Phát triển và xác nhận mô hình khái niệm mô tả vai trò của lý thuyết về hành vi có kế hoạch như một trung gian kết hợp với lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội trong việc dự đoán
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
SINH VIÊN: NGUYỄN NHƯ TUYỀN BÁO CÁO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Ảnh hưởng lòng trắc ẩn lên ý định khởi sự kinh doanh xã hội: Giải thích từ quan
điểm lý thuyết SCCT và TPB (The effect of compassion on students’ social entrepreneurial intention: Explanation from a theoretical perspective SCCT and TPB)
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2023
Trang 2KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
SINH VIÊN: NGUYỄN NHƯ TUYỀN
MSSV: 1954082098 BÁO CÁO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Ảnh hưởng lòng trắc ẩn lên ý định khởi sự kinh doanh xã hội: Giải thích từ quan
điểm lý thuyết SCCT và TPB (The effect of compassion on students’ social entrepreneurial intention: Explanation from a theoretical perspective SCCT and TPB)
Ngành: Kinh doanh quốc tế
Giảng viên hướng dẫn: Bùi Ngọc Tuấn Anh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Công trình được hoàn thành tại Trường ĐH Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng
dẫn khoa học của Thầy Bùi Ngọc Tuấn Anh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu nhập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong Khóa luận tốt nghiệp còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chí thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung Khóa luận tốt nghiệp của mình Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền
do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
TP.HCM, ngày 02 tháng 03 năm 2023
Nguyễn Như Tuyền
Trang 4Trước hết, em chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy kiến thức và đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
Em xin gửi lời cảm ơn các cán bộ của trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tận tình để hoàn thành tốt khóa luận này
Em cũng hết lòng biết ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bạn bè, Đó chính là nguồn động viên tinh thấn rất lớn để em theo đuổi và hoàn thành đề tài
Đặc biệt, em vô cùng tri ân sự hướng dẫn tận tình và theo dỗi sát sao đầy tinh thần trách nhiệm cùng lòng thương mến của Thầy Bùi Ngọc Tuấn Anh trong suốt quá trình thực hiện đề tài “Ảnh hưởng lòng trắc ẩn lên ý định khởi sự kinh doanh xã hội: Giải thích từ quan điểm lý thuyết SCCT và TPB”
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các cô, chú, anh, chị trong Đại học Mở luôn dồi dào sức khỏe, đạt nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Trong quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp, nhận thầy mình đã cố gắng hết sức nhưng vì kiến thức vẫn còn hạn hẹp nên vẫn còn nhiều thiếu sót, mòng thầy cô góp ý
để bài luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày 02 tháng 03 năm 2023
Nguyễn Như Tuyền
Trang 5Họ và tên sinh viên: Nguyễn Như Tuyền MSSV: 1954082098
Chuyên ngành: Kinh doanh quốc tế
Khóa: 2019
TP.HCM, ngày tháng năm 2023
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa, đóng góp của nghiên cứu 5
1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Doanh nghiệp xã hội và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 7
2.1.1 Doanh nghiệp xã hội 7
2.1.2 Doanh nhân xã hội 8
2.1.3 Ý định khởi sự kinh doanh xã hội (SEI) 8
2.2 Lược khảo một số nghiên cứu tiêu biểu 9
2.2.1 Nghiên cứu của Segal và cộng sự (2002) 9
2.2.2 Nghiên cứu của Preeti Tiwari, Anil K Bhat & Jyoti Tikoria (2017) 10
2.2.3 Nghiên cứu của Chaoyun Liang và cộng sự (2021) 11
2.2.4 Nghiên cứu của Phan Tấn Lực (2020) 12
2.2.5 Nghiên cứu của Bùi Ngọc Tuấn Anh và Phạm Xuân Lan (2021) 12
2.2.6 Nghiên cứu của Ludi Wishnu Wardana và cộng sự (2020) 13
Trang 72.2.7 Nghiên cứu của Bingyan Tu và cộng sự (2021) 14
2.2.8 Nghiên cứu của Obi-Anike và cộng sự (2022) 15
2.2.9 Khoảng trống nghiên cứu từ lược khảo và đề xuất hướng tiếp cận 15
2.3 Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu 18
2.3.1 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) 18
2.3.2 Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) 19
2.3.3 Hiệu quả bản thân (SE) 19
2.3.4 Kỳ vọng kết quả (SOE) 20
2.3.5 Chuẩn chủ quan (SN) 21
2.3.6 Thái độ kinh doanh (EA) 22
2.3.7 Lòng trắc ẩn (CO) 22
2.3.8 Khả năng kết nối (NA) 23
2.3.9 Phần thường bên ngoài (ER) 24
2.4 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu 24
2.4.1 Mối quan hệ giữa kỳ vọng kết quả đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội 24
2.4.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội 25
2.4.3 Mối quan hệ giữa thái độ kinh doanh với ý định khởi sự kinh doanh xã hội 26
2.4.4 Mối quan hệ của hiệu quả bản thân đến kỳ vọng về kết quả trong hoạt động khởi sự kinh doanh xã hội 27
2.4.5 Mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân và thái độ kinh doanh 28
Trang 82.4.6 Mối quan hệ giữa lòng trắc ẩn đối với kỳ vọng kết quả 29
2.4.7 Mối quan hệ giữa lòng trắc ẩn và hiệu quả bản thân 29
2.4.8 Mối quan hệ giữa lòng trắc ẩn và thái độ trong kinh doanh 30
2.4.9 Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan với ý định khởi sự kinh doanh xã hội 31
2.4.10 Mối quan hệ giữa lòng trắc ẩn và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 31 2.4.11 Khả năng kết nối trong mối quan hệ giữa kỳ vọng kết quả và hiệu quả bản thân 32 2.4.12 Khả năng kết nối trong mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân với ý định khởi sự kinh doanh xã hội 33
2.4.13 Mối quan hệ giữa phần thưởng bên ngoài và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 34 2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 35
Tóm tắt chương 36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Tiếp cận nghiên cứu 37
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 37
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 38
3.1.2.1 Tổng quan tài liệu 38
3.1.2.2 Thảo luận nhóm chuyên gia 38
3.1.2.3 Phỏng vấn thử 39
3.2 Nghiên cứu định tính: 40
3.2.1 Kết quả tổng quan tài liệu 40
Trang 93.2.2 Kết quả thảo luận nhóm 41
3.2.2.1 Kế hoạch triển khai 41
3.2.2.2 Kết quả thảo luận nhóm 42
3.2.2.3 Thang đo hiệu quả bản thân (SE - Self Efficacy) 43
3.2.2.4 Thang đo kỳ vọng kết quả (SOE - Outcomes Expectations) 44
3.2.2.5 Thang đo chuẩn chủ quan (SN - Subjective Norms) 46
3.2.2.6 Thang đo thái độ kinh doanh (EA - Entrepreneurial Attitude) 47
3.2.2.7 Thang đo lòng trắc ẩn (CO - Compassion) 48
3.2.2.8 Thang đo khả năng kết nối (NA - Network Ability) 49
3.2.2.9 Thang đo phần thưởng bên ngoài (ER - Extrinsic Reward) 51
3.2.2.10 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh xã hội (SEI - Social Entrepreneurial Intention) 52
3.2.3 Kết quả phỏng vấn sơ bộ 52
3.3 Nghiên cứu định lượng 53
3.3.1 Đối tượng khảo sát 53
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu 53
3.3.3 Kỹ thuật xử lý dữ liệu 54
3.3.3.1 Kiểm định mô hình đo lường 55
3.3.3.2 Kiểm tra mô hình cấu trúc 56
3.3.3.3 Kiểm tra tác động trực tiếp những biến trong mô hình: 56
1.1.1.1 Kiểm tra tác động trực tiếp những biến trong mô hình 57
Trang 10CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 59
4.2 Đánh giá mô hình đo lường 61
4.2.1 Kiểm định độ hội tụ và độ tin cậy nhất quán nội tại 61
4.2.2 Kiểm định giá trị phân biệt giữa các cấu trúc trong mô hình nghiên cứu 62
4.3 Đánh giá mô hình cấu trúc 63
4.3.1 Đánh giá mức độ đa cộng tuyến VIF, hệ số xác định và hệ số tác động 63
1.1.2 Đánh giá tác động và kiểm định giả thuyết nghiên cứu 64
4.4 Phân tích đa nhóm giữa các nhóm trong mô hình nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh xã hội 67
4.4.1 Đánh giá sự khác biệt giữa giới tính đến mô hình nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh xã hội 67
4.4.2 Phân tích mức độ khác biệt của ngành nghề trong mô hình ý định khởi sự kinh doanh xã hội 68
4.4.3 Phân tích tính kiểm duyệt của phần thưởng bên ngoài đối với mối quan hệ giữa kỳ vọng kết quả và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 71
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 71
4.5.1 Mô hình dựa trên lý thuyết TPB và SCCT với các thành phần tham gia khởi sự kinh doanh xã hội 72
4.5.1.1 Mức độ tác động của các yếu tố từ lý thuyết về hành vi có kế hoạch TPB: Chuẩn chủ quan, thái độ kinh doanh 72
Trang 114.5.1.2 Tác động của các yếu tố từ lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội
SCCT: Hiệu quả bản thân (SE) , kỳ vọng kết quả (SOE) 73
4.5.2 Lòng trắc ẩn (CO) 74
4.5.3 Khả năng kiểm soát của các biến điều tiết: phần thưởng bên ngoài (ER) và khả năng kết nối (NA) 75
4.6 Kết luận về ảnh hưởng của giới tính và nghề nghiệp đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội 76
4.6.1 Giới tính 76
4.6.2 Ngành nghề 77
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý 79
5.1 Kết luận 79
5.1.1 Kết quả nghiên cứu 79
5.1.1.1 Xác định vai trò của nghề nghiệp và giới tính trong mô hình ý định khởi sự kinh doanh xã hội 79
5.1.1.2 Phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của lòng trắc ẩn và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 80
5.1.1.3 Phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của chuẩn chủ quan và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 81
5.1.1.4 Phân tích vai trò trung gian của kỳ vọng kết quả, hiệu quả bản thân và thái độ kinh doanh trong mối quan hệ giữa lòng trắc ẩn với ý định khởi sự kinh doanh xã hội từ bối cảnh lý thuyết SCCT và TPB 82
5.1.1.5 Phân tích sự tác động của lý thuyết SCCT kết hợp với lý thuyết TPB lên ý định khởi sự kinh doanh xã hội thông qua hiệu quả bản thân, kỳ vọng kết quả và thái độ kinh doanh 82
Trang 125.1.1.6 Phân tích khả năng kiểm soát của các biến điều tiết là khả năng kết nối trong mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân với kỳ vọng kết quả và hiệu
quả bản thân với ý định khởi sự kinh doanh xã hội 83
5.1.1.7 Phân tích khả năng kiểm soát của các biến điều tiết là phần thưởng bên ngoài trong mối quan hệ giữa kỳ vọng kết quả và ý định khởi sự kinh doanh xã hội 84
5.1.2 Tính mới của nghiên cứu 85
5.1.3 Các đóng góp chính của kết quả nghiên cứu 86
5.1.3.1 Đóng góp về mặt lý thuyết 86
5.1.3.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 87
5.2 Hàm ý quản trị 87
5.2.1 Đối với nhóm đối tượng sinh viên: 88
5.2.2 Đối với nhóm nhà quản lý và doanh nghiệp 89
5.2.3 Đối với các nhà hoạch định chính sách và Chính phủ: 90
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 1 DÀN BÀI THẢO LUẬN NHÓM 107
PHỤ LỤC 2 BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM 120
PHỤ LUC 3 TỔNG HỢP CÁC THAY ĐỔI VỀ PHÁT BIỂU TỪ THẢO LUẬN NHÓM CHUYÊN GIA 145
PHIẾU KHẢO SÁT 150
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Lược khảo các nghiên cứu liên quan 15
Bảng 3.1 Thang đo hiệu quả bản thân (Ký hiệu: SE) 43
Bảng 3.2 Thang đo kỳ vọng kết quả (Ký hiệu: SOE) 44
Bảng 3.3 Thang đo chuẩn chủ quan (Ký hiệu: SN) 46
Bảng 4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 59
Bảng 4.2 Kết quả đo lường độ tin cậy thang đo và giá trị hội tụ 61
Bảng 4.3 Kết quả đo lường giá trị phân biệt 62
Bảng 4.4 Hệ số đánh giá mức độ đa cộng tuyến VIF 63
Bảng 4.5 Hệ số xác định R2 , hệ số tác động (f2) 64
Bảng 4.6 Kết quả Bootstrapping mô hình cấu trúc và kiểm định giả thuyết 64
Bảng 4.7 So sánh đa nhóm giữa Nam với Nữ 67
Bảng 4.8 So sánh đa nhóm giữa Kinh tế - Quản trị - Dịch vụ với Công nghệ - Kỹ thuật - Sản xuất 68
Bảng 4.9 So sánh đa nhóm giữa Kinh tế - Quản trị - Dịch vụ với Báo chí - Xã hội - Nhân văn 69
Bảng 4.10 So sánh đa nhóm giữa Công nghệ - Kỹ thuật - Sản xuất với Báo chí - Xã hội - Nhân văn 70
Bảng 4.11 So sánh đa nhóm giữa cá nhân quan tâm đến vật chất với cá nhân quan tâm đến tinh thần 71
Trang 14DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 35
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 37
Hình 3.2 Quy trình tổng quan tài liệu 40
Hình 4.1 Kết quả phân tích mô hình đo lường 63
Hình 4.2 Kết quả kiểm định các giả thuyết (H1 – H13) 66
Trang 151 CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
Giới thiệu
Chương 1 phần mở đầu giới thiệu tổng quan về các vấn đề của đề tài Ở chương này,
để nắm được các nội dung cần thiết của đề tài nghiên cứu chúng ta sẽ khái quát các nội dung liên quan bao gồm: Tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng và phạm vi của đề tài, phương pháp, ý nghĩa và đóng góp của đề tài nghiên cứu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nền kinh tế ngày càng đổi mới qua nhiều năm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Tuy nhiên, nhiều vấn nạn xã hội và môi trường vẫn còn hiện hữu và gia tăng cả về số lượng và quy mô Đây là những trợ ngại khiến khoảng cách các nền kinh tế ngày càng xa vời với mục tiêu phát triển bền vững Song song đó, các nền kinh tế trên thế giới phát triển không đồng đều làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia, khu vực đòi hỏi cần phải có một giải pháp giúp tăng trưởng và phát triển bền vững như bảo vệ môi trường, đảm bảo cho các nhóm dân cư được tiếp cận thành quả tăng trưởng một cách công bằng và toàn diện nhất Nhận thức được mục tiêu đó, doanh nghiệp xã hội (DNXH) được mong đợi là mô hình giải pháp tối ưu giúp các nước giải quyết vấn nạn xã hội vì doanh nghiệp xã hội đáp ứng cả mục tiêu
về kinh tế lẫn phi kinh tế (Seelos, 2014)
Trên thế giới phong trào DNXH đã và đang phát triển mạnh mẽ và lan tỏa trên nhiều lĩnh vực Ở Việt nam DNXH đang dần phát triển, mở rông và được tôn vinh Trích theo Hội đồng Anh, CSIP và SPARK (2011) ,DNXH tại Việt nam cũng hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực Theo kết quả điều rea của Hội, có khoảng 68% số DNXH hướng tới xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống và nâng cao thu nhập cho người yếu thế thông qua giáo dục, đào tạo nghề, tăng cường kỹ năng, thiết bị và kiến thức Điều này chứng minh rằng DNXH được đánh giá là có tiềm năng phát triển trong
Trang 16tương lai Chính vì thế, cần có nhiều nghiên cứu về ý định DNXH nhằm có thể gia tăng số lượng DNXH trong xã hội, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày một phát triển hơn Là lực lượng quan trọng trong xây dựng đất nước, Sinh viên trở thành đối tượng cần được nhắm đến để nghiên cứu bởi họ có đủ kiến thức về quản lý kinh doanh và đang trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp Tuy vậy, cho đến nay vẫn còn tương đối
ít nghiên cứu về đối tượng này Từ những lập luận trên, nghiên cứu này cung cấp một cách tiếp cận mới khi kết hợp cả hai mô hình nghiên cứu TPB và SCCT vào thực nghiệm để khám phá ý định khởi sự kinh doanh xã hội của sinh viên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích và đánh giá mối tương quan của các nhân tổ ảnh hưởng đến
ý định khởi sự kinh doanh xã hội hướng đến mục tiêu chính là phát hiện nhiều điểm mới, từ đó bổ sung kiến thức cơ sở lý thuyết cũng như các giải pháp khuyến khích các thế hệ trẻ tiếp cận tinh thần khởi sự kinh doanh xã hội hơn Cụ thể như sau:
1 Phát triển và xác nhận mô hình khái niệm mô tả vai trò của lý thuyết về hành
vi có kế hoạch như một trung gian kết hợp với lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội trong việc dự đoán các ý định khởi sự kinh doanh xã hội
2 Xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh: Hiệu quả bản thân, Kỳ vọng
về kết quả, Chuẩn chủ quan và Thái độ kinh doanh
3 Điều tra và đánh giá vai trò điều tiết phần thưởng bên ngoài đến mối quan hệ giữa kỳ vọng về kết quả và ý định khởi sự kinh doanh xã hội của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Điều tra và đánh giá vai trò điều tiết khả năng kết nối đến mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân và kỳ vọng kết quả cũng như mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân và ý định khởi sự kinh doanh xã hội
Trang 175 Đề xuất các hàm ý quản trị và khuyến nghị nhằm giúp các doanh nhân tương lai có thể đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp một cách khoa học hướng đến thúc đẩy đổi mới xã hội
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội
của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh: Hiệu quả bản thân, kỳ vọng về kết quả, chuẩn chủ quan, thái độ kinh doanh và vai trò điều tiết của phần thưởng bên ngoài cùng với khả năng kết nối
Đối tượng khảo sát: Hiện nay, số lượng đối tượng lựa chọn khởi nghiệp làm kim chỉ
nam cho tương lai của mình ngày càng tăng, đặc biệt là giới trẻ, nhất là sinh viên Tại các trường đại học trên cả nước, các cuộc thi “Ý tưởng khởi nghiệp” được nhà trường đầu tư và khích lệ sinh viên tham gia Nhờ đó, nhiều sinh viên với khát vọng to lớn,
có cơ hội biến ước mơ, ý tưởng thành hiện thực Cụ thể, năm 2021 đã có gần 400 dự
án khởi nghiệp đến từ vị trí các bạn sinh viên tại cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp ” lần thứ IV Trong đó, có tới 70 dự án xuất sắc nhất được lọt vào vòng bình chọn và vòng chung kết toàn quốc Ngoài ra, để tạo dựng cơ sở lý thuyết cũng như giúp sinh viên làm quen môi trường khởi nghiệp, các cơ sở giáo dục đại học đã đưa khởi nghiệp thành môn học bắt buộc hoặc tự chọn Ngoài ra, còn xây dựng các chương trình truyền cảm hứng khởi nghiệp cho sinh viên thông qua các diễn đàn,
hội thảo, tuần sinh hoạt công dân đầu khóa Chính vì vậy, nhóm tác giả chọn Sinh
viên làm đối tượng khảo sát tiềm năng phù hợp với nghiên cứu này Cụ thể, Sinh viên
trong độ tuổi từ 18 – 25 tuổi tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 181.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng qua các giai đoạn của đề tài, cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu định tính: Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu định tính nhằm phát triển mô hình lý thuyết kế thừa từ các công bố, bài báo quốc tế và hình thành nên thang đo về chủ đề nghiên cứu Hệ thống các lý thuyết từ các công bố quốc tế, từ đó kế thừa những điểm hay, mang ý nghĩa bên cạnh
đó tìm ra các lỗ hổng từ các nghiên cứu trước đây để nhóm nghiên cứu có thể làm rõ những vấn đề và hình thành nên mô hình lý thuyết mới Từ những kết quả lý thuyết tổng hợp được, hình thành nên mô hình và thang đo sơ bộ Sau đó, việc thảo luận nhóm chuyên gia và phỏng vấn thử trên một mẫu kiểm định được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên với mục đích đánh giá mức độ hoàn thiện về mặt nội dung, hình thức trước khi chính thức khảo sát
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sau khi đã hình thành bảng câu hỏi chính thức, tiếp tục qua giai đoạn tiến hành khảo sát thông qua Google Form gửi đến các đối tượng khảo sát trên các trang mạng xã hội thông qua Internet để thu thập thông tin từ nhóm đối tượng sinh viên các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
có sự quan tâm và ý định khởi sự kinh doanh xã hội vì đây là nhóm đối tượng đang đứng trước những lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai sau khi ra trường Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Trong đề tài nghiên cứu này, trên cơ sở nghiên cứu định lượng nhóm tác giả sẽ thực hiện các bước cơ bản
từ việc tìm hiểu, xây dựng các định nghĩa, thang đo, xây dựng và kiểm định thang đo Bên cạnh đó, tác giả sử dụng công cụ phần mềm xử lý số liệu thống kê SmartPLS 4.0
để thực hiện các phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, kiểm định các giả thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm tra độ tin cậy thang đo thông qua chỉ số CA và CR,
mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) và mô hình biến điều tiết
Trang 191.5 Ý nghĩa, đóng góp của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này khi được thực hiện thành công sẽ đem lại ý nghĩa to lớn cả về khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu cố gắng tích hợp lý thuyết TPB và SCCT cũng như áp dụng nó trong việc đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố nghiên cứu đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội Với sự bổ sung ý nghĩa bởi vai trò trung gian điều tiết của biến phần thưởng bên ngoài làm phong phú thêm mô hình nghiên cứu Điều này giúp mở rộng SCCT bằng cách xem xét phần thưởng bên ngoài như một tác nhân điều tiết về kỳ vọng kết quả với mối quan hệ ý định khởi sự kinh doanh xã hội Mô hình nghiên cứu
đề xuất đóng góp quan trọng vào tài liệu mới nổi về ý định kinh doanh, đặc biệt là ý định kinh doanh xã hội
Thứ hai, động cơ của doanh nhân xã hội khá khác với động cơ của doanh nhân thương
mại Vì vậy, trường học cần xây dựng các chương trình ngoại khóa kết hợp các hoạt động tình nguyện và kiến thức nhằm trang bị kiến thức về khởi nghiệp xã hội để thúc đẩy các giá trị động lực doanh nhân xã hội
Thứ ba, Chính phủ nên thiết lập một môi trường hỗ trợ cho xã hội khởi nghiệp bằng
cách thực hiện các chính sách công mang lại lợi ích nhiều hơn cho các dự án khởi sự kinh doanh xã hội để họ vượt qua các thách thức khác nhau khi điều hành dự án, từ
đó đạt được thành quả tốt hơn và phát triển mạnh mẽ ý định trở thành doanh nhân xã hội
Trang 201.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
Bài báo cáo nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng lòng trắc ẩn lên ý định khởi sự kinh doanh xã hội: Giải thích từ quan điểm lý thuyết SCCT và TPB” được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Phần mở đầu giới thiệu tổng quan về dự án nghiên cứu
Chương 2: Trình bày cơ sở lý luận có liên đến đề tài nghiên cứu, từ đó hình
thành mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Khái quát quy trình nghiên cứu đối với các vấn đề nghiên cứu,
thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Báo cáo kết quả nghiên cứu và đưa ra nhận xét đánh giá
Chương 5: Kết luận kết quả nghiên cứu, đưa ra đóng góp và nêu lên hạn chế
của nghiên cứu này Đồng thời cũng đề xuất hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Tóm tắt chương
Chương 1 nêu bật lên tính cấp thiết của việc tại sao phải nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội từ các vấn đề nóng của thực tiễn Qua đó, xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu và định hình hướng phát triển nghiên cứu cũng như ý nghĩa mà nghiên cứu đem lại
Trang 212 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Giới thiệu
Chương 1 đã giới thiệu tổng quát một cách chi tiết và đầy đủ các vấn đề cốt lõi của nghiên cứu Tiếp theo, chương 2 sẽ nêu bật nền tảng lý thuyết của nghiên cứu và lược khảo các nghiên cứu liên quan để đi đến xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức Chương 2 gồm ba phần chính: (1) cơ sở lý thuyết, (2) lược khảo các nghiên cứu liên quan, (3) giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1 Doanh nghiệp xã hội và ý định khởi sự kinh doanh xã hội
2.1.1 Doanh nghiệp xã hội
Theo Bộ Thương mại và Công nghiệp của Chính phủ Vương quốc Anh (2002): Doanh nghiệp xã hội là: ''một doanh nghiệp với các mục tiêu xã hội chủ yếu mà phần thặng
dư chủ yếu được tái đầu tư cho mục đích đó trong doanh nghiệp hoặc trong cộng đồng, chứ không phải được thúc đẩy bởi nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông và chủ sở hữu'' Do đó, mục đích xã hội và động cơ lợi nhuận không mâu thuẫn với nhau,
mà có những kết quả bổ sung cho nhau và tạo thành một "điểm mấu chốt kép" Điều này ngụ ý rằng quản lý tài chính hiệu quả cho các mục đích xã hội là đặc điểm chính của tính bền vững (tức là sự ổn định tài chính của một tổ chức để giao dịch trong dài hạn) Mặc dù là một định nghĩa dựa trên chính sách, nhưng nó phù hợp với các định nghĩa học thuật hơn về doanh nghiệp xã hội (Borzaga và Defourny, 2001) Các công
ty có trách nhiệm với xã hội không chỉ nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận và lợi ích xã hội mà còn cả các kết quả tích cực về môi trường (Elkington 1999; Henriques và Richardson, 2004)
Doanh nghiệp xã hội đề cập đến các hoạt động được thực hiện vì lợi ích công cộng bằng cách sử dụng các chiến lược kinh doanh (Simons, Zappalà 2001) Nó bao hàm
ý tưởng rằng sự nhạy bén trong kinh doanh có thể được áp dụng cho các mục tiêu cộng đồng để đạt được sự chuyển giao các nguồn lực kinh tế và xã hội cho các nhóm
và cá nhân yếu thế (De Leonardis & Mauri 1992; Crofts & Grey 2001) Theo Zappalà
Trang 22(2001), doanh nghiệp xã hội là một phương tiện để các cơ quan phi lợi nhuận tối đa hóa hiệu suất liên quan đến sứ mệnh của họ thông qua việc phát triển các dự án liên doanh mới hoặc bằng cách tổ chức lại các hoạt động để nâng cao hiệu quả hoạt động
Nó đề cập đến một loạt các hoạt động, bao gồm phát triển kinh tế cộng đồng, các hoạt động tạo ra lợi nhuận do các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện để hỗ trợ các sáng kiến dịch vụ, quan hệ đối tác liên ngành và các chương trình trách nhiệm xã hội của khu vực tư nhân (Henton và cộng sự 1997; Catford 1998; Dees & Haus 1998; Reis 1999)
2.1.2 Doanh nhân xã hội
Loại hình doanh nghiệp xã hội ngày càng được chú ý bởi định hướng kinh doanh tích hợp cả kinh tế và tạo ra giá trị xã hội (Mair & Marti, 2006) từ đó tạo ra khái niệm doanh nhân xã hội Doanh nhân xã hội thường được biết đến là những cá nhân sở hữu những nét tính cách đặc biệt (Bornstein, 2007; Ghalwash và cộng sự, 2017) Họ có
sự đồng cảm mạnh mẽ đối với những người yếu thế trong xã hội (Mair & Noboa, 2006) Theo nghiên cứu của Ghalwash và cộng sự (2017), những nét tính cách nổi bật của một doanh nhân xã hội thường là: Tư duy kinh doanh giỏi, giàu lòng vị tha, trí sáng tạo phong phú, biết chấp nhận rủi ro và có sự kiên trì bền bỉ Tuy nhiên, đây
là những nét tính cách cần có chứ chưa đủ để hình thành nên một doanh nhân xã hội Germak và cộng sự (2014) cho rằng các doanh nhân xã hội phải được thúc đẩy bằng các động cơ phức tạp hơn, giúp họ vượt qua các thách thức để nuôi dưỡng ý định khởi
sự kinh doanh xã hội
2.1.3 Ý định khởi sự kinh doanh xã hội (SEI)
Theo Krueger & Brazeal (1994), “Ý định kinh doanh có thể được định nghĩa là sự cam kết của một người đối với một số hành vi trong tương lai, dự kiến hướng tới việc bắt đầu, một doanh nghiệp hoặc một tổ chức” Còn Bird (1998) định nghĩa ý định là một trạng thái của tâm trí thúc đẩy một người hướng tới một mục tiêu hoặc một con đường nhất định Ý định có thể được coi là điều kiện tiên quyết chi phối hành vi có kế hoạch (Souitaris và cộng sự, 2007) Do đó, ý định khởi sự kinh doanh là một xu
Trang 23hướng tất yếu khi hình thành doanh nghiệp và cũng là một lĩnh vực nghiên cứu mới nổi thu hút một số lượng lớn các nghiên cứu Nhiều mô hình khác nhau đã được đề xuất để nghiên cứu sự phát triển của các ý định khởi sự kinh doanh Chúng bao gồm các mô hình được đề xuất bởi Bird (1988) và được phát triển bởi Boyd & Vozikis, (1994), bởi Shapero (1975; Shapero & Sokol, 1982), điều này đã được thử nghiệm bởi Krueger (1993) và bởi Davidsson, (1995)
Còn trong lĩnh vực kinh doanh xã hội, ý định khởi sự kinh doanh xã hội có thể được coi là hành vi tâm lý của con người thuyết phục họ thu thập kiến thức, nhận thức ý tưởng và thực hiện các kế hoạch kinh doanh xã hội để trở thành một doanh nhân xã hội (Mair, Robinson & Hockerts, 2006) Ziegler (2009) cho rằng những điều kiện tiên quyết góp phần thúc đẩy mọi người hoạt động như một doanh nhân xã hội vẫn chưa được khám phá đầy đủ Ý định khởi sự kinh doanh xã hội trong nghiên cứu này được định nghĩa là kỳ vọng kết quả, chuẩn chủ quan và sự tự nhận thức hiệu quả của một
cá nhân có ý định thành lập một liên doanh xã hội mới (Ip và cộng sự, 2017)
2.2 Lược khảo một số nghiên cứu tiêu biểu
2.2.1 Nghiên cứu của Segal và cộng sự (2002)
Nội dung nghiên cứu: Using Social Cognitive Career Theory to Predict
Self-Employment Goals ( Nghiên cứu của Sử dụng lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội để dự đoán mục tiêu tự kinh doanh)
Mục tiêu nghiên cứu: Hiểu rõ hơn về các quyết định tự kinh doanh hay làm việc cho
người khác của những sinh viên bậc đại học
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Hiệu quả bản thân
− Kỳ vọng về kết quả
− Mục đích kinh doanh
Hạn chế của nghiên cứu:
Trang 24− Mẫu nghiên cứu hoàn toàn bao gồm các sinh viên bậc đại học có ý định khởi nghiệp, mức độ tổng quát kém, những phát hiện từ nghiên cứu có thể chưa chính xác những đối tượng không nghiên cứu khác như sinh viên vẫn chưa có mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng
− Việc sử dụng các thang đo về ý định và hiệu quả bản thân làm nảy sinh các vấn đề về độ chính xác của phép đo
2.2.2 Nghiên cứu của Preeti Tiwari, Anil K Bhat & Jyoti Tikoria (2017)
Nội dung nghiên cứu: The role of emotional intelligence and self-efficacy on social
entrepreneurial attitudes and social entrepreneurial intentions (Vai trò của trí tuệ cảm xúc và hiệu quả bản thân đối với thái độ kinh doanh xã hội và ý định kinh doanh xã hội)
Mục tiêu nghiên cứu:
− Phát triển và kiểm tra mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa trí tuệ cảm xúc với hiệu quả bản thân và ý định khởi sự kinh doanh xã hội trong dân số trẻ Ấn
Độ bằng cách sử dụng lý thuyết về hành có kế hoạch trong nghiên cứu
− Đánh giá tác động của Emin và hiệu quả bản thân đối với thái độ kinh doanh xã hội
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Trí tuệ cảm xúc
− Hiệu quả bản thân
− Chuẩn chủ quan
− Thái độ đối với việc trở thành một doanh nhân xã hội
Hạn chế của nghiên cứu:
− Số lượng khảo sát còn hạn chế chỉ có 230 sinh viên đang theo học các trường đại học ở Ấn Độ
− Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện chưa có tính đại diện cao
Trang 252.2.3 Nghiên cứu của Chaoyun Liang và cộng sự (2021)
Nội dung nghiên cứu: Determinants of social entrepreneurial intention: An
alternative model based on social cognitive career theory (Các yếu tố quyết định ý định kinh doanh xã hội: Một mô hình thay thế dựa trên lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội)
Mục tiêu nghiên cứu:
− Xác định và xem xét lại các yếu tố quyết định ý định khởi sự kinh doanh xã hội
− Đánh giá sự phù hợp của trách nhiệm xã hội thay thế nghĩa vụ đạo đức như một đại diện cho các chuẩn mực chủ quan
− Kết hợp SCCT bằng cách xem xét các kỳ vọng kết quả của việc thành lập một doanh nghiệp xã hội với tư cách là người hòa giải
− Coi phần thưởng bên ngoài là yếu tố điều tiết tác động của kỳ vọng về kết quả đối với ý định khởi sự kinh doanh xã hội
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Hiệu quả bản thân
− Lòng trắc ẩn
− Sự hỗ trợ xã hội được nhận thức
− Trách nghiêm xã hội
− Phần thưởng bên ngoài
− Kỳ vọng kết quả
− Kinh nghiệm trước đây
Hạn chế của nghiên cứu:
− Đối tượng khảo sát chỉ những người thường xuyên sử dụng mạng xã hội ở Đài Loan vì cuộc khảo sát được phân phối trực tuyến nên có thể dẫn đến sai lệch lấy mẫu và chưa có tính đại diện cao
Trang 26− Phương pháp thu thập dữ liệu chỉ thông qua khảo sát định lượng làm tăng phương sai của phương pháp mặc dù cuộc khảo sát không có câu trả lời đúng sai nhưng phần nào đó đã làm giảm đi cơ hội nhận được phản hồi mà tác giả mong muốn
2.2.4 Nghiên cứu của Phan Tấn Lực (2020)
Nội dung nghiên cứu: Outcome Expectations and Social Entrepreneurial Intention:
Integration of Planned Behavior and Social Cognitive Career Theory (Kết quả kỳ vọng và ý định kinh doanh xã hội: Tích hợp Hành vi có kế hoạch và Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội)
Mục tiêu nghiên cứu:
− Phát triển thang đo cho các kỳ vọng kết quả
− Điều tra ảnh hưởng của kỳ vọng kết quả đối với ý định khởi sự kinh doanh và các yếu tố quyết định TPB
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Chuẩn chủ quan
− Thái độ đối với hành vi
− Kỳ vọng kết quả
− Kiểm soát hành vi nhận thức
Hạn chế của nghiên cứu:
− Xây dựng thang đo cho những kỳ vọng về kết quả mà không có sự phân biệt giữa các ngành mà các doanh nhân xã hội hoạt động
− Nghiên cứu không điều tra nền tảng giáo dục hoặc các yếu tố nhân khẩu học đối với các kết quả mong đợi trong việc hình thành ý định khởi sự kinh doanh xã hội
2.2.5 Nghiên cứu của Bùi Ngọc Tuấn Anh và Phạm Xuân Lan (2021)
Nội dung nghiên cứu: Vai trò của kỳ vọng kết quả và cảm hứng với ý định khởi sự
kinh doanh xã hội
Trang 27Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ cơ chế tác động của kỳ vọng hiệu quả, cảm hứng lên
ý định khởi sự kinh doanh xã hội thông qua ba nhân tố của lý thuyết TPB, gia tăng các tư liệu nghiên cứu cho các tác giả trong tương lai muốn theo hướng doanh nghiệp xã hội
Hạn chế của nghiên cứu:
− Hạn chế về số lượng khảo sát chỉ gồm 178 sinh viên, không có tính đại diện cao
− Chỉ giới hạn hai yếu tố cụ thể là cảm hứng và kỳ vọng kết quả ảnh hưởng đến
ý định khởi sự kinh doanh xã hội
2.2.6 Nghiên cứu của Ludi Wishnu Wardana và cộng sự (2020)
Nội dung nghiên cứu: The impact of entrepreneurship education and students'
entrepreneurial mindset: the mediating role of attitude and self-efficacy (Tác động của giáo dục khởi nghiệp và tư duy kinh doanh của sinh viên: vai trò trung gian của thái độ và hiệu quả bản thân)
Mục tiêu nghiên cứu: Điều tra mối quan hệ giữa giáo dục tinh thần kinh doanh của
sinh viên và tư duy kinh doanh cũng như hiểu được vai trò trung gian của thái độ và hiệu quả bản thân
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Giáo dục doanh nhân
− Tự hiệu quả của doanh nhân
− Thái độ kinh doanh
Trang 28− Tư duy của doanh nhân
Hạn chế của nghiên cứu: Đối tượng khảo sát chỉ được tuyển chọn từ một số trường
đại học ở Malang của Đông Java, Indonesia thông qua một cuộc khảo sát trực tuyến, chưa có tính đại diện cao
2.2.7 Nghiên cứu của Bingyan Tu và cộng sự (2021)
Nội dung nghiên cứu: Graduate Students’ Behavioral Intention towards Social
Entrepreneurship: Role of Social Vision, Innovativeness, Social Proactiveness, and Risk Taking (Ý định hành vi của sinh viên sau đại học đối với tinh thần kinh doanh xã hội: Vai trò của Tầm nhìn xã hội, Tính đổi mới, Tính chủ động xã hội và Chấp nhận rủi ro)
Mục tiêu nghiên cứu: Đóng góp lý thuyết về ứng dụng các thành phần định hướng
kinh doanh xã hội SEO trong mô hình thái độ - hành vi, các phát hiện cũng sẽ cung cấp các hàm ý chính sách cho các doanh nhân trẻ, các nhà thực hành và các nhà hoạch định chính sách, điều này cũng sẽ góp phần khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan vào hoạt động kinh doanh dựa trên xã hội và khởi nghiệp trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau ở các nước đang phát triển
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Động cơ chấp nhận rủi ro
− Tính chủ động của xã hội
− Thái độ kinh doanh
− Ý định kinh doanh xã hội
Hạn chế của nghiên cứu: Chỉ coi sinh viên đại học là những người mẫu đang thực
hiện chương trình cử nhân hoặc thạc sĩ của họ, điều này có thể hạn chế việc tổng quát hóa các phát hiện của nghiên cứu hiện tại
Trang 292.2.8 Nghiên cứu của Obi-Anike và cộng sự (2022)
Nội dung nghiên cứu: Sustained Social Entrepreneurship: The Moderating Roles of
Prior Experience and Networking Ability (Tinh thần kinh doanh xã hội bền vững: Vai trò kiểm duyệt của kinh nghiệm trước và khả năng kết nối mạng)
Mục tiêu nghiên cứu: Điều tra xem kinh nghiệm trước đây và khả năng kết nối tương
tác như thế nào với sự đồng cảm, nghĩa vụ đạo đức, hiệu quả bản thân và hỗ trợ xã hội để tạo ra ý định khởi sự kinh doanh xã hội trong các doanh nhân mới chớm nở ở Nigeria
Các yếu tố ảnh hưởng:
− Khả năng kết nối
− Sự đồng cảm
− Kinh nghiệm trước đây
− Hiệu quả bản thân
− Hỗ trợ xã hội
− Nghĩa vụ đạo đức
− Ý định kinh doanh xã hội
Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ tập trung vào việc xác định vai trò điều
tiết của khả năng kết nối đối với ý định khởi sự kinh doanh xã hội Tuy nhiên kết quả thì chưa cho thấy rõ vai trò của nó
2.2.9 Khoảng trống nghiên cứu từ lược khảo và đề xuất hướng tiếp cận
Bảng 2.1 Lược khảo các nghiên cứu liên quan
Lý thuyết sử
Tác giả TPB SCCT CO SE SOE EA SN NA ER
Trang 30Preeti Tiwari, Anil K Bhat
(Nguồn: Do tác giả tự tổng hợp)
Ghi chú: Compassion (Lòng trắc ẩn - CO); Outcomes Expectations (Kỳ vọng về kết quả -SOE); Self
- Efficacy (Hiệu quả bản thân - SE); Entrepreneurial Attitude (Thái độ kinh doanh - EA); Subjective Norms (Chuẩn chủ quan - SN); Network Ability (Khả năng kết nối - NA); Extrinsic Reward (Phần
thưởng bên ngoài - ER); Social Entreprneurial Intention ( Ý định khởi sự kinh doanh xã hội - SEI)
Qua các tài liệu nghiên cứu trên, nhận thấy được một số hạn chế của các nghiên cứu
Bởi vậy, nghiên cứu này sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm và khắc phục đáng kể những hạn chế nêu trên
Thứ nhất, về số lượng đối tượng khảo sát, Preeti Tiwari, Anil K Bhat và Jyoti Tikoria
(2017) đã thực hiện một cuộc khảo sát với một số ít đối tượng, không mang tính đại diện cao Nghiên cứu cải tiến những hạn chế của các bài nghiên cứu trước do đề tài
Trang 31này thực hiện sẽ có số lượng đối tượng khảo sát cao hơn (khoảng 400 sinh viên tại TP.HCM)
Thứ hai, về các nhân tố ảnh hưởng, Segal và cộng sự (2002) đã xem xét 3 yếu tố ảnh
hưởng chính: hiệu quả của bản thân, kỳ vọng về kết quả và mục tiêu kinh doanh Ba yếu tố này đã được nhìn thấy trong nhiều nghiên cứu khác, chẳng hạn như công trình của Phan Tấn Lực (2020) và công trình của Bùi Ngọc Tuấn Anh và Phạm Xuân Lan (2021) Ngoài ba yếu tố chính được đề cập trong nghiên cứu, các tác giả còn bao gồm các biến khác trong nghiên cứu của họ, chẳng hạn như các chuẩn mực chủ quan, thái
độ và phần thưởng bên ngoài Tuy nhiên, kết quả thu được cũng chưa nhấn mạnh được mối quan hệ giữa các yếu tố đã đề cập Một lý thuyết cũng đã được nhắc đến trong Obi-Anike và cộng sự (2022) là lý thuyết tác động xã hội nhưng hiện lý thuyết này vẫn còn chưa phổ biến và có mức khá tương đồng với lý thuyết kế hoạch hành vi (TPB) do vậy đề tài này không lựa chọn lý thuyết này áp dụng cho đề tài mà tham khảo yếu tố khả năng kết nối, vì đây là một biến điều tiết khá hay và phù hợp với nghiên cứu này Bên cạnh đó, yếu tố thái độ kinh doanh trong công trình của Bingyan
Tu và cộng sự (2021) hoặc Ludi Wishnu Wardana và cộng sự (2020) vẫn còn khá mơ
hồ ở thời điểm hiện tại, do vậy điểm sáng của yếu tố này vẫn chưa được khai thác kỹ càng
Cuối cùng, lý thuyết TPB được chứng minh là đã và đang là một khung lý thuyết phù
hợp (Zaremohzzabieh và cộng sự, 2019), chiếm ưu thế trong việc nghiên cứu các ý định khởi sự kinh doanh xã hội Hơn thế nữa, có rất ít nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh xã hội trên cơ sở SCCT Do đó, nghiên cứu này hình thành và phát triển nghiên cứu dựa trên cả 2 mô hình trên để bổ sung những khuyết thiếu mà một trong hai mô hình mang lại
Một hạn chế khác của các nghiên cứu này là thời gian tiến hành và địa điểm các cuộc khảo sát Trong các cuộc khảo sát của Bùi Ngọc Tuấn Anh và Phạm Xuân Lan (2021), của Preeti Tiwari, Anil K Bhat, và Jyoti Tikoria (2017), của Chaoyun Liang và cộng
sự (2021), Phan Tấn Lực (2020), Ludi Wishnu Wardana và cộng sự (2020) và
Trang 32Bingyan Tu và cộng sự (2021) và Obi-Anike và cộng sự (2022), thời điểm các cuộc khảo sát được thực hiện khác nhau, do đó chưa thể nói là đúng hoàn toàn ở mọi khu vực, mọi thời điểm Vì vậy, hiện nay, các ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên đã được phổ biến và đang được nuôi dưỡng, đề tài nghiên cứu này muốn thử nghiệm lại, cụ thể hơn và nhấn mạnh lại vai trò điều tiết của các phần thưởng bên ngoài đối với mối quan giữa kỳ vọng về kết quả và ý định khởi sự kinh doanh xã hội Phần thưởng bên ngoài được xem là rào cản đòi hỏi phải nỗ lực vượt qua khi phải điều hành một dự án kinh doanh và đưa ra những đánh giá tốt hơn về kết quả mong đợi của hoạt động kinh doanh xã hội, sau đó phát triển ý định trở thành doanh nhân xã hội Chính vì những
lý do trên, đề tài này đề xuất mô hình và các giả thiết như sau
2.3 Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu
2.3.1 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)
Trong lĩnh vực nghiên cứu ý định kinh doanh, một trong những mô hình được áp dụng và sử dụng nhiều nhất là lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (Engle và cộng sự, 2010) Đây được xem là lý thuyết duy nhất trong tâm lý học xem
ý định là yếu tố dự đoán có ảnh hưởng của hành vi, chủ yếu trong mọi trường hợp có kế hoạch và mục tiêu – định hướng hành vi Mô hình TPB, như được áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu SE, dựa trên ý tưởng rằng ý định thực hiện một số hành vi nhất định được hình thành bởi nhu cầu của một cá nhân để hoàn thành hành vi và có niềm tin vào khả năng của họ để đạt được nó Các nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng
mô hình TPB dường như phù hợp làm nền tảng lý thuyết cho sự hình thành SEI (Ernst, 2011; Forster & Grichnik, 2013; Hockerts, 2017; Mair & Noboa, 2006; Tiwari, Bhat,
& Tikoria, 2017; van Gelderen, Kautonen, & Fink, 2013) Một khía cạnh khác của
mô hình TPB khiến nó trở nên hấp dẫn đối với nghiên cứu về SEI là cấu trúc của TPB ban đầu có thể được thay đổi để phù hợp với các lĩnh vực nghiên cứu chính xác Trong lĩnh vực SEI, một số người đã đề xuất mở rộng cấu trúc TPB để cải thiện chất lượng kết quả có thể chấp nhận được (ví dụ: Ernst, 2011)
Trang 33Mặc dù nhiều nghiên cứu đã khám phá ý định của các cá nhân đối với SE bằng cách
sử dụng mô hình TPB, nhưng không có nỗ lực nào trước đó đã được thực hiện để định lượng một cách phân tích các kết quả từ các nghiên cứu này nhằm xác định các tổng hợp phân tích tổng hợp về mối quan hệ giữa các cấu trúc từ mô hình TPB Một phân tích đường dẫn phân tích tổng hợp có thể xác thực bằng chứng về việc liệu TPB
có phải là một khung SEI khái niệm thực tế để kiểm tra các yếu tố dự đoán hành vi
và quan hệ con người hỗ trợ SEI và các kết quả liên quan hay không Chính vì thế, nghiên cứu này là tổng kết lại và khẳng định rằng TPB vẫn là lý thuyết được sử dụng nhiều trong khởi sự kinh doanh xã hội
2.3.2 Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT)
Việc thành lập một doanh nghiệp xã hội không bao giờ được thực hiện vì mục đích giải trí và ngày càng được coi là một quyết định nghề nghiệp, đặc biệt là trong các cộng đồng có nhiều người thuộc thế hệ thiên niên kỷ và thanh niên, những người tìm kiếm công việc có ý nghĩa thay vì chỉ làm việc vì tiền (Tran & Von Korflesch, 2016)
Vì vậy, các tài liệu liên quan đến việc hình thành sở thích nghề nghiệp và các yếu tố quyết định lựa chọn nghề nghiệp cũng cần được quan tâm Xuất phát từ lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura (1986), SCCT đặt ra các khuôn khổ để xác định sở thích, lựa chọn và hiệu suất liên quan đến nghề nghiệp; SCCT cũng nhấn mạnh đến các quá trình chuyển tiếp từ trường học sang nơi làm việc (Lent và cộng sự, 2002) SCCT đã kết hợp hiệu quả của bản thân, kỳ vọng kết quả và mục tiêu cá nhân từ lý thuyết nhận thức xã hội làm các biến số quan trọng cho sở thích và lựa chọn nghề nghiệp Nó được đưa vào tài liệu phát triển nghề nghiệp bởi Hackett và Betz (1981)
và sau đó được coi là yếu tố dự báo có ảnh hưởng nhất đến sự nghiệp kinh doanh (Hackett và Lent, 1992)
2.3.3 Hiệu quả bản thân (SE)
Theo định nghĩa của Bandura (1986), nhận thức hiệu quả bản thân là “sự đánh giá của mọi người về khả năng của họ trong việc tổ chức và thực hiện những hành động
Trang 34cần thiết để đạt được các nhiệm vụ được chỉ định” Niềm tin về hiệu quả bản thân được coi là lời giải thích quan trọng nhất và toàn diện nhất về quyền tự quyết của cá nhân (Bandura, 1989) Xác suất bắt đầu một hoạt động có thể được giải thích một phần bởi mức độ mà một cá nhân tin rằng họ có thể thực hiện hành vi một cách hiệu quả (Bandura 1977, 1986)
Theo quan điểm nhận thức xã hội, hiệu quả bản thân không phải là một đặc điểm đơn nhất, cố định hoặc phi văn hóa mà là liên quan đến tập hợp của niềm tin dành riêng cho các lĩnh vực, hoạt động cụ thể và sự tương tác đến những người khác, hành vi và các yếu tố môi trường (Lent & Brown, 1996) Hiệu quả bản thân liên quan đến suy nghĩ của một cá nhân về việc liệu người đó có khả năng thành công với một nỗ lực
cụ thể hay không Không liên quan đến các chỉ số khách quan, có thể đo lường được
về khả năng hoặc kỹ năng, hiệu quả của bản thân liên quan đến một loạt niềm tin của bản thân về khả năng mà một người có được cho một nhiệm vụ cụ thể
Thuật ngữ hiệu quả bản thân được chú ý khi Bandura (1977) sử dụng trong lý thuyết học tập xã hội Ông định nghĩa hiệu quả bản thân là niềm tin của một người về khả năng của anh ấy/cô ấy để hoàn thành một nhiệm vụ nhất định (Bandura, 1999) Hiệu quả bản thân đề cập đến niềm tin của một cá nhân vào khả năng cá nhân của họ để hoàn thành một công việc hoặc một nhóm nhiệm vụ cụ thể (Bandura & Bandura 1997; Bandura, 1990) Hiệu quả bản thân được coi là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất cho việc lựa chọn nghề nghiệp (Bandura, 1971) Các nhà nghiên cứu khác nhau đã chứng minh rằng phát hiện ra rằng tính hiệu quả của bản thân dự kiến việc xác định cơ hội; do đó, việc nghiên cứu nó nên có sự liên quan đến các hiện tượng ý định kinh doanh (Krueger & Brazeal, 1994)
2.3.4 Kỳ vọng kết quả (SOE)
Kỳ vọng kết quả được định nghĩa là niềm tin cá nhân liên quan đến hậu quả và hiệu quả của việc tham gia vào các hoạt động lĩnh vực kinh doanh xã hội (Lent và cộng
sự, 2002) Kỳ vọng về kết quả có liên quan đến hậu quả dự kiến của hành động (ví
Trang 35dụ: "Nếu tôi làm điều này – điều gì sẽ xảy ra?"), là những yếu tố quyết định quan trọng đến mục tiêu hoặc ý định nghề nghiệp (Gore và Leuwerke 2000; Lent, Brown
và Hackett 1994) Kỳ vọng về kết quả ban đầu được Vroom (1964) xác định trong nỗ lực của ông trong việc đưa lý thuyết kỳ vọng vào các cơ sở tổ chức Theo Vroom, một cá nhân sẽ chọn một trong số các hành vi thay thế bằng cách xem xét hành vi dẫn đến kết quả được mong muốn nhất Kỳ vọng về kết quả đóng một vai trò quan trọng thúc đẩy các cá nhân hướng tới mục tiêu Kỳ vọng về kết quả bao gồm một số loại niềm tin về kết quả phản ứng, như niềm tin về sự củng cố từ bên ngoài, hiệu quả tự định hướng và kết quả từ quá trình thực hiện một hoạt động nhất định (Lent và cộng
sự, 1994) Bandura (1986) mô tả các kỳ vọng về kết quả là niềm tin của một cá nhân
về các kết quả có thể xảy ra của một hành động cụ thể Ông khẳng định rằng hành động của các cá nhân phụ thuộc vào sự đánh giá của họ về những gì họ có thể làm cũng như niềm tin của họ về những kết quả có thể xảy ra có thể xảy ra (kỳ vọng về kết quả) SCCT gợi ý rằng kỳ vọng kết quả là yếu tố quan trọng quyết định đến sở thích nghề nghiệp và mục tiêu lựa chọn (Gore & Leuwerke, 2000) Các tác giả khác cũng đã mô tả vai trò quan trọng mà kỳ vọng kết quả mang lại trong quá trình ra quyết định nghề nghiệp của cá nhân (Bieschke, Eberz, Bard, & Croteau, 1998; Francois, 1998; Morrow, Gore, & Campbell, 1996)
2.3.5 Chuẩn chủ quan (SN)
Chuẩn mực chủ quan liên quan đến áp lực xã hội nhận thức được bao gồm áp lực của bạn bè, gia đình và những người thân thuộc khác mà trong đó có thể thực hiện hoặc không thực hiện hành vi này Theo Ajzen định nghĩa chuẩn chủ quan là “nhận thức của một người về áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi đang được xem xét” (Ajzen & Fishbein, 1977) Còn Leroy và cộng sự (2009) thì lại cho rằng các chuẩn mực chủ quan thể hiện “niềm tin chuẩn mực về khởi nghiệp như một sự lựa chọn nghề nghiệp có thể là động lực để tuân thủ những niềm tin chuẩn mực này” Đặc biệt, một trong những yếu tố gây mâu thuẫn nhất trong thuyết TPB lại có sự góp mặt của chuẩn chủ quan Armitage và Conner (2001) đã cùng nhau tiến hành một
Trang 36cuộc nghiên cứu tổng hợp và đã phát hiện ra các chuẩn mực chủ quan là yếu tố dự báo yếu về ý định kinh doanh Ngoài ra, những áp lực chuẩn chủ quan này có thể trở thành điểm khởi đầu hoặc rào cản đối với sự phát triển của sự nghiệp doanh nhân, và điều này phụ thuộc vào môi trường xã hội
2.3.6 Thái độ kinh doanh (EA)
Thái độ đề cập đến hình thức kết hợp của niềm tin của một người và các phương pháp đánh giá kết nối với những niềm tin đó (Tiwari và cộng sự, 2017) Khía cạnh hành vi của một người phụ thuộc vào thái độ của người đó và cuối cùng, thái độ của người
đó mở rộng một phần quan trọng trong việc hình thành hành động ứng xử của một người (Appolloni và cộng sự,2009) Nói chung, thái độ đối với hành vi đo lường động
cơ của một người đối với một hành vi có mục đích cụ thể (Tiwari và cộng sự, 2017) Trong tài liệu về khởi nghiệp, theo Koço˘glu và cộng sự (2013), thái độ đối với hành
vi được coi là một yếu tố có ảnh hưởng cuối cùng tác động đến ý định, và trong một số nghiên cứu, thái độ đã được tìm thấy là một biến số có ảnh hưởng mạnh mẽ và quyết định đến ý định kinh doanh
Ajzen (1988) cũng đã cho rằng, thái độ khác với đặc điểm vì đặc điểm đánh giá của chúng đối với các mục tiêu cụ thể Hơn nữa, thái độ ảnh hưởng đến cá nhân ý định
và đồng thời ảnh hưởng đến hành vi (Ajzen, 2011) Điều đó có nghĩa là, thái độ có một vai trò thiết yếu trong việc tạo ra ý định và trở thành yếu tố quyết định hình thành hành vi (Nguyên và cộng sự, 2019)
Theo đó, thái độ kinh doanh được định nghĩa như cảm xúc, suy nghĩ và đóng góp cho tinh thần kinh doanh Vì vậy, hành vi kinh doanh là một chức năng của thái độ hướng tới giá trị, lợi ích và sự ưa thích của tinh thần kinh doanh (Ajzen & Fishbein, 1977)
Trang 37và có thể được thể hiện theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như hỗ trợ họ thông lời nói, lắng nghe một cách lịch sự và trao những cái ôm, tiền bạc, thức ăn, quà tặng, thời gian và những thứ khác linh hoạt cho ai đang cần Theo Figley (1995), lòng trắc
ẩn là một cảm xúc tự nhiên nảy sinh từ việc biết về một sự kiện đau thương mà một người khác đã trải qua mà thông qua đó một người kết nối xã hội với những người khác muốn giải quyết các vấn đề của họ và mong muốn mang lại sự ấm áp, giúp đỡ cho những người khác
Lòng trắc ẩn thể hiện được rõ ý thức sâu rộng về sự đồng cảm của một người đối với người khác (Miller và cộng sự, 2012) Quan sát những người khác trong tình trạng đau đớn và đau khổ có thể là một trải nghiệm của lòng trắc ẩn mà qua đó họ sẽ cố gắng giảm thiểu hoặc loại bỏ những đau khổ hoặc đau đớn của người khác (Muhamad
và cộng sự, 2020) Khát vọng nhiệt tình vì xã hội, được Grant định nghĩa là "mong muốn nỗ lực để mang lại lợi ích cho người khác" Chính xác là, hành động từ bi với
tư cách là người dẫn dắt xã hội, hoạt động thông qua sự liên kết tình cảm để giúp đỡ những người khác đang gặp đau khổ (Hofmann và cộng sự, 2011) Như vậy, có thể hiểu rằng lòng trắc ẩn giúp cho doanh nhân xã hội nhìn nhận, cảm thông và tâm huyết với những người đang gặp khó khăn hoặc với các vấn đề xã hội và môi trường Họ
có quyết tâm vào việc giải quyết các vấn đề này, thay vì chỉ tập trung vào việc tạo ra lợi nhuận
2.3.8 Khả năng kết nối (NA)
Khả năng kết nối là bao gồm khả năng và năng lực tương tác một cách nhất quán với mọi người để trao đổi thông tin quan trọng, tăng cường sự tăng trưởng và phát triển trong nỗ lực của một người và duy trì các mối quan hệ có thể trở nên rất quan trọng trong tương lai (Álvarez và cộng sự, 2009) Đó là khả năng phát triển các mối quan hệ tin cậy lâu dài, tương tác với những người khác một cách hiệu quả, đàm phán tốt, giao tiếp hiệu quả và duy trì một mạng lưới quan hệ cá nhân thân thiết (Hockerts, 2015) Khả năng kết nối không nhất thiết phải là một đặc điểm hoặc bẩm sinh; Đúng hơn, nó là một tài sản cho phép mọi người nhận được những gì họ cần từ
Trang 38người khác và cũng cung cấp cho những người khác những gì họ yêu cầu Trên thực tế, nhu cầu về khả năng kết nối nằm ở chỗ, mạng xã hội là sự phát triển đa diện liên kết và lọc thông tin, mang lại cảm giác nhận dạng tốt, phân phối tài nguyên, cũng như định hình hành vi của những người chú ý đến chúng (Torres, 2012)
2.3.9 Phần thường bên ngoài (ER)
Phần thưởng bên ngoài, hoặc xu hướng coi trọng công việc chủ yếu là đạt được lợi ích tiền bạc, uy tín và quyền lực cá nhân Ví dụ, một người có nét tính cách hướng ngoại mạnh mẽ có thể sẽ báo cáo mức độ hài lòng cao trong công việc với một công việc được trả lương tương đối cao (Malka & Chatman, 2003) Phần thưởng hoặc mục tiêu bên ngoài đã được chứng minh để nâng cao khả năng mong muốn kinh doanh được nhận thức và ý định kinh doanh (Vuorio và cộng sự, 2018); tuy nhiên, vai trò kiểm duyệt của phần thưởng bên ngoài có thể hoạt động khác nhau trong bối cảnh của SEI Bởi vì doanh nghiệp xã hội nhấn mạnh đến giá trị xã hội, khác với doanh nghiệp thương mại (Ip & Liang, 2019), những người có mong muốn mạnh mẽ về phần thưởng bên ngoài có thể ít có khả năng chuyển đổi kỳ vọng kết quả thuận lợi sang SEI do mâu thuẫn giữa nghề nghiệp mục tiêu (phần thưởng bên ngoài) và bản chất của loại hình doanh nghiệp xã hội
2.4 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.4.1 Mối quan hệ giữa kỳ vọng kết quả đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội
Mối quan hệ tích cực giữa kỳ vọng kết quả và ý định được chỉ ra bởi lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) (Lent và cộng sự, 1993) Kỳ vọng kết quả đề cập đến sự tin tưởng của một cá nhân về hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực của việc họ tham gia vào một nhiệm vụ hoặc hoạt động (Lent và Brown, 2008) Kỳ vọng kết quả cũng
có mối quan hệ mật thiết đến ý định kinh doanh (Liguori và cộng sự, 2018) Khi các
cá nhân có kỳ vọng về kết quả tích cực hơn về mục tiêu kinh doanh trong tương lai của họ dẫn đến họ có nhiều khả năng hình thành nên ý định khởi sự kinh doanh xã hội hơn Ngược lại, khi các kỳ vọng về kết quả là bất lợi và tiêu cực thì các ý định
Trang 39kinh doanh có khả năng thấp hơn Trên thực tế, với đối tượng nghiên cứu là sinh viên bậc đại học, yếu tố kỳ vọng kết quả đã giải thích hơn một nửa sự sai khác trong ý định khởi sự kinh doanh của họ (Segal và cộng sự, 2002)
Các nghiên cứu khác trong lịch sử đã cho thấy một cách rõ ràng các kỳ vọng kết quả
có tác động tích cực đến ý định khởi sự kinh doanh, nó được định vị rằng hiệu ứng này cũng sẽ được tìm thấy khi xem xét hiệu quả của từng lĩnh vực cụ thể:
H 1 : Kỳ vọng kết quả tác động tích cực đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội
2.4.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả bản thân đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội
Hiệu quả bản thân đề cập đến niềm tin của một cá nhân vào khả năng cá nhân của họ
để hoàn thành một công việc hoặc một nhóm nhiệm vụ cụ thể (Bandura, 1997; Albert Bandura, 1990) Tính hiệu quả của doanh nhân được mô tả là mức độ mà một người tin rằng họ có thể bắt đầu thành công một liên doanh kinh doanh mới (Sanchez, 2010) Hiệu quả bản thân được coi là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất cho việc lựa chọn nghề nghiệp (Bandura, 1971) Các nhà nghiên cứu khác nhau đã chứng minh rằng phát hiện ra rằng tính hiệu quả của bản thân dự kiến việc xác định cơ hội; do đó, luôn nên nghiên cứu nó liên quan đến các hiện tượng ý định kinh doanh (Krueger & Brazeal, 1994) Hiệu quả bản thân được coi là một trong những tiền đề mạnh nhất ảnh hưởng đến quá trình quyết định của con người Trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp được thực hiện bởi Armitage & Conner (2001), hiệu quả bản thân nổi lên như một trong những yếu tố ảnh hưởng nhất đến việc dự đoán các ý định kinh doanh Tầm quan trọng của hiệu quả bản thân như một tiền đề có ảnh hưởng cũng được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu kinh doanh xã hội xác định Trong nghiên cứu kinh doanh xã hội, Mair & Noboa (2006) gợi ý rằng 'mức độ hiệu quả cao cho phép một người cảm thấy việc tạo ra một liên doanh xã hội là khả thi, điều này ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành ý định hành vi tương ứng (Mair & Marti, 2006) Mặc dù trong nghiên cứu Ernst (2014), hiệu quả của bản thân không cho thấy bất kỳ
Trang 40ý nghĩa nào với các tiêu chuẩn chủ quan nhưng cho thấy mối quan hệ tích cực có ý nghĩa đối với cả thái độ trở thành một doanh nhân xã hội và kiểm soát hành vi nhận thức
Ngoài ra, Smith & Woodworth (2012) phát hiện ra rằng giáo dục khởi nghiệp xã hội cần nỗ lực để phát triển hiệu quả kinh doanh xã hội của thanh niên Hockerts (2015) cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hiệu quả bản thân trong nghiên cứu của mình
Do đó, hiệu quả bản thân không chỉ là một yếu tố quan trọng của việc hình thành ý định trong các nghiên cứu về ý định kinh doanh mà còn trong các nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh xã hội Từ đó, đề tài này hình thành các giả thuyết như sau:
H 2 : Hiệu quả bản thân ảnh có tác động tích cực đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội
2.4.3 Mối quan hệ giữa thái độ kinh doanh với ý định khởi sự kinh doanh xã hội
Theo Prieto (2010) định nghĩa ý định kinh doanh xã hội là mục đích mà một người nào đó thể hiện khi thành lập công ty xã hội với mục đích tạo ra giá trị xã hội thông qua đổi mới Thái độ đề cập đến hình thức kết hợp của niềm tin của một người và các phương pháp đánh giá kết nối với những niềm tin đó (Tiwari và cộng sự, 2017) Khía cạnh hành vi của một người phụ thuộc vào thái độ của người đó và cuối cùng, thái độ của người đó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành động ứng xử của một người (Appolloni và cộng sự, 2009) Nói chung, thái độ đối với hành vi đo lường động cơ của một người đối với một hành vi có mục đích cụ thể (Tiwari và cộng sự, 2017) Có một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa thái độ và ý định kinh doanh (Rodríguez và cộng sự, 2013; Paço và cộng sự, 2011; Liñán và cộng sự, 2011) Trong các tài liệu về khởi nghiệp, thái độ đối với hành vi được coi là một yếu tố có ảnh hưởng cuối cùng tác động đến ý định kinh doanh (Koço ̆glu & Hassan, 2013), và trong một số nghiên cứu, thái độ đã được tìm thấy là một biến số có ảnh hưởng mạnh mẽ và quyết định ảnh hưởng đến ý định kinh doanh (Zampetakis và cộng