1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở khoa học, xác lập luận cứ xây dựng quy hoạch phát triển khoa học công nghệ bộ tài nguyên và môi trường giai đoạn 2005 đến 2010 và định hướng đến 2020

107 625 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cơ sở khoa học, xác lập luận cứ xây dựng quy hoạch phát triển khoa học công nghệ bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2005 đến 2010 và định hướng đến 2020
Tác giả Nguyễn Linh Ngọc, Mai Trọng Tú, Lê Văn Hiền, Nguyễn Lê Tâm, Lê Anh Dũng, Đào Xuân Bái, Tống Tiến Định, Đoàn Thế Hùng
Người hướng dẫn TS Nguyễn Linh Ngọc
Trường học Viện Nghiên Cứu Địa Chất Và Khoáng Sản
Chuyên ngành Khoa học công nghệ Bộ Tài nguyên và Môi trường
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 898,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và quyết định số 272 ngày 31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học cô

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

-

BÁO CÁO TỔNG KẾT

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, XÁC LẬP LUẬN CỨ XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

-

Tập thể tác giả: Nguyễn Linh Ngọc (CNĐT),

Mai Trọng Tú, Lê Văn Hiền, Nguyễn Lê Tâm,

Lê Anh Dũng, Đào Xuân Bái, Tống Tiến Định, Đoàn Thế Hùng

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, XÁC LẬP LUẬN CỨ XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN

TỪ 2005 ĐẾN 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020

HÀ NỘI 2006

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương I: MỘT SỐ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHCN CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 12

I.1 NHỮNG THÀNH TỰU 12

I.1.1 Lĩnh vực tài nguyên đất 12

I.1.2 Lĩnh vực tài nguyên nước 13

I.1.3 Lĩnh vực Địa chất –Khoáng sản 15

I.1.4 Lĩnh vực đo đạc bản đồ 17

I.1.5 Lĩnh vực Khí tượng thủy văn 21

I.1.6 Lĩnh vực môi trường 25

I.2 NHỮNG HẠN CHẾ 26

I.3 NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 27

I.3.1 Đường lối chính sách phát triển KHCN của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt đầy đủ và chậm triển khai trong thực tiễn 27

I.3.2 Cơ cấu tổ chức - chức năng nhiệm vụ 28

I.3.3 Cơ chế quản lý KHCN còn mang nặng tính hành chính 28

I.3.4 Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý và cơ chế cấp phát vốn KH&CN còn nhiều bất cập 29

I.3.5 Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ còn hạn hẹp 29

Chương II: BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THUỘC CÁC LĨNH VỰC BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ .31

II.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC 31

II.1.1 Cơ hội 31

II.1.2 Những thách thức .32

II.2 XU THẾ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 40

II.2.1 Tài nguyên đất 43

II.2.2 Tài nguyên nước 43

II.2.2 Địa chất-Khoáng sản 44

II.2.4 Đo đạc bản đồ 46

II.2.5 Khí tượng thủy văn 47

II.2.6 Môi trường 47

Chương III: ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 49

III.1 CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TỰ ĐỘNG HOÁ 49

III.1.1 Ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực thuộc Bộ TN&MT 49

III.1.2 Tình hình ứng dụng CNTT xử lý và xây dựng CSDL trong các đơn vị thuộc Bộ TN&MT 51

Trang 4

III.1.3 Định hướng nghiên cứu ứng dụng CNTT và TĐH trong các lĩnh vực thuộc

Bộ TN&MT 52

III.2 CÔNG NGHỆ SINH HỌC MÔI TRƯỜNG 55

III.2.1 Xu thế phát triển và ứng dụng CNSH đối với ngành TN&MT 56

III.2.2 Tình hình ứng dụng CNSH trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 58

III.2.3 Tính cấp bách việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng CNSH 59

III.2.4 Định hướng nghiên cứu ứng dụng CNSH trong bảo vệ môi trường 59

III.3 CÔNG NGHỆ VŨ TRỤ 61

III.3.1 Xu thế phát triển và ứng dụng của CNVT đối với ngành Tài nguyên và Môi trường 61

III.3.2 Tình hình ứng dụng CNVT ở Bộ Tài nguyên và Môi trường 63

III.3.3 Sự cần thiết, cấp bách của việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng CNVT 69 III.3.4 Định hướng nghiên cứu áp dụng CNVT của Bộ TN&MT 70

III.4 NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 72

III.4.1 Ứng dụng NLNT trong các lĩnh vực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường 73

III.4.2 Tình hình ứng dụng bức xạ hạt nhân và đồng vị phóng xạ trong lĩnh vục địa chất, môi trường ở Việt Nam .73

III.4.3 Sự cần thiết đẩy mạnh ứng dụng năng lượng hạt nhân 74

III.4.4 Định hướng nghiên cứu ứng dụng NLNT trong các lĩnh vực thuộc Bộ TN&MT 75

III.5 CÔNG NGHỆ NANÔ 76

III.5.1 Các xu thế chính phát triển và ứng dụng CNNN đối với ngành Tài nguyên - Môi trường .77

III.5.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNNN ở Việt Nam 78

III.5.3 Sự cần thiết nghiên cứu ứng dụng CNNN tại Bộ TN&MT 79

III.5.4 Định hướng nghiên cứu áp dụng CNNN tại Bộ TN&MT 79

Chương IV: NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐẾN NĂM 2020 81

IV.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC 81

IV.1.1 Cơ sở pháp lý 81

IV.1.2 Cơ sở khoa học 81

IV.2 NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH ĐA LĨNH VỰC 82

IV.2.1 Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược quốc gia về quản lý, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên môi trường Việt Nam .82

IV.2.2 Những chuyên đề nghiên cứu tổng hợp 84

IV.3 NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐẶC THÙ CÁC LĨNH VỰC 85

IV.3.1 Tài nguyên đất 85

IV.3.2 Tài nguyên nước 86

IV.3.3 Địa chất và khoáng sản 88

IV.3.4 Đo đạc bản đồ 89

IV.3.5 Khí tượng thuỷ văn 90

IV.3.6 Môi trường 91

IV.4 TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TRANG THIẾT BỊ 92

Chương V: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 94

V.1 ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 94

V.1.1 Kiện toàn tổ chức các Viện thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường 94

Trang 5

V.1.2 Tiếp tục thực hiện phân cấp về quản lý tạo chủ động trong việc định hướng

nghiên cứu của các Viện và trường 994

V.2 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ 95

V.2.1 Công tác cán bộ 95

V.2.2 Đào tạo 96

V.3 TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TRANG THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU KHCN 97

V.4 ĐẦU TƯ VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO KHCN 98

V.4.1.Thực trạng sử dụng vốn 98

V.4.2 Một số giải pháp 99

V.5 ĐẨY MẠNH HỢP TÁC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 101

KẾT LUẬN 103

VĂN LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

MỞ ĐẦU

Khoa học công nghệ (KHCN) là chìa khoá thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, việc đánh giá trình độ khoa học công nghệ và nhu cầu phát triển, đổi mới công nghệ của mỗi quốc gia trên thế giới thường được triển khai thường niên hoặc có tính chu kỳ phụ thuộc vào yêu cầu của nền kinh tế Ở các nước công nghiệp phát triển, việc nghiên cứu xu thế phát triển của khoa học - công nghệ một cách thấu đáo, chi tiết, cân nhắc ở mọi góc độ khía cạnh, hiệu quả là việc làm hết sức cần thiết và là cơ sở cho Chính phủ hoạch định chính sách, chiến lược và lộ trình cụ thể, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội

Bộ Tài nguyên và Môi trường( Bộ TN&MT) được thành lập theo Nghị quyết

số 02/2002/ QH11 ngày 5/8/2002, theo đó ngày 11/11/2002 Chính phủ đã ra Nghị định số 91/ 2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm 6 lĩnh vực: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ Thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và quyết định số 272 ngày 31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học công nghệ Việt Nam đến năm 2010, ngày 6/2/2004

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra quyết định phê duyệt Chương trình hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó vạch ra những định hướng lớn về hoạt động khoa học công nghệ, những mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp cũng như các nhiệm vụ trọng điểm cần phải đạt được về khoa học - công nghệ cho từng lĩnh vực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý

Do được hình thành từ việc sát nhập nhiều cơ quan, đơn vị trực thuộc các Bộ, ngành khác nhau nên tình hình hoạt động Khoa học Công nghệ trong các lĩnh vực trên có những đặc thù riêng về mặt bằng công nghệ, nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được đào tạo, đồng thời nhằm đáp ứng những định hướng phát triển thống nhất, đồng bộ, cũng như có được những giải pháp tối ưu thúc đẩy phát triển KHCN, ngày 22/10/2004, Bộ TN&MT đã ra quyết định số 1456/QĐ-BTNMT giao cho Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản triển

khai đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, xác lập luận cứ xây dựng quy hoạch phát triển Khoa học Công nghệ Bộ tài nguyên và Môi trường giai đoạn từ 2005 đến

2010 và định hướng đến 2020” với các nội dung nghiên cứu sau:

Trang 7

1- Đánh giá thành tựu đã đạt được, cũng như những yếu kém, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm trong hoạt động Khoa học Công nghệ của các lĩnh vực

do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý trong thời gian vừa qua

2- Bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển khoa học-công nghệ thuộc các lĩnh vực Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý Bao gồm các mặt:

+ Hiện trạng khoa học-công nghệ và xu thế phát triển trên thế giới;

+ Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế;

+ Cơ hội và thách thức của khoa học - công nghệ trong các lĩnh vực quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với chiến lược phát triển kinh tế của đất nước từ 2005-2010 và đến năm 2020

3- Nhiệm vụ trọng tâm phát triển khoa học và công nghệ của Bộ Tài nguyên

và Môi trường đến năm 2010

+ Nghiên cứu, triển khai tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

+ Nghiên cứu làm rõ giá trị sử dụng của các loại tài nguyên, làm cơ sở xây dựng phương án, lựa chọn công nghệ sử dụng tài nguyên hợp lý Chú trọng nghiên cứu tiềm năng các loại tài nguyên quý có nguy cơ cạn kiệt do khai thác quá mức dẫn đến suy thoái môi trường

+ Nghiên cứu bản chất, quy luật tự nhiên và những tác động của thiên nhiên đến đời sống kinh tế xã hội, phục vụ dự báo phòng tránh thiên tai (bão lụt, cháy rừng, trượt đất, nứt đất, xói lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng cửa sông, hạn hán…) + Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về Biển Đông phục vụ cho công tác dự báo

và khai thác các nguồn lợi tổng hợp từ biển trên cơ sở phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng

4- Định hướng công nghệ trọng điểm

+ Công nghệ thông tin (CNTT): Xác định bước đi cụ thể trong việc triển khai công nghệ thông tin trong việc quản lý nhà nước về tài nguyên từ cấp Trung ương đến cơ sở Định hướng áp dụng các công nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu cũng như thư viện điện tử tài nguyên môi trường, hệ thống thông tin địa lý…

+ Công nghệ sinh học môi trường (CNSHMT): kiểm soát, xử lý, giám định môi trường, tập trung vào các khu công nghệ, khu vực làng nghề, chế biến nông sản; xử lý chất thải rắn, nước thải, khí thải, bảo vệ đa dạng sinh học

+ Công nghệ tự động hoá (CNTĐH): Ứng dụng công nghệ tự động hoá trong quan trắc thiên nhiên và môi trường, xử lý thông tin phục vụ dự báo thời tiết, thiên tai và bảo vệ môi trường

Trang 8

+ Công nghệ vũ trụ (CNVT): nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ viễn thám, công nghệ định vị toàn cầu phục vụ nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, giám sát môi trường; phục vụ quy hoạch sử dụng đất và vùng lãnh thổ; dự báo giám sát thiên tai…

+ Năng lượng nguyên tử (NLNT): Nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các kỹ thuật hạt nhân, bức xạ và đồng vị phóng xạ trong địa chất, thuỷ văn và môi trường 5- Các giải pháp phát triển khoa học và công nghệ:

+ Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ;

+ Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ;

+ Tăng cường năng lực trang thiết bị nghiên cứu khoa học và công nghệ;

+ Huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho khoa học và công nghệ;

+ Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ

6- Xác lập luận cứ khoa học xây dựng quy hoạch phát triển KH-CN theo một

lộ trình xác định với các bước đi thích hợp đến năm 2010 và định hướng 2020

Các phương pháp nghiên cứu:

- Thu thập, phân tích tổng hợp các tài liệu, số liệu;

- Phương pháp chuyên gia;

- Phương pháp phân tích hệ thống dự báo xu thế phát triển;

- Phương pháp điều tra xã hội học

Sản phẩm và yêu cầu khoa học - kỹ thuật, kinh tế - xã hội:

- Báo cáo tổng hợp, định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ (bao gồm nghiên cứu, ứng dụng, triển khai) của các lĩnh vực trong Bộ Tài nguyên

và Môi trường (tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, kể cả sở Tài nguyên và Môi trường của các địa phương) đến năm 2010 và 2020

- Một số giải pháp phát triển khoa học và công nghệ của Bộ

- Xác lập các luận cứ khoa học để xây dựng các chính sách quản lý và chiến lược phát triển KH & CN của Bộ TN & MT

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đảm bảo cung cấp luận cứ khoa học cho Lãnh đạo Bộ, các cơ quan quản lý Nhà nước tham mưu cho Bộ trưởng, các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có những định hướng đúng đắn trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ của Bộ theo hướng

Trang 9

hiện đại và hội nhập; tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp đồng bộ giữa đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật với đầu tư đào tạo nguồn nhân lực; phù hợp với Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trên cơ sở hợp đồng số 331/BTNMT - HĐ KHCN ký giữa Vụ Khoa học - Công nghệ, Bộ TN&MT và Viện, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản đã giao cho phòng KHCN-HTQT do TS Nguyễn Linh Ngọc làm chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ trên tại Phiếu giao việc số 269/GV - KH.TC ngày 12/01/2005

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, tập thể tác giả đã khẩn trương thu thập các loại tài liệu liên quan đến nội dung đề tài tại tất cả các đơn vị trong bộ và các sở TN&MT các địa phương, trong đó có hơn 60 phiếu điều tra, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, cá nhân trong và ngoài Bộ hoàn thành 40 chuyên đề sau:

1 Thống kê tổng hợp thông tin về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với

sự phát triển khoa học- công nghệ thuộc lĩnh vực Địa chất- Khoáng sản

2 Thống kê tổng hợp thông tin về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với

sự phát triển khoa học- công nghệ thuộc lĩnh vực Tài nguyên nước

3 Thống kê tổng hợp thông tin về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với

sự phát triển khoa học- công nghệ thuộc lĩnh vực Đo đạc - Bản đồ

4 Thống kê tổng hợp thông tin về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với

sự phát triển khoa học- công nghệ thuộc lĩnh vực Đất đai

5 Thống kê tổng hợp thông tin về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với

sự phát triển khoa học- công nghệ thuộc lĩnh vực Khí tượng- Thuỷ văn

6 Thống kê tổng hợp thông tin về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với

sự phát triển khoa học- công nghệ thuộc lĩnh vực Môi trường

7 Xây dựng Quan điểm và mục tiêu phát triển khoa học – công nghệ của

Bộ Tài nguyên và Môi trường đến năm 2010

8 Định hướng nghiên cứu giá trị sử dụng Tài nguyên đất đai làm cơ sở xây dựng phương án, lựa chọn công nghệ sử dụng tài nguyên hợp lý

9 Định hướng nghiên cứu giá trị sử dụng Tài nguyên khoáng sản làm cơ

sở xây dựng phương án, lựa chọn công nghệ sử dụng tài nguyên hợp lý

10 Định hướng nghiên cứu giá trị sử dụng Tài nguyên nước mặt và nước

Trang 10

dưới đất làm cơ sở xây dựng phương án, lựa chọn công nghệ sử dụng tài nguyên hợp lý

11 Xác lập luận cứ khoa học các vấn đề về địa chất và khoáng sản cần được nghiên cứu ở Biển Đông

12 Xác lập luận cứ khoa học các vấn đề về khí tuợng - hải văn và môi trường cần được nghiên cứu ở Biển Đông

13 Xác lập luận cứ khoa học các vấn đề về đo đạc và bản đồ cần được nghiên cứu ở Biển Đông

14 Định hướng nghiên cứu bản chất, quy luật tự nhiên và những tác động của thiên nhiên về khí tượng thuỷ văn đến đời sống kinh tế xã hội, phục

vụ dự báo phòng tránh thiên tai

15 Định hướng nghiên cứu bản chất, quy luật tự nhiên và những tác động của thiên nhiên về Tai biến địa chất đến đời sống kinh tế xã hội, phục

vụ dự báo phòng tránh thiên tai

16 Nghiên cứu khả năng ứng dụng công nghệ vũ trụ, nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ viễn thám, công nghệ định vị toàn cầu trong nghiên cứu khoa học điều tra cơ bản về địa chất và khoáng sản phục vụ quy hoạch vùng lãnh thổ

17 Nghiên cứu khả năng ứng dụng công nghệ vũ trụ, nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ viễn thám, công nghệ định vị toàn cầu trong nghiên cứu khoa học đo đạc và bản đồ phục vụ quy hoạch sử dụng hơp

lý đất và vùng lãnh thổ

18 Nghiên cứu khả năng ứng dụng công nghệ vũ trụ, nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ viễn thám, công nghệ định vị toàn cầu phục vụ nghiên cứu khoa học giám sát môi trường; dự báo giám sát thiên tai…

19 Xu thế và khả năng sử dụng công nghệ sinh học - xử lý môi trường khu vực làng nghề, các khu công nghiệp ở Việt Nam

20 Xu thế và khả năng sử dụng công nghệ sinh học - xử lý môi trường ở các lưu vực sông Việt Nam

21 Khả năng ứng dụng công nghệ tự động hoá đo lường và xử lý thông tin Khí tượng thuỷ văn phục vụ dự báo thời tiết, thiên tai và bảo vệ môi trường

22 Khả năng ứng dụng công nghệ tự động hoá đo lường và xử lý thông tin Khí tượng hải văn phục vụ dự báo thời tiết, thiên tai và bảo vệ môi trường biển

Trang 11

23 Xác định bước đi cụ thể trong việc triển khai công nghệ thông tin phục

vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trương ở cấp Trung ương

24 Xác định bước đi cụ thể trong việc triển khai công nghệ thông tin phục

vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở cấp Địa phương

25 Định hướng áp dụng các công nghệ phần mềm, hệ thống thông tin địa lý cho cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường

26 Định hướng áp dụng các công nghệ phần mềm, hệ thống thông tin địa lý thư viện điện tử tài nguyên môi trường

27 Định hướng nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các kỹ thuật hạt nhân, bức

xạ và đồng vị phóng xạ trong nghiên cứu địa chất khoáng sản

28 Định hướng nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các kỹ thuật hạt nhân, bức

xạ và đồng vị phóng xạ trong xử lý môi trường

29 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết công nghệ làm mưa nhân tạo ở Việt Nam

30 Xác định khả năng áp dụng công nghệ làm mưa nhân tạo ở Việt Nam

31 Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ

32 Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

33 Hiện trạng năng lực trang thiết bị nghiên cứu khoa học và công nghệ và một số giải pháp tăng cường năng lực nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản

34 Hiện trạng năng lực trang thiết bị nghiên cứu khoa hoc và công nghệ và một số giải pháp tăng cường năng lực nghiên cứu Khí tượng Thuỷ văn

35 Hiện trạng năng lực trang thiết bị nghiên cứu khoa học và công nghệ và một số giải pháp tăng cường năng lực nghiên cứu Đo đạc và bản đồ

36 Hiện trạng năng lực trang thiết bị nghiên cứu khoa học và công nghệ và một số giải pháp tăng cường năng lực nghiên cứu Trung tâm thông tin

37 Hiện trạng năng lực trang thiết bị nghiên cứu khoa học và công nghệ và một số giải pháp tăng cường năng lực nghiên cứu các Sở Tài nguyên và Môi trường

38 Định hướng nghiên cứu giá trị sử dụng của các dạng Tài nguyên khí hậu làm

cơ sở xây dựng phương án sử dụng tài nguyên hợp lý

39 Nghiên cứu cơ sở lý luận định hướng nghiên cứu khoa học công nghệ phục

vụ quản lý đất đai

40 Xu thế và khả năng sử dụng công nghệ sinh học - xử lý môi trường khu vực làng nghề ở Việt Nam

Trang 12

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài được hoàn thành tại Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản bởi tập thể tác giả: TS Nguyễn Linh Ngọc (Chủ biên), TS Mai Trọng Tú, TS Nguyễn Lê Tâm, TS Lê Anh Dũng,ThS Tống Tiến Định, KS Lê Văn Hiền, KS Đào Xuân Bái, ThS Đoàn Thế Hùng Ngoài ra, còn có sự tham gia của các cộng tác viên khoa học của Vụ KHCN, Viện NC Địa chính, Viện Khí tượng -Thủy văn, Trung tâm Khí tượng-Thủy văn Quốc gia, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Cục Bảo vệ Môi trường, Cục Quản lý Tài nguyên nước, v.v Trong quá trình triển khai, nhóm tác giả thực hiện đề tài luôn nhận được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Bộ TN&MT và Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản Tập thể tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đơn vị và cá nhân trên

Trang 13

Chương I MỘT SỐ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHCN CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

I.1 NHỮNG THÀNH TỰU

I.1.1 Lĩnh vực tài nguyên đất

- Về công tác nghiên cứu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: Hệ

thống các văn bản quy phạm pháp luật đất đai trong 10 năm qua đã tạo được cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai; tạo ra một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, giải quyết khá tốt mối quan

hệ đất đai ở khu vực nông thôn, bước đầu đã đáp ứng mối quan hệ đất đai mới hình thành trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa Hệ thống pháp luật đất đai luôn được đổi mới, ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh

tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh và ổn định xã hội

Luật đất đai năm 1993 được sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 mà trọng tâm là đổi mới chính sách đất đai phục vụ đầu tư và phát triển đã thể hiện được đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đất đai Luật đất đai năm 2003 là luật có phạm vi điều chỉnh bao quát nhất, có nhiều nội dung mới,

có thể coi như là một căn cứ pháp lý đầu tiên về việc quản lý, sử dụng đất theo nội dung đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó đáng chú ý là: Làm rõ nội dung quyền

sở hữu toàn dân về đất đai; Hoàn chỉnh chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, khu công nghiệp và dịch vụ; Thiết lập sự bình đẳng về quyền sử dụng đất giữa các thành phần kinh tế; Xóa bỏ bao cấp về đất đai trên cơ sở coi đất đai là nguồn vốn, nguồn nội lực to lớn của đất nước cần phải được định giá theo đúng quy luật của kinh tế thị trường và phải được đối xử như một loại hàng hóa có tính đặc thù trong quá trình giao dịch trên thị trường bất động sản; Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai; Quy định cụ thể thủ tục và trình tự thực hiện các thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất

- Về quy hoạch kế hoạch sử dụng đất: Từ năm 1993 đến nay, thông qua quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất Nhà nước thực hiện được quyền định đoạt về đất đai, nắm được quĩ đất đai đến từng loại đất, đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, có cơ sở để điều chỉnh chính sách, pháp luật đất đai theo hướng sử dụng đất có hiệu quả Đến nay, đã có 59/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt; 70 % đơn vị hành chính cấp huyện đã được phê duyệt quy

Trang 14

hoạch; cấp xã 60 % số đơn vị hành chính Bộ Tàì nguyên và Môi trường đã chỉ đạo các địa phương triển khai điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) trình cấp có thẩm quyền trong năm

2005

- Về công tác thống kê, kiểm kê đất đai: Từ sau khi Luật đất đai năm 1993 có

hiệu lực đến nay, đất đai trên phạm vi toàn quốc đã 3 lần được kiểm kê định kỳ vào các năm 1995, 2000 và 2005 Đã rà soát, kiểm kê theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng toàn bộ diện tích đất đai theo địa giới hành chính từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, các vùng kinh tế và cả nước; phân tích tình hình biến động sử dụng đất qua các giai đoạn Đã phản ánh đầy đủ các loại đất theo quy định của Luật đất đai Hệ thống chỉ tiêu thống kê đất đai mới bao gồm 34 chỉ tiêu phân loại đất trong

đó có 4 chỉ tiêu quan sát phục vụ cho công tác quản lý đất đai là: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng và đất ngập nước ven biển Điểm mới trong kiểm kê đất đai lần này là yêu cầu thống kê cả số người sử dụng đất, người được Nhà nước giao đất để quản lý; danh sách các tổ chức trong nước sử dụng đất Bản

đồ hiện trạng sử dụng đất của các vùng kinh tế và cả nước được xây dựng bằng công nghệ số

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thống kê, kiểm kê đất đai ngoài việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, còn giúp cho việc xử lý một khối lượng thông tin đồ sộ về đất đai, tăng thêm chỉ tiêu thống kê, đảm bảo tính thống nhất cao thông tin các cấp Kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ nhiệm vụ thống kê năm

2000 và 2005 đã xây dựng được 2 phần mềm chuyên dụng là TK- 2000 và TK- 05

- Phần mềm FAMIS & CADDB đã được sử dụng thống nhất trong ngành Địa chính từ cuối năm 1997 Phần mềm VILIS (áp dụng trong xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai cấp tỉnh) đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép triển khai ứng dụng để xây dựng hệ thống bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ công tác kiểm kê đất đai năm 2005 tại thành phố Hồ chí Minh

- Về đo đạc Bản đồ địa chính: Đến nay, toàn bộ quy trình đo đạc thành lập bản đồ địa chính theo công nghệ mới đã được thiết lập và vận hành đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai Kết quả nổi bật là: Đã xây dựng hệ thống lưới tọa độ địa chính cơ sở (tương đương lưới tọa độ hạng III Nhà nước) trên phạm

vi cả nước với 12631 điểm; Đo đạc bản đồ địa chính chính quy được khoảng 35 % diện tích cần đo Theo dự kiến kế hoạch đến năm 2010 sẽ hoàn thành công tác đo đạc bản đồ địa chính để phục vụ cho công tác thiết lập hồ sơ địa chính và hệ thống thông tin đất đai

I.1.2 Lĩnh vực tài nguyên nước

Trang 15

- Điều tra, đánh giá nguồn nước mặt : Việt Nam có mạng lưới sông suối

dày đặc, với khoảng 2600 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 11 lưu vực sông có diện tích >10.000km2 Công tác điều tra, khảo sát đã đánh giá được tổng lượng dòng chảy trung bình năm của toàn bộ sông suối trên lãnh thổ nước ta khoảng 835 tỷ m3, trong đó phần tổng lượng dòng chảy sinh ra từ lãnh thổ nước ngoài là 522 tỷ m3, chiếm khoảng 65% tổng lượng dòng chảy của cả nước Mức bảo đảm lượng nước trung bình năm trên 1 km2 và cho đầu người của cả nước ta đều lớn hơn nhiều so với trung bình của châu Á và của thế giới Tổng lượng nước

có khả năng sử dụng trong mùa cạn ở toàn lãnh thổ nước ta khoảng 166,5 tỷ m3, trong đó dòng chảy các sông suối là 138,5 tỷ m3, nước dưới đất là 8,2 tỷ m3 và các

hồ chứa điều tiết là 19,8 tỷ m3

- Điều tra địa chất thủy văn- địa chất công trình (ĐCTV-ĐCCT) và đánh giá nguồn nước dưới đất (NDĐ) : Điều tra ĐCTV tỷ lệ 1:200.000 đã hoàn thành

131.885 km2, tạo cơ sở khoa học cho việc định hướng điều tra thăm dò, khai thác NDĐ ở các địa bàn quan trọng như đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên và các đô thị, khu dân cư ven biển

Điều tra ĐCTV-ĐCCT tỷ lệ 1:50.000, 1:25.000 đã thực hiện trên 13 khu vực với 16.750 km2 Kết quả điều tra đã xác định đặc điểm địa chất thủy văn các tầng chứa NDĐ và đặc điểm thuỷ địa hoá của chúng, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho tìm kiếm thăm dò nước dưới đất và quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn nước trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là tại đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên

Đã điều tra đánh giá nguồn NDĐ cho 25 khu vực có nhu cầu lớn và 104 điểm dân cư, thị trấn thuộc các vùng núi phía Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, vùng sâu vùng xa Nam Bộ gặp nhiều khó khăn về nước sinh hoạt Kết quả là đã đánh giá nguồn nước đạt tổng trữ lượng 101.000 m3/ngày có thể đưa vào sử dụng Đã điều tra nguồn nước trên 9 đảo với tổng trữ lượng NDĐ 7.546 m3/ngày, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và phục vụ lực lượng bảo vệ an ninh quốc phòng

Ba mạng quan trắc quốc gia động thái NDĐ đã được xây dựng và đang được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Các tài liệu quan trắc công bố hàng năm làm cơ sở tốt cho việc quản lý, khai thác NDĐ, phòng chống ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước

- Điều tra, đánh giá chất lượng và khả năng cung cấp nước : Tài nguyên

nước bao gồm nước mưa, nước mặt, nước dưới đất và nước biển Công tác điều tra, nghiên cứu khả năng cung cấp nước sinh hoạt và cho các hoạt động kinh tế xã hội khác đã được Nhà nước chú trọng, đặc biệt là với các vùng kinh tế trọng điểm Đã đánh giá được hiện trạng sử dụng và nhu cầu cấp nước của các ngành khác nhau (cấp nước và tiêu nước cho nông nghiệp, sử dụng nước phát điện, nước phục vụ công nghiệp, du lịch và giải trí, v.v ), của các vùng dân cư (cấp nước cho đô thị,

Trang 16

cấp nước cho nông thôn) trong cả nước, đồng thời dự báo nhu cầu sử dụng nước của các ngành trong tiến trình phát triển của đất nước Theo kết quả tính toán của chương trình nghiên cứu khoa học KC-12, tổng lượng nước cần dùng (Wd) cho sinh hoạt và các ngành kinh tế quốc dân tăng mạnh từ 92 tỷ m3 của năm 2000 tới 121,5

tỷ m3 vào năm 2010 và có thể đạt 259,5 tỷ m3 vào năm 2040

Song song với việc điều tra, đánh giá hiện trạng sử dụng, khả năng cung cấp nước, phân vùng sử dụng hợp lý các nguồn nước, các nhiệm vụ đánh giá hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn các nguồn nước đã được các đơn vị trực thuộc Bộ TNMT thực hiện Bước đầu đã chính xác hóa ranh giới nhiễm mặn nước mặt và nước dưới đất của khu vực đồng bằng ven biển Việt Nam theo các mùa Phát hiện và khoanh định các nguồn nước, các đới ô nhiễm các nguyên tố vi lượng độc hại như: ô nhiễm

As ở Hà Nội, Nam Định, sông Mã v.v , ô nhiễm As, Hg, F ở Ninh Thuận - Bình Thuận, ô nhiễm vi sinh và dư lượng thuốc trừ sâu ở một số lưu vực sông Đã bước đầu làm rõ nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nước (do hoạt động nhân sinh và

do môi trường địa chất) và đề xuất một số giải pháp phòng tránh và giảm thiểu hậu quả

I.1.3 Lĩnh vực Địa chất - Khoáng sản

Trong những năm 1991-2002 ngành địa chất (Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản) đã chuyển đổi một cách tích cực theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, sắp xếp lại tổ chức, chuyển sang thực hiện công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản về địa chất, khoáng sản và tìm kiếm phát hiện mỏ trong phạm vi cả nước trên đất liền, biển nông ven bờ và hải đảo, bao gồm điều tra địa chất khu vực, điều tra khoáng sản, nước dưới đất, địa chất môi trường và địa chất đô thị, tai biến địa chất Công tác thăm dò mỏ khoáng sản rắn và nước dưới đất mà trước đó chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư vốn ngân sách đã chuyển giao cho các doanh nghiệp khai thác khoáng sản

* Công tác điều tra địa chất :

- Đến năm 1994 đã hoàn thành điều tra địa chất và bay đo từ tỷ lệ 1:200.000 trên toàn lãnh thổ Việt Nam Các tờ bản đồ địa chất-khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 đã được biên tập, xuất bản và phát hành rộng rãi đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh

tế xã hội

- Công tác bay đo địa vật lý tỷ lệ 1:50.000 - 1:25.000 hoàn thành trên 70.673

km2, đã đi trước một bước so với điều tra mặt đất đã tăng cường các phương pháp

xử lý tài liệu bằng phương tiện tin học Do vậy, đã khoanh định được nhiều cụm dị thường, phản ánh đặc điểm cấu trúc địa chất và khoáng sản liên quan, trong đó nổi bật là urani ở Quảng Nam, đất hiếm ở Tây Bắc, các đới biến đổi nhiệt dịch chứa quặng vàng, thiếc, sắt, magnhezit ở Trung Bộ

Trang 17

- Đến nay, 55,7% diện tích lãnh thổ đã được lập bản đồ địa chất - khoáng sản

tỷ lệ 1:50.000 với tổng diện tích 184.000 km2, bao gồm các diện tích ven biển từ Móng Cái đến thành phồ Hồ Chí Minh, một số cấu trúc địa chất quan trọng như đới Sông Hồng, Lô Gâm, rìa bắc khối nâng Kon Tum, phần lớn diện tích Tây Bắc Bắc

Bộ, Nam Trường Sơn Trong đó, đã phát hiện và làm sáng tỏ nhiều vùng có triển vọng khoáng sản như chì - kẽm ở Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang; đồng, vàng ở Tây Bắc Bộ; vàng ở Bắc Trung Bộ, rìa bắc, rìa tây khối nâng Kon Tum; thiếc ở nam Trung Bộ; felspat, grafit, đá quý ở đới Sông Hồng, barit ở Đông Bắc Bắc Bộ Những thành tích nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng quy hoạch, sử dụng, phát triển các vùng lãnh thổ

- Trên 97.860 km2 biển ven bờ đã hoàn thành công tác điều tra đồng bộ địa chất, khoáng sản, địa hoá… tạo nên hệ thống tài liệu phong phú và tin cậy về đới ven biển Việt Nam

* Công tác nghiên cứu:

- Đã định hướng những bước đi cơ bản của ngành: Ngoài việc định hướng nghiên cứu các vấn đề địa chất truyền thống như: sinh khoáng, kiến tạo, thạch luận…, bước đầu đầu tư nghiên cứu về tiềm năng và hướng sử dụng nguyên liệu mới Mặt khác, đang từng bước phát huy vai trò của địa chất học trong các lĩnh vực khác nhằm phục vụ trực tiếp cho các ngành kinh tế-xã hội như: địa chất tai biến, địa chất môi trường, địa chất đô thị, địa hóa thổ nhưỡng, địa chất du lịch,…

- Đã làm rõ hơn lịch sử hình thành và cấu trúc vỏ đất ở lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở các tài liệu mới, kết quả phân tích hiện đại và học thuyết kiến tạo Toàn cầu

- Ứng dụng tiến bộ khoa học đã được đầu tư và thu được hiệu quả đáng kể trong xử lý và thành lập tài liệu địa chất, địa vật lý, địa hoá, giải đoán tư liệu viễn thám, trắc địa, phân tích mẫu và điều tra địa chất biển, v.v

Nhìn chung, các khoáng sản rắn ở Việt Nam phân bố rất không đồng đều

Trang 18

trên lãnh thổ và thường tại các vị trí có cơ sở hạ tầng thấp Một số ít khoáng sản đã được thăm dò, nhưng mới xác định số lượng, chưa đánh giá ý nghĩa kinh tế, điều kiện khai thác và khả năng khai thác chế biến có lợi nhuận Hầu hết các mỏ khoáng sản kim loại như Cu, Pb, Zn, Ti, Mn có trữ lượng, tài nguyên trung bình hoặc nhỏ, phân bố không tập trung, bề dày thân quặng nhỏ, gây khó khăn cho việc thiết kế khai thác và xây dựng các cơ sở chế biến sâu Quặng sắt Việt Nam có trữ lượng trung bình, nhưng chất lượng không cao, phân bố không thuận lợi điều kiện khai thác khó khăn Do vậy, phát hiện mới các mỏ quặng kim loại cơ bản (Cu, Pb, Zn…)

và các mỏ quặng sắt chất lượng cao và các mỏ khoáng chất công nghiệp phục vụ công nghiệp vật liệu mới là rất cần thiết

* Điều tra địa chất đô thị, địa chất môi trường, tai biến địa chất:

Đã điều tra, thành lập bộ tài liệu đồng bộ về địa chất, khoáng sản ĐCTV, ĐCCT, địa chất môi trường, quy hoạch sử dụng đất cho 64 đô thị loại I và II; 3 khu vực phát triển kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà- Vũng Tàu, Đã Nẵng - Dung Quất Các tài liệu này đã và đang được khai thác, sử dụng có hiệu quả cho việc quy hoạch và quản lý đô thị

Công tác điều tra tai biến địa chất bước đầu đã được triển khai tại miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc, các tỉnh ven biển Miền Trung (từ Quảng Bình đến Phú Yên), hiện nay đang triển khai ở Đông Bắc và một số khu vực trọng điểm dọc tuyến đường Hồ Chí Minh

I.1.4 Lĩnh vực đo đạc bản đồ

- Từ năm 1990 Ngành Đo đạc và Bản đồ đã triển khai thực hiện chương trình đổi mới toàn diện công nghệ đo đạc và bản đồ Trong vòng 10 năm (1990-2000), thế hệ công nghệ tương tự (analog) cổ truyền đã được thay thế bằng công nghệ số-công nghệ vệ tinh Công nghệ tương tự dựa trên nguyên tắc quang học và cơ khí chính xác của các thiết bị mặt đất không đáp ứng được yêu cầu sản xuất thông tin trong giai đoạn phát triển mới Việc đổi mới và áp dụng công nghệ tiên tiến đã tạo

ra những bước nhảy vọt trong quá trình phát triển của Ngành Đo đạc và Bản đồ làm cho các sản phẩm đo đạc bản đồ ngày nay có chất lượng ngày càng được nâng cao, giá thành ngày càng hạ, có uy tín và khả năng cạnh tranh với các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực Nhờ việc nhanh chóng áp dụng những công nghệ tiên tiến của thế giới nên trước kia độ chính xác định vị chỉ cỡ đề-xi-mét, nay có thể đạt được độ chính xác đến mi-li-mét; từ khả năng đo đạc với khoảng cách vài chục ki-lô-mét nay có thể vươn tới khoảng cách vài nghìn ki-lô-mét; từ khái niệm trắc địa tĩnh (đo đạc trong không gian 3 chiều) đã chuyển sang khái niệm trắc địa động (đo

Trang 19

đạc trong không gian-thời gian) Giá thành thiết lập một điểm toạ độ hạng cao trước đây lên đến vài trăm triệu đồng nay chỉ còn vài chục triệu đồng Thời gian để hoàn thành các công trình được rút ngắn xuống vài lần không phụ thuộc vào điều kiện địa hình và thời tiết của khu vực thi công Ngoài các thiết bị đo đạc mặt đất truyền thống sử dụng trước đây (máy thủy chuẩn, kinh vĩ, ) từ những năm 1990 các đơn vị đo đạc và bản đồ đã được trang bị một số lượng lớn các máy toàn đạc điện tử, máy kinh vĩ điện tử, thuỷ chuẩn điện tử Công nghệ định vị vệ tinh nay đã được phát triển mở rộng sang các kỹ thuật đo RTK, DGPS Hiện đã có 5 trạm thu GPS cố định đang hoạt động phục vụ công tác đo đạc thành lập bản đồ địa hình đáy biển, các loại bản đồ chuyên đề, chuyên ngành khác nhau, phục vụ công tác quản lý đường biên giới, thi công các công trình trên biển và trên đất liền v.v

- Trong lĩnh vực bay chụp, xử lý ảnh hàng không, thành lập bản đồ địa hình, địa chính đã hoàn toàn chuyển sang công nghệ số và tự động hoá Công nghệ công nghệ bay chụp ảnh tự động, dẫn đường bằng GPS đã được nghiên cứu và đưa vào

sử dụng từ năm 1999 như hệ thống bay chụp ảnh RMK-TOP 15 Các hệ thống máy tráng rửa phim, quét ảnh số độ phân giải cao, trạm tăng dày và đo vẽ ảnh số của các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Đức, Thuỵ Sỹ, v.v đã được thử nghiệm và đưa vào sản xuất góp phần to lớn để hoàn thành những công trình trọng điểm về đo đạc

và bản đồ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng của Nhà nước

- Cùng với công nghệ số, ngày nay nhờ những ảnh vệ tinh có độ phân giải cao và siêu cao (< 1m ngoài thực địa) kết hợp với công nghệ GPS đã mở ra một khả năng mới cho ngành đo đạc và bản đồ Với công nghệ này có thể thành lập và hiệu chỉnh bản đồ địa hình các loại tỉ lệ (kể cả bản đồ địa hình tỷ lệ lớn đến 1:5000) trong thời gian nhanh nhất, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt có thể thực hiện trên một phạm vi rộng lớn, ở những khu vực khó khăn phức tạp, nhạy cảm mà các phương pháp khác không thể thực hiện được (ví dụ ở các khu vực có đảo ngoài khơi hoặc vùng biên giới trên đất liền đang có tranh chấp) Trong vòng 5 năm trở lại đây, ngoài công nghệ chụp ảnh vệ tinh các công nghệ khác được nghiên cứu ứng dụng để thu nhận thông tin bề mặt địa hình trái đất như: ảnh rada (SAR- Synthetic Aperture Rada), ảnh rada giao thoa (IFSAR- Interferometric Synthetic Aperture Rada), ảnh quet lade (LIDAR-Light Detection and Ranging) được sử

Trang 20

dụng trong công nghệ viễn thám, chúng có những ưu điểm nổi bật để xây dụng mô hình số độ cao bề mặt trái đất

- Công tác biên tập, xuất bản bản đồ đã được trang bị hệ thống phần mềm biên tập thành lập bản đồ số, hệ thống chế in hiện đại (mapsetter) Trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ công tác thu nhận, xử lý, cung cấp, khai thác dữ liệu đo đạc bản đồ được trang bị đồng bộ cho các đơn vị Trung ương Về hệ thống mạng truyền dữ liệu: một số đơn vị đã xây dựng mạng cục bộ intranet Việc xây dựng phần mềm ứng dụng được phát triển tập trung ở lĩnh vực xử lý dữ liệu, biên tập bản

đồ, cung cấp thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu trắc địa, tính chuyển toạ độ, chuyển đổi bản đồ số giữa các hệ quy chiếu Các phần mềm hệ thông tin địa lý phục vụ cho công tác quản lý các cấp hành chính hiện nay cũng đang được triển khai xây dựng

- Một số công trình tiêu biểu:

+ Nghiên cứu, xây dựng thành công Hệ quy chiếu và Hệ toạ độ quốc gia

VN-2000, đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định áp dụng thống nhất trên phạm vi

cả nước;

+ Nghiên cứu, xây dựng hoàn chỉnh Hệ thống số liệu gốc đo đạc quốc gia bao gồm: Hệ thống điểm toạ độ đã được xây dựng hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước theo hệ toạ độ VN-2000 và được chia thành 4 cấp hạng: Cấp “0” - 71 điểm, hạng I

và hạng II - 1665 điểm, hạng III (địa chính cơ sở) với tổng số 12.631 điểm; Mạng lưới độ cao nhà nước hiện đang được hiện đại hóa với 3 cấp hạng: hạng 1 - 5096

km, hạng 2 - 4515 km; Các điểm gốc toạ độ vệ tinh hiện có 5 trạm thu tín hiệu GPS

cố định gồm các trạm đặt tại Đồ Sơn, Vũng Tàu, Điện Biên, Cao Bằng và Hà Giang trong đó ba trạm Đồ Sơn, Vũng Tàu và Điện Biên hoạt động thường xuyên, trạm thu tín hiệu GPS cố định tại Quảng Nam hiện đang xây dựng; Hệ thống điểm trọng lực cơ bản nhà nước gồm 4 điểm cơ sở, 26 điểm hạng I, 440 điểm hạng II, III hiện cũng đang được hiện đại hóa;

+ Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới để xây dựng Hệ thống không ảnh phục vụ đo vẽ và hiệu chỉnh bản đồ địa hình gồm: Bộ phim ảnh mới chụp từ máy bay tỷ lệ 1/10.000 - 1/45.000 từ năm 1999 đến 2005 phủ trùm cả nước, phim ảnh chụp từ máy bay từ năm 1958 - 1998; Bộ ảnh vệ tinh độ phân giải từ 2 - 20m phủ trùm cả nước trong thời gian 1998 - 2005 gồm ảnh Sport-1,2,3,4,5, Landsat, Rada ERS, Radasat, KATE-200, KATE-1000;

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ đo vẽ ảnh số để hoàn thành xây dựng: Hệ thống bản đồ địa hình quốc gia phủ trùm 1/50.000 trong hệ toạ độ quốc gia VN-

2000 gồm 573 mảnh bản đồ số Ngoài ra, đã hoàn thành 98 mảnh bản đồ địa hình

tỷ lệ 1:50.000 biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc, 69 mảnh bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:50.000, bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25 000, 1/10 000, 1/5 000,

Trang 21

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám để hiệu chỉnh bản đồ địa hình

tỷ lệ 1:1.000.000 bằng ảnh vệ tinh KATE - 200 của Liên Xô(cũ) và ảnh vệ tinh Landsat của Mỹ, hiệu chỉnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 và 1: 25 000 bằng ảnh vệ tinh ở nhiều vùng với những đặc điểm địa lý rất khác nhau Đến nay đã hiệu chỉnh được

189 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000, 437 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 phủ trùm đồng bằng Nam Bộ, Tây Ninh, đồng bằng trung du Bắc Bộ bằng công nghệ viễn thám, góp phần hoàn thành công trình bộ bản đồ phủ trùm toàn quốc tỷ lệ 1:50.000 của

Bộ TN&MT Trong thời gian đầu, tư liệu chính để hiệu chỉnh là ảnh vũ trụ KFA -

1000 của Liên Xô(cũ) với độ phân giải 5m Trong những năm sau đó tư liệu chính

để hiệu chỉnh là ảnh vệ tinh SPORT 1,2,4 của Pháp với độ phân giải 10m (loại ảnh toàn sắc) và 20m (loại ảnh đa phổ) và gần đây đã sử dụng cả ảnh SPORT 5 với độ phân giải 2,5m Thành lập bản đồ các vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bản

đồ Biển Đông Bộ bản đồ bao gồm: Bản đồ tỷ lệ 1:25.000 phủ trùm các vùng có đảo nổi; Bản đồ 1:50.000 phủ trùm vùng có đảo nổi, đảo chìm; Bản dồ 1:250.000

và 1:500.000 phủ trùm toàn vùng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa và Bản đồ Biển Đông tỷ lệ 1:1.000.000 Một số đề tài ứng dụng công nghệ viễn thám nhằm mục đích khai thác lãnh thổ, bảo vệ thiên nhiên, khảo sát sự biến động dòng sông, đường bờ biển, rừng ngập mặn, đất ngập nước, quy hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản Việt Nam cũng như ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã có những thành công bước đầu;

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ LIRDA xây dựng mô hình số độ cao (DEM) Công nghệ này cho phép quét ảnh với độ chính xác cao, ảnh có thể chồng xếp lên nhau tạo ra mô hình 3 chiều, độ chính xác về độ cao của thiết bị này có thể đạt từ 15cm - 1m tùy theo độ cao bay, khoảng cách giữa các điểm thu thập thông tin cho phép thay đổi từ 10cm - 3m dữ liệu dạng số nhanh Do quét ảnh bằng tia laser nên có thể bay chụp với bất cứ thời tiết nào trong năm Đây là công nghệ hiện đại lần đầu sử dụng tại Việt Nam Kết hợp công nghệ LIRDA với các công nghệ tiên tiến khác như sử dụng ảnh có độ phân giải siêu cao (ảnh Qickbird) để thành lập

Trang 22

bản đồ địa hình tỷ lệ 1/5.000 và công nghệ GPG-RTK, ARC-GIS để xây dựng mô hình số độ cao độ chính xác cao (DEM) cho một vùng hơn 40.000 km2 thuộc 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

I.1.5 Lĩnh vực khí tượng thủy văn (KTTV)

* Từng bước hiện đại hóa phương tiện quan trắc KTTV:

Song song với việc khai thác trang thiết bị kỹ thuật truyền thống, trong những năm qua, phương tiện đo trên mạng lưới điều tra cơ bản KTTV và quan trắc môi trường đã từng bước được đổi mới theo hướng hiện đại hoá

- Về thuỷ văn: Cùng với hơn 60 trạm được trang bị thiết bị đo tự ghi trước đây, đã trang bị thêm thiết bị đo mực nước tự động cho 24 trạm thuỷ văn, đưa tổng

số trạm thuỷ văn được trang bị thiết bị đo tự ghi/tự báo lên 84 trạm Tám trạm thuỷ văn vùng cửa sông và đồng bằng sông Cửu Long đã được trang bị thiết bị đo lưu lượng nước tự động ADCP (Acountic Doppler Current Profiles), đem lại hiệu quả cao trong công tác đo đạc, khảo sát Đây là loại thiết bị lần đầu tiên được áp dụng ở nước ta

- Về khí tượng: Đã trang bị 14 trạm khí tượng tự động nhiều yếu tố bằng nguồn vốn từ các dự án hợp tác với nước ngoài Xây dựng, lắp đặt, trang bị mới thiết bị đo khí tượng cao không tự động cho 3 trạm thám không vô tuyến ở Hà Nội,

Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh; khôi phục 3 trạm đo gió pilot Lạng Sơn, Pleiku và Buôn Ma Thuột; xây dựng mới 3 trạm quan trắc tổng lượng ô-dôn, bức

xạ cực tím Ngoài ra, đến nay đã có 6 trạm ra-đa thời tiết đặt tại Hải Phòng, Việt Trì, Vinh, Tam Kỳ, Nha Trang và Nhà Bè thường xuyên cung cấp các thông tin về

vị trí tâm bão, vùng đổ bộ của bão, vùng mưa lớn góp phần nâng cao chất lượng

dự báo, cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm

- Về KTTV biển: Đã trang bị 6 máy triều ký cho mạng lưới trạm khí tượng hải văn; 4 trạm phao tự động tại các vùng biển Hòn Ngư, Cồn Cỏ, Lý Sơn, DK1-7

từ dự án hợp tác với Na Uy Trong thời gian dự án, các trạm phao hoạt động tương đối tốt, thu được những chuỗi số liệu dài ngày như số liệu sóng và dòng chảy liên

tục hàng tháng, kể cả trong bão

- Đưa vào khai thác sử dụng thành công hệ thống thám không vô tuyến DigiCORA-RS80 mới hiện đại, cung cấp đầy đủ số liệu, chính xác cho dự báo thời tiết và trao đổi quốc tế, đã được Tổ chức Khí tượng Thế giới đánh giá tốt

- Đưa vào khai thác tàu nghiên cứu biển, từ đó đã chủ động được kế hoạch khảo sát và tiết kiệm được hàng trăm triệu đồng hàng năm

- Đưa vào sử dụng Kính thiên văn FS - 152 do hãng TAKAHASHI thiết kế

và chế tạo, tại Đài Khí tượng thủy văn khu vực Đông Bắc, vừa phục vụ nghiên cứu khoa học, vừa giới thiệu về môn thiên văn học cho du khách

Trang 23

- Đưa vào sử dụng thử nghiệm các trạm khí tượng thủy văn, hải văn tự động

Đã đưa vào hoạt động trong mạng lưới quan trắc môi trường không khí 6 trạm tự động Đây là thiết bị hiện đại nhất, lần đầu tiên được lắp đặt tại Việt Nam với hệ thống thiết bị do hãng Kimoto (Nhật Bản) sản xuất Đưa hệ thống thiết bị này vào trạm quan trắc môi trường không khí vào hoạt động đã đáp ứng yêu cầu trao đổi thông tin khí tượng thủy văn môi trường với các nước trong khu vực

- Ứng dụng phần mềm không gian ba chiều vào dự báo thời tiết Phiên bản phần mềm dự báo thời tiết Weatherscape XT hãng phần mềm Metra của New Zealand và tập đoàn truyền thông BBC thiết kế giúp người xem theo dõi thời tiết dễ dàng và gần với cuộc sống thực tế hơn

* Xây dựng mới hệ thống quy trình, quy phạm chuyên ngành KTTV:

- Đã xây dựng và điều chỉnh, bổ sung được 25 bộ quy trình, quy phạm về khí tượng, thuỷ văn, hải văn, môi trường, phương tiện đo KTTV Ngoài ra, quy phạm về lưu trữ tư liệu KTTV áp dụng ở Trung ương và các Đài KTTV khu vực cũng được xây dựng, nhờ đó chất lượng các công tác này được ổn định, giữ vững

và từng bước nâng cao

- Đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ làm công tác

dự báo số trị Các kết quả dự báo số trị đã được đưa vào nghiệp vụ góp phần rút

ngắn khoảng cách tụt hậu về công nghệ dự báo thời tiết của nước ta với các nước trong khu vực Năm 2003, mô hình dự báo khí hậu đã được thử nghiệm có kết quả Những thành công này tạo ra một bước ngoặt trong công nghệ dự báo khí tượng, khí hậu, góp phần nâng cao chất lượng dự báo

Dự báo thử nghiệm các trường khí tượng cho Việt Nam với độ phân giải cao bằng mô hình MM5 và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật trong dự báo khí tượng bằng mô hình số trị

* Xây dựng hệ thống kiểm định thiết bị đo KTTV:

Hệ thống kiểm định phương tiện đo KTTV đã được quan tâm đầu tư xây dựng nhằm bảo đảm tiêu chuẩn về chất lượng của phương tiện đo KTTV Đến năm

1995, hệ thống kiểm định đã kiểm chuẩn được thiết bị đo nhiệt độ, ẩm độ, áp suất khí quyển và nhận được ủy quyền kiểm định nhà nước các yếu tố này Năm 1997,

hệ thống này đã kiểm chuẩn thêm thiết bị đo tốc độ dòng chảy và thiết bị đo gió Nhờ đó, phương tiện đo các yếu tố KTTV đã cơ bản được kiểm chuẩn theo quy định Hiện nay, ngành KTTV đang xây dựng đề án để thực hiện đầu tư, củng cố, thay đổi các loại máy chuẩn mẫu và thiết bị kiểm định các yếu tố khí tượng khác

* Công tác dự báo KTTV:

Công tác thông tin chuyên ngành phục vụ dự báo KTTV đã từng bước được hiện đại hoá Hiện nay, Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương được trang bị 4 kênh

Trang 24

liên lạc quốc tế: Hà Nội - Bắc Kinh, Hà Nội – Matxcơva, Hà Nội - Băng Cốc, Hà Nội - Tôkyô Các kênh thông tin đã được khai thác rất hiệu quả nhằm thu nhận số liệu quan trắc, các sản phẩm phân tích và dự báo, ảnh vệ tinh, số liệu ra-đa từ các trung tâm quốc tế và từ 9 đài KTTV khu vực trong nước phục vụ cho công tác dự báo KTTV ở Trung ương và địa phương, đáp ứng kịp thời nhu cầu phòng tránh thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội Đến năm 2005, mạng thông tin phục vụ dự báo KTTV đã kết nối tất cả các trung tâm Dự báo KTTV cấp tỉnh với Đài KTTV khu vực và Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương, hiện đang được mở rộng tới một

số trạm KTTV

Về dự báo thuỷ văn, ngoài việc không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng dự báo lũ trên các sông lớn, hệ thống cảnh báo, dự báo lũ quét trên sông, suối nhỏ cũng đang được triển khai thử nghiệm tại Nậm La - Nậm Pàn tỉnh Sơn La nhằm rút kinh nghiệm trước khi áp dụng cho các khu vực khác

Những tiến bộ trong hiện đại hoá thông tin và công nghệ dự báo KTTV nêu trên đã đưa trình độ dự báo của Việt Nam từ chỗ còn lạc hậu lên mức trung bình trong khu vực; bảo đảm dự báo kịp thời các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lũ, các đợt không khí lạnh, rét đậm, nắng nóng, hạn hán đáp ứng cơ bản những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội và công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai Dự báo sóng phục vụ cho công tác khai thác dầu khí

* Công tác tư liệu và phục vụ số liệu KTTV:

Nhận thức rõ tầm quan trọng của các tư liệu lịch sử KTTV đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, công tác tư liệu KTTV đã được quan tâm thường xuyên Tư liệu KTTV đã được tiếp nhận, lưu trữ, thẩm tra đánh giá, phục chế theo quy định Kho lưu trữ đã được chống xuống cấp nhằm bảo đảm an toàn cho các số liệu điều tra cơ bản KTTV của cả nước trong hơn 100 năm qua Số liệu KTTV đã được cung cấp phục vụ nhu cầu của nhiều chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước, phục vụ các ngành kinh tế - xã hội, nghiên cứu khoa học và đào tạo Công tác

tư liệu KTTV đã có những bước khởi đầu để hiện đại hoá: tin học hoá dữ liệu KTTV, phát triển các phần mềm xử lý và lưu trữ số liệu KTTV

* Công tác khoa học công nghệ:

Trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học KTTV đã được đẩy mạnh và đã có sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Các lĩnh vực nghiên cứu đã tập trung phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng điều tra cơ bản, chất lượng dự báo KTTV Các vấn đề về khí tượng nhiệt đới, bão, khí hậu, khí tượng chuyên ngành, thuỷ văn lục địa, KTTV biển, môi trường nước

và không khí phục vụ nhu cầu của các ngành, các địa phương, các vùng kinh tế cũng được quan tâm nghiên cứu

Trang 25

Một số kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tế và góp phần tích cực cho hoạt động của ngành, cho phát triển kinh tế - xã hội đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất như thiết bị điều chế hydro bằng phương pháp điện phân nước phục vụ cho các trạm thám không vô tuyến và đo gió pilot; nghiên cứu đánh giá tài nguyên khí hậu, tài nguyên nước của từng vùng, điều kiện KTTV biển; xác định các thông số KTTV để đánh giá trữ lượng nước, chất lượng môi trường nước và không khí, điều kiện khí hậu cho các công trình, nhà máy; nghiên cứu điều kiện KTTV nông nghiệp cho cây trồng, vật nuôi ở từng vùng kinh tế, vùng tái định cư của Dự án Thuỷ điện Sơn La; dự báo năng suất cho một số cây trồng chính

Trong giai đoạn 2003-2005, các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ (NCKHCN) của lĩnh vực Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã tập trung vào các nội dung chính như nghiên cứu đánh giá lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu dự báo KTTV (khí tượng, thủy văn, hải văn, môi trường…), xây dựng cơ sở dữ liệu và chỉnh lý số liệu khí tượng thủy văn, bước đầu ứng dụng các thiết bị mới và công nghệ mới vào chuyên môn nghiệp vụ Hầu hết các đề tài nghiên cứu khoa học có khả năng đưa vào ứng dụng nghiệp vụ, sau khi được nghiệm thu ở cấp Bộ, đã được chuyển thành các tiến bộ kỹ thuật (TBKT) Nhìn chung, các TBKT được triển khai đúng tiến độ và đem lại hiệu quả phục vụ thiết thực cho công tác nghiệp vụ của ngành

Các kết quả khoa học công nghệ nổi bật được đưa vào áp dụng và triển khai trong giai đoạn 2003-2005 cụ thể như sau:

- Công tác “Đánh giá thẩm định tài liệu điều tra, khảo sát lũ đồng bằng sông Cửu Long” hàng năm đã giúp cho bộ số liệu điều tra khảo sát lũ đảm bảo chất

lượng và độ tin cậy, phục vụ tốt cho các ngành, các cấp trong lĩnh vực quy hoạch phát triển đồng bằng sông Cửu Long và là cơ sở khoa học đề ngành KTTV hoạch định một kế hoạch tổng thể hợp lý trong công tác đo đạc điều tra, khảo sát thu thập tài liệu lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long trong những năm tới;

- Tiến bộ kỹ thuật “Xây dựng hệ thống nghiệp vụ HRM (mô hình dự báo số trị khu vực hữu hạn) trên hệ máy tính song song hiệu năng cao” đã chạy nghiệp vụ

mô hình dự báo số trị khu vực đo phân dải cao cho Việt Nam với thời gian chưa đến 1h và cho sản phẩm dự báo là các trường khí tượng, đóng góp một phương pháp dự báo tiên tiến mang tính chủ động trong dự báo thời tiết;

- Đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm áp dụng mô hình khí tượng động lực quy

mô vừa MM5 trong dự báo hạn ngắn ở Việt Nam”đã nghiên cứu chạy thử nghiệm

thành công, đưa ra được kết quả dự báo thời tiết bằng phương pháp số trị Trên cơ

sở đó, Viện KTTV đã thực hiện dự báo bão bằng mô hình MM5 khi có bão ở Biển Đông, phát báo kết quả dự báo cho Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương để có thêm một lựa chọn trong quá trình dự báo bão;

Trang 26

- Đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm dự báo khí hậu ở Việt Nam” đã có kết quả

dự báo bằng các phương pháp thống kê thực nghiệm Bắt đầu từ tháng 01 năm

2003 đến nay đã thử nghiệm dự báo khí hậu nghiệp vụ với thời hạn dự báo là 3 tháng;

- Đã xây dựng một số đề tài nghiên cứu phát triển một số phần mềm xử lý số liệu KTTV trên máy tính theo hướng ứng dụng công nghệ mới và đang tiến hành triển khai trên mạng lưới Qua đó, có thể tự động hóa khâu kiểm tra, chỉnh lý các số liệu quan trắc đo đạc hàng ngày ở các trạm, góp phần giảm nhẹ cường độ lao động, đảm bảo độ chính xác của số liệu quan trắc ở mức cao nhất, tiến tới loại trừ dần việc lập báo cáo tổng kết số liệu trên giấy, đặt cơ sở cho việc tự động hóa toàn bộ công tác tư liệu;

- Tiến bộ kỹ thuật “Áp dụng mô hình thống kê thời tiết - cây trồng và mô phỏng động thái hình thành năng suất lúa để xây dựng quy trình dự báo năng suất lúa cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long” đã được áp dụng thử nghiệm dự báo

năng suất lúa cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

I.1.6 Lĩnh vực môi trường

* Công tác quản lý nhà nước:

Đã thực hiện Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học; Xây dựng Báo cáo Hiện trạng môi trường và Quản lý mạng lưới quan trắc và phân tích môi trường quốc gia; Thông tin, lưu trữ tư liệu, số liệu về môi trường, kết nối mạng Thông tin môi trường quốc tế và Xây dựng mạng Thông tin môi trường quốc gia; Các hoạt động nâng cao nhận thức và xây dựng mạng lưới Giáo dục - Đào tạo và Truyền thông môi trường

* Công tác đánh giá tác động môi trường:

Thực sự được triển khai một cách có hệ thống từ trung ương đến địa phương,

ở khắp mọi ngành trên cả nước kể từ khi có Luật Bảo vệ môi trường (BVMT), đặc biệt là từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật BVMT Trong thời gian 10 năm qua, công tác đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực, phát huy được vai trò và có những đóng góp quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường của đất nước

Việc thẩm định, phê duyệt và kiểm tra báo cáo đánh giá tác động môi trường Việt Nam đã và đang có những bước phát triển khích lệ Ở cấp Trung ương, tổng số báo cáo được thẩm định và phê duyệt trong 10 năm qua đạt hơn 800 báo cáo, trong

đó các báo cáo chủ yếu thuộc các loại hình dự án về sản xuất vật liệu xây dựng, hoá chất, khai thác mỏ, cơ khí Ở cấp địa phương đã thẩm định và phê duyệt hơn 26.000 báo cáo, trong đó giai đoạn từ 1994 đến 1999 đạt khoảng 25% và giai đoạn

từ 2000 đến 2004 đạt 75%

Trang 27

* Hoạt động kiểm tra, giám sát

Hoạt động kiểm tra, giám sát đánh giá tác động môi trường cũng được tiến hành thường xuyên Lực lượng cán bộ làm công tác đánh giá môi trường ngày càng trưởng thành về chuyên môn và kinh nghiệm thực tế, đến nay, lực lượng cán bộ môi trường từ trung ương đến địa phương đã có thể tự đảm đương được việc tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động của môi trường thuộc phân cấp của

mình

I.2 NHỮNG HẠN CHẾ

Cùng với việc tổng kết những thành quả đạt được, nhất thiết phải phân tích

và nhận thức đầy đủ những mặt tồn tại của khoa học công nghệ trong ngành Tài nguyên và Môi trường So sánh với trình độ tiến tiến của thế giới thì trình độ KHCN Việt Nam còn có khoảng cách rất xa về trình độ hiện đại hoá, năng lực khoa học kỹ thuật, thể chế quản lý, đào tạo nhân tài, ngân sách đầu tư, sản phẩm KHCN chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện cho việc phát triển nền kinh tế - xã hội Các mặt tồn tại biểu hiện ở các nội dung sau:

- Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn, đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý Hiện nay, cán bộ khoa học được nhà nước phong học hàm Giáo sư, Phó giáo sư thuộc Bộ quản lý là 13 người, trong đó có 2 người là lãnh đạo Bộ Về độ tuổi, 12 người có độ tuổi trên 55, 3 người độ tuổi trên 60 Chưa có quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao ở các lĩnh vực KH-CN ưu tiên, đặc biệt là cán bộ KH-CN đầu ngành Chưa có chính sách thu hút, ưu đãi cán

bộ của ngành TN&MT nói chung, cũng như những người làm công tác khoa học nói riêng

- Đầu tư cho KH&CN còn rất thấp, tỉ lệ vốn nghiên cứu khoa học kỹ thuật hiện nay của Bộ TN&MT chưa đạt mức 10%, mặc dù vậy nguồn vốn này vẫn còn cấp phát cho các đơn vị không có chức năng, sở trường nghiên cứu Vốn ngân sách cấp cho các trường còn hạn chế hơn với tỉ lệ chưa đạt 5%

Mặt khác, các vấn đề có tính cấp thiết cần nghiên cứu quá nhiều, cho nên vốn nghiên cứu phải dàn trải để đáp ứng các yếu cầu cấp bách, từ đó dẫn đến tình trạng các sản phẩm khoa học còn dừng lại ở mức cơ sở dữ liệu, chưa luận giải, chuẩn hóa với các nước trong khu vực và thế giới, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế

Các tiêu chuẩn làm cơ sở thống nhất cho công tác thẩm định, quản lý, cấp và thu hồi giấy phép đăng ký, đầu tư trong các lĩnh vực quản lý đất đai, khí tượng thủy văn, địa chất khoáng sản, đánh giá tác động môi trường chưa có hoặc còn thiếu hoặc không đồng bộ Các luận cứ để xây dựng tiêu chuẩn của ngành đã lạc hậu,

Trang 28

chưa theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay Quy trình điều tra địa chất khoáng sản rắn, tài nguyên nước dưới đất chưa theo kịp sự phát triển của khoa học hiện nay

-Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, các trường làm công tác đào tạo thuộc Bộ nhìn chung còn rất thiếu, chưa đồng bộ, phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng của các đề tài nghiên cứu

- Hệ thống dịch vụ KH-CN, bao gồm thông tin KH-CN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn lạc hậu cả về cơ

sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế xã hội cũng như hội nhập khu vực và quốc tế

Xét về mặt tổng quát, năng lực KH-CN của ngành TN&MT còn thể hiện sự thiếu đồng bộ, có những lĩnh vực đã áp dụng được những công nghệ hiện đại, trong khi đó không ít lĩnh vực còn ở mức công nghệ của những năm 60 của thế kỷ trước Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh vực như địa chính, khí tượng, nhìn chung trình độ công nghệ của các ngành địa chất, môi trường hiện nay lạc hậu khoảng 2-3 thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực Không đồng bộ giữa các lĩnh vực, giữa các địa phương, chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội

- Cơ sở dữ liệu Tài nguyên môi trường: Từ khi thành lập Bộ TN&MT đến nay, do chưa hình thành một hệ thống thông tin - lưu trữ của ngành TN&MT thống nhất trong cả nước mà chỉ “kế thừa” từ các Trung tâm thông tin – lưu trữ của ngành địa chính Do đó, đã hạn chế đến việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) của ngành Trong khi đó 80% khối lượng công việc của ngành TN&MT là điều tra, khảo sát, thu thập, xử lý, quản lý và khai thác thông tin

I.3 NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

I.3.1 Đường lối chính sách phát triển KHCN của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt đầy đủ và chậm triển khai trong thực tiễn

- Quan điểm KH&CN là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng nhưng trên thực tế chưa được các cấp, các đơn vị, các địa phương quán triệt đầy đủ và triển khai trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội

- Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN chậm được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật; việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạn chế Việc hiểu và thực hiện chính sách còn tùy tiện ở các đơn vị, cũng như địa phương

Trang 29

- Các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực còn thiếu, công tác tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật chưa thường xuyên Công tác kiểm tra theo dõi và quản lý các hoạt động về tài nguyên môi trường ở các bộ, ngành, địa phương chưa được chú trọng

- Các nhà khoa học trong Bộ chưa cập nhật các thông tin vĩ mô của nền kinh

tế xã hội để xác định nhiệm vụ nghiên cứu của mình, đặc biệt là những nhiệm vụ trọng tâm, các chương trình trọng điểm Cho nên dẫn đến tình trạng định hướng nghiên cứu lẻ tẻ, manh mún, dàn trải

I.3.2 Cơ cấu tổ chức - chức năng nhiệm vụ

- Hoạt động KHCN thuộc Bộ chưa phân định được rõ ràng giữa nghiên cứu

cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai

- Chưa có sự liên kết giữa các lĩnh vực nghiên cứu của Bộ, dẫn đến sự manh mún, độc lập riêng từng lĩnh vực Hiện nay, gần như các lĩnh vực quản lý của Bộ vẫn hoạt động độc lập về nhiệm vụ quản lý nhà nước, sản xuất, nghiên cứu khoa học, nguồn tài chính,…dẫn đến sự trùng lặp trong các nhiệm vụ nghiên cứu Mặt khác có những công việc mà năng lực các đơn vị trong Bộ có thể giải quyết được nhưng phải phải thuê các cơ quan ngoài Bộ thực hiện, nhất là trong lĩnh vực môi trường

- Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN với giáo dục - đào tạo, thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển với các trường đại học Công tác nghiên cứu ứng dụng lại không được chú ý trong các đề án điều tra, sản xuất, đôi khi các đề án sản xuất không muốn áp dụng công nghệ mới trong quá trình triển khai vì nhiều lý do khác nhau

Sau nghị định 91/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên Môi trường đã phân định lại rõ ràng chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị Song mới chỉ dừng lại trên quyết định, còn thực tế triển khai không hoàn toàn như vậy, vẫn có sự trùng lặp không rõ ràng giữa nhiệm vụ quản lý nhà nước, nhiệm vụ sản xuất với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

I.3.3 Cơ chế quản lý KHCN còn mang nặng tính hành chính

- Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

- Thành quả của các sản phẩm khoa học chậm được đưa vào sử dụng trong thực tiễn, nguyên nhân chính là chưa có khung pháp lý để sử dụng tài liệu Hơn nữa, kết quả sản phẩm khoa học chưa giải quyết triệt để theo các nhu cầu của thị trường, và ngược lại các doanh nghiệp chưa đủ mạnh để thay đổi công nghệ, cũng như bị các thói quen công nghệ cũ chi phối

Trang 30

- Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực

và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo

- Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không phù hợp với hoạt động KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán bộ Thiếu cơ chế khuyến khich để cán bộ KH&CN phát huy khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN

- Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơ chế tự chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực, nên hiệu quả còn nhiều hạn chế Hiện nay giữa các lĩnh vực trong Bộ vẫn còn tình trạng, mỗi lĩnh vực có cơ chế quản lý tài chính khác nhau

I.3.4 Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý và cơ chế cấp phát vốn KH&CN còn nhiều bất cập

- Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực nghiên cứu, điều tra cơ bản cung cấp số liệu phục các ngành kinh tế quốc dân Công việc điều tra, dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường mang hàm lượng nghiên cứu khoa học cơ bản rất cao Nhưng trên thực tế chưa có chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước nào thuộc Bộ chủ trì

- Cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức và thói quen của không ít cán bộ KH-CN và quản lý KH-CN tạo ra sức ỳ không dễ khắc phục trong cơ chế mới, không đáp ứng được yêu cầu về đổi mới quản lý KH&CN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

- Quản lý nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong

hệ thống KH&CN chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tác quản lý các tổ chức KH&CN còn mang nặng tính hành chính

I.3.5 Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ còn hạn hẹp

- Đầu tư xây dựng tiềm lực KH&CN trong thời gian dài còn chưa được chú trọng đúng mức, thiếu tập trung, dứt điểm vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến

cơ sở hạ tầng KH&CN lạc hậu, hiệu quả đầu tư thấp

- Nghiên cứu khoa học chưa có các chương trình mục tiêu lớn, bao quát Các

đề tài nghiên cứu được mở chủ yếu trên cơ sở thuyết minh, vận động nhất thời, các

Trang 31

đề tài thường phân tán trong các tổ chức khác nhau, thiếu sự gắn kết, thiếu sự quản

lý Thực hiện quy hoạch định hướng KH-CN (2004) của Bộ còn lúng túng

- Vốn cấp cho KHCN còn rất hạn chế, tỷ lệ giữa vốn sự nghiệp kinh tế với vốn sự nghiệp khoa học rất thấp Chưa đa dạng hóa được nguồn vốn còn do những nguyên nhân sau:

+ Ngành Tài nguyên - Môi trường chưa tạo lập được thị trường khoa học công nghệ, mà hiện nay chỉ mới dừng ở mức cung cấp số liệu thô

+ Các sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng được những đòi hỏi của nhu cầu kinh tế xã hội, cho nên chưa trở thành hàng hóa

+ Chưa làm tốt công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm khoa học

- Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của Nhà nước, thiếu cơ chế, chính sách hữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với sản xuất -kinh doanh và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN Một số quy trình-sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa được pháp lý hóa để đưa vào

sử dụng rộng rãi

Trang 32

Chương II BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THUỘC CÁC LĨNH VỰC BỘ TÀI NGUYÊN

VÀ MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ

II.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

II.1.1 Cơ hội

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dù nước ta còn nghèo, nhưng trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự

nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cả nước, tiềm lực KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế

- xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng Hàng loạt các văn bản pháp luật, các chiến lược phát triển KH&CN được Chính phủ phê chuẩn đã đi vào hiện thực đời sống xã hội

Các lĩnh vực hoạt động về TNMT dựa chủ yếu trên cơ sở công nghệ thu thập

số liệu, xử lý thông tin Trên thế giới các công nghệ này đang có những tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám và công nghệ tự động hóa

Sự phát triển của khoa học và công nghệ thế giới đã ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động khoa học của tất cả ngành kinh tế quốc dân của nước ta nói chung cũng như trong các lĩnh vực tài nguyên môi trường nói riêng Đây là cơ hội tốt để chúng

ta có thể áp dụng các công nghệ tiên tiến “đi tắt đón đầu” vào trong mọi hoạt động quản lý cũng như nghiên cứu triển khai KH&CN của Bộ Xu hướng hội nhập mở rộng cơ hội cho phép Việt Nam lựa chọn, ứng dụng nhiều thành tựu KH&CN trên thế giới Tuy nhiên, việc lựa chọn, ứng dụng các kết quả KH&CN bên ngoài thường dựa trên một trình độ nhất định về nền tảng nhận thức Cụ thể là khả năng nhận biết về mức độ tiên tiến và hiện đại, mức độ đáp ứng đòi hỏi và khả năng thích nghi của hoạt động sản xuất trong nước, vòng đời công nghệ, các hậu quả kinh tế - xã hội - môi trường,

Luật KHCN&MT và chương trình hành động của Chính phủ về khoa học và công nghệ ra đời đó là căn cứ pháp lý, tạo cơ sở, tiền đề cho khoa học công nghệ của ngành phát triển, chúng đã được thể chế hóa bằng “Chương trình hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX” Ngành Tài nguyên Môi trường đã định hướng đi của mình một cách chuẩn xác Đưa khoa học công nghệ phục vụ cộng đồng xã hội một cách trực tiếp hơn

Trang 33

Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của Bộ có đủ trình độ, số lượng và đầy nhiệt huyết đối với ngành

Đầu tư cho KHCN cho ngành trong những năm qua từng bước được chú trọng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

II.1.2 Những thách thức

Những cơ hội về pháp lý là nền tảng cơ bản để định hướng phát triển khoa học công nghệ của Ngành Tuy nhiên cơ hội cũng nhiều và thách thức cũng không nhỏ, đó là:

- Một trong những thách thức lớn nhất, rõ nhất hiện nay đó là trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp so với các quốc gia trung bình trong khu vực và thế giới Với cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là tiềm lực KH&CN còn rất hạn chế sẽ thực sự là một khó khăn không nhỏ trong chiến lược phát triển KH&CN của nước ta nói chung và cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau, trong đó có các lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường

- Mặt khác, xu thế toàn cầu hóa KH&CN có tác động làm thay đổi kết cấu KH&CN quốc tế, mà các nước phát triển thu lợi nhiều nhất, còn đối với các nước đang phát triển thì có thể có cơ may “đi tắt - đón đầu”, tránh lãng phí tiền bạc, nhưng lại phải chịu thách thức là bị lệ thuộc về kỹ thuật Do vậy trong xu thế này, các lĩnh vực nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường cần chính sách, lộ trình thích hợp để lựa chọn công nghệ, hợp tác nghiên cứu trên cơ sở dựa tối đa vào những ưu thế sẵn có của mình, để đưa đến hiệu quả cao nhất

- Thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam còn ở tình trạng manh nha chưa có chế tài hoạt động

- Thiếu nguồn cung cấp nhân lực trình độ cao Do sự không ổn định của các nhà nghiên cứu trẻ Nhưng năm gần đây, thanh niên thường từ bỏ khoa học, nếu theo đuổi sự nghiệp khoa học thường hoạt động trong một phòng thí nghiệm của nước ngoài, chỉ trở lại nghiên cứu ở Việt Nam với sự bảo đảm về sự nghiệp và triển vọng tài chính, do các nguyên nhân:

+ Công việc nghiên cứu khoa học trong nước không hấp dẫn Trong khi đó, các nước đang phát triển trong khu vực đang vươn lên để đạt được vị trí các nước hàng đầu về khoa học, đã làm tăng sức hút và cạnh tranh quốc tế về nhân lực khoa học của chúng ta

+ Các công trình nghiên cứu thường thiếu kinh phí, không đảm bảo cho nhu cầu cuôc sống của thanh niên hiện nay

Trang 34

Trong từng lĩnh vực cụ thể của ngành Tài nguyên và Môi trường đều có những đặc thù riêng, những thách thức riêng cho sự phát triển của mình Được đơn

cử như sau:

- Đối với lĩnh vực địa chất - khoáng sản, đó là: Sự suy thoái của địa chất thế

giới đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới ngành địa chất khoáng sản ở nước ta; Hiện chưa có chiến lược khoa học công nghệ ngành địa chất khoáng sản, chưa có những

dự án, đề án nghiên cứu mang tính đột phá; Cơ chế chính sách, quản lý các hoạt động nghiên cứu KHCN chưa được chú trọng đúng mức, mang tính "xin cho", gây nhiều phiền hà trong nghiên cứu, chưa khuyến khích được các nhà khoa học cống hiến trí tuệ cho đất nước

Mặt khác, những sản phẩm của khoa học chưa được đưa vào trong các văn bản pháp lý của công tác quản lý nhà nước, dẫn đến các văn bản pháp luật của nhà nước đề ra mới chỉ dừng lại ở mức độ « xử lý việc đã rồi », « xử lý hiện tượng » không giải quyết được bản chất của sự việc Dẫn đến, việc khai thác thiếu quy hoạch, bừa bãi đã gây ra tình trạng thất thoát tài nguyên khoáng sản, hủy hoại môi trường đất, thảm thực vật và gây nhiều sự cố môi trường như sụt lở, sập hầm lò khai thác Bên cạnh việc lãng phí tài nguyên do không tận thu được hàm lượng khoáng sản hữu ích, việc khai thác bằng công nghệ lạc hậu còn gây ra tình trạng mất rừng, xói lở đất, bồi lắng và ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước nặng

nề

- Các tiến bộ trong quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn mới chỉ là bước

đầu, so sánh với ngành khí tượng thủy văn của nhiều quốc gia trên thế giới thì

trình độ công nghệ của ngành KTTV nước ta còn lạc hậu trên cả ba lĩnh vực: hệ thống quan trắc, hệ thống thông tin liên lạc và công nghệ dự báo Hệ thống quan

trắc của ta phần lớn là quan trắc thủ công, thiết bị và dụng cụ đo đạc sử dụng trên mạng lưới quan trắc KTTV hiện nay được chế tạo dựa trên các nguyên lý cổ điển

Do đó, các dụng cụ này có giới hạn nhất định về các thông số đo và độ chính xác

Hệ thống thông tin chủ yếu dựa trên cơ sở hạ tầng của hệ thống viễn thông quốc gia

sử dụng các phương tiện liên lạc phổ biến hiện nay là điện thoại, fax, mạng máy tính với tốc độ không cao Trong dự báo khí tượng hiện nay vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống: Synôp, Vật lý thống kê và mô hình động lực kết hợp phương pháp chuyên gia Trình độ dự báo phụ thuộc nhiều vào sự hiểu biết và kinh nghiệm của những người làm dự báo Những năm gần đây tuy đã ứng dụng thành công một vài mô hình dự báo số trị nhưng lại sảy ra tình trạng "đói" số liệu đầu vào

do công tác quan trắc và truyền dẫn số liệu chưa đồng bộ

Mặt khác, khí hậu đang biến đổi do trái đất nóng lên khiến cho thời tiết, khí hậu, đặc biệt là các dạng thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…) có nhiều diễn biến phức tạp Hành lang pháp lý cho các hoạt động KTTV giữa phục vụ công cộng được Nhà

Trang 35

nước đầu tư và các dịch vụ KTTV chuyên biệt khác do người sử dụng đầu tư chưa được thiết lập rõ ràng

- Trong lĩnh vực tài nguyên nước (TNN): Chưa hoạch định được khung thể

chế và chính sách phù hợp cho các hoạt động quản lý TNN; Chưa đủ các loại văn bản pháp lý hướng dẫn, mặc dù Luật TNN đã ban hành được 6 năm, nhưng cho đến nay vẫn chưa soạn thảo đầy đủ hoặc hoàn chỉnh các văn bản dưới luật Một số văn bản, cơ chế đã ban hành còn chồng chéo, chưa phù hợp, thêm vào đó là vấn đề về nhận thức Luật TNN và ý thức chấp hành của mọi người và các cơ quan trong xã hội chưa cao, sự chuyển biến về nhận thức và hành động cụ thể trong hệ thống Nhà nước và công luận còn rất chậm Cần làm cho toàn xã hội Việt Nam hiểu được vấn

đề tài nguyên nước và cơ quan quản lý nó gắn liền như thế nào với cuộc sống an toàn của các thế hệ mai sau Mặt khác việc bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên nước còn nhiều bất cập Các nguồn nước đang bị suy thoái và nhiều nơi

bị ô nhiễm trầm trọng Nguy cơ nguồn nước bị cạn kiệt đang đe dọa thiếu nước cho phát triển kinh tế và đời sống ở một số vùng

Mặt khác, chính sách đầu tư và phát triển nguồn nước gần đây đã được Nhà nước quan tâm, nhưng đầu tư cho hiệu ích tổng hợp của nước chưa nhất quán Hàng năm, kế hoạch các ngành sử dụng nước như thuỷ nông, cấp nước đô thị và công nghiệp, thuỷ điện, nước sinh hoạt nông thôn v.v , được cân đối trong kế hoạch tài chính quốc gia nhưng chưa được đối chiếu trong cân bằng nước lưu vực hoặc liên lưu vực Đầu tư cho công nghệ điều tra, khai thác, xử lý làm sạch nguồn nước cũng như cơ sở dữ liệu, quy hoạch, giám sát, quản lý, còn rất thấp, chưa tương xứng với yêu cầu và đòi hỏi thực tế

Vấn đề chia sẻ, sử dụng chung nguồn nước giữa các con sông lớn liên quốc gia, liên tỉnh ở Việt Nam cũng là vấn đề cần đầu tư nghiên cứu, trong đó cần chú trọng đến chính sách quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý Đây là thách thức tiềm tàng về tranh chấp sử dụng nguồn nước

- Thực tế cho thấy, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta

đang phải đương đầu với nhiều vấn đề về môi trường gay gắt, trong đó có những

vấn đề nghiêm trọng như nạn phá rừng, sự khai thác quá mức tài nguyên sinh học,

sự xuống cấp của tài nguyên đất, nạn thiếu nước ngọt và ô nhiễm gia tăng

Sức ép dân số và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh ở các vùng ven biển gây ra nhiều hậu quả xấu đối với tài nguyên ven biển và trong lòng biển Các thành phố, khu công nghiệp vùng ven biển đổ một lượng nước thải không qua xử lý

và một phần chất thải rắn vào sông, biển gây nên ô nhiễm môi trường nước Đa dạng sinh học bị đe dọa, diện tích rất lớn rừng ngập mặn bị triệt phá, các bãi san hô

bị khai thác một cách hủy diệt, nhiều nhóm động vật quý hiếm như thú biển, đồi mồi, chim biển, các thảm thực vật biển bị thu hẹp dần Chất lượng môi trường sống

Trang 36

trong các hệ sinh thái bị suy giảm, bị thay đổi theo chiều hướng xấu; đa dạng loài

và nguồn gen đặc hữu bị tổn thất, hoặc suy thoái, có nơi đến mức nghiêm trọng

Nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Trong khi đó, cho đến nay các cơ sở công nghiệp trong nước phần lớn vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao và thất thoát nhiều nguyên, nhiên, vật liệu Các thiết bị môi trường trong nước hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu của tiêu chuẩn chất thải, hoặc đòi hỏi cao về vấn

đề tài chính, mà không phải chủ doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng Hiện nay,

đã có hơn 100 khu công nghiệp và khu chế xuất, nhưng số lượng các khu công nghiệp và khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải và có chất thải và có chất rắn được thu gom, xử lý đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường là rất ít

Đứng trước tình hình đó, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Theo đó các chỉ tiêu đến năm 2010 là hình thành thể chế về quản lý và bảo vệ môi trường ngành Công nghiệp trong đó lấy doanh nghiệp là mục tiêu trọng tâm; Lồng ghép các điều chỉnh phân bố công nghiệp, các cân nhắc về môi trường trong các quy định (quy chế ngành) và chính sách phát triển công nghiệp nhằm giảm thiểu chất thải, khuyến khích xu hướng phát triển bền vững; Thực hiện sản xuất sạch hơn tại 79% số cơ sở sản xuất công nghiệp chủ chốt, gắn sản xuất sạch hơn với nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng thân thiện và hội nhập, 50% các cơ sở sản xuất công nghiệp được cấp chứng chỉ ISO 14001, SA 8000, HACCP; Thực hiện việc di dời 100% các cơ

sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thuộc danh sách theo quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ Xử lý về cơ bản các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Phấn đấu 100% các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung

Các chỉ tiêu đến năm 2020 nêu ra trong chiến lược liên quan đến bảo vệ môi trường bao gồm: 80% cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc chứng chỉ ISO 14001; khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, hình thành ngành công nghiệp tái chế chất thải để tái sử dụng 30% chất thải được thu gom; 100% sản phẩm hàng hoá xuất khẩu và 50% hàng hoá tiêu dùng trong nội địa được ghi nhãn môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14020

Để đạt được mục tiêu trên, song song với việc tăng cường các công cụ pháp

lý về môi trường nhằm ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp và cải thiện chất lượng môi trường, các cơ quan nhà nước cần có các hoạt động để thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao và phổ biến công nghệ môi trường hiệu quả, khả thi về mặt kinh

tế, từ các cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ trong nước và các tổ chức ngoài nước cho các doanh nghiệp

Trang 37

Môi trường đô thị nước ta đang bị ô nhiễm do chất thải rắn, nước thải chưa

được xử lý theo đúng quy định, khí thải, tiếng ồn, bụi từ các phương tiện giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với kết cấu hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng báo động Hệ thống cấp thoát nước lạc hậu, xuống cấp, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng

Môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và kết cấu hạ

tầng yếu kém Việc sử dụng không hợp lý các loại hóa chất nông nghiệp cũng đã và đang làm cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề và cơ sở chế biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong khu dân cư và hầu như không có thiết bị thu gom và xử lý chất thải, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Sự phát triển của các làng nghề cũng nảy sinh nhiều bất cập, đặc biệt là vấn

đề môi trường, làm suy thoái môi trường và tác động trực tiếp đến sức khỏe của người lao động Hiện nay, môi trường làng nghề Việt Nam ô nhiễm mang đậm nét đặc thù của họat động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm; môi trường lao động và sức khỏe người lao động, dân cư làng nghề và một số khu vực xung quanh Tỷ lệ mắc bệnh ở làng nghề cao hơn ở các làng thuần nông, thường gặp các bệnh hô hấp, đau mắt, đường ruột, ngoài da, một số làng nghề có sản xuất đặc thù còn gặp các bệnh mãn tính nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng,

Các nguyên nhân tự nhiên gây ra tai biến môi trường chưa được quan tâm,

nghiên cứu đúng mức Mặc dù, gần đây Bộ TN&MT đã đầu tư cho việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá và bước đầu có được những thành công nhất định trong việc nhận diện ảnh hưởng của các dạng tai biến địa chất (như sạt lở, trượt lở, biến dạng đường sông, bờ biển, lũ quét, sóng thần, ô nhiễm môi trường đất và nước và ảnh hưởng của chúng tới cây trồng, vật nuôi và sức khỏe cộng đồng v.v ) tới sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội, nhưng mới chỉ ở mức độ riêng lẻ, chưa hình thành những chương trình cụ thể và thống nhất

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là do các cấp ủy và chính quyền các cấp chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường của Nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý chưa

Trang 38

đồng bộ, năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu, mức đầu tư bảo vệ môi trường còn thấp, nhiều vấn đề chưa đặt ra và giải quyết đúng với tầm quan trọng của nó

Vì vậy, tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 2005 Thủ tướng Phan Văn Khải đã kết luận: “Triển khai mạnh việc nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, đồng thời nhanh chóng xây dựng ngành công nghiệp môi trường đủ sức giải quyết các vấn đề kỹ thuật về môi trường phù hợp với điều kiện của một nước đang phát triển và có nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính như nước ta”

- Về lĩnh vực tài nguyên đất: Luật đất đai mới có hiệu lực thi hành và việc

đưa Luật đất đai thực sự vào đời sống xã hội cũng là một thác thức không nhỏ đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung và công tác nghiên cứu khoa học nói riêng Vấn đề này còn liên quan trực tiếp đến tổ chức thực hiện (kiện toàn bộ máy), năng lực quản lý và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng và mức độ đầu tư của Nhà nước

Nước ta đang trong thời kỳ đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cơ cấu kinh tế thay đổi, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các thành phần kinh tế tham gia vào các quan hệ đất đai được mở rộng đã kéo theo nhu cầu chuyển đổi cơ cấu đất đai (trong đó có việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp) Quá trình làm nảy sinh vấn đề "ổn định đời sống của người dân có đất nông nghiệp bị Nhà nước thu hồi", chuyển đổi nghề nghiệp trong khu vực nông nghiệp nông thôn

Mặc dù Luật đất đai mới năm 2003 đã tạo lập bước đi cơ bản đầu tiên về quyền sử dụng đất tham gia trong thị trường bất động sản (quyền sử dụng đất là gốc), nhưng thị trường bất động sản chưa có đầy đủ hành lang pháp lý cho quá trình vận hành nó

Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực: quy hoạch sử dụng đất, thống kê đất đai, đăng ký đất đai (đặc biệt là Hoàn thiện hệ thống Hồ sơ đăng

ký đất đai ban đầu làm cơ sở để Nhà nước nắm chắc nguồn tài nguyên quí giá này, cũng như cặp nhật các thông tin về biến động đất đai ), phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội trong chính các cơ sở dữ liệu về đất đai, để thành lập Hệ thống hồ

sơ địa chính theo tinh thần chung của Thông tư 29/2004/TT- BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 là một thách thức không nhỏ đối với ngành Địa chính trong hoàn cảnh: Tư liệu bản đồ địa chính không đồng nhất ở ngay trên địa bàn một đơn

vị hành chính cấp xã; Hệ thống sổ sách ghi nhận các thông tin về đất đai và chủ sử dụng đất, cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang tồn tại nhiều kiểu mẫu khác nhau (kể cả nội dung thông tin trong tài liệu); Đăng ký đất đai ban đầu, lập Hồ sơ địa chính ban đầu vẫn chưa được hoàn thiện; Sự không thống nhất thông tin địa chính giữa các tài liệu có liên quan từ bản đồ địa chính đến các tài liệu sổ

Trang 39

sách thiết lập và cặp nhật trong đăng ký đất đai, biến động đất đai không được cặp nhật thường xuyên trong quá trình sử dụng đất, chỉ tiêu thống kê thay đổi, mã hóa các đối tượng sử dụng đất, Thêm vào đó ý thức xã hội trong việc thực hiện Luật đất đai (cụ thể là trách nhiệm của người sử dụng đất trong việc đăng ký biến động đất đai) vẫn là một trở ngại triền miên luôn cản đường việc duy trì Hệ thống hồ sơ địa chính, cho đến nay vẫn chưa có giải pháp nào giải quyết có hiệu quả; Chưa kể đến những thách thức về đội ngũ và trình độ của cán bộ đang trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai và liên quan đến đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong hoàn cảnh mới cũng như đầu tư của nhà nước cho xây dựng hệ thống quản lý về đất đai còn chưa tương xứng

Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, nhất là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất Các dạng thoái hóa đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hóa, mặn hóa, phèn hóa, bạc màu, khô hạn và sa mạc hóa Những hoạt động của con người đã làm cho diện tích hoang mạc hóa và sa mạc hóa càng ngày càng lớn lên Việc canh tác đất nông nghiệp bất hợp lý, làm đường giao thông, xây dựng cảng biển, và lấy đất xây dựng đô thị bằng cách lấy đẩt lấp khô đầm lầy lại càng đẩy nhanh quá trình hoang mạc hoá Suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đến mức báo động, đây cũng là vấn đề đặt ra cho nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất trong lĩnh vực quản lý đất đai

- Đối với lĩnh vực đo đạc và bản đồ mặc dù mặt bằng khoa học và công

nghệ đã đạt được trình độ ngang với các nước tiên tiến trong khu vực Tuy nhiên, yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đối với ngành Đo đạc và Bản đồ là phải bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tư liệu đo đạc

và bản đồ cho việc đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cơ sở khoa học và công nghệ cho việc quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái là một thách thức lớn đối với ngành Đo đạc và Bản đồ trong thời gian tới Một

số vấn đề còn hạn chế, yếu kém còn tồn tại của ngành sau đây sẽ là những thách thức trong quá trình phát triển khoa học công nghệ của lĩnh vực đo đạc và bản đồ:

a) Hành lang pháp lý và cơ chế quản lý công tác đo đạc và bản đồ chưa đầy

đủ, thiếu tính thống nhất thể hiện:

+ Khung pháp lý về đo đạc bản đồ cơ bản hiện mới chỉ có Nghị định số 12/2002/NĐ-CP của Chính phủ là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất về hoạt động đo đạc và bản đồ, trong thời gian tới cần nhanh chóng nghiên cứu, xây dựng

Trang 40

và ban hành Pháp lệnh Đo đạc và Bản đồ và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh này;

+ Hàng loạt các văn bản quản lý kỹ thuật, chuyên ngành đo đạc bản đồ như : quy phạm, quy định kỹ thuật, quy trình công nghệ, hướng dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng ngành cần phải được nghiên cứu, xây dựng lại hoặc sửa đổi bổ sung

để phù hợp với mặt bằng công nghệ và thực tiễn sản xuất hiện nay của ngành;

+ Hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước về đo đạc và bản đồ còn hạn chế, đặc biệt là ở địa phương;

+ Hiện nay còn có nhiều cơ quan tham gia thành lập bản đồ địa hình, nhất

là bản đồ tỷ lệ lớn, phục vụ mục đích công trình và xây dựng hệ thông tin địa lý địa phương nhưng thiếu cơ chế thống nhất việc quản lý của Nhà nước Điều này sẽ dẫn đến sự chồng chéo, không thống nhất về dữ liệu, không đảm bảo độ tin cậy, thiếu tính pháp lý khi sử dụng, gây lãng phí không cần thiết cho ngân sách đầu tư của Nhà nước

b) Nguồn nhân lực cho hoạt động đo đạc bản đồ còn yếu kém ở một số khâu: + Thiếu quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ Hiện tại và trong tương lai gần sẽ xảy ra tình trạng thiếu nhiều cán bộ quản lý, cán bộ khoa học đầu đàn giỏi, có chuyên môn sâu ở một số lĩnh vực, các chuyên gia về xây dựng, thiết kế hệ thống cho các dự án, chương trình chuyên ngành có quy mô lớn;

+ Phần lớn các cán bộ quản lý và cán bộ khoa học đầu đàn hiện nay về đo đạc và bản đồ được đào tạo bài bản tại Liên Xô và các nước Đông Âu từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước hiện ở độ tuổi trung bình là 50 - 60 tuổi, trong khi nguồn nhân lực trẻ được bổ sung rất hạn chế nếu không được đào tạo và bổ sung gấp trong thời gian tới thì nguy cơ thiếu hụt cán bộ đầu đàn trong 5 năm tới là điều tất yếu

c) Hệ thống hạ tầng dữ liệu địa lý quốc gia chưa đồng bộ và đồng nhất về chất lượng:

+ Hệ thống bản đồ địa hình cơ bản và hệ thống bản đồ nền một trong những nguồn tài nguyên quan trọng của hạ tầng thông tin, được xây dựng trong nhiều năm, bằng nhiều phương pháp khác nhau Do đó chất lượng không đồng đều, cần

có những chu trình đo bổ sung, cập nhật Một số khu vực cần được đẩy mạnh đầu

tư (ví dụ đo đạc lập bản đồ địa hình đáy biển các tỷ lệ) để có khả năng đáp ứng nhu

Ngày đăng: 15/05/2014, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2/ Chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp mới. Technology.gov, 3/2005 3/ Công nghệ vũ trụ. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp mới
Nhà XB: Technology.gov
Năm: 2005
4/ Dự báo sự phát triển của công nghệ sinh học trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo sự phát triển của công nghệ sinh học trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
5/ Đổi mới - áp dụng tri thức trong phát triển. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới - áp dụng tri thức trong phát triển
6/ Đổi mới chính sách Khoa học, công nghệ và công nghiệp của Nhật Bản. STI Outlook 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách Khoa học, công nghệ và công nghiệp của Nhật Bản
7/ Khoa học-công nghệ nano - ứng dụng và tiềm năng. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học-công nghệ nano - ứng dụng và tiềm năng
8/ Nhìn trước công nghệ. Bản tin tháng 12-2004, Hội đồng Lý luận Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn trước công nghệ
10/ Vấn đề gắn kết nghiên cứu với sản xuất trong thời đại hiện nay. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề gắn kết nghiên cứu với sản xuất trong thời đại hiện nay
11/ Chu Thái Thành. Bảo vệ môi trường trước những yêu cầu đổi mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tạp chí cộng sản, số 1, tháng 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trước những yêu cầu đổi mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Chu Thái Thành
Nhà XB: Tạp chí cộng sản
Năm: 2005
12/ Đặng Ngọc Dinh. Khoa học công nghệ Việt Nam với những thách thức hội nhập. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Ngọc Dinh. "Khoa học công nghệ Việt Nam với những thách thức hội nhập
13/ Hoàng Xuân Long. Kinh nghiệm của thế giới về quản lý nhân lực khoa học trong tổ chức R-D nhà nước. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của thế giới về quản lý nhân lực khoa học trong tổ chức R-D nhà nước
14/ Hoàng Xuân Long. Thách thức và nguy cơ về KH&amp;CN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức và nguy cơ về KH&amp;CN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Nhà XB: Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia
15/ Lê Thị Anh Vân. Chính sách của Trung Quốc trong giai đoạn chuyển đổi. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Trung Quốc trong giai đoạn chuyển đổi
Tác giả: Lê Thị Anh Vân
Nhà XB: Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia
16/ Mai Hoài Anh. Công nghệ vũ trụ của Trung Quốc – Những thành tựu. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ vũ trụ của Trung Quốc – Những thành tựu
17/ Ngô Trung Việt. Bàn về công tác đào tạo cán bộ. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công tác đào tạo cán bộ
18/ Nguyễn Nghĩa, Phạm Hồng Trường. Về thị trường công nghệ tại Việt Nam. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thị trường công nghệ tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa, Phạm Hồng Trường
Nhà XB: Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia
19/ Nguyễn Văn Hải. Đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành khí tượng thủy văn. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành khí tượng thủy văn
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Nhà XB: Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia
20/ Trần Kim Cúc. Bàn về tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng nhân lực khoa học công nghệ. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng nhân lực khoa học công nghệ
1/ Các xu thế hiện nay trong Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc tế. Ostina.org, 4/2005 Khác
9/ Tác động qua lại giữa toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế với phát triển khoa học và công nghệ. Trung tâm Thông tin KH&amp;CN Quốc gia Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w