân lập theo từng thành tố công nghệ Ở Việt nam, phương pháp này cũng được ứng dụng cho các nghiên cứu đánh giá về công nghệ Từ năm 1991-1995, Uỷ ban Khoa học, kỹ thuật nhà nước ban hành áp dụng nhiều bộ chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ để đánh giá trình
độ công nghệ với các chỉ tiêu được phân thành 4 nhóm:
Trình độ công nghệ của các yếu tố vật chất của sản xuất
Về chất lượng sản phẩm,
Về tổ chức và quản lý sản xuất,
Về hiệu quả chung của sản xuất
Cho tới nay, các cơ quan chức năng ở nước ta vẫn chưa thống nhất được phương pháp đánh giá trình độ công nghệ chung để có thể tiến hành đánh giá trong cả nước vì có rất nhiều bất cập trong việc định tính và tính toán định lượng Ngay cả khi, một số đơn vị trong nước tiến hành những nghiên cứu về công nghệ thì việc sử dụng các phương pháp luận còn khá phân tán, và chỉ phù hợp, khả thi khi đánh giá trình độ công nghệ cấp cơ sở, chưa có tính khái
quát cao
Trang 171.3.5 Phương pháp luận Atlas công nghệ
Phương pháp luận Atlas công nghệ là kết quả của Dự án Atlas công nghệ - Technology Atlas Project được khởi xướng trên cơ sở của tiên đề cho rằng công nghệ là biến số chiến
lược quyết định sự phát triển, tăng tốc kinh tế-xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng Đây là dự án công nghệ do trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á Thái Bình Dương (APCTT), thuộc Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Châu Á Thái Bình Dương (UN-ESCAP) đã nghiên cứu và ban hành bộ tài liệu “Nguyên lý phát triển dựa trên cơ sở công nghệ” dùng để áp dụng cho các quốc gia trong khu vực.v.v từ năm 1986 đến năm 1988, dưới sự tài trợ của chính phủ Nhật Bản14 Tài liệu này hướng dẫn các nội dung
và phương pháp đánh giá hiện trạng công nghệ của một quốc gia
Mục tiêu chính yếu của “Technology Atlas Project” là đưa ra một công cụ hỗ trợ quyết
định ở dạng một bộ tài liệu phương pháp luận để hợp nhất các công việc xem xét vấn đề công nghệ trong quá trình lập kế hoạch phát triển Dự án trình bày các biện pháp trong những lĩnh vực quan trọng mà tới nay vẫn chưa được chú ý thích đáng và cung cấp phương tiện nhằm giới thiệu một cách rộng rãi các cách tiếp cận phân tích để đề ra và hoàn thiện các chính sách
và kế hoạch phát triển công nghệ ở mỗi đơn vị kinh tế, ngành, mỗi quốc gia
Với tựa đề chung là “Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ”, nội dung của phương pháp luận Atlas công nghệ bao gồm việc phân tích đánh giá chỉ số công nghệ mà cán bộ dự án
đã xây dụng (Atlas S&T indicators: hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ) được xem xét ở ba quy mô khác nhau sau (xem chi tiết được mô phỏng theo sơ đồ 1):
14 Tham khảo chi tiết: UN-ESCAP (1989): “Technology Atlas Project Tokyo Program On Technology for
Development in Asie and Pacific”, Bangalore, India
Trang 18Hình 1 Lập kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ trong phương pháp luận Atlas công nghệ
Ở cấp doanh nghiệp:
Các các chỉ số công nghệ được xem xét là: các thành phần công nghệ (thành phần kỹ thuật, thành phần thông tin, thành phần con người, thành phần tổ chức), kết quả đóng góp trực tiếp của bốn thành phần này xác định hàm lượng công nghệ gia tăng, đây là
Các khía cạnh phát triển kinh tế xã hội kinh điển
Tình trạng cơ sở
hạ tầng và dịch
vụ hỗ trợ
Đội ngũ cán bộ KHKT và chi phí cho NC-TK
ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ
Khoa học và công nghệ trong hệ thống sản xuất
Khoa học và công nghệ hàn lâm
Những tiến bộ và nỗ lực trong những khu vực chuyên môn hoá được lựa chọn
Các cam kết của cấp vĩ mô đối với KH&CN vì sự phát triển
Cấp công ty
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU CÔNG NGHỆ
ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ
ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ
So sánh
Hệ số đóng góp của công
Tổng hợp các đóng góp của
Mức độ đổi mới
Các chuỗi phát triển
Các tác nhân thúc đẩy công
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
Các mặt của
cơ sở hạ tầng
Các nguồn
Kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội quốc gia
Cấp bậc tinh xảo
Các thành phần của công nghệ
Hàm lượng xuất khẩu
Thị trường
quốc tế
Cấp giai
Đánh giá cấu trúc của công nghệ
Loại giai đoạn
Trang 19cơ sở để đánh giá hàm lượng công nghệ; năng lực công nghệ; và chiến lược công nghệ
Ở cấp độ của một ngành công nghiệp:
Thông thường ở quy mô của một ngành công nghiệp, các đặc trưng công nghệ được đánh giá là các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ
Ở quy mô một quốc gia 15
Với quy mô là một quốc gia, những chỉ số công nghệ được xem xét là môi trường công nghệ và nhu cầu công nghệ
Để việc hợp nhất các xem xét công nghệ với quá trình kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội có ý nghĩa, thì điều kiện cơ bản là các nhà nghiên cứu về kinh tế và công nghệ phải hỗ trợ lẫn nhau khi tiến hành các phân tích Nếu sử dụng 4 hình thực biểu hiện của công nghệ theo
cách phân chia theo phương pháp Atlas (thành phần kỹ thuật - Technoware, thành phần con người - Humanware, thành phần thông tin - Infoware, thành phần tổ chức- Orgaware) ở trên
làm cơ sở để điều tra, thì có thể đạt được sự bổ sung cho nhau giữa kế hoạch hoá kinh tế thông thường và kế hoạch hoá dựa trên công nghệ ở cấp công ty, phân ngành, ngành, tỉnh, quốc gia tuỳ theo mức độ dự án thực hiện
Với những ưu điểm lớn trong việc đánh giá, quản lý và hoạch định chiến lược công nghệ, phương pháp luận Atlas công nghệ đã được sử dụng làm cơ sở cho khá nhiều dự án về công nghệ đặc biệt là các dự án ở các nước đang phát triển
1.3.6 Tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược
Hầu hết các định nghĩa về chiến lược đều có thể được mô tả từ sự kết hợp giữa điểm mạnh và điểm yếu của yếu tố bên trong công ty với cơ hội và thách thức của yếu tố bên ngoài Phát triển cách tiếp cận này, phương pháp luận cho quản lý chiến lược công nghệ của Sharif (1995)16 xem xét nguồn lực công nghệ và năng lực công nghệ có thể được xem như điểm mạnh và điểm yếu của xí nghiệp, trong khi đó môi trường công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ có thể được xem như là cơ hội và thách thức Trên cơ sở đó Sharif xây dựng các chỉ số đặc trưng công nghệ này, xem xét đánh giá và đưa ra chiến lược quản lý chiến lược công nghệ (xem sơ đồ 2 dưới đây):
15 Trên thực tế việc nghiên cứu đánh giá môi trường công nghệ cũng có thể được xem xét ở quy mô địa phương
vì ngay với quy mô nhỏ hơn mức quốc gia vẫn tồn tại những yếu tố môi trường có tính đặc thù mà nếu chỉ khai thác môi trường công nghệ ở cấp quốc gia thì rất khó được đề cập đến Việc xem xét môi trường công nghệ ở quy mô nào phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng đề tài
16 Sharif M.N (1986): “Management of Technology for National Development”, in Technology Forecasting and
Social Change, n 29, pp 119-172; et Sharif M.N (1995): “Intergrating Business and Technology Strategies in
Developing Countries, In Technology Forecasting and Social Change, n.45, pp 195-167
Trang 20Hình 2 Mô hình thông tin công nghệ theo quan điểm quản trị chiến lược của Sharif
1.3.6.1 Nguồn lực công nghệ
Theo Sharif & Ramathan, hai thành viên cốt cán của dự án atlas công nghệ, đánh giá nguồn lực công nghệ trên cơ sở xem xét đánh giá 4 thành phần công nghệ trong atlas công nghệ (Thành phần kỹ thuật, thành phần con người, thành phần thông tin, thành phần tổ chức)
mà chúng tôi đã giới thiệu một cách tổng quan ở trên
1.3.6.2 Năng lực công nghệ
Có rất nhiều cách tiếp cận, các tác giả đã đưa ra các cách định nghĩa khác nhau về đánh giá năng lực công nghệ cho các nước thế giới thứ 3 Sharif (1995) đã xây dựng 6 thành phần của năng lực công nghệ đó là: Năng lực thu nhận công nghệ, năng lực biến đổi, năng lực bán hàng, năng lực sửa chữa, năng lực thiết kế, năng lực sản sinh công nghệ
Ngoài ra việc đánh giá năng lực công nghệ còn có thể dựa trên phương pháp chiết trung của Bộ khoa học công nghệ và môi trường Việt nam Theo đó phương pháp chiết trung xếp năng lực công nghệ của doanh nghiệp thành ba thành phần sau:
Năng lực tiếp thu
Năng lực vận hành
Năng lực đổi mới
Nguồn lực công nghệ
Năng lực công nghệ
Cơ sở hạ tầng công nghệ
Môi trường công nghệ
Thông tin công nghệ
bên trong
Thông tin công nghệ
bên ngoài
Quản lý chiến lược công nghệ
Hồi qui
Trang 21Phương pháp chiết trung được xây dựng từ việc tổng hợp 8 phương pháp khác nhau về đánh giá năng lực công nghệ của các nhà nghiên cứu, các tổ chức khoa học nước ngoài17
1.3.6.3 Cơ sở hạ tầng công nghệ
Ramathan (1993) đã xác định 3 yếu tố chính của cơ sở hạ tầng công nghệ đó là: i) Cơ
sở hạ tầng hỗ trợ về mặt vật chất như là cung cấp điện, nước, giao thông, thông tin , ii) Cơ
sở hạ tầng phục vụ các hoạt động công nghệ như là các hỗ trợ đầu tư, số lượng các trung tâm đầu tư mạo hiểm, sự tồn tại của các trung tâm thông tin KH&CN, v.v, iii) Sức mạnh các hoạt động công nghệ được đánh giá ở ba cấp (Viện hàn lâm - đơn vị Nghiên cứu và Triển khai (NC&TK)- ngành công nghiệp), số lượng các thư viện NC&TK, số lượng các trường đại học
kỹ thuật
1.3.6.4 Môi trường công nghệ
Theo Ramathan (1993) môi trường công nghệ trong phương pháp luận dựa theo quan điểm quản trị chiến lược của Sharif được diễn tả trong 4 nhân tố thông tin chính: thông tin về khách hàng (infor-Customers); thông tin về địch thủ cạnh tranh (infor-rivals), thông tin về bản thân (infor-owners), thông tin ngành (infor-clusters)
Như vậy phương pháp luận Sharif thực chất cũng bắt nguồn từ cơ sở của các nghiên cứu trong dự án Atlas công nghệ của trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á-Thái Bình Dương Cha đẻ của cách tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược này cũng lại là thành viên cốt cán của dự án Atlas công nghệ Ví dụ như việc xác định nguồn lực công nghệ trong phương pháp luận của Sharif cũng chính là việc xem xét đánh giá bốn thành phần công nghệ trong phương pháp luận Atlas công nghệ Tuy nhiên, so với Atlas công nghệ, phương pháp Sharif chưa có nhiều ứng dụng cụ thể cũng như không có tính nguyên bản
Như chúng tôi đã đề cập ở trên, đã có khá nhiều nghiên cứu về công nghệ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển ở châu Á và trong khu vực Đông nam Á đã được thực hiện trên cơ
sở của phương pháp luận Atlas công nghệ và đã đạt được các kết quả rất khả quan Ngay ở Việt nam, mới đây dự án “Đánh giá hiện trạng công nghệ Quận 8”, Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở phương pháp luận Atlas cũng thu được những kết quả rất khả quan Rõ ràng là với những tiêu chí về lựa chọn được thoả mãn: nội dung phương pháp luận chặt chẽ, chi tiết
17 8 phương pháp luận khác nhau để đánh giá năng lực công nghệ được chiết trung bao gồm của: Fransman và
King (1984), tham khảo: Fransman M & King K (1984, eds): “Technology Capability in the Third World: An
Overview and Introduction to Some Issues”, London, MacMilan; của Dore (1984), tham khảo: Dore R (1984):
“Technological Self-Reliance Ideal of Self-Serving Rhetoric”, in Technological Capability in the Third World, 1984; của Desai (1984), tham khảo Desai A.V.(1984): “Achievements and Limitatión of India’s Technologie
Capability”, In Fransman M & King K (1984, eds); của Ngân hàng thế giới (1984, 1987), của Lall (1987), tham
khảo: Lall S (1987): “Learning to Industrialize: the Acquisition of Technological Capability by India”, London,
MarcMilan Press; và của Viện nghiên cứu phát triển Thái lan-TDRI (1989, 1992),
Trang 22và logic, và nguyên bản, dễ dàng áp dụng, phù hợp ở những nước đang phát triển, phù hợp ở các cấp độ quy mô nghiên cứu khác nhau, ứng dụng và kết quả của các ứng dụng Trên thực
tế nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm CRC của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai ứng dụng phương pháp Alast công nghệ cho các dự án đánh giá trình độ công nghệ tại các địa phương Đồng Nai và Hải Phòng18 Qua các Hội thảo về phương pháp luận do Trung tâm CRC
tổ chức tại Biên Hòa (4/2004), Hà Nội (7/2004) và Hải Phòng (10/2004) cho thấy các đại biểu đều hoàn toàn nhất trí với việc áp dụng phương pháp Alast công nghệ cho việc đánh giá trình
độ công nghệ tại Việt Nam Chính vì vậy mà sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tổng hợp ý kiến của các nhà quản lý chúng tôi lựa chọn phương pháp luận Atlas công nghệ để xây dựng cơ sở lý thuyết cho dự án công nghệ Hải Phòng
1.4 Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hải Phòng
1.4.1 Tổng quan về phương pháp luận:
Trong mục 1.3.5 ở trên chúng tôi đã trình bày tổng quan về phương pháp luận Alast công nghệ Rút kinh nghiệm từ việc triển khai thực hiện dự án đánh giá trình độ công nghệ tại tỉnh Đồng Nai, nhóm nghiên cứu đã đề xuất hệ tiêu chí và quy trình triển khai đánh giá áp dụng cho thành phố Hải Phòng với quy mô hơn 450 doanh nghiệp
Hình dưới đây trình bày mô phỏng việc ứng dụng phương pháp luận Alast công nghệ cho dự án Hải Phòng
18 Đề tài “Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng
Trang 23MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ (NGÀNH)
HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ (DN)
Phiếu điều tra Ngành/Địa phương
Đóng góp CN TCC (DN70)
Đóng góp CN TCC(DN2)
Phiếu điều tra DN
ß1 ß30
Đóng góp CN TCC (DN1)
Phiếu điều tra Ngành/
Địa phương
NHU CẦU CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NHU CẦU CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
Quá trình đánh giá được tiến hành thông qua việc điều tra khảo sát nhằm thu thập các thông tin cho phép lượng hóa các thành phần Kỹ thuật (Technoware – T), thành phần Con người (Humanware – H), thành phần Thông tin (Inforware – I) và thành phần Tổ chức (Orgaware – O) của từng doanh nghiệp 120 câu hỏi thu thập thông tin được đặt ra cho từng doanh nghiệp
Phần Kỹ thuật có thể coi như hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ Nó
bao gồm tất cả các phương tiện vật chất cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ như các dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu và các xưởng máy…
Phần Con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ Nó bao gồm
các năng lực cần thiết mà con người đã tích luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi
Phần Thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của công nghệ Nó bao gồm toàn
bộ các dữ kiện và các số liệu cần cho các hoạt động chuyển đổi, ví dụ: các bản thiết kế, các bản tính toán, các đặc tính, các quan sát, các phương trình, các biểu đồ, các lý thuyết…
Phần Tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ Nó bao gồm các cơ
cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ: sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm,
hệ thống các tổ chức, các mạng lưới quản lý…
Trang 24Song song với quá trình điều tra thu thập thông tin từ các doanh nghiệp, nhóm nghiên
cứu tiến hành thu thập ý kiến của các chuyên gia nhằm xây dựng hệ thống các thang điểm
đánh giá lượng hóa mức độ quan trọng, sự đóng góp của từng yếu tố trong việc xác lập nên
các thành phần T,H,I,O cho từng ngành, từng lĩnh vực nghiên cứu (xác lập các hệ số βt, βh, βi,
βo)
Trên cơ sở các thông tin thu thập được từ các doanh nghiệp, các thang điểm, hệ số đánh
giá được xác lập thông qua kiến đánh giá của các chuyên gia, chúng ta có thể tiến hành tính
toán xác định các hệ số đóng góp công nghệ (Hàm lượng công nghệ) của từng doanh nghiệp
và sau đó tổng hợp cho từng ngành và xác định chỉ số trung bình chung cho toàn bộ các doanh
nghiệp được khảo sát
Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) cho qúa trình chuyển đổi có thể được tính theo
công thức sau:
TCC = Tβt Hβh Iβi Oβo (phương trình 1)
Trong đó T,H,I,O là mức độ đóng góp riêng tương ứng của từng thành phần công nghệ
βt, βh, βi, βolà cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng Để tính được
TCC người ta tiến hành theo các bước sau:
Bước1: Đánh giá cấp bậc tinh xảo của 4 thành phần công nghệ
Thông qua thu thập thông tin từ doanh nghiệp và thủ tục cho điểm bởi các chuyên gia
tiến hành xác định mức độ tinh xảo của các thành phần công nghệ
Mức độ tinh xảo xếp từ thấp đến cao của 4 thành phần công nghệ có thể được mô tả ở
bảng sau:
Thành phần Kỹ thuật
(T)
Thành phần Con người (H)
Thành phần Thông tin (I)
Thành phần Tổ chức
(O) Thủ công Vận hành Báo hiệu Đứng được
Vạn năng Sửa chữa Lắp đặt Bảo toàn
Chuyên dùng Thích nghi Sửa chữa Ổn định
Tự động Sao chép Thiết kế Mở mang
Tích hợp Đổi mới Đánh giá Dẫn đầu
Trang 25Khi chúng ta có được giới hạn cấp bậc tinh xảo trên, dưới của 4 thành phần công nghệ thì vị trí của mỗi thành phần công nghệ trong khoảng giới hạn này phụ thuộc vào trình độ hiện đại của nó Trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ được đánh giá thông qua các tiêu chí như: xuất xứ công nghệ, năm sản xuất, lắp đặt, suất tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, trình
độ học vấn, kinh nghiệm công tác, hạ tầng thông tin, mục đích sử dụng máy tính, Bằng phương pháp thu thập kiến của chuyên gia chúng ta có thể xác định các tiêu chí, hệ thống các thang điểm cho phép lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng tiêu chí đến từng thành phần công nghệ cũng như lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng thành phần T,H,I,O đến hệ số đóng góp công nghệ của từng nhóm ngành
Bước 3: Xác định những đóng góp của thành phần công nghệ trên cơ sở các giới hạn
của cấp bậc tinh xảo và điểm số trình độ hiện đại đã được xác định Đây là bước tính toán điểm số, tổng hợp, xác định hệ số từ tập nhiều tiêu chí khác nhau Đối chiếu các thông tin thu thập được từ doanh nghiệp với hệ thống thang điểm đánh giá được xây dựng cho nhóm ngành tương ứng, chúng ta có thể tính toán lượng hóa các thành phần công nghệ của doanh nghiệp nghiên cứu
Bước 4: Đánh giá cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ: ở đây đề xuất
phương pháp đánh giá bằng cách sử dụng cách tiếp cận ma trận so sánh từng đôi một19 Việc xác định các hệ số β sẽ được thực hiện cho từng ngành với sự trợ giúp của phần mềm Expert Choice cũng như sự tham gia đóng góp của các chuyên gia đầu ngành
Bước 5: Tính toán hệ số TCC
Sử dụng các giá trị T,H,I,O và các cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ (βT,H,I,O) có thể tính được TCC bằng phương trình 1 ở trên TCC của công ty cho biết sự đóng góp của công nghệ của toàn bộ hoạt động chuyển đổi vào đầu ra của công ty
Việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể cho ta biết được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp liên quan đến công nghệ và các động lực chuyển đổi ở cấp công ty Nó cho phép xác định các ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nhằm nâng cấp các thành phần công nghệ
Nó không ảnh hưởng bởi sự không hoàn chỉnh của thị trường công nghệ và có thể bổ sung cho việc phân tích tài chính thông thường Hơn nữa, việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể làm tăng khả năng sàng lọc kho công nghệ quốc gia và nâng cao năng lực quốc gia về mặt đánh giá công nghệ khi hợp tác với nước ngoài
19 Xin xem chi tiết trong tập II tài liệu của dự án Atlas công nghệ có tựa đề: Đánh giá hàm lượng công nghệ
Trang 261.4.2 Nội dung áp dụng phương pháp Atlas công nghệ cho dự án Hải
Phòng
Trên cơ sở của những yêu cầu về chuyên môn là đánh giá hiện trạng công nghệ của hơn
450 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hải Phòng và xây dựng trang Web về cơ
sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý, hoạch định chiến lược phát triển công nghệ cho thành phố, nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm CRC của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai ứng dụng phương pháp luận Alast công nghệ để xác định bốn thành phần công nghệ T,H,I,O và tính toán hàm lượng công nghệ gia tăng cho từng doanh nghiệp và tổng hợp cho từng nhóm ngành
Do số lượng các doanh nghiệp thuộc đối tượng điều tra trên địa bàn thành phố khá nhiều cho nên nhóm nghiên cứu đã thống nhất với sở Khoa học và Công nghệ chọn lọc, lựa chọn các doanh nghiệp khảo sát Các doanh nghiệp khảo sát được phân tổ thành 16 nhóm ngành kinh tế phục vụ cho việc tổng hợp và so sánh giữa các nhóm ngành với các địa phương khác
Sau khi đã có những thống nhất về các nhóm ngành điều tra, tiến hành đo lường 4 thành phần công nghệ theo các bước đã nêu ở trên Các thông tin dùng để đánh giá hiện trạng trình
độ công nghệ của các doanh nghiệp được thu thập thông qua điều tra Các cán bộ của nhóm nghiên cứu phối hợp và hướng dẫn các cán bộ thuộc các lĩnh vực chuyên môn có liên quan của các doanh nghiệp điền các thông tin theo mẫu phiếu đã được chuẩn bị sẵn Phiếu bao gồm
120 câu hỏi phản ánh chi tiết các tiêu chí sử dụng cho đánh giá các thành phần công nghệ: Kỹ thuật, Con người, Thông tin và Tổ chức (Chi tiết về mẫu phiếu điều tra xem phụ lục 1)
Bốn thành phần công nghệ được xác định ở cấp cơ sở tức là ở các doanh nghiệp được chọn nghiên cứu, sau đó sẽ được tổng hợp cho từng ngành theo các hệ số β mà việc xác định các hệ số β này được thực hiện trên cơ sở phương pháp chuyên gia Có nghĩa là nhóm nghiên cứu đã lần lượt mời các nhóm chuyên gia đại diện cho từng nhóm ngành tham gia các Hội thảo chuyên đề qua đó xây dựng hệ tiêu chí cho phép đánh trình độ công nghệ của các doanh nghiệp và tổng hợp cho từng nhóm ngành Thông qua các tiêu chí để thiết kế nên mẫu phiếu thu thập thông tin và các thang đánh giá lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng tiêu chí đến từng thành phần công nghệ
Quá trình thu thập thông tin được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp Nhóm công tác bao gồm các cán bộ điều tra thuộc Trung tâm CRC đã kết hợp với các cán bộ của sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng đã tiến hành trực tiếp phỏng vấn các cán
bộ chuyên môn có liên quan của từng doanh nghiệp qua đó thu thập thông tin vào phiếu điều tra Đây là quá trình tuy có tốn kém về thời gian và kinh phí nhưng nó đảm bảo cho quá trình thu thập thông tin được chính xác Các cán bộ điều tra qua gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các
Trang 27cán bộ của doanh nghiệp, cùng nhau làm rõ những vấn đề qua đó việc thu thập thông tin
chuẩn xác hơn 409 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố thuộc 16 nhóm
ngành đã được điều tra
Cùng với quá trình điều tra thu thập thông tin, tổ chức hội thảo thu thập kiến chuyên
gia, nhóm nghiên cứu đã tiến hành xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu có các chức năng:
• Lưu trữ các dữ liệu điều tra từ các doanh nghiệp dưới dạng một cơ sở dữ liệu
thuận tiện cho việc truy cập và xuất dữ liệu phục vụ cho các công tác quản lý và
nghiên cứu đánh giá về hiện trạng trình độ công nghệ, máy móc thiết bị, nguồn
nhân lực của từng doanh nghiệp, từng nhóm ngành và toàn bộ các doanh nghiệp
được điều tra;
• Lưu trữ các thang điểm đánh giá trình độ công nghệ mà các chuyên gia đã xây
dựng cho từng nhóm ngành dưới dạng một “thư viện các hệ số chuyên gia” phục
vụ cho quá trình so sánh đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp được khảo sát
• Thực hiện quá trình tính toán lượng hóa các tiêu chí phản ánh trình độ công nghệ
của các doanh nghiệp từ các số liệu điều tra Trên cơ sở đó xác định các thành
phần công nghệ T,H,I,O và hệ số đóng góp công nghệ TCC cho từng doanh
nghiệp, tổng hợp cho từng nhóm ngành và tính trung bình chung cho toàn tỉnh;
Trang 28• Truy xuất dữ liệu phục vụ cho các mục đích quản l í và nghiên cứu khác nhau như: truy xuất dữ liệu thô của từng doanh nghiệp (nguyên bản số liệu điều tra thu thập từ doanh nghiệp), các dữ liệu lượng hóa trình độ của các yếu tố ảnh hưởng và các thành phần công nghệ, hệ số đóng góp công nghệ, so sánh trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp trong cùng nhóm ngành, giữa các nhóm ngành với nhau và so sánh của Hải Phòng với các địa phương khác như Đồng Nai, Quảng Bình, Các số liệu có thể so sánh dưới dạng các bảng, các đồ thị rất sinh động làm cho người truy cập dễ dàng trong việc xem xét đánh giá
Sau khi đã hoàn thành các bước nghiên cứu ở trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích, đánh giá viết báo cáo về hiện trạng công nghệ của thành phố Hải Phòng trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố nhằm góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế
Một cách khái quát, phương pháp Atlas công nghệ được áp dụng cho dự án Hải Phòng ở mức đánh giá bốn thành phần công nghệ để tiến tới đánh giá trình độ công nghệ cho các ngành kinh tế trọng điểm của thành phố Hải Phòng Các kết quả này được quản lý, phát triển thông qua việc xây dựng trang web về cở sở dữ liệu với phần mềm quản lý có độ hoàn thiện cao Các bước triển khai phương pháp Atlas công nghệ đối với dự án Hải Phòng được thực hiện theo các bước dưới đây
1.4.3 Xây dựng hệ tiêu chí, thiết kế mẫu phiếu điều tra, thiết kế thang
điểm, các hệ số tính toán
Để có thể đo lường được bốn thành phần công nghệ T, H, I, O, cần thiết phải thiết kế bộ phiếu điều tra hoàn chỉnh phản ảnh đầy đủ bản chất, đặc tính của các thành phần công nghệ này Có hai nội dung cần đề cập trong bảng câu hỏi là câu hỏi đánh giá mức độ tinh xảo và câu hỏi đánh giá trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ Để có thể thiết kế bộ phiếu điều tra bốn thành phần công nghệ, qua tham khảo ý kiến của các chuyên gia và kinh nghiệm của một số dự án tương tự đã và đang được thực hiện ở Việt nam, chúng tôi đã xây dựng được
hệ thống các tiêu chí đánh giá để từ đó xây dựng bảng các câu hỏi điều tra đảm bảo phản ánh đầy đủ nội dung của các thành phần công nghệ (T,H,I,O) theo tinh thần của phương pháp Atlas công nghệ, đơn giản, dễ hiểu, có giải thích cặn kẽ các từ khoá kỹ thuật để đảm bảo việc cung cấp thông tin đầy đủ nhất, bộ số liệu hoàn chỉnh nhất Về cơ bản, có thể khái quát bộ phiếu điều tra doanh nghiệp với tổng số khoảng trên 120 câu hỏi trong đó bao gồm:
• Một số câu hỏi tổng quát về doanh nghiệp và nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, đây là những thông tin ban đầu cần thiết cho việc tổ chức bảo quản dữ liệu, xây dựng
Trang 29• Khoảng 4x30 câu hỏi để đo lường, đánh giá bốn thành phần công nghệ ở cấp doanh nghiệp: kỹ thuật, thông tin, con người và tổ chức Riêng phần đánh giá thành phần kỹ thuật và thành phần con người, phiếu điều tra thu thập thông tin được xây dựng chi tiết cho từng công đoạn trong chu trình sản xuất Một bước cải tiến hơn so với dự án Đồng Nai là nhóm nghiên cứu đã xây dựng 6 mẫu phiếu điều tra: 01 mẫu phiếu chung và 05 mẫu phiếu cho 5 nhóm ngành đặc thù (Đóng tàu, Nuôi trồng thủy sản, Dịch vụ khách sạn-du lịch, Vận tải, Dịch vụ cảng) Đây là cơ sở cần thiết để có thể xác định chính xác hàm lượng công nghệ Cần tiến hành tổ chức làm việc với chuyên gia của các ngành để xác định các đặc thù của từng ngành khi xây dựng các câu hỏi cho phần kỹ thuật Theo danh sách trên 450 doanh nghiệp mà nhóm nghiên cứu đã thống nhất với
Sở KHCN Hải Phòng chúng ta có thể phân tổ thành 16 nhóm ngành
Việc hoàn thiện bộ phiếu điều tra cấp doanh nghiệp phải luôn đi kèm với việc xây dựng
hệ thống các thang điểm chi tiết cho từng câu hỏi định lượng hoá các câu hỏi đánh giá theo đúng tinh thần của Atlas công nghệ để xác định trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ Có 5 dạng thang điểm chúng tôi dự kiến sử dụng là:
Thang điểm tuyến tính,
Thang điểm cấp số nhân
Thang điểm Likert (đánh giá chủ quan)
Thang điểm số lượng lựa chọn
Thang điểm phân đoạn
Hệ thống chỉ số β để tổng hợp, quy đổi ra kết quả cuối cùng xác định độ tinh xảo, trình
độ hiện đại của bốn thành tố công nghệ THIO được xác định thông qua phương pháp chuyên gia Tương tự là việc xác định các hệ số β lớn (βT βH βI βO) để tổng hợp xác định hàm lượng công nghệ gia tăng (TCA) và hệ số đóng góp công nghệ (TCC) của một phương tiện chuyển đổi Phương pháp chuyên gia, cũng được đặc biệt sử dụng cho việc xác định này
Trang 30Sơ đồ trên là một thí dụ để xác định thành phần Kỹ thuật (T) Các tiêu chí như tính đồng
bộ, xuất xứ công nghệ, thế hệ công nghệ, tình trạng hiện tại của thiết bị, định mức tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, chỉ số phát thải các chất ô nhiểm, được lựa chọn để xây dựng bảng câu hỏi Trong bảng câu hỏi, các chuyên gia sẽ đưa ra thang điểm khác nhau đối với từng tiêu chí ví dụ xuất xứ thiết bị ở Mỹ và Tây Âu, Nhật bản được xếp vào thang điểm 10, trong khi sản xuất tại Trung quốc chỉ được thang điểm 4 Có các câu hỏi, khi quy đổi còn phải
sử dụng cả các hệ số β nhỏ kết hợp với thang điểm để xác định Ví dụ trong các bảng dưới đây, các chuyên gia ngành cơ khí đã cho điểm đánh giá về xuất xứ và thế hệ công nghệ của các thiết bị gia công cơ khí
Bảng 1.1 : Điểm đánh giá trình độ hiện đại các thiết bị theo thời kỳ sản xuất và niên đại thiết
bị Thời kỳ Điểm số Tích hợp CIM 95-nay 10 Linh hoạt FMS 85-95 9
Bảng 1.2: Điểm đánh giá trình độ hiện đại các thiết bị theo xuất xứ công nghệ
Trang 31Đức, Nhật, ý, Anh, Mi 10 Nga (7), G7 còn lại 8 Các nước Đông âu, Đài loan, HQ 6
Trung quốc 5
So với các phương pháp đánh giá, các mẫu phiếu được xây dựng trước đây, chúng tôi thừa kế được nhiều kinh nghiệm bổ ích, những điểm mạnh được phát triển và những điểm yếu được khắc phục Vì thế khái quát chung phương pháp luận và triển khai Atlas công nghệ cho Hải Phòng của chúng tôi có những tiến bộ sau:
Phần đánh giá về công nghệ được xem xét tỉ mỉ hơn, được đánh giá đặc thù cho từng ngành Vì thế việc đánh giá sẽ thiết thực hơn, chính xác hơn
Phiếu điều tra Doanh nghiệp có những câu hỏi về nhu cầu mua bán, chuyển giao công nghệ, đây là hình thức thiết thực để có thể tiến hành xây dựng Techmart trên mạng
Thang điểm được xây dựng rất khoa học Các hệ số β được tổng hợp từ ý kiến các chuyên gia đầu ngành, sau khi đã trao đổi, thảo luận
Việc tổng hợp các chỉ số định lượng cụ thể ở các cấp (cấp câu hỏi, cấp thành phần công nghệ, TCC), cho từng phạm vi (doanh nghiệp, ngành, khu công nghiệp, địa phương), cho phép đưa kết quả đánh giá vào cơ sở dữ liệu và đưa lên Internet với các biện pháp bảo mật và phân quyền cần thiết Từ đó các đối tượng người dùng khác nhau (doanh nghiệp, sở KHCN và các cơ quan địa phương, bộ KHCN và các cơ quan ban ngành trung ương, các tổ chức và cá nhân có quan tâm, các tổ chức và cá nhân có đóng lệ phí) có thể thực hiện truy cập và so sánh cần thiết về năng lực và nhu cầu công nghệ của các đối tượng được đánh giá Tất cả các chi tiết này đều được đề cập trong báo cáo về cấu trúc cơ sở dữ liệu và giao diện của trang Web sử dụng
Trang 321.4.4 Tổ chức điều tra thu thập và xử lý số liệu
Công tác điều tra thu thập số liệu sẽ được tiến hành theo các bước sau đây:
Hoàn thiện đầy đủ bộ phiếu điều tra,
CRC soạn thảo tài liệu để tập huấn cho cán bộ điều tra về phương pháp và cách thức, quy trình điều tra,
Tiến hành điều tra thử,
Tiến hành tổng điều tra cho các doanh nghiệp thuộc diện khảo sát
Xử lý dữ liệu điều tra
a) Hoàn thiện đầy đủ bộ phiếu điều tra
Bộ phiếu điều tra được xây dựng theo các tiêu chí, yêu cầu về nội dung đã nêu ở trên Trên thực tế, nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm CRC đã nhiều lần rút kinh nghiệm và cải tiến mẫu phiếu điều tra Từ Hội thảo về phương pháp luận Alast công nghệ được tổ chức tại thành phố Biên Hòa tháng 4/2004 cho đến các cuộc Hội thảo với đội ngũ các chuyên gia được tổ chức tại Hà Nội và Hải Phòng, mẫu phiếu điều tra đã ngày càng được hoàn thiện Hiện tại, mẫu phiếu phải đảm bảo ba yêu cầu: hoàn chỉnh về nội dung, đẹp về hình thức và thuận tiện nhất cho người trả lời
b) Soạn thảo tài liệu và tập huấn cho cán bộ điều tra
Công việc điều tra thu thập số liệu thường rất khó khăn vì thông thường những số liệu được cung cấp thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngay cả khi có các biện pháp chế tài, công việc thu thập số liệu không phải lúc nào cũng dễ dàng Vì thế, cần thiết phải trang bị cho cán bộ điều tra những kiến thức, kỹ năng cơ bản của công tác điều tra
Cán bộ thuộc Trung tâm CRC sau khi tham khảo các tài liệu chuyên môn cần thiết, tiến hành hội thảo chuyên đề để xây dựng tài liệu tập huấn về quy trình điều tra bộ tài liệu được hoàn chỉnh sau những lần tập huấn và điều tra thử Trước khi tiến hành tổng điều tra bộ tài liệu về cơ bản phải được hoàn thiện Tài liệu tập huấn phải đảm bảo hai yêu cầu: những kỹ năng cơ bản của công tác điều tra thu thập số liệu: về cách tiếp cận, ứng xử, kỹ năng thương lượng, và những đặc tính văn hoá, xã hội, kinh tế của vùng, ngành điều tra
Công việc tập huấn sẽ được thực hiện làm hai đợt, đợt một cho các cán bộ Sở khoa học công nghệ và các sở ban ngành liên quan cùng các cán bộ CRC trực tiếp tham gia công tác điều tra thử Đợt hai cho toàn bộ các cán bộ điều tra tham gia tổng điều tra cho hơn 400 doanh
Trang 33nghiệp trên địa bàn thành phố Về công tác điều tra, các cán bộ của CRC đã đúc rút được khá nhiều kinh nghiệm từ 2 cuộc điều tra lớn triển khai cho Đồng Nai và Quảng Bình
c) Tiến hành điều tra thử
Điều tra thử được tiến hành sau khi phương pháp luận đã được hội thảo thống nhất về nội dung việc phân ngành, chọn mẫu doanh nghiệp đã được hoàn thành Điều tra thử nghiệm không đặt nặng về kết quả mà chủ yếu là để đánh giá hoàn thiện quy trình điều tra phục vụ cho công tác tổng điều tra Vì thế việc điều tra thử được tiến hành như sau:
Tiến hành tập huấn cho các cán bộ điều tra của CRC và các cán bộ sở ban ngành Hải Phòng trực tiếp tham gia vào điều tra
Tiến hành chọn mẫu điều tra (10% tổng số doanh nghiệp), với mức độ khó dễ khác nhau (theo đánh giá của các sở ban ngành), công ty nước ngoài, liên doanh hay trong nước Mẫu doanh nghiệp điều tra phải đảm bảo đầy đủ các thành phần doanh nghiệp trong các phân ngành đã thống nhất từ ban đầu
Tiến hành điều tra thử theo quy trình sau:
Gửi phiếu điều tra tới các doanh nghiệp và hẹn ngày gặp trao đổi trực tiếp (công việc được sở KH và CN đảm nhận)
Nhận lại mẫu phiếu đã trả lời (doanh nghiệp trả lời), kiểm tra các câu trả lời, tìm những thiếu sót trong bảng câu hỏi đã trả lời
Cán bộ điều tra đến gặp doanh nghiệp trực tiếp (nhóm điều tra gồm hai cán bộ
và một điều tra viên), cán bộ có nhiệm vụ gặp gỡ đại diện doanh nghiệp để giới thiệu và trình bày những nội dung cơ bản của điều tra, sau đó cán bộ điều tra sẽ gặp trực tiếp các cán bộ chức năng của doanh nghiệp để hoàn thiện các câu hỏi chưa trả lời hoặc trả lời chưa hoàn thiện
Điều tra viên kiểm tra kỹ càng các số liệu thu thập bàn giao cho cán bộ phụ trách
để nghiệm thu kết quả Ghi lại những lưu ý cần thiết để rút kinh nghiệm và hoàn thiện phương pháp điều tra cho đợt tổng điều tra
Tổng kết quá trình điều tra thử, ghi lại những kinh nghiệm cho công tác điều tra, những phát hiện, những bổ sung cần thiết cho bộ mẫu phiếu
d) Tiến hành tổng điều tra cho 450 doanh nghiệp
Trang 34Cán bộ chuyên môn CRC hoàn thiện lại bộ phiếu điều tra thông qua những phản hồi từ phía doanh nghiệp Hoàn thiện phương pháp điều tra Tổ chức điều tra Đợt tổng điều tra được tiến hành theo các quy trình sau:
Tập huấn cho toàn bộ cán bộ điều tra của CRC (Cán bộ CRC và các sinh viên năm cuối xuất sắc trường Đại học BK Hà nội), cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ, các sở ban ngành của Hải Phòng
Cán bộ CRC kết hợp với sở KH&CN Hải Phòng phải thoả thuận việc tổ chức điều tra: gửi phiếu, thu phiếu, liên hệ doanh nghiệp, phương tiện đi lai
Tiến hành tổng điều tra: Một nhóm gồm một cán bộ điều tra và một điều tra viên Cán
bộ giữ vai trò liên lạc, tổ chức gặp gỡ, và nghiệm thu lần 1 phiếu điều tra sau khi công tác điều tra tại doanh nghiệp đó đã hoàn thiện Điều tra viên trực tiếp gặp gỡ các cán bộ chức năng của doanh nghiệp, thu thập, hoàn thiện phiếu điều tra
Cán bộ quản lý CRC phụ trách chung công tác điều tra của toàn đoàn và giữ vai trò là người nghiệm thu các kết quả điều tra, đánh giá và xếp loại các phiếu điều tra
e) Xử lý dữ liệu điều tra
Cán bộ quản lý CRC giữ vai trò nghiệm thu kết quả phiếu điều tra, xử lý sơ bộ các thông số mà doanh nghiệp cung cấp chưa chuẩn Chuẩn hoá các số liệu thu thập và bàn giao kết quả cho cán bộ phụ trách về xử lý tinh các số liệu và nhập vào máy tính để có thể chuyển
từ kết quả điều tra thành các kết quả đo lường T, H, I, O và các chỉ số khác
1.5 Kết luận
Cho đến thời điểm hiện tại, có thể nói chưa có một phương pháp luận nào hoàn hảo khi đánh giá về trình độ công nghệ Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng Hơn nữa việc áp dụng các phương pháp luận phụ thuộc rất nhiều vào mục đích, yêu cầu của
đề tài, nên rất có thể phương pháp luận này áp dụng tốt cho dự án này, mà không tốt cho các
dự án khác
Ở Việt nam, vấn đề về phương pháp luận đánh giá về công nghệ hiện vẫn là vấn đề tranh cãi rất nhiều và chưa có kết quả thống nhất Tuy vậy phương pháp luận Atlas công nghệ đang được triển khai nhiều nhất tại các cơ sở nghiên cứu, các Bộ, ban ngành, nên về cơ bản, tính thống nhất là tương đối cao
Với dự án Hải Phòng, chúng tôi đã cố gắng áp dụng một cách hiệu quả nhất phương pháp Atlas công nghệ để có thể có được các kết quả chính xác theo mục đích yêu cầu của dự
án Tuy nhiên đây là dự án thứ ba mà chúng tôi thực hiện về đánh giá trình độ công nghệ vì thế Phương pháp luận ứng dụng đã có nhiều cải tiến
Trang 35Phần 2: Hệ thống phần mềm Cơ sở dữ liệu
Quản lý hiện trạng trình độ công nghệ các doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Hải Phòng
2.1 Tổng quan
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, công nghệ phài được xem là biến
số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế–xã hội của mỗi quốc gia Đã từ lâu, vai trò quan trọng của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhận một cách rộng rãi Công nghệ cho phép ta tạo ra môi trường sống nhân tạo đầy đủ và tiện nghi hơn, quan hệ giữa công nghệ và quá trình biến đổi xã hội đã tăng thêm sức mạnh cho nhau Tuy nhiên, việc nhình nhận công nghệ như một yếu tố cấu thành trong các nỗ lực phát triển luôn đói hỏi một cơ sỡ dữ liệu hỗ trợ cho việc ra các quyết định thực tiễn để có thể trả lời các câu hỏi mang tính sống còn như: hiện trạng năng lực công nghệ, những nhu cầu công nghệ cấp bách, những lĩnh vực công nghệ cần chuyên môn hóa của một quốc gia
Với đề tài " Điều tra, đánh giá hiện trạng, xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng công nghệ trên địa bàn thành phố Hải Phòng ", thông qua
việc xây dựng một Hệ thống phần mềm ứng dụng cho Thành phố, chúng tôi, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về quản lý (CRC) của Đại học Bách khoa Hà nội, muốn đạt được những mục tiêu sau:
2.2 Mục tiêu
Hệ thống cần xây dựng sẽ phục vụ cho việc quản lý và khai thác dữ liệu về thực trạng công nghệ trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển của Thành phố
Hệ thống cơ sở dữ liệu cần xây dựng hỗ trợ tối đa thông tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc phân tích, đề xuất phương hướng đầu tư, mô hình và cách thức chuyển giao công nghệ
Hệ thống cơ sở dữ liệu cần xây dựng sẽ hỗ trợ công cụ quản lý công nghệ cho bản thân các doanh nghiệp tham gia vào dự án
Cùng với Hệ thống cơ sở dữ liệu đã xây dựng tại Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Đồng Nai, hệ thống cần xây dựng ở Hải Phòng là nền tảng để từ đó có thể đề xuất giải pháp tổng quát và hiệu quả để Bộ Khoa học và Công nghệ có thể ứng dụng vào công tác quản lý, phân tích năng lực công nghệ của các tỉnh, thành toàn quốc, và góp phần áp dụng rộng rãi cho các tỉnh thành khác trên quy mô toàn quốc
Trang 362.3 Giải pháp
2.3.1 Mô hình ứng dụng kỹ thuật
2.3.2 Cơ sở dữ liệu (Database)
Cơ sở dữ liệu tập trung giúp cho hệ thống thông tin dữ liệu được quản lý một cách thống nhất và tập trung
• Đảm bảo cho hệ thống có thể quản lý một cách tốt nhất những chức năng khai thác và tìm kiếm tĩnh/động
2.3.4 Giao diện cho người dùng cuối (Application Client)
Bao gồm các giao diện Web Hệ thống bao gồm các giao diện nhập dữ liệu, giao diện khai thác dữ liệu đơn giản và phức tạp theo các tiêu chí, giao diện các chức năng so sánh, đánh giá kèm theo hình vẽ minh họa
2.3.5 Các yếu tố về kỹ thuật
• Giao diện thân thiện, dễ sử dụng
o Giao diện WEB
o Ứng dụng phát triển phải đảm bảo dễ sử dụng, tiện lợi
Trang 37o Các màn hình nhập thông tin dữ liệu phải đầy đủ và dễ dàng tìm kiếm truy vấn thông tin cần thiết
o Có hướng dẫn trực tiếp trên màn hình – Online Help
• Công cụ phát triển hệ thống
o Cơ sở dữ liệu (Database): Microsoft SQL
o Công cụ lập trình, phát triển ứng dụng: Microsoft ASP, NET,
• Khả năng tích hợp
o Tích hợp với hệ thống soạn thảo văn bản Microsoft Office như Excel, Word
o Hệ thống cần tích hợp với trang Web đã được xây dựng của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hải Phòng
o Có khả năng liên kết với các trang Web đề cập tới các vấn đề về công nghệ trên quốc
tế
• Dữ liệu lưu trữ cần có tính luỹ kế
o Dữ liệu cần được cập nhật và lưu trữ theo yếu tố thời gian
o Tùy theo yêu cầu của người sử dụng mà có thể chiết xuất dữ liệu theo các khoảng thời gian khác nhau
2.4 Các chức năng lưu trữ của hệ thống
2.4.1 Thông tin lưu trữ trong hệ thống
Hệ thống cần được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận Atlas công nghệ đã được ứng dụng thành công ở nhiều nước đang phát triển có hoàn cảnh và môi trường tương tự với nước ta
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ (NGÀNH)
HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ (DN)
Phiếu điều tra Ngành/Địa phương
Đóng góp CN TCC (DN70)
Đóng góp CN TCC(DN2)
Phiếu điều tra DN
ß1 ß30
ß1 ß30
Đóng góp CN TCC (DN1) ßT
Phiếu điều tra Ngành/
Địa phương
NHU CẦU CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NHU CẦU CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ (ĐỊA PHƯƠNG, QUỐC GIA)
Trang 38Giải pháp xây dựng cần lưu trữ một hệ thống tiêu chí đánh giá và các phiếu điều tra bao gồm:
• Phiếu điều tra Doanh nghiệp bao gồm:
o Một số câu hỏi tổng quát về doanh nghiệp và nhu cầu về công nghệ của doanh nghiệp
o Các câu hỏi đánh giá 4 thành phần hàm lượng công nghệ của doanh nghiệp: Technoware (T), Humanware (H), Infoware (I) và Orgaware (O)
o Có thêm một số câu hỏi về nhu cầu cụ thể về mua bán, chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp trong thời gian tới Qua đó có thể tiến tới xây dựng đầu mối và quy chế chuyển giao công nghệ với các tổ chức trong nước và quốc tế
• Thang điểm chi tiết cho từng câu hỏi để đảm bảo định lượng hoá kết quả đánh giá Các thang điểm bao gồm các dạng dưới đây:
o Thang điểm tuyến tính
o Thang điểm cấp số nhân
o Thang điểm Likert (đánh giá chủ quan)
o Thang điểm số lượng lựa chọn
o Thang điểm phân đoạn
• Hệ thống các hệ số ß để tổng hợp kết quả của các câu hỏi thành 4 chỉ số T, H, I, O đánh giá 4 thành phần Hàm lượng công nghệ của từng doanh nghiệp
• 4 hệ số ßT, ßH, ßI, ßO để tổng hợp 4 chỉ số trên thành chỉ số TCC duy nhất đánh giá Đóng góp công nghệ (Hàm lượng công nghệ) của doanh nghiệp
• Phương pháp tổng hợp các chỉ số TCC doanh nghiệp thành chỉ số TCC duy nhất cho từng ngành (Trình độ công nghệ), bằng cách dùng doanh số (M) làm hệ số tỷ trọng
• Phiếu điều tra Ngành/Địa phương bao gồm các câu hỏi đánh giá thêm về Trình độ công nghệ của ngành và về Môi trường công nghệ của địa phương
• Các câu hỏi về Technoware, cần tiến hành làm việc với các chuyên gia ngành để đặc thù hoá cho từng ngành
Qua đó có thể tóm tắt các loại thông tin được lưu trữ trong hệ thống cơ sở dữ liệu như sau:
• Thông tin cấp 1 – Thông tin riêng
Các thông tin chi tiết, thông tin riêng nằm trong các phiếu điều tra sẽ được gửi đến các cấp: trung ương, địa phương, ngành, doanh nghiệp Những thông tin này được cập nhật từ kết quả điều tra
Ngoài ra thông tin cấp 1 còn bao gồm các thông tin được nhóm lại theo một số tiêu chí trong phương pháp luận ATLAS công nghệ
• Thông tin cấp 2
Các thông tin, dữ liệu tổng hợp như:
o T: Technoware hay thành phần Kỹ thuật (0 ≤ t ≤ 1)
Trang 39o I: Infoware hay thành phần Thông tin (0 ≤ i ≤ 1)
Hệ thống sẽ cung cấp thông tin phục vụ cho các đối tượng sau đây:
• Các doanh nghiệp tham gia điều tra
• Các cán bộ quản lý có thẩm quyền cấp Tỉnh, Thành, cấp Trung ương
• Các cá nhân, tổ chức có thể đăng ký trước với cơ quan quản lý và trả tiền lệ phí (nhiều quyền truy cập hơn ): khách có đăng ký
• Các cá nhân tổ chức tự do truy cập (giới hạn quyền hạn truy cập): khách
Mỗi đối tượng sẽ có phân quyền khác nhau nhằm đảm bảo tính bảo mật thông tin trong CSDL
Bảng ma trận sau đây sẽ minh họa nền tảng để xây dựng hệ thống phân quyền cần gắn tới các loại thông tin được lưu trữ trong hệ thống
Doanh nghiệp
Cấp quản lý
có thẩm quyền
2.5.1 Quy trình quản lý chung
• Quy trình quản lý On–Line
o Thông qua giao diện Web, người quản trị hệ thống có thể nhập/sửa các dữ liệu cần thiết cho hệ thống như tham số, hệ tiêu chí, thang điểm
o Thông qua giao diện Web, người có thẩm quyền (cán bộ Sở KHCN, cán bộ dự án điều tra) có thể cập nhật và quản lý thông tin doanh nghiệp, ngành, Thành phố thu được qua việc khảo sát, điều tra trong địa bàn
o Thông qua giao diện Web, người có thẩm quyền có thể đăng/sửa các bài viết, nhập các thông tin chung và xử lý chúng theo các quy trình nghiệp vụ chuẩn
• Quy trình xử lý theo lô
Cấp thông tin
Chủ thể TT
Trang 40o Thông qua chức năng “import”, hệ thống sẽ nhập dữ liệu hàng loạt bằng cách đọc chúng thông qua những form chuẩn được ấn định trước từ các file text hoặc file dạng Excel
o Các báo cáo, thống kê dữ liệu cũng có thể được xuất ra, thông qua khả năng tích hợp với các công cụ soạn thảo như Microsoft Word, Excel, PowerPoint
2.5.2 Quy trình quản lý, khai thác dữ liệu theo đối tượng sử dụng
(Dữ liệu kèm theo các hình chỉ mang tính minh họa cho các chức năng, không có độ chính xác cao)
Các quy trình khai thác dữ liệu được xây dựng trên các nguyên tắc chung sau đây:
o Các cấp chỉ có thể khai thác thông tin của các đối tượng trực thuộc quyền kiểm soát của
mình mà không khai thác được thông tin riêng của các cấp cao hơn
o Các cấp chỉ có thể khai thác thông tin của các đối tượng trực thuộc quyền kiểm soát của mình mà không khai thác được thông tin riêng của các đối tượng trực thuộc các cấp khác
Màn hình truy cập vào hệ thống