1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại việt nam

225 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả Đỗ Thanh Hương
Người hướng dẫn PGS, TS. Nguyễn Văn Minh, PGS, TS. Nguyễn Thị Mùi
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu (11)
  • 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (13)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (13)
  • 4. Hướng tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu (14)
  • 5. Đóng góp của luận án (18)
  • 6. Kết cấu của luận án (18)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (19)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới (19)
      • 1.1.1. Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả tài chính của ngân hàng (19)
      • 1.1.2. Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả phi tài chính của ngân hàng (28)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (30)
    • 1.3. Khoảng trống nghiên cứu (32)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG (34)
    • 2.1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử (34)
      • 2.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử (34)
      • 2.1.2. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử (37)
      • 2.1.3. Ưu điểm và hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử (39)
      • 2.1.4. Các kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử (45)
      • 2.1.5. Một số dịch vụ ngân hàng điện tử (49)
      • 2.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử (54)
    • 2.2. Đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng (57)
      • 2.2.1. Khung xếp hạng hoạt động ngân hàng CAMELS (57)
      • 2.2.2. Một số tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng (61)
    • 2.3. Tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động ngân hàng (67)
      • 2.3.1. Tác động đến kết quả tài chính của ngân hàng (67)
      • 2.3.2. Tác động đến kết quả phi tài chính của ngân hàng (71)
    • 2.4. Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử hướng tới mô hình ngân hàng số nhằm nâng cao kết quả hoạt động ngân hàng (78)
      • 2.4.1. Về định danh số và xây dựng hệ sinh thái số (78)
      • 2.4.2. Về đảm bảo an toàn bảo mật (81)
      • 2.4.3. Về tăng cường nguồn lực tài chính ngân hàng (83)
      • 2.4.4. Về đổi mới hệ thống ngân hàng (84)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (86)
    • 3.1. Một số chính sách và quy định pháp luật của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng điện tử (86)
    • 3.2. Kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014- (89)
      • 3.2.1. Một số kết quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam (89)
      • 3.2.2. Một số kết quả phi tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam (100)
    • 3.3. Thực trạng phát triển ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt nam.93 1. Hạ tầng thanh toán điện tử của các ngân hàng thương mại Việt Nam (103)
      • 3.3.2. Giá trị giao dịch qua các kênh phân phối điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam (109)
      • 3.3.3. Đánh giá chung thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam (114)
    • 4.1. Đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam (123)
      • 4.1.1. Xây dựng mô hình đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam (123)
      • 4.1.2. Kết quả mô hình ước lượng đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử tới kết quả tài chính của ngân hàng (135)
    • 4.2. Đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử tới các kết quả hoạt động phi tài chính của ngân hàng (143)
      • 4.2.1. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (144)
      • 4.2.2. Đối tượng và phương thức phỏng vấn (145)
      • 4.2.3. Kết quả phỏng vấn (145)
    • 4.3. Đánh giá chung tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động các ngân hàng thương mại Việt Nam (149)
      • 4.3.1. Tác động tích cực của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động ngân hàng 139 4.3.2. Một số tác động hạn chế khi triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động ngân hàng (149)
  • CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ (152)
    • 5.1. Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và định hướng số hóa ngành ngân hàng tại Việt Nam (152)
      • 5.1.1. Bối cảnh cách mạnh công nghiệp 4.0 (152)
      • 5.1.2. Số hóa ngành ngân hàng Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (155)
    • 5.2. Giải pháp phát huy tác động tích cực và giảm thiểu hạn chế trong triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động các NHTM Việt Nam (157)
      • 5.2.1. Giải pháp phát huy tác động tích cực của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động ngân hàng (157)
    • 5.3. Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước (166)
      • 5.3.1. Kiến nghị về kiện toàn hệ thống pháp luật (166)
      • 5.3.2. Kiến nghị về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (167)
      • 5.3.3. Kiến nghị về hạ tầng công nghệ thông tin và thanh toán quốc gia (168)
      • 5.3.4. Kiến nghị về xây dựng cơ sở dữ liệu số quốc gia (170)
  • KẾT LUẬN (172)

Nội dung

ĐỖ THANH HƯƠNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 9.34.02.01 Luậ

Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang làm thay đổi mạnh mẽ ngành tài chính ngân hàng, khẳng định đây là lĩnh vực tiên phong trong xu hướng mới Trong bối cảnh các tổ chức tài chính đang nỗ lực phục hồi sau khủng hoảng, sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính (Fintech) đã tạo ra thách thức lớn khi cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng Để đối phó với sự phát triển của các dịch vụ tài chính điện tử sáng tạo từ Fintech, các ngân hàng thương mại buộc phải đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh, tăng cường kết nối và cập nhật công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán, đầu tư và các dịch vụ tài chính trong nền kinh tế số.

Trong bối cảnh nền kinh tế số, xu hướng số hóa ngân hàng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu Nhiều ngân hàng đã thành công trong việc triển khai mô hình ngân hàng số, trong khi hầu hết các ngân hàng khác đang ở các giai đoạn chuyển đổi số khác nhau Tại Việt Nam, các ngân hàng chủ yếu đang ở giai đoạn đầu của chuyển đổi số, tập trung vào phát triển dịch vụ ngân hàng ứng dụng kỹ thuật số, ngân hàng điện tử và ngân hàng qua mạng Đặc biệt, phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại là bước tiến quan trọng để tiến tới mô hình ngân hàng số.

Các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đang tích cực phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử để cung cấp các giải pháp ngân hàng hiện đại và công nghệ cao cho cả khách hàng tổ chức và cá nhân Dịch vụ này đã được triển khai từ năm 2002 với các hình thức đơn giản như máy rút tiền ATMs và máy thanh toán thẻ POS, nhưng chỉ thực sự bùng nổ khi Internet trở nên phổ biến, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng trực tuyến Đến năm 2004, dịch vụ ngân hàng điện tử đã có những bước tiến đáng kể.

Vietcombank là ngân hàng tiên phong tại Việt Nam trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến Sau hơn 15 năm phát triển, hiện có 78 tổ chức tín dụng tại Việt Nam cung cấp dịch vụ thanh toán qua Internet, trong đó 47 ngân hàng thương mại đã triển khai dịch vụ thanh toán qua di động vào năm 2019 Các ngân hàng đã tích hợp nhiều tính năng thanh toán trên thẻ, cho phép người dùng thanh toán trực tuyến cho hàng hóa, dịch vụ, cũng như thanh toán tiền điện, nước và bưu chính viễn thông Đồng thời, họ cũng đang nghiên cứu hợp tác với các công ty công nghệ để ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong thanh toán như nhận diện khuôn mặt, sinh trắc vân tay và mã phản hồi nhanh.

Dịch vụ ngân hàng điện tử đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy hội nhập quốc tế Khách hàng được hưởng nhiều lựa chọn với tính tiện ích cao và chi phí thấp hơn so với ngân hàng truyền thống Đồng thời, các ngân hàng thương mại cũng thu hút thêm nguồn khách hàng giá trị cao và đa dạng hóa loại hình dịch vụ.

Dịch vụ ngân hàng điện tử (SP - DV) không chỉ thúc đẩy huy động vốn và cho vay mà còn giúp xây dựng hình ảnh ngân hàng, từ đó gia tăng doanh thu và tiết kiệm chi phí Nhiều nghiên cứu đã chứng minh những tác động tích cực của dịch vụ này trong bối cảnh nền kinh tế số Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng sự xuất hiện của ngân hàng điện tử trong giai đoạn đầu phát triển chưa thực sự tạo ra ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của ngân hàng.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam đang thu hút sự chú ý của các nhà khoa học và nghiên cứu viên Đề tài "Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam" được chọn làm luận án tiến sỹ nhằm đánh giá sự ảnh hưởng này Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để xác định tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử, từ đó đề xuất các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử mang lại ba tác động tích cực, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng và giảm thiểu những hạn chế trong bối cảnh số hóa ngành ngân hàng hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tối ưu hóa các tác động tích cực của dịch vụ NHĐT.

(i) Tổng quan lý thuyết về dịch vụ NHĐT, đặc điểm dịch vụ NHĐT, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT

Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc cung cấp dịch vụ NHĐT không chỉ nâng cao hiệu quả tài chính mà còn cải thiện khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong bối cảnh thị trường ngày càng khốc liệt.

(iii) Lựa chọn và xây dựng mô hình đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT tới KQHĐ của các NHTM Việt Nam

(iv) Phân tích, đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ các NHTM

Việt Nam bằng các phương pháp định lượng và định tính

(v) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề xuất giải pháp chiến lược cho các

NHTM nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của dịch vụ NHĐT.

Hướng tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của luận án bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu nghiên cứu, tiếp theo là tổng quan tài liệu và sử dụng các lý luận hiện có để phát triển giả thuyết nghiên cứu Các giả thuyết này sẽ được kiểm định và xác nhận hoặc phản bác, từ đó góp phần phát triển các lý luận, tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo (Saunders và cộng sự, 2009).

- Hướng tiếp cận nghiên cứu:

Việc lựa chọn phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phụ thuộc vào mục tiêu và bản chất của đề tài Các chủ đề có nhiều tài liệu hỗ trợ thường sử dụng hướng tiếp cận diễn giải để xây dựng cơ sở lý thuyết và giả thuyết Ngược lại, những đề tài mới, ít tài liệu và đang tranh luận sẽ phù hợp hơn với phương pháp quy nạp.

Theo Saunder et al (2009), hướng tiếp cận diễn giải hay còn được hiểu là phương pháp kiểm định lý thuyết (testing theory) liên quan đến sự phát triển của

Lý thuyết được kiểm chứng qua các thử nghiệm nghiêm ngặt, phổ biến trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, cho phép dự đoán và kiểm soát các hiện tượng dựa trên cơ sở lý luận hiện có (Collis & Hussey, 2003) Phương pháp tiếp cận diễn giải hiệu quả trong việc kiểm định lý thuyết theo chiều từ trên xuống.

Năm bước phát triển của một nghiên cứu theo hướng diễn giải theo Robson

1 Đề xuất giả thuyết từ cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu

2 Diễn giải giả thuyết trong điều kiện cụ thể (xác định thang đo và các biến số) thuyết

3 Sử dụng các phương pháp khác nhau để kiểm định giả thuyết

4 Kiểm tra kết quả giả thuyết, kết luận chấp nhận hay không chấp nhận lý

Sửa đổi lý thuyết dựa trên kết quả phát hiện là cần thiết, đặc biệt trong nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa các biến Hướng tiếp cận diễn giải sử dụng cả dữ liệu định lượng và định tính, kiểm soát các biến trong thử nghiệm để đảm bảo độ tin cậy Việc chọn mẫu đủ kích thước là quan trọng để hình thành quy luật Trong nghiên cứu “Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, nghiên cứu sinh áp dụng hướng tiếp cận diễn giải để kiểm định lý thuyết dựa trên các nghiên cứu hiện có trong và ngoài nước.

Luận án xây dựng mô hình đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Mô hình này được điều chỉnh dựa trên các biến đã được thử nghiệm trước đây, phù hợp với số lượng và đặc điểm của các NHTM tại Việt Nam Qua đó, luận án tiến hành kiểm định giả thuyết bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp.

6 định lượng và định tính về tác động tích cực hoặc tiêu cực của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ các ngân hàng

Để thu thập thông tin cho nghiên cứu, tác giả đã áp dụng phương pháp tổng hợp và kế thừa tài liệu từ các nghiên cứu trước đây cả trong nước và quốc tế Từ đó, tác giả xác định các vấn đề nghiên cứu, đặt ra giả thuyết và tiến hành kiểm định giả thuyết thông qua các phương pháp xử lý thông tin định tính và định lượng Các nguồn tài liệu được sử dụng để thu thập thông tin rất đa dạng và phong phú.

Các nghiên cứu, bao gồm giáo trình, luận án và tạp chí, cả trong và ngoài nước, đã chỉ ra tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) đến kết quả hoạt động của ngân hàng Những công trình này cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và ảnh hưởng của NHĐT trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tài chính.

(ii) Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế trong phát triển dịch vụ NHĐT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng;

Văn bản pháp luật tại Việt Nam quy định về dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, giao dịch điện tử và đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước, cũng như số liệu công bố từ Tổng cục Thống kê và thông tin tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước.

Hiện nay, có nhiều phương pháp nghiên cứu (PPNC) được phân loại theo các tiêu chí khác nhau, cho phép lựa chọn sử dụng độc lập hoặc kết hợp để đạt được mục tiêu nghiên cứu hiệu quả Phương pháp kết hợp (mixed method) đang được ưa chuộng nhất, với nhiều thuật ngữ như PP tích hợp, PP kết hợp và PP đa phương pháp được sử dụng để mô tả phương pháp này (Bryman, 2006; Tashakkori & Teddlie, 2010).

Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp PPNC định tính và định lượng, cho phép nhà nghiên cứu khai thác ưu điểm và khắc phục nhược điểm của từng phương pháp Điều này giúp xây dựng lý thuyết có tính khoa học thực tiễn.

Johnson, Onwuegbuzie, & Turner (2007) đã xác định các đặc tính của phương pháp nghiên cứu kết hợp, bao gồm: (i) việc thu thập cả dữ liệu định tính và định lượng để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu; (ii) phân tích cả hai loại dữ liệu với quy trình thu thập và xử lý chặt chẽ; (iii) tích hợp dữ liệu trong thiết kế phân tích thông qua hợp nhất, kết nối hoặc nhúng dữ liệu, với thời gian thu thập có thể đồng thời hoặc tuần tự; và (iv) các quy trình này có thể dựa trên một quan điểm triết học hoặc lý thuyết đã được hình thành trước đó.

Trong khuôn khổ đề tài tác giả sử dụng phương pháp kết hợp để trả lời câu hỏi nghiên cứu:

Dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tài chính của ngân hàng, được thể hiện qua các tỷ số tài chính quan trọng như ROA (tỷ suất lợi nhuận trên tài sản), ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) và NIM (tỷ suất lợi nhuận thuần từ lãi) Việc phân tích mối quan hệ giữa dịch vụ NHĐT và các chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng.

(ii) Dịch vụ NHĐT có ảnh hưởng gì đến hiệu quả hoạt động phi tài chính của ngân hàng?

(iii) Giải pháp phát huy những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ của các NHTM Việt Nam?

Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện trước, sử dụng nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp do NCS thu thập, nhằm đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến kết quả kinh doanh ngân hàng thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng Đồng thời, phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng để phân tích và giải thích các dữ liệu định tính thu thập được thông qua phỏng vấn chuyên gia Để đảm bảo tính nhất quán trong nghiên cứu, các dữ liệu định tính được xử lý theo hướng diễn giải, thông qua hai quá trình tóm tắt và phân nhóm nhằm làm rõ kết quả nghiên cứu định lượng.

8 lượng và giải quyết những câu hỏi định tính khác mà nghiên cứu định lượng chưa xử lý được.

Đóng góp của luận án

 Hệ thống hóa lý thuyết về dịch vụ NHĐT, tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ ngân hàng, xét về góc độ tài chính và phi tài chính

Dựa trên các mô hình nghiên cứu toàn cầu, chúng tôi thiết kế một mô hình phù hợp để đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Phỏng vấn chuyên gia giúp cung cấp những phân tích có giá trị thực tiễn, đồng thời làm rõ những hạn chế mà mô hình định lượng chưa thể giải quyết.

Kết hợp kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất các giải pháp cụ thể cho nhà chính sách và lãnh đạo ngân hàng Mục tiêu là phát huy tác động tích cực của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) trong khi hạn chế các tác động tiêu cực Qua đó, dịch vụ NHĐT sẽ trở thành công cụ hiệu quả giúp ngân hàng nâng cao hiệu suất hoạt động.

Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án được chia làm 5 chương:

 Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

 Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử tới kết quả hoạt động của ngân hàng

 Chương 3: Kết quả hoạt động và thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của các ngân hàng thương mại Việt Nam

 Chương 4: Đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

 Chương 5: Một số giải pháp và kiến nghị

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả tài chính của ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng, với tiềm năng mang lại lợi nhuận cao và chi phí thấp Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm tại nhiều quốc gia cho thấy kết quả không đồng nhất, chủ yếu tập trung vào tác động của dịch vụ NHĐT đến lợi nhuận của ngân hàng Những nghiên cứu này được phân loại thành hai nhóm dựa trên mức độ phát triển của quốc gia: các nước đang phát triển và các nước phát triển.

 Nghiên cứu ở các nước phát triển

- Các nghiên cứu cho thấy kết quả tác động tích cực của dịch vụ NHĐT đến kết quả hoạt động ngân hàng

Các nghiên cứu của Hasan et al (2002), Kagan et al (2005), DeYoung

(2005, 2007), Hernando, I và Nieto, M J., (2007), Onay, Ozsoz và Helvacioglu

Nghiên cứu của Delgado et al (2004, 2007) và Onay cùng Ozsoz (2013) chỉ ra rằng ứng dụng NHĐT có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng, nhưng với một độ trễ thời gian nhất định, đặc biệt là ở các nước Châu Âu và Hoa Kỳ Thêm vào đó, một số nghiên cứu khác của Egland et al cũng hỗ trợ cho kết luận này.

Nghiên cứu của Sullivan (2000) và Sathye (2005) cho thấy rằng dịch vụ ngân hàng qua mạng (internet banking) không có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Hoa Kỳ và Úc.

DeYoung (2005) đã tiến hành đánh giá hiệu quả tài chính của các dịch vụ ngân hàng điện tử tại Mỹ, cho thấy rằng lợi nhuận của các ngân hàng điện tử tương đối thấp so với ngân hàng truyền thống Nguyên nhân chính bao gồm chi phí lao động cao, doanh thu từ phí dịch vụ thấp và hạn chế trong việc chi trả vốn tiền gửi Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng điện tử có tiềm năng phát triển trong tương lai.

Các ngân hàng công nghệ đang có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các ngân hàng truyền thống, nhờ vào việc ứng dụng công nghệ và phương tiện điện tử trong hoạt động Theo nghiên cứu của Delgado và cộng sự (2004, 2006), các ngân hàng ở Châu Âu cũng cho thấy kết quả tương tự Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế dựa trên công nghệ được nêu trong nghiên cứu của Delgado và cộng sự (2004, 2007) rõ ràng hơn so với các ước tính từ nghiên cứu của DeYoung.

Nghiên cứu của DeYoung et al (2007) về ảnh hưởng của Internet đến hiệu suất của các ngân hàng cộng đồng tại Hoa Kỳ cho thấy việc áp dụng công nghệ web từ năm 1999 đến 2001 đã dẫn đến sự gia tăng lợi nhuận rõ rệt Sử dụng biến giả để phản ánh dịch vụ ngân hàng trực tuyến, kết quả cho thấy việc thêm kênh phân phối Internet vào mạng lưới chi nhánh đã làm tăng thu nhập, chủ yếu từ phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi Sự tiện lợi của ngân hàng trực tuyến đã khuyến khích khách hàng tiếp tục sử dụng dịch vụ và sẵn sàng chi trả thêm cho các dịch vụ đã sử dụng trước đó.

Hernando, I và Nieto, M J., (2007) với nghiên cứu “Is the Internet Delivery

Nghiên cứu "Channel changing Banks’ Performance?" đã xác định và ước tính tác động của việc sử dụng trang web giao dịch đến hiệu suất tài chính của 72 ngân hàng thương mại tại Tây Ban Nha trong giai đoạn 1994-2002 Các chỉ tiêu tài chính được sử dụng để đo lường hiệu suất hoạt động bao gồm tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản, chi phí công nghệ và tiếp thị trên tổng tài sản, cùng với các chỉ tiêu lợi nhuận như ROA, ROE, tỷ suất lãi trung gian (NIM) và hoa hồng môi giới chứng khoán Kết quả cho thấy rằng việc chấp nhận web giao dịch của ngân hàng cần thời gian để phát huy hiệu quả, với việc sử dụng Internet như một kênh phân phối sản phẩm ngân hàng giúp giảm dần chi phí vận hành, đặc biệt là chi phí nhân viên, tiếp thị và công nghệ thông tin, nhưng chỉ có ý nghĩa thống kê sau một thời gian nhất định.

Sau một năm rưỡi áp dụng, việc giảm chi phí đã cải thiện khả năng sinh lời của các ngân hàng, ảnh hưởng tích cực đến ROA và thu nhập từ hoa hồng và phí Sau ba năm, tác động này cũng mang lại lợi ích cho ROE, tuy nhiên không có ảnh hưởng đáng kể đến NIM của ngân hàng.

Nghiên cứu của Kegan và cộng sự (2005) đã phân tích tác động của dịch vụ ngân hàng trực tuyến đến hiệu suất của các ngân hàng tại Mỹ, sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) Mẫu nghiên cứu bao gồm 10 ngân hàng cộng đồng với tổng tài sản dưới một tỷ đô la, hoạt động tại Iowa, Minnesota, Montana, North Dakota và South Dakota Kết quả cho thấy các ngân hàng cung cấp dịch vụ online banking có hiệu suất tốt hơn so với các ngân hàng không có dịch vụ này, đồng thời online banking cũng giúp cải thiện khả năng thu nhập và chất lượng tài sản của các ngân hàng, thể hiện qua chỉ số lợi nhuận/vốn chủ sở hữu.

Nghiên cứu của Hasan và cộng sự (2002) cho thấy các tổ chức ngân hàng điện tử tại Ý hoạt động hiệu quả hơn đáng kể so với ngân hàng truyền thống Các chỉ số rủi ro của ngân hàng điện tử cũng thấp hơn, trong khi tỷ lệ Tài sản/Nợ cho thấy ngân hàng điện tử có giá trị trung bình cao hơn và ít phụ thuộc vào tiền gửi Tuy nhiên, ngân hàng điện tử gặp khó khăn về chi phí không lãi suất do yêu cầu đầu tư công nghệ ban đầu cao, dẫn đến tăng chi phí hoạt động ngoài lãi.

Nghiên cứu của Onay, Ozsoz và Helvacioglu (2008) đã chỉ ra ảnh hưởng của ngân hàng trực tuyến đến khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ Phân tích này tập trung vào 13 ngân hàng đã triển khai dịch vụ ngân hàng trực tuyến trong nước.

Kết quả nghiên cứu từ năm 1996 đến 2005 cho thấy không có mối quan hệ giữa ngân hàng trực tuyến với thu nhập lãi cận biên, thu nhập từ phí và hoa hồng Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng điện tử bắt đầu đóng góp vào ROE của ngân hàng với độ trễ hai năm, trong khi tác động tiêu cực được quan sát thấy với độ trễ một năm, tương đồng với nghiên cứu của Hernando và Nieto (2007) Do đó, cần tính toán hợp lý quyết định đầu tư vào dịch vụ ngân hàng điện tử để giải thích chi phí và doanh thu ảnh hưởng đến hiệu suất ngân hàng Đến năm 2013, Onay và Ozsoz đã sử dụng dữ liệu từ 1990 để tiếp tục nghiên cứu.

Nghiên cứu năm 2008 của 18 ngân hàng bán lẻ tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy việc áp dụng dịch vụ ngân hàng điện tử có mối liên hệ tích cực với lợi nhuận, tiền gửi và cho vay trên mỗi chi nhánh Tuy nhiên, sau 2 năm áp dụng, dịch vụ này lại có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng Các tác giả chỉ ra rằng nguyên nhân của tác động tiêu cực này là do dịch vụ ngân hàng điện tử làm gia tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng, dẫn đến thu nhập lãi thấp hơn.

 Nghiên cứu ở các nước đang phát triển

Nghiên cứu ở các nước đang phát triển như Jordan, Pakistan, Bangladesh, Iran, Ả Rập Saudi và Kenya cho thấy dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có ảnh hưởng nhưng chưa rõ rệt đối với kết quả hoạt động ngân hàng (KQHĐ) Các nghiên cứu của Rahman (2007), Malhotra và Singh (2009), Nader (2011), Josiah và Nancy (2012), Oyewole et al (2013) và Rauf và Qiang (2014) chỉ ra rằng NHĐT cải thiện hiệu suất hoạt động ngân hàng ở một mức độ nhất định Tuy nhiên, các nghiên cứu của Siam (2006), Khrawish, A.H và Al-Sa'di, N.M (2011) cùng Akhisar et al (2015) cho thấy chi phí cơ sở hạ tầng cao trong phát triển dịch vụ NHĐT, kết hợp với số lượng khách hàng chưa tương xứng, đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng trong các nước này.

Nghiên cứu của Khrawish, A.H và Al-Sa'di, N.M (2011) mang tên “Tác động của ngân hàng điện tử đến lợi nhuận ngân hàng: Bằng chứng từ Jordan” nhằm kiểm tra ảnh hưởng của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả lợi nhuận của các ngân hàng tại Jordan trong giai đoạn 2000-2009 Biến số đại diện cho dịch vụ ngân hàng điện tử trong nghiên cứu được xác định thông qua một ma trận các biến giả “INTERNET”.

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Số lượng nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng đầu tư tại Việt Nam còn hạn chế so với các lĩnh vực khác trong tài chính ngân hàng, đặc biệt là nghiên cứu tác động của dịch vụ này đến kết quả hoạt động của ngân hàng.

Nghiên cứu của Dinh Van (2015) về tác động của dịch vụ Internet banking đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Việt Nam đã sử dụng mô hình định lượng từ năm 2009 đến 2014 Trong nghiên cứu, Internet banking được xem như biến giả, trong khi các chỉ tiêu tài chính như ROA, ROE, chi phí hoạt động và thu nhập ngoài lãi là biến phụ thuộc Kết quả cho thấy Internet banking có tác động tích cực đến thu nhập ngoài lãi và lợi nhuận của ngân hàng với độ trễ 3 năm, nhưng không có mối liên hệ với chi phí hoạt động Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở phương pháp định lượng và chưa phản ánh đầy đủ tác động của dịch vụ này do thiếu dữ liệu lượng hóa cụ thể và cần áp dụng thêm các phương pháp định tính như phỏng vấn chuyên gia để nâng cao độ chính xác.

Một số nghiên cứu khác có cùng đối tượng nghiên cứu là dịch vụ NHĐT, dịch vụ thanh toán thẻ, TTKDTM như:

- Luận án tiến sỹ (LATS) của NCS Phạm Thu Hương (2012) “Phát triển dịch vụ NHĐT tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế 2012”, Đại học ngoại thương;

Nghiên cứu của Phạm Long (2012) đã xây dựng một mô hình về chất lượng dịch vụ ngân hàng đầu tư tại Việt Nam, được trình bày trong Kỷ yếu Hội thảo Kinh doanh hàng năm lần 2 tại Đại học Sam Houston State.

- Nghiên cứu của Trương Thị Vân Anh và Lê Văn Huy (2008): “Mô hình nghiên cứu chấp nhận E-Banking tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số

Nghiên cứu của Trần Đức Thắng (2016) tại Đại học KTQD đã chỉ ra mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử và mức độ thỏa mãn cũng như mức độ trung thành của khách hàng ở Việt Nam.

- LATS của Nguyễn Danh Lương (2003): “Những giải pháp nhằm phát triển hình thức thanh toán thẻ ở Việt Nam”, Học viện ngân hàng và;

- LATS của Trịnh Thanh Huyền (2012): Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTM ở Việt Nam, Học viện tài chính

Các nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) tại Việt Nam đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về dịch vụ này, bao gồm đặc điểm và phân loại sản phẩm - dịch vụ NHĐT Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc đánh giá sự phát triển của dịch vụ NHĐT và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nó, đồng thời tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự chấp nhận dịch vụ NHĐT từ phía khách hàng tại các ngân hàng Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu

Hiện nay, nghiên cứu về tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam còn rất hạn chế Các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế chủ yếu tập trung vào phương pháp nghiên cứu định lượng hoặc định tính, mà chưa có nhiều nghiên cứu kết hợp đầy đủ cả hai phương pháp này.

Nghiên cứu về tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng cho thấy sự khác biệt rõ rệt, phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng ngân hàng, lịch sử phát triển dịch vụ NHĐT và môi trường chính trị, kinh tế của quốc gia Tác động này có thể được xác định là tích cực hoặc tiêu cực, thậm chí có thể không có tác động nào Hơn nữa, các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng của NHĐT đến kết quả tài chính của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận.

23 ít nghiên cứu đề cập đến các kết quả phi tài chính khác PPNC định tính, khảo sát và phỏng vấn chuyên gia chưa được áp dụng nhiều

Nghiên cứu sinh áp dụng phương pháp kết hợp song song giữa định lượng và định tính để xác định ảnh hưởng của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của ngân hàng Mục tiêu là làm rõ tác động tích cực hay tiêu cực của dịch vụ NHĐT đối với kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong bối cảnh dịch vụ này đã có những bước phát triển nhất định Điểm mới của luận án là việc phân tích sâu sắc mối quan hệ này.

Mô hình đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam được thiết kế phù hợp với đặc điểm và tính chất riêng của các NHTM tại Việt Nam.

- Đánh giá kết quả kinh doanh, thực trạng hoạt động NHĐT của các NHTM Việt Nam ở giai đoạn ngân hàng điện tử bắt đầu bùng phát mạnh mẽ

Nghiên cứu này phân tích tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với định tính và số liệu cập nhật trong giai đoạn mới Đánh giá này tập trung vào ảnh hưởng của dịch vụ NHĐT đến các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng, đặc biệt là các tỷ lệ sinh lời, cũng như các chỉ tiêu phi tài chính như gia tăng sức cạnh tranh, mở rộng quy mô khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và cải tiến cách thức vận hành.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử

2.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử

Nguồn gốc của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) chính là thương mại điện tử (TMĐT), với NHĐT vừa là hạ tầng thanh toán trực tuyến cho TMĐT, vừa là một sản phẩm của TMĐT và dịch vụ tài chính điện tử TMĐT được định nghĩa là việc trao đổi thông tin, mua bán sản phẩm và dịch vụ qua mạng máy tính như Internet và dữ liệu điện tử EDI Do đó, dịch vụ NHĐT cung cấp thông tin và dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như hiện đại thông qua các phương tiện điện tử và mạng Internet.

Dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) cho phép khách hàng truy cập tài khoản và thông tin sản phẩm ngân hàng qua Internet, bổ sung cho các kênh như ATM, PC bank và Home bank Việc áp dụng NHĐT tạo ra một mô hình phân phối đa kênh phổ biến trong ngành ngân hàng hiện nay NHĐT mang lại tiềm năng lớn như một phương thức giao dịch tiện lợi và hiệu quả mà trước đây chưa được cung cấp bởi các ngân hàng.

Thuật ngữ “Dịch vụ ngân hàng điện tử” hay “Ngân hàng điện tử” có tính chất phức tạp và khó định nghĩa do sự đa dạng trong cách hiểu và mục đích sử dụng khác nhau.

Dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) được định nghĩa bởi IMF (2002) là việc sử dụng các kênh phân phối điện tử cho sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, thuộc một phần của tài chính điện tử Allen và cộng sự (2002) cũng cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử là phương thức cung cấp dịch vụ tài chính thông qua các phương tiện điện tử Hiện nay, các ngân hàng bán lẻ đang chuyển mình để áp dụng các dịch vụ này.

25 sang phân phối dịch vụ tài chính đa kênh trong nền tảng kỹ thuật số, cung cấp dịch vụ truyền thống của các ngân hàng thông qua Internet

Khác với định nghĩa truyền thống, Siddik và cộng sự (2016) định nghĩa “ngân hàng điện tử” là một hệ thống cho phép các nhà cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp và cá nhân truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ tài chính kỹ thuật số từ mạng tư nhân hoặc công cộng Người dùng có thể sử dụng các thiết bị thông minh như máy tính cá nhân, máy rút tiền tự động (ATM) và trợ lý kỹ thuật số cá nhân (PDA) để truy cập ngân hàng điện tử và thực hiện giao dịch mà không bị giới hạn về không gian và thời gian như với ngân hàng truyền thống.

Nghiên cứu của Shah và Clarke (2009) định nghĩa dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) là việc cung cấp dịch vụ tài chính qua kênh phân phối điện tử của tổ chức cho khách hàng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp Các ngân hàng hiện nay cung cấp dịch vụ tài chính điện tử đầy đủ và tinh vi, cho phép khách hàng truy cập tài khoản, chuyển tiền giữa các tài khoản, mở tài khoản tiết kiệm, thanh toán hóa đơn, vay vốn, giao dịch ngoại hối, ủy thác, bảo hiểm và nhiều sản phẩm tài chính khác.

Dịch vụ ngân hàng điện tử là việc sử dụng các kênh phân phối điện tử nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ ngân hàng đến tay khách hàng.

Các kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử tương tác và quy trình tự động hóa mà ngân hàng sử dụng để giao tiếp và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng Những kênh phân phối điện tử phổ biến bao gồm giao dịch qua ATM, POS, Internet banking và Mobile banking Khái niệm này sẽ được áp dụng xuyên suốt trong luận án.

Mối quan hệ giữa ngân hàng điện tử và ngân hàng số

Sự phát triển của "ngân hàng điện tử" đã tạo ra một mô hình kinh doanh mới, khác biệt hoàn toàn so với mô hình truyền thống, được gọi là "ngân hàng số" Theo Chris (2014), ngân hàng số là mô hình mà hoạt động và cơ cấu tổ chức của ngân hàng hoàn toàn dựa vào "nguồn lực số", với "mạng lưới số" là giá trị cốt lõi.

Ngân hàng số (NHS) cung cấp dịch vụ ngân hàng hoàn toàn thông qua công nghệ số, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch mà không cần tương tác với chi nhánh hay nhân viên ngân hàng NHS cho phép tự động hóa và tiêu chuẩn hóa các hoạt động ngân hàng trên nền tảng số, với nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chủ yếu là cung cấp sản phẩm và dịch vụ ngân hàng qua internet, điện thoại di động, máy tính bảng, cũng như các trang mạng xã hội và thương mại điện tử.

Ngân hàng số có phạm vi và tính toàn diện vượt trội so với dịch vụ ngân hàng điện tử và các khái niệm như ngân hàng trực tuyến hay ngân hàng Internet, vì chúng chỉ phản ánh một phần của quá trình số hóa trong lĩnh vực ngân hàng Trong khi các khái niệm này tập trung vào việc ứng dụng công nghệ điện tử và “không chạm” cho các dịch vụ như thanh toán, đầu tư, và quản lý tài khoản, ngân hàng số (NHS) tích hợp số hóa vào toàn bộ hoạt động và quản trị ngân hàng Điều này không chỉ giúp ngân hàng thích ứng với hạ tầng kỷ nguyên số mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường sự gắn kết với khách hàng, và mang lại tiện ích linh hoạt với chi phí hợp lý cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Ngân hàng số không chỉ đơn thuần là ngân hàng điện tử hay ngân hàng trực tuyến, mà là một mô hình kinh doanh hoàn toàn số hóa, bao gồm cả dịch vụ và cơ cấu tổ chức Ngân hàng điện tử là phần cốt lõi của ngân hàng số, đánh dấu sự chuyển mình từ mô hình ngân hàng chi nhánh sang ngân hàng không chi nhánh Việc phát triển dịch vụ ngân hàng số là nhu cầu thiết yếu, giúp các ngân hàng vượt qua thách thức, tạo ra lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững.

27 trong bối cảnh CMCN 4.0 và sự nổi lên của kinh tế số và gắn với nhiệm vụ thúc đẩy tài chính toàn diện quốc gia

2.1.2 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử

Dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) đóng vai trò quan trọng trong ngành ngân hàng và nền kinh tế toàn cầu, không thể phủ nhận Với xu hướng số hóa và toàn cầu hóa, phát triển dịch vụ NHĐT trở thành một yêu cầu thiết yếu, vừa là hạ tầng thanh toán trực tuyến cho nền kinh tế số, vừa là sản phẩm công nghệ tài chính của ngân hàng NHĐT nhanh chóng trở thành phần không thể thiếu trong kinh doanh ngân hàng hiện đại, giúp gia tăng khả năng cạnh tranh và thay đổi cách tiếp cận các sản phẩm tài chính một cách sâu sắc.

Những thay đổi trong dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) đã trở nên rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19, khi các biện pháp giãn cách xã hội thúc đẩy việc áp dụng công nghệ số để duy trì hoạt động thanh toán và giao dịch Dịch vụ NHĐT ngày càng phát triển và phù hợp với tình hình kinh tế chính trị xã hội toàn cầu, trở thành phương thức kinh doanh hiệu quả cho ngân hàng, cải thiện hình ảnh và mối quan hệ với khách hàng thông qua việc cung cấp dịch vụ cao cấp và sản phẩm tùy chỉnh Furst và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng NHĐT hoạt động như một kênh phân phối từ xa, trong khi Kricks (2009) mô tả nó là phương thức giao hàng tự động các sản phẩm ngân hàng đến tay khách hàng qua các kênh điện tử Sự xuất hiện của dịch vụ NHĐT không chỉ thay thế các sản phẩm ngân hàng truyền thống mà còn cải thiện chất lượng dịch vụ, cung cấp truy cập thời gian thực, giảm chi phí hoạt động và tối đa hóa hiệu quả trong hoạt động ngân hàng.

28 hàng (Ovia, 2001; Gonzalez, 2008) Ngân hàng còn có cơ hội nâng cao cơ sở KH của họ từ đó gia tăng lợi nhuận trông thấy (Okibo, Wario 2014)

Theo Sumra và Manzoor (2011), dịch vụ ngân hàng trực tuyến (NHĐT) sử dụng Internet để cung cấp các dịch vụ như mở tài khoản tiền gửi, thanh toán hóa đơn điện tử và chuyển khoản trực tuyến Các dịch vụ tài chính này được cung cấp qua nhiều kênh, bao gồm website của ngân hàng có văn phòng thực tế, ứng dụng điện tử, hoặc ngân hàng ảo NHĐT là một kênh phân phối hiệu quả, giúp cung cấp sản phẩm tài chính giá trị cao với chất lượng cải thiện và chi phí thấp hơn, không bị giới hạn bởi ranh giới vật lý, đồng thời cho phép bán chéo các sản phẩm như thẻ tín dụng và khoản vay.

Đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng

2.2.1 Khung xếp hạng hoạt động ngân hàng CAMELS

Trong những năm gần đây, khung xếp hạng CAMELS đã trở thành một trong những mô hình phổ biến nhất để ước tính hiệu suất hoạt động của ngân hàng Hệ thống này, được phát triển bởi các nhà quản lý ngân hàng liên bang, nhằm đánh giá hiệu suất tổng thể của các ngân hàng Hoa Kỳ (Rose & Hudgins, 2012) Kể từ năm 1988, Ủy ban Basel đã khuyến nghị sử dụng CAMELS để đánh giá sự lành mạnh của các tổ chức tài chính, bao gồm ngân hàng thương mại Các cơ quan quản lý như Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ, Văn phòng kiểm soát tiền tệ Mỹ và Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ đều áp dụng hệ thống này.

Nghiên cứu của Barr và cộng sự (2002) khẳng định rằng tiêu chí đánh giá CAMELS là công cụ thiết yếu cho các nhà giám sát và cơ quan quản lý Hệ thống này nhằm cải thiện hoạt động ngân hàng bằng cách phân tích nhiều khía cạnh khác nhau dựa trên thông tin từ báo cáo tài chính, nguồn tài trợ, dữ liệu kinh tế vĩ mô, ngân sách và dòng tiền Các ngân hàng trung ương có trách nhiệm giám sát các ngân hàng trong từng quốc gia thông qua hệ thống xếp hạng để đảm bảo tính chính xác của các ngân hàng (Doumpos & Zopounidis, 2010).

Từ viết tắt CAMELS là viết tắt của: “Capital adequacy”- Mức độ an toàn vốn; “Asset quality”- Chất lượng tài sản có; “Management”- Khả năng quản lý;

"Earning" đề cập đến khả năng sinh lời, trong khi "Liquidity" liên quan đến thanh khoản Các nhà điều hành đã thêm yếu tố "Sensitivity" để đánh giá rủi ro thị trường do sự thay đổi lãi suất và các yếu tố khác, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính (Kandrac, 2014).

Mức độ an toàn vốn của ngân hàng (CAR) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá an toàn trong hoạt động ngân hàng, được tính toán từ bảng cân đối kế toán Tỷ lệ này, do Ủy ban Basel giám sát, xem xét các rủi ro tài chính như rủi ro ngoại hối, tín dụng và lãi suất bằng cách gán trọng số cho tài sản CAR thể hiện tỷ lệ giữa giá trị sổ sách của vốn tự có (chủ yếu là vốn cấp 1 và 2) so với giá trị sổ sách của tài sản có điều chỉnh rủi ro Tỷ lệ cao hơn cho thấy mức độ an toàn vốn cao hơn, và Hiệp định Basel I năm 1992 đã thiết lập tỷ lệ an toàn vốn đối với tài sản điều chỉnh.

Tỷ lệ vốn tự có (RR) của các ngân hàng thương mại (NHTM) phải đạt ít nhất 4% so với tài sản có rủi ro Theo các quy định của Basel II và III, tỷ lệ này đã được nâng lên thành 8%.

Chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) Rủi ro tín dụng (TD) liên quan trực tiếp đến chất lượng tài sản mà NHTM nắm giữ, bao gồm các rủi ro cụ thể và xu hướng nợ xấu Đặc biệt, lợi nhuận của người vay, nhất là trong khu vực doanh nghiệp, cũng đóng vai trò quyết định trong việc đánh giá chất lượng tài sản của ngân hàng.

Chất lượng tài sản của các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể được đánh giá qua nhiều yếu tố, bao gồm mức độ tập trung cho vay theo ngành và khu vực, như lĩnh vực nông nghiệp chịu rủi ro từ thời tiết và khí hậu Ngoài ra, cơ cấu khách hàng, bao gồm cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp, cũng ảnh hưởng đến chất lượng tài sản Các yếu tố khác như chất lượng và giá trị tài sản thế chấp, mục đích vay, tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay, và rủi ro chính trị, như các chương trình xóa nợ và trần lãi suất, cũng cần được xem xét (ADB, 2018).

Quản lý là yếu tố then chốt quyết định hiệu suất của ngân hàng, mặc dù khó đo lường Một số chỉ số có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng quản lý bao gồm tỷ lệ tăng trưởng tổng tài sản, cho vay và danh mục đầu tư Hiệu suất hoạt động cũng có thể được xem xét qua tỷ lệ chi phí hoạt động so với thu nhập, chi phí trên mỗi nhân viên và thu nhập trên mỗi nhân viên Thị phần trong lĩnh vực tiền gửi và tín dụng, cùng với mức độ tự động hóa trong hệ thống vận hành, cũng là những yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng quản lý.

49 hiệu, mức độ tuân thủ; (v) Lợi ích cổ đông: mức độ tuân thủ mục tiêu chiến lược, chính sách chi trả cổ tức, lợi nhận / VCSH… (ADB, 2018)

Khả năng sinh lời là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu suất của ngân hàng thương mại (NHTM) NHTM không có lãi thường xuyên có nguy cơ mất khả năng thanh toán, trong khi lợi nhuận cao bất thường có thể phản ánh rủi ro quá mức Các chỉ số thể hiện khả năng sinh lời bao gồm lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ chênh lệch lãi suất, tỷ lệ thu nhập chênh lệch và tỷ suất lợi nhuận gộp Hệ số biên lợi nhuận hoạt động và tỷ suất lợi nhuận ròng là những chỉ số lợi nhuận thường được sử dụng tại các NHTM.

Rủi ro thanh khoản là mối đe dọa đối với khả năng thanh toán của các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM) Rủi ro này xuất hiện khi người gửi tiền muốn rút tiền, buộc NHTM phải vay thêm vốn hoặc bán tài sản với giá thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền Nếu giá bán tài sản không đủ, ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán Thêm vào đó, rủi ro thanh khoản cũng gia tăng khi có sự tăng đột biến trong nhu cầu vay mượn mà không thể đáp ứng do thiếu vốn.

Các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể huy động vốn thông qua việc giảm tài sản tiền mặt, vay thêm trên thị trường tiền tệ và bán các tài sản khác với giá thấp hơn kỳ vọng Rủi ro thanh khoản bên trách nhiệm (rủi ro loại thứ nhất) và rủi ro thanh khoản bên tài sản (rủi ro loại thứ hai) đều có tác động tiêu cực đến hoạt động tài chính của các NHTM (Saunders và Cornett, 2006).

Việc duy trì vị thế thanh khoản cao giúp giảm thiểu rủi ro, nhưng cũng ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các tổ chức tài chính, do lợi nhuận từ tài sản có tính thanh khoản cao gần như bằng không Do đó, các tổ chức tài chính cần đánh đổi giữa vị thế thanh khoản và lợi nhuận để duy trì hiệu suất tốt Mức độ thanh khoản của ngân hàng thương mại có thể được đo lường thông qua phân tích cung và cầu thanh khoản, trong đó tổng thanh khoản ròng được xác định bằng cách khấu trừ tổng số sử dụng thanh khoản khỏi tổng số nguồn thanh khoản.

Các tỷ lệ đánh giá thanh khoản bao gồm: tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn và ngắn hạn so với tổng tiền gửi, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, và tỷ lệ bảo đảm thanh khoản, trong đó tài sản có thanh khoản cao phải lớn hơn hoặc bằng tài sản nợ phải thanh toán trong vòng 30 ngày (ADB, 2018).

Độ nhạy cảm rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng tăng do sự đa dạng trong các hoạt động như cho vay, đi vay, giao dịch ngoại hối và đầu tư chứng khoán Những hoạt động này phải đối mặt với nhiều loại rủi ro thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, và rủi ro giá tài sản và hàng hóa Khi hiệu suất của NHTM nhạy cảm hơn với rủi ro thị trường, điều này đồng nghĩa với việc mức độ nguy hiểm cũng cao hơn Các chỉ số như rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất, rủi ro giá cổ phiếu và rủi ro giá hàng hóa đều phản ánh sự nhạy cảm này với rủi ro thị trường.

Cẩm nang Đánh giá NHTM được ban hành bởi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã mô tả năm mức xếp hạng tổng hợp như sau (Siems và Barr, 1998)

CAMELS = 1 : một NH về cơ bản là có hiệu suất hoạt động tốt trong mọi khía cạnh

CAMELS = 2 : một NH nhìn chung là họat động tốt tuy nhiên có một vài điểm yếu cần khắc phục

CAMELS = 3 : một NH có điểm yếu về tài chính, hoạt động hoặc chưa bảo đảm tính tuân thủ gây ra sự lo ngại trong quá trình đánh giá

CAMELS = 4 : một NH có điểm yếu tài chính nghiêm trọng dẫn đến có thể làm giảm khả năng hoạt động và tồn tại trong tương lai

CAMELS = 5 : một NH có điểm yếu tài chính quan trọng khiến cho dự báo khả năng thất bại rất cao trong thời gian tới

Mô hình CAMELS của các ngân hàng có mức độ bảo mật cao do chứa thông tin nội bộ nhạy cảm thu thập trong quá trình điều tra riêng, bên cạnh thông tin pháp lý về tình hình tài chính công khai Vì vậy, mô hình CAMELS chủ yếu được sử dụng cho quyết định quản lý ngân hàng và không được công khai, chỉ được biết đến một cách tuyệt mật.

51 quản lý cấp cao của NH và nhân viên giám sát phù hợp tại các bộ phần quản lý liên quan

2.2.2 Một số tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng 2.2.2.1 Đánh giá kết quả hoạt động tài chính (financial performance) của ngân hàng

Tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động ngân hàng

2.3.1 Tác động đến kết quả tài chính của ngân hàng

- Dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần tăng doanh thu, giảm chi phí hoạt động ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động (KQHĐ) của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu tài chính như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) Dịch vụ này được kỳ vọng sẽ gia tăng doanh thu, giảm chi phí nhân công và chi phí duy trì mạng lưới chi nhánh nhờ vào công nghệ và mạng không dây, từ đó nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng (Shah và Clarke, 2009).

Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kênh phân phối Internet vào danh mục kênh phân phối dịch vụ ngân hàng hiện có có thể làm tăng đáng kể thu nhập của ngân hàng (DeYoung, 2007) Các khoản thu nhập này chủ yếu đến từ việc gia tăng thu nhập ngoài lãi từ các loại phí dịch vụ như dịch vụ thẻ, thanh toán, chuyển tiền và chuyển đổi ngoại tệ Hơn nữa, các ngân hàng cũng có thể phân phối dịch vụ bán chéo, tức là bán và quản lý các dịch vụ của ngân hàng khác, thường là ngân hàng nước ngoài, nhằm tăng doanh thu.

58 động tích cực đến doanh thu hoạt động của NH bán lẻ, mở rộng nhanh chóng các luồng doanh thu ngoài lãi

Dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) mang lại nhiều lợi ích rõ rệt, bao gồm việc giảm chi phí hoạt động như văn phòng, điện nước và nhân công Nhờ vào công nghệ điện tử, ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ với chi phí thấp hơn, tự động hóa và đơn giản hóa quy trình, từ đó giảm nhu cầu giao dịch trực tiếp Hơn nữa, NHĐT đã cải thiện tỷ lệ CASA (tiền gửi thanh toán/tổng tiền gửi), giúp ngân hàng giảm chi phí huy động vốn Bằng cách thu hút tiền gửi không kỳ hạn với chi phí thấp từ 0,1-0,5%/năm, ngân hàng tiết kiệm được chi phí đầu vào Hệ thống thanh toán hiện đại và số lượng giao dịch chuyển tiền tăng lên sẽ gia tăng tỷ lệ CASA, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Vấn đề hiện nay là liệu các khoản thu nhập từ dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có đủ để đảm bảo lợi tức đầu tư hợp lý (ROI) hay không Nhiều nghiên cứu tại các nước đang phát triển chỉ ra rằng chi phí đầu tư cho dịch vụ NHĐT, bao gồm tích hợp hệ thống và các biện pháp an ninh, rất cao, dẫn đến doanh thu từ dịch vụ này chưa mang lại lợi nhuận rõ rệt cho ngân hàng Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy chi phí cho mỗi giao dịch của dịch vụ NHĐT thường giảm nhanh hơn so với dịch vụ ngân hàng truyền thống khi đạt được một khối lượng khách hàng đáng kể Điều này là do chi phí cố định của dịch vụ NHĐT lớn hơn nhiều so với chi phí biến đổi, vì vậy khi cơ sở khách hàng của ngân hàng mở rộng, chi phí mỗi giao dịch sẽ giảm.

- Dịch vụ ngân hàng điện tử tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng trong dài hạn

Nhiều nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của dịch vụ ngân hàng đầu tư đến lợi nhuận của ngân hàng Nghiên cứu của Merenzi, Hichman và Dehler là một trong những nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này.

(2000) Nghiên cứu này dự báo lợi nhuận cho các tổ chức thực hiện các ứng dụng

Ngân hàng (NH) cung cấp các dịch vụ như thanh toán hóa đơn điện tử, quản lý tiền mặt, tổng hợp tài khoản, cổng dịch vụ tài chính thương mại điện tử (TMĐT) và ứng dụng cho vay trực tuyến Mô hình nghiên cứu nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa lợi nhuận và các yếu tố như quy mô, số lượng khách hàng (KH) và tài sản, cũng như việc sử dụng dịch vụ NHĐT cho thanh toán hóa đơn, TMĐT và cho vay trực tuyến Lợi nhuận được đo bằng giá trị hiện tại ròng và tỷ suất hoàn vốn nội bộ trong vòng 5 năm, đồng thời xem xét thói quen chuyển đổi của KH từ các kênh truyền thống sang trực tuyến Kết quả cho thấy, mặc dù chưa chiếm lĩnh hoàn toàn, nhưng các chỉ số cho thấy ứng dụng dịch vụ NHĐT mang lại lợi nhuận tích cực cho NH.

Nghiên cứu của Siam (2006) cho thấy dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Jordan trong giai đoạn 1999-2004, với mối tương quan có ý nghĩa thống kê Tương tự, Ongare (2013) đã chỉ ra rằng dịch vụ NHĐT ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Kenya, với các yếu tố như số lượng ATM, thẻ tín dụng và mức độ sử dụng ngân hàng di động, ngân hàng Internet Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ báo cáo hàng năm và cho thấy mối quan hệ tích cực giữa dịch vụ NHĐT và hoạt động ngân hàng.

- Dịch vụ ngân hàng điện tử tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng

Trong nghiên cứu của Hernando và Nieto (2007), tác giả đã xác định và ước tính tác động của việc giao dịch dịch vụ ngân hàng qua trang web đến hiệu quả tài chính của 72 ngân hàng thương mại tại Tây Ban Nha trong giai đoạn 1994-2002 Phân tích dựa trên các tỷ lệ hiệu quả tài chính như cho vay, tiền gửi, ngoại tệ và hoạt động danh mục đầu tư giao dịch, cùng với chi phí hoạt động và lợi nhuận Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng trang web giao dịch có tác động tích cực đến hiệu suất của ngân hàng, với sự cải thiện về khả năng sinh lời rõ rệt sau một năm rưỡi về ROA và ba năm về ROE.

Mahotra và Singh (2007) đã nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư đối với hiệu suất và rủi ro của ngân hàng tại Ấn Độ, xem xét một bộ dữ liệu toàn diện.

Mười biện pháp tài chính hiệu quả giúp các tác giả đánh giá nghiêm túc hiệu suất của ngân hàng (NH) Nghiên cứu chuyên sâu về tác động của Internet đã chỉ ra rằng NH áp dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có lợi nhuận cao hơn và chi phí hoạt động thấp hơn so với các NH truyền thống.

NH không có ứng dụng dịch vụ NHĐT

Nghiên cứu của Oyewole và cộng sự (2013) đã phân tích ảnh hưởng của dịch vụ ngân hàng điện tử đến hoạt động ngân hàng tại Nigeria, dựa trên dữ liệu từ năm 1999.

Năm 2010, nghiên cứu của 8 ngân hàng thương mại cho thấy dịch vụ ngân hàng đầu tư có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến hiệu suất của các ngân hàng, được đo lường qua chỉ số ROA và NIM Tuy nhiên, nghiên cứu không phát hiện tác động nào đối với chỉ số ROE Tương tự, Rauf và Qiang cũng có những kết luận tương đồng.

Nghiên cứu năm 2014 đã chỉ ra rằng dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) có tác động rõ rệt đến tỷ suất lợi nhuận, ROA và ROE của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Pakistan Cụ thể, các ngân hàng áp dụng dịch vụ NHĐT gần đây cho thấy sự cải thiện đáng kể về ROE và NIM, trong khi các ngân hàng triển khai dịch vụ này sớm hơn chỉ có ảnh hưởng tích cực đến ROE và ít tác động đến ROA Từ những phát hiện này, nghiên cứu kết luận rằng các ngân hàng có thể xem dịch vụ NHĐT như một chiến lược hiệu quả để tiết kiệm chi phí và cạnh tranh với các ngân hàng trong và ngoài nước, miễn là họ có khả năng kiểm soát tốt các rủi ro liên quan.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác động tiêu cực của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) đối với hoạt động của các ngân hàng Al-Smadi và Al-Wabel (2011) đã phân tích 15 ngân hàng tại Jordan trong giai đoạn 2000 - 2010 và phát hiện rằng hiệu suất ngân hàng, đo bằng ROE, bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch vụ NHĐT Tuy nhiên, nghiên cứu này không xem xét ROE sau một năm áp dụng dịch vụ, trong khi việc ứng dụng công nghệ thông tin vào ngân hàng thường phát sinh nhiều chi phí, cần thời gian để hồi phục Tương tự, Onay và Ozsoz (2013) đã nghiên cứu 18 ngân hàng bán lẻ tại Thổ Nhĩ Kỳ từ 1990 đến 2008 và cũng chỉ ra rằng việc áp dụng dịch vụ NHĐT có tác động tiêu cực đến lợi nhuận sau 2 năm Theo các tác giả, nguyên nhân của tác động tiêu cực này là do dịch vụ NHĐT làm tăng cạnh tranh và dẫn đến thu nhập lãi thấp hơn.

Tác động của dịch vụ ngân hàng đầu tư (NHĐT) đến kết quả tài chính của các ngân hàng, thể hiện qua chỉ số ROA và ROE, là khá toàn diện với nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng chỉ ra ảnh hưởng tiêu cực hoặc không rõ ràng Điều này mang lại cái nhìn đa dạng cho các học giả, nhà nghiên cứu và nhà quản lý khi tìm hiểu về tác động của dịch vụ NHĐT đối với hoạt động tài chính của các ngân hàng.

2.3.2 Tác động đến kết quả phi tài chính của ngân hàng

Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử hướng tới mô hình ngân hàng số nhằm nâng cao kết quả hoạt động ngân hàng

tử hướng tới mô hình ngân hàng số nhằm nâng cao kết quả hoạt động ngân hàng

2.4.1 Về định danh số và xây dựng hệ sinh thái số

 Kinh nghiệm của Ấn Độ

Định danh số là yếu tố then chốt trong quá trình chuyển đổi số dịch vụ tài chính ngân hàng, đặc biệt là thách thức đối với các nước đang phát triển do thiếu dữ liệu lưu trữ định danh chính thống Kinh nghiệm từ Ấn Độ với chương trình quốc gia India Stack đã thành công trong việc xây dựng định danh số, tạo ra bước đột phá trong hệ sinh thái kỹ thuật số và khởi nghiệp Chương trình này không chỉ giải quyết các thách thức lớn mà Chính phủ Ấn Độ phải đối mặt, mà còn mở ra cơ hội phát triển cho hệ sinh thái kỹ thuật số Những kinh nghiệm từ quá trình xây dựng và phát triển hệ sinh thái kỹ thuật số ở Ấn Độ có thể là bài học quý giá cho các nước đang phát triển như Việt Nam.

Trước khi triển khai chương trình quốc gia India Stack, Ấn Độ đã phải đối mặt với hệ thống dịch vụ công không đồng đều và kém hiệu quả Là quốc gia đông dân thứ hai thế giới với hơn 1,3 tỷ người, trong đó 65% sống ở khu vực nông thôn, nhiều người không tiếp cận được các dịch vụ công nghệ Điều này tạo ra thách thức lớn cho chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục và thực phẩm cho toàn bộ công dân Vấn đề lớn nhất của Ấn Độ là tính bao trùm, khi các chính sách trước đây chưa bao giờ có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi thành phần dân cư và khu vực khác nhau.

Hệ thống dịch vụ công của Ấn Độ gặp nhiều vấn đề về hiệu quả và gian lận Chẳng hạn, để gia hạn giấy phép lái xe, người dân phải đến đúng văn phòng quản lý cơ giới nơi họ đã đăng ký ban đầu Điều này xuất phát từ việc dịch vụ công phụ thuộc vào hệ thống danh tính công dân gắn với vị trí cố định, tương tự như hộ khẩu ở Việt Nam Hơn nữa, thông tin trong hệ thống này được lưu trữ cục bộ tại từng cơ quan địa phương, gây khó khăn cho người dân trong việc tiếp cận dịch vụ.

Sự không đồng đều trong tính bao trùm thông tin đã gây khó khăn cho việc truy xuất và sử dụng thông tin tại các cơ quan, địa phương khác, dẫn đến lãng phí thời gian và tiền bạc trong hệ thống dịch vụ công của Ấn Độ, đồng thời tạo điều kiện cho các vấn đề gian lận và tham nhũng phát sinh.

Chính phủ Ấn Độ nhận thức được sự cần thiết phải cải cách hệ thống cung cấp dịch vụ công, hướng tới một mô hình mới linh hoạt và có khả năng kiểm soát truy cập Giải pháp cho vấn đề này là tích hợp kỹ thuật số, dẫn đến sự ra đời của Aadhaar - chương trình nhận dạng kỹ thuật số sinh trắc học vào năm 2009 Hệ thống Aadhaar bao gồm thông tin cơ bản như tên, địa chỉ, ngày sinh, giới tính, ảnh chân dung và dữ liệu sinh trắc học của công dân Mỗi công dân được cấp một ID kỹ thuật số duy nhất gồm 12 chữ số, giúp xác minh danh tính dễ dàng mà không cần tài liệu chứng minh Tuy nhiên, Aadhaar chỉ là bước khởi đầu trong chiến lược xây dựng một hệ sinh thái kỹ thuật số và kinh tế phi tiền mặt tại Ấn Độ.

Với nền tảng Aadhaar, Ấn Độ đã phát triển chương trình India Stack vào năm 2012, đây là chương trình API lớn nhất thế giới với bốn lớp công nghệ riêng biệt Lớp Phi hiện diện sử dụng Aadhaar để đảm bảo mọi cá nhân có thể cung cấp định danh ở bất kỳ đâu Lớp Phi giấy tờ với eKYC, eSign và Digital Locker cung cấp giải pháp xác minh và lưu trữ thông tin Lớp Phi tiền mặt, thông qua UPI, cho phép thực hiện giao dịch chuyển tiền an toàn mà không cần nhập thông tin chi tiết Cuối cùng, Lớp Đồng ý cho phép người dùng kiểm soát việc chia sẻ dữ liệu cá nhân Cấu trúc này đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cách chính phủ, doanh nghiệp và người dân tương tác.

70 tác với nhau Mở tài khoản NH có thể thực hiện ngay lập tức thông qua Aadhaar với quy trình xác minh eKYC

NH Axis là NH Ấn Độ đầu tiên cung cấp một quy trình eKYC vào năm

Năm 2013, thời gian mở tài khoản ngân hàng đã giảm từ 7-10 ngày xuống chỉ còn 1 ngày nhờ quy trình eKYC Hiện nay, nhiều ngân hàng truyền thống và ngân hàng thanh toán tại Ấn Độ cho phép mở và sử dụng tài khoản ngay lập tức Phê duyệt khoản vay cũng có thể thực hiện trực tuyến khi khách hàng đồng ý cho ngân hàng truy cập thông tin cần thiết qua Lớp đồng ý và công cụ Digital Locker Tương tự, các dịch vụ như bệnh viện, du lịch và khách sạn cũng áp dụng quy trình này Hơn nữa, các khoản vay, giải ngân, thuế và trợ cấp được chuyển trực tiếp đến người thụ hưởng thông qua công cụ UPI, điều này đặc biệt hữu ích cho những người sống ở nông thôn, nơi còn nhiều hạn chế về internet, chữ viết và thiết bị thông minh Kinh nghiệm này sẽ rất quý giá cho các quốc gia như Việt Nam, đang hướng tới một hệ thống dịch vụ công hoàn thiện và một hệ sinh thái kỹ thuật số.

Bangladesh có một mạng lưới cáp quang tốc độ cao dài 1.800 km, bao phủ hầu hết các khu vực quan trọng, có thể làm mạng trục chính cho hệ thống NHĐT Các nhà khai thác điện thoại di động như Grameen Phone và Ranks ITT đã tận dụng mạng cáp quang này để cung cấp dịch vụ đến cả vùng nông thôn Đáng chú ý, nhiều ngân hàng tư nhân và nước ngoài đã sử dụng mạng cáp quang để thực hiện giao dịch trực tuyến, dịch vụ ATM và POS.

Dịch vụ Internet đã được giới thiệu tại Bangladesh vào năm 1996, đánh dấu sự tham gia của quốc gia này vào siêu xa lộ thông tin thông qua việc kết nối với hệ thống cáp ngầm quốc tế.

Từ năm 2006 đến 2010, đã có 159 nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) kết nối với hệ thống, trong đó 64 tổ chức đang tích cực cung cấp dịch vụ (Baten và Kamil, 2010) Đây là một phần trong quyết định của chính phủ.

Xây dựng Bangladesh kỹ thuật số đang diễn ra mạnh mẽ, với khả năng hiện tại của ngành CNTT có thể gia tăng nhanh chóng Việc chuyển giao tất cả các dịch vụ qua Internet sẽ góp phần mở rộng phạm vi dịch vụ ngân hàng điện tử trên toàn quốc.

Ngân hàng Trung ương Bangladesh đã triển khai nhiều dự án từ năm 2009 nhằm hiện đại hóa hệ thống thanh toán quốc gia, bao gồm việc phát triển mạng trực tuyến liên ngân hàng Tất cả các ngân hàng truyền thống phải kết nối với Ngân hàng Trung ương, cho phép thực hiện giao dịch trực tuyến giữa các ngân hàng, từ đó thúc đẩy mô hình ngân hàng điện tử tại Bangladesh Gần đây, chính phủ Bangladesh đã nhấn mạnh việc xây dựng một quốc gia kỹ thuật số thông qua việc thiết lập công viên CNTT, tăng cường đầu tư vào hạ tầng CNTT, miễn thuế cho thiết bị ngoại vi máy tính, và thực hiện chương trình tự động hóa ngành ngân hàng Những nỗ lực này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, góp phần cải thiện dịch vụ khách hàng và thúc đẩy triển vọng của dịch vụ ngân hàng điện tử tại Bangladesh.

2.4.2 Về đảm bảo an toàn bảo mật

 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Thế hệ mô hình ngân hàng điện tử đầu tiên được Ngân hàng China Merchant giới thiệu vào năm 1997 thông qua hệ thống thanh toán Internet Từ năm 1999 đến 2001, các dịch vụ ngân hàng trực tuyến với các chức năng cơ bản như thanh toán hóa đơn điện tử và quản lý quỹ đã dần được cung cấp cho khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn chưa thiết lập một hệ thống phòng ngừa và kiểm soát rủi ro hiệu quả.

Do tính chất mở và tương tác của công nghệ, an ninh trong dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) trở thành thách thức lớn, đặc biệt tại Trung Quốc, một quốc gia đang phát triển Việc lạm dụng thông tin cá nhân để thực hiện các hoạt động NHĐT và các vi phạm liên quan đến an ninh mạng đang trở thành vấn đề cấp bách đối với tất cả các ngân hàng Trung Quốc.

Mô hình NHĐT thế hệ thứ hai đáp ứng nhu cầu nâng cao độ bảo mật và độ chính xác trong quản lý tài sản, đồng thời cung cấp các chức năng bổ sung để tạo thuận lợi cho người dùng.

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 22/04/2023, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Học viện Ngân hàng (2020), Kỷ yếu hội thảo quốc gia : Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo quốc gia : Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế số
Tác giả: Học viện Ngân hàng
Năm: 2020
14. Hiệp hội TMĐT Việt Nam, Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam các năm 2014-2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam các năm 2014-2019
Tác giả: Hiệp hội TMĐT Việt Nam
15. Pham Long (2010), “A conceptual framework for e-banking service quality in Vietnam”, Second Annual General Business Conference Proceedings, Sam Houston State University, pp 119-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A conceptual framework for e-banking service quality in Vietnam
Tác giả: Pham Long
Nhà XB: Second Annual General Business Conference Proceedings
Năm: 2010
16. Nguyễn Danh Lương (2003): Những giải pháp nhằm phát triển hình thức thanh toán thẻ ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nhằm phát triển hình thức thanh toán thẻ ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Danh Lương
Nhà XB: Học viện Ngân hàng
Năm: 2003
17. Trần Thanh Liêm (2004) “Các kênh giao dịch của mô hình ngân hàng bán lẻ”, Tạp chí Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kênh giao dịch của mô hình ngân hàng bán lẻ
Tác giả: Trần Thanh Liêm
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Năm: 2004
18. Luật GDĐT số 51/2005/QH11do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 19. Nguyễn Văn Minh và các tác giả (2011), TMĐT căn bản, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: TMĐT căn bản
Tác giả: Nguyễn Văn Minh, các tác giả
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
20. Nguyễn Văn Minh, Bài giảng Ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp, Đại học thương mại, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Minh
Nhà XB: Đại học thương mại
Năm: 2017
21. Trần Hoàng Ngân (2004) “Vài nét về sự phát triển NHĐT trên thế giới” ,Tạp chí ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về sự phát triển NHĐT trên thế giới
Tác giả: Trần Hoàng Ngân
Nhà XB: Tạp chí ngân hàng
Năm: 2004
22. Đặng Thị Minh Nguyệt (2017), Hiệu quả kinh doanh của NHTM Cổ phần Công Thương Việt Nam. Luận án Tiến sĩ. Đại học Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh doanh của NHTM Cổ phần Công Thương Việt Nam
Tác giả: Đặng Thị Minh Nguyệt
Nhà XB: Đại học Thương mại
Năm: 2017
24. NHNN (2006), Các thành tựu công nghệ và dịch vụ NH hiện đại, Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thành tựu công nghệ và dịch vụ NH hiện đại
Tác giả: NHNN
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội
Năm: 2006
25. NHNN (2018). VBHN số 02/VBHN-NHNN 2018 về Tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động TD, NH nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: VBHN số 02/VBHN-NHNN 2018 về Tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động TD, NH nước ngoài
Tác giả: NHNN
Năm: 2018
27. NHNN (2017) Kỷ yếu hội thảo khoa học hành lang pháp lý cho ngân hàng số tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học hành lang pháp lý cho ngân hàng số tại Việt Nam
Tác giả: NHNN
Năm: 2017
28. NHNN (2016) Báo cáo đánh giá tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số định hướng hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo OECD (2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số định hướng hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam
Tác giả: NHNN
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo OECD
Năm: 2016
30. Đào Lê Kiều Oanh (2012): Phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Tác giả: Đào Lê Kiều Oanh
Nhà XB: Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
31. TS. Dương Hồng Phương (2010): Từng bước hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dịch vụ thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từng bước hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dịch vụ thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: TS. Dương Hồng Phương
Năm: 2010
32. Nguyễn Xuân Thành (2005) “Những vấn đề quan tâm nhất hiện nay của các nhà quản lý ngân hàng hiện đại”, Tạp chí ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề quan tâm nhất hiện nay của các nhà quản lý ngân hàng hiện đại
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Nhà XB: Tạp chí ngân hàng
Năm: 2005
33. Nghiêm Xuân Thành (2017) Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và sự chuẩn bị của ngành Ngân hàng Việt Nam. Tạp chí Tài chính kỳ 2, số tháng 2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và sự chuẩn bị của ngành Ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Nghiêm Xuân Thành
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2017
34. Trần Đức Thắng (2016): Nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử với mức độ thỏa mãn và mức độ trung thành của khách hàng ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử với mức độ thỏa mãn và mức độ trung thành của khách hàng ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Thắng
Nhà XB: Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2016
36. VECOM, Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam các năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam các năm
Tác giả: VECOM
23. Nghị định số 35/2007 Về GDĐT trong hoạt động ngân hàng do Chính Phủ ban hành ngày 8/3/2007 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w