1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam

113 731 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Tác giả ThS. Nguyễn Thanh Tùng, ThS. Cao Thu Anh, ThS. Trịnh Bá Dương, ThS. Nguyễn Thanh Hà, ThS. Nguyễn Võ Hưng, CN. Lê Quang Huy, ThS. Nguyễn Thị Phương Mai, ThS. Hoàng Văn Tuyên
Trường học Viện Chiến Lược Và Chính Sách Khoa Học Và Công Nghệ
Thể loại Đề tài cấp bộ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 914,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài là xây dựng tài liệu hướng dẫn nhằm trang bị một số kỹ năng nghiệp vụ cần thiết cho các nhà quản trị DNN&V ở Việt Nam khi tiến hành ĐMCN * Dựa trên kết quả điều tra n

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN

KỸ NĂNG NGHIỆP VỤ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thanh Tùng

Thành viên:

ThS Cao Thu Anh ThS Trịnh Bá Dương ThS Nguyễn Thanh Hà ThS Nguyễn Võ Hưng

CN Lê Quang Huy ThS Nguyễn Thị Phương Mai ThS Hoàng Văn Tuyên

7088

13/02/2009

Hà Nội, 2007

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Nhóm nghiên cứu đề tài xin chân thành cám ơn Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp kinh phí để thực hiện đề tài Nhóm nghiên cứu cũng xin cám ơn sự hỗ trợ, động viên về tinh thần của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ để hoàn thành nghiên cứu này

Chủ nhiệm đề tài và các thành viên xin chân thành cám ơn sự giúp

đỡ quý báu của nhiều tổ chức và doanh nghiệp, đặc biệt là Cục DNN&V -

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ Tp.Hồ Chí Minh, Hội các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam, Công ty tư vấn Việt Tân, Công ty tư vấn Vietbid, Công ty Xuất nhập khẩu Thiết bị toàn bộ và kỹ thuật, Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm - Hà Nội, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Ngân hàng Tecombank, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng nhiều vấn đề nghiên cứu còn khá mới mẻ nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Nhóm nghiên cứu mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN 2

MỞ ĐẦU 5

* Đối tượng nghiên cứu 6

* Phương pháp nghiên cứu 6

* Phạm vi nghiên cứu 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 8

Chương Một MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI NIỆM 9

I Công nghệ 9

II Các loại hình công nghệ 10

III Đổi mới công nghệ 11

IV Đổi mới công nghệ và đổi mới 17

V Quản lý công nghệ 17

VI Khó khăn của DNN&V khi thực hiện ĐMCN 19

Chương Hai TÌM KIẾM CÔNG NGHỆ 21

I Loại hình thông tin công nghệ 21

II Các nguồn cung cấp thông tin công nghệ 23

III Các bước tìm kiếm công nghệ 26

Chương Ba ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ THÍCH HỢP 30

I Quan điểm về sự thích hợp của công nghệ đối với doanh nghiệp 30

II Các bước đánh giá để lựa chọn công nghệ phù hợp 31

III Tiêu chí đánh giá công nghệ thích hợp 32

IV Tiêu chí dánh giá, lựa chọn nhà cung cấp công nghệ 35

V Yếu tố có thể ảnh hưởng bất lợi tới đánh giá, lựa chọn công nghệ 37

Chương Bốn LỰA CHỌN HÌNH THỨC PHÙ HỢP ĐỂ CÓ ĐƯỢC CÔNG NGHỆ MỚI 38

I Nguồn đổi mới công nghệ 38

II Lựa chọn hình thức phù hợp để có được công nghệ mới 42

Chương Năm ĐÀM PHÁN HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 48

I Quá trình đàm phán hợp đồng CGCN 48

II Kỹ thuật đàm phán 56

Chương Sáu HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 59

I Các bước thực hiện để huy động vốn 59

II Lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp cho đổi mới công nghệ 61

Trang 4

PHỤ LỤC 80Phụ lục 1 Một số công ty cho thuê tài chính (Công ty CTTC) 80Phụ lục 2 Một số tổ chức cung cấp thông tin công nghệ 82Phụ lục 3 Một số tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 84Phụ lục 4 Kế hoạch kinh doanh 86Phụ lục 5 Một số tổ chức tài chính và hình thức hỗ trợ vốn cho đổi mới công nghệ 88Phụ lục 6 Bản đề xuất dự án sản xuất thử nghiệm cấp thành phố 89TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 5

MỞ ĐẦU

Nhận rõ tiềm năng quan trọng của khu vực DNN&V đối với phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm khuyến khích phát triển sản xuất- kinh doanh, ĐMCN, nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực này Trong những năm qua, hệ thống pháp luật, môi trường kinh doanh đang dần được cải thiện, số lượng các DNN&V gia tăng nhanh chóng, nhiều tổ chức hỗ trợ DNN&V được thành lập và đang đang có những bước phát triển mới về chất lượng

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, trình độ và năng lực công nghệ của nhiều DNN&V hiện nay còn rất thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trong những năm tới Cùng với nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh, các biện pháp hỗ trợ nâng cao năng lực ĐMCN cho các DNN&V thông qua việc cung cấp các tài liệu hướng dẫn, đào tạo các kỹ năng nghiệp vụ đang giành được sự quan tâm của các cơ quan quản

lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp

Mục tiêu của đề tài là xây dựng tài liệu hướng dẫn nhằm trang bị một

số kỹ năng nghiệp vụ cần thiết cho các nhà quản trị DNN&V ở Việt Nam khi tiến hành ĐMCN (*)

Dựa trên kết quả điều tra nhu cầu của các DNN&V, đề tài tập trung hướng dẫn một số nội dung cần thiết nhằm nâng cao kỹ năng tìm kiếm công nghệ, lựa chọn công nghệ thích hợp, lựa chọn hình thức phù hợp để có được công nghệ mới, đàm phán hợp đồng CGCN và huy động vốn cho ĐMCN

_

(*) Tài liệu này không nhằm thay thế vai trò của các nhà tư vấn Các kỹ năng nghiệp

vụ giới thiệu trong tài liệu này nhằm mục đích giúp các nhà quản trị DNN&V làm quen với một số vấn đề để qua đó có thể trao đổi một cách hiệu quả với các nhà tư vấn chuyên nghiệp khi có nhu cầu

Trang 6

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các DNN&V, hay cụ thể hơn là một số kỹ năng nghiệp vụ cần thiết để tăng cường năng lực ĐMCN cho các DNN&V

* Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, quá trình nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn về cơ bản được thực hiện dựa trên cả hai cách tiếp cận lý thuyết và thực tiễn Các nội dung trong tài liệu hướng dẫn được tham khảo kinh nghiệm của nhiều tổ chức quốc tế và thích nghi, cải tiến để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế và nhu cầu của DNN&V trong nước

- Nghiên cứu lý thuyết

+ Nhóm nghiên cứu đã thu thập và xử lý các thông tin, tài liệu tham khảo quốc tế, đặc biệt của một số tổ chức có uy tín trong khu vực và trên thế giới liên quan đến các hoạt động hỗ trợ nâng cao kỹ năng nghiệp vụ quản lý công nghệ, ĐMCN cho các DNN&V Công việc này được thực hiện trong Giai đoạn 1, trong đó đã làm rõ khái niệm, nội hàm của các loại

kỹ năng nghiệp vụ mà các nhà quản trị DNN&V nói chung cần có để nâng cao khả năng thành công khi tiến hành ĐMCN

+ Để phục vụ đối tượng là các DNN&V của Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã thu thập và xử lý các thông tin trong nước liên quan đến hệ thống chính sách hỗ trợ ĐMCN, chương trình hỗ trợ DNN&V, hiện trạng và trình

độ công nghệ, khó khăn vướng mắc khi tiến hành ĐMCN Công việc này được thực hiện ngay từ Giai đoạn 1 để phục vụ xây dựng nội dung phiếu hỏi điều tra và tiếp tục cập nhật trong Giai đoạn 2 của đề tài để phục vụ xây dựng tài liệu hướng dẫn

- Nghiên cứu thực tiễn

Trong quá trình triển khai đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn, tọa đàm với nhiều cơ quan cung cấp dịch vụ để nâng cao khả năng ứng dụng trong thực tiễn của tài liệu hướng dẫn Các tổ chức này bao gồm: tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ, trung tâm tư vấn CGCN, trung tâm hỗ trợ DNN&V, tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, quỹ hỗ trợ, chương trình hỗ trợ)

Trang 7

* Phạm vi nghiên cứu

Để tiến hành ĐMCN đỏi hỏi các doanh nghiệp phải được trang bị nhiều loại kỹ năng nghiệp vụ khác nhau, bao gồm: xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược công nghệ, đánh giá nhu cầu ĐMCN, xây dựng và quản lý dự án, tìm kiếm và lựa chọn công nghệ, chuyển giao công nghệ, huy động vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, marketing, v.v

Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn và phức tạp, với nguồn lực hạn hẹp và phù hợp với nhiệm vụ được giao, đề tài chỉ đề tập trung vào một số nội dung liên quan đến tìm kiếm thông tin công nghệ, đánh giá và lựa chọn công nghệ, lựa chọn hình thức phù hợp để có được công nghệ mới, đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ, và huy động vốn cho đổi mới công nghệ

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

APCCT The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology

Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á CGCN Chuyển giao công nghệ

CSDL Cơ sở dữ liệu

ĐMCN Đổi mới công nghệ

ESCAP The United Nations Economic and Social Commission for

Asia and the Pacific

Ủy ban kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương KH&CN Khoa học và công nghệ

KHKD Kế hoạch kinh doanh

TMCP Thương mại cổ phần

UNIDO The United Nations Industrial Development Organization

Cơ quan Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 9

Chương Một MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI NIỆM

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều thuật ngữ kinh tế - công nghệ đã được du nhập vào Việt Nam, như: công nghệ, ươm tạo công nghệ, đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, quản lý công nghệ, v.v Tuy nhiên, việc nhận thức và vận dụng các thuật ngữ này đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các DNN&V còn nhiều bất cập Phần này giới thiệu một số vấn đề khái niệm nhằm giúp các DNN&V nhận thức và vận dụng đúng đắn trong các hoạt động quản lý công nghệ

I Công nghệ

Theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm (Quốc hội, 2000)

Về cơ bản, công nghệ bao gồm phần mềm và phần cứng Phần mềm bao gồm các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, thiết kế kỹ thuật và bí quyết kỹ thuật; phần cứng bao gồm hệ thống máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất

Trong thực tế, việc hiểu và vận dụng thuật ngữ công nghệ trong hoạt động quản lý có thể khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, chiến lược phát triển và năng lực công nghệ của từng doanh nghiệp (Hộp 1)

Hộp 1 Hiểu và vận dụng thuật ngữ công nghệ

- Việc đầu tư mua sắm, nâng cấp phần cứng có thể giúp doanh nghiệp nhanh chóng đưa sản phẩm mới ra thị trường, tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Trong quá trình sử dụng, vận hành hệ thống thiết bị, doanh nghiệp có thể học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng tay nghề, góp phần nâng cao năng lực làm chủ quá trình sản xuất Điều này có thể cho phép doanh nghiệp tạo ra những cải tiến nhỏ, thường xuyên Tuy nhiên, nếu không

có kế hoạch phát triển dài hạn và những thay đổi cần thiết trong nhận thức về công nghệ và quản lý công nghệ, doanh nghiệp sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh

- Mặt khác, nếu có các kiến thức, giải pháp và bí quyết công nghệ, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc thích nghi công nghệ mua về để phù hợp với điều kiện ứng dụng của mình, hay tạo ra được những cải tiến đáng kể đối với những công nghệ và hệ thống thiết bị hiện có Nắm vững nguyên lý công nghệ cho phép doanh nghiệp tự thiết kế, chế tạo hoặc thuê các đơn vị khác gia công chế tạo các máy móc thiết bị liên quan Như vậy, việc đầu tư

Trang 10

cho “phần mềm” sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, giảm dần mức độ phụ thuộc vào các nguồn công nghệ bên ngoài và nâng cao vị thế trong đàm phán mua bán công nghệ

- Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước cho ĐMCN thường liên quan đến các đối tượng phần mềm của công nghệ Ví dụ, các quy định tài trợ, cho vay chủ yếu dành cho việc mua giải pháp, bí quyết công nghệ, nghiên cứu và đào tạo để thích nghi, cải tiến công nghệ hiện có hoặc tạo ra công nghệ mới

- Tuy nhiên, khái niệm công nghệ bao gồm bốn thành phần có mối liên

hệ chặt chẽ với nhau: phần kỹ thuật, phần con người, phần thông tin và phần

tổ chức có thể được vận dụng khi tiến hành đàm phán CGCN (UN-ESCAP, 1986) Những thành phần này được mô tả như sau:

+ Phần kỹ thuật: máy móc, thiết bị, cộng cụ, phương tiện;

+ Phần con người: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm;

+ Phần thông tin: thông số kỹ thuật, thiết kế, sơ đồ, công thức, quy trình;

+ Phần tổ chức: sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng, bố trí sắp xếp

hệ thống thiết bị

II Các loại hình công nghệ

Dựa vào mục tiêu ứng dụng, có thể phân chia công nghệ thành hai loại hình: “công nghệ sản phẩm” và “công nghệ quy trình” Tùy vào điều kiện và yêu cầu của sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai loại hình ĐMCN, nhưng trong một số trường hợp doanh nghiệp tiến hành đồng thời cả ĐMCN sản phẩm và ĐMCN quy trình

- Công nghệ sản phẩm Công nghệ sản phẩm liên quan đến các đặc

tính của công nghệ hàm chứa trong các sản phẩm và dịch vụ cụ thể của một doanh nghiệp Ví dụ, công nghệ chế tạo khuôn ép nhựa và khuôn ép kim loại là hai loại công nghệ khác khác nhau trong ngành chế tạo khuôn mẫu

- Công nghệ quy trình Công nghệ quy trình bao gồm hệ thống dây

chuyền máy móc, thiết bị, cách thức tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩm ĐMCN quy trình nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm và rút ngắn thời gian đưa ra sản phẩm ra thị trường Tuy nhiên, đối với nhiều DNN&V, công nghệ quy trình thường được hiểu là công nghệ tổ chức hoạt động sản xuất, tức là bao gồm hệ thống máy móc, thiết bị, phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm vận hành máy móc, thiết bị

Trang 11

Trong thực tế, công nghệ sản phẩm của doanh nghiệp này chính là công nghệ quy trình của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, các công nghệ CNC (dây chuyền sản xuất được điều khiển bằng máy tính) thuộc công nghệ quy trình trong ngành gia công cơ khí, nhưng lại là công nghệ sản phẩm trong ngành tự động hóa, cơ điện tử

III Đổi mới công nghệ

III.1 Đổi mới công nghệ là gì

Đổi mới công nghệ (ĐMCN) là việc chủ động thay thế một phần hay toàn bộ công nghệ đang được sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất - kinh doanh

Quan điểm chung đều nhấn mạnh yêu cầu đối với một doanh nghiệp được xem là đã ĐMCN là sản phẩm mới phải được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm), hoặc một quy trình sản xuất mới được đưa vào ứng dụng trong sản xuất-kinh doanh (đổi mới quy trình) Như vậy, một sản phẩm mới không thương mại hoá được không coi là đổi mới sản phẩm, và những thay đổi về quy trình chưa được áp dụng trong sản xuất thì chưa được tính là đổi mới quy trình

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về ĐMCN trong DNN&V cho thấy, quan điểm “mới và được cải tiến đáng kể” cần được hiểu là so với chính doanh nghiệp đó, không nhất thiết phải là mới hoặc được cải tiến so với ngành, quốc gia hay thế giới.1 Nhiều chuyên gia cho rằng quan điểm này của OECD phù hợp với tính chất của hoạt động đổi mới của các DNN&V

III.2 Các loại hình đổi mới công nghệ

Trong thực tế, các chuyên gia về ĐMCN đã đưa ra nhiều khái niệm

và cách phân loại ĐMCN Hiểu rõ các loại hình ĐMCN sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận, giải pháp quản lý các dự án ĐMCN hiệu quả hơn

Dựa vào mục tiêu của ĐMCN, có thể phân chia ĐMCN thành hai

loại cơ bản: đổi mới công nghệ sản phẩm (đổi mới sản phẩm) và đổi mới công nghệ quy trình (đổi mới quy trình)

1 Quan điểm này được đưa ra trong Tài liệu hướng dẫn Oslo, OECD (1992), và đã được nhiều nước áp

Trang 12

Liên quan đến mức độ của đổi mới, ĐMCN bao gồm hai mức độ: mới và cải tiến Theo đó, ĐMCN có thể nhằm đưa ra thị trường sản phẩm mới (ứng dụng quy trình sản xuất mới) hoặc được cải tiến đáng kể về công nghệ2

Đổi mới sản phẩm là việc một doanh nghiệp đưa ra được thị trường

sản phẩm mới hoặc sản phẩm được cải tiến đáng kể về công nghệ với những tính năng, công dụng mới hơn so với các sản phẩm cùng loại được doanh nghiệp sản xuất trước đây

Hộp 2 Sản phẩm mới và Sản phẩm được cải tiến về công nghệ

- Sản phẩm mới về công nghệ là sản phẩm có công dụng, tính năng

hoàn toàn mới so với các sản phẩm cùng chủng loại được doanh nghiệp sản xuất trước đó Sản phẩm mới có thể được tạo ra nhờ ứng dụng các công nghệ

hoàn toàn mới, hoặc bằng cách thay đổi cách thức tổ chức, tích hợp các công nghệ hiện có để tạo ra tính năng, công dụng mới của sản phẩm Ví dụ:

+ Một doanh nghiệp chuyên đúc khuôn ép các sản phẩm nhựa, nay đưa

ra thị trường khuôn ép các sản phẩm kim loại kim loại thì loại sản phẩm khuôn ép kim loại là sản phẩm mới của doanh nghiệp đó (mặc dù sản phẩm này có thể không mới đối với ngành chế taoh khuôn mẫu)

+ Một doanh nghiệp sản xuất tai nghe nhạc có dây (headphones), nay đưa ra thị trường tai nghe không dây (Bluetooth headphones) thì loại tai nghe không dây này là một sản phẩm mới Sản phẩm này dựa trên việc tích hợp các công nghệ sản xuất tai nghe trước đó với công nghệ Bluetooth 3

+ Một doanh nghiệp sản xuất điện thoại cố định, nay đưa ra thị trường loại điện thoại kéo dài cho phép người sử dụng di chuyển trong phạm vi rộng thì loại điện thoại mới này được xem là một sản phẩm mới của doanh nghiệp Sản phẩm mới này dựa trên sự kết hợp công nghệ sản xuất điện thoại cố định với công nghệ thông tin-truyền thông

- Sản phẩm được cải tiến về công nghệ được hiểu là một sản phẩm vẫn

thuộc dòng sản phẩm trước đó, nhưng có tính năng, công dụng mới hơn nhờ

có những cải tiến đáng kể về công nghệ Những đổi mới này có thể được tạo ra

2 Vì vậy, mặc dù trong thực tế doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động cải tiến nhỏ/không đáng

kể xét về mức độ thay đổi công nghệ thì không được xem là ĐMCN Ví dụ, việc sử dụng một số loại

đồ gá lắp đơn giản để tăng năng suất trong một số doanh nghiệp dệt may, nhưng không làm tăng đáng

kể hiệu năng của toàm bộ dây chuyền may mặc đó thì không được xem là cải tiến đáng kể công nghệ Việc mở rộng sản xuất bằng cách đầu tư thêm máy móc thiết bị cùng loại đang sử dụng (ngay cả khi loại máy này được đánh giá là loại máy móc thiết bị tiên tiến) không được xem là đổi mới quy trình công nghệ

3 Công nghệ Bluetooth là một công nghệ dựa trên tần số vô tuyến và bất cứ một thiết bị nào có tích hợp bên trong công nghệ này đều có thể truyền thông với các thiết bị khác với một khoảng cách nhất định về cự li để đảm bảo công suất cho việc phát và nhận sóng Công nghệ này thường được sử dụng

để truyền thông giữa hai loại thiết bị khác nhau Ví dụ: Bạn có thể hoạt động trên máy tính với một bàn phím không dây, sử dụng bộ tai nghe không dây để nói chuyện trên điện thoại di động

Trang 13

nhờ việc sử dụng loại nguyên vật liệu thích hợp hơn (chi phí thấp hơn hoặc tiết kiệm năng lượng, bền hơn…), hoặc dựa trên việc đổi mới một số bộ phận/linh

là sản phẩm được cải tiến về công nghệ

Đổi mới quy trình là việc một doanh nghiệp đưa vào ứng dụng quy

trình công nghệ sản xuất mới hoặc được cải tiến đáng kể về công nghệ so với quy trình công nghệ sản xuất được doanh nghiệp ứng dụng trước đó

Hộp 3 Quy trình mới và quy trình được cải tiến về công nghệ

- Quy trình mới: là cách thức mới để sản xuất ra sản phẩm và thường

gắn với hệ thống máy móc - thiết bị mới, dựa trên các nguyên lý công nghệ

mới, phương pháp tổ chức sản xuất mới Ví dụ:

+ Một doanh nghiệp chế tạo khuôn mẫu đưa vào sử dụng các loại máy gia công cơ khí CNC (máy cắt dây CNC, máy phay CNC…) để thay thế các máy gia công cơ khí thế hệ cũ thì doanh nghiệp đó được xem là đã thực hiện đổi mới quy trình Quy trình mới này dựa trên các kỹ thuật lập trình thiết kế & chế tạo với sự trợ giúp của máy tính Các kỹ thuật cơ khí truyền thống trước đây không cho phép chế tạo các loại khuôn mẫu đòi hỏi độ chính xác cao, mẫu mã thay đổi nhanh

+ Một doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm nhựa cao cấp áp dụng quy trình sản xuất khép kín tự động, từ khâu trộn/ phối liệu - tạo hạt nhựa - ép đùn hỗn hợp để sản xuất các loại cửa sổ, cửa ra vào, vách ngăn với độ bền cao, tránh trầy xước, mầu sắc đa dạng, chịu độ ẩm và nhiệt độ cao…

- Quy trình được cải tiến về công nghệ: là việc cải tiến cách thức sản

xuất để tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nhưng thường vẫn dựa trên các nguyên lý công nghệ cũ và sản phẩm sản xuất ra vẫn là các sản phẩm truyền thống

+ Một doanh nghiệp đưa vào sử dụng “cánh tay rô bốt”để vận chuyển bán thành phẩm giữa các công đoạn sản xuất thay cho các hoạt động thủ công trước đó thì doanh nghiệp đó đã thực hiện cải tiến quy trình sản xuất

+ Một doanh nghiệp chế biến hoa quả đưa vào sử dụng máy đục lõi dứa trong qui trình chế biến dứa khoanh hộp thay cho các hoạt động thủ công bằng tay trước đó có thể coi là một cải tiến quy trình

Trang 14

Đổi mới căn bản và đổi mới tuần tự Sự phân định giữa đổi mới

căn bản và đổi mới tuần tự được nhiều chuyên gia tư vấn về đổi mới sử dụng để hỗ trợ xây dựng chiến lược ĐMCN và lựa chọn phương pháp quản

lý công nghệ phù hợp

Tuy nhiên, sự phân định giữa đổi mới tuần tự và đổi mới căn bản chưa giúp lý giải vì sao doanh nghiệp này có nhiều lợi thế hơn doanh nghiệp kia khi thực hiện một dự án ĐMCN Thực tế, không ít doanh nghiệp

sở hữu các công nghệ thành phần quan trọng nhưng lại thất bại khi thực hiện cải tiến đối với các công nghệ này để tạo ra các sản phẩm ưu việt hơn Mặt khác, có nhiều bằng chứng cho thấy, phần lớn các ĐMCN trong thực tế

là những cải tiến nhỏ được thực hiện thường xuyên dựa trên những sản phẩm/quy trình hiện có nhưng lại có tác động lớn đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Do đó, để tạo ra một sản phẩm mới, doanh nghiệp cần phải có một trong hai loại kiến thức cơ bản: kiến thức liên quan đến các bộ phận hợp thành hệ thống công nghệ và kiến thức về sự liên kết giữa các bộ phận đó Việc phân biệt giữa 2 loại kiến thức này là cơ sở để hiểu được sự khác nhau giữa các loại ĐMCN

Hình 1 phác thảo mối quan hệ giữa các loại hình ĐMCN, theo đó chiều ngang biểu thị tác động của ĐMCN đối với các bộ phận hợp thành, chiều dọc biểu thị tác động tới mối liên kết giữa các bộ phận đó Đổi mới căn bản tạo ra một sản phẩm hoàn toàn mới về thiết kế và thông số kỹ thuật, vì thế yêu cầu sự tương thích của các bộ phận cấu thành được liên kết với nhau theo một kết cấu hoàn toàn mới Mặt khác, đổi mới tuần tự tạo ra những cải tiến (về thiết kế và thông số kỹ thuật) chủ yếu đối với các bộ phận cấu thành của sản phẩm, còn giải pháp kỹ thuật để liên kết các bộ phận này về cơ bản không thay đổi

Trang 15

Sản phẩm mới là kết quả của sự kết hợp của nhiều công nghệ khác nhau Một sản phẩm hoặc quy trình mới thường được cấu thành bởi

nhiều công nghệ hợp phần khác nhau

Ví dụ, một chiếc quạt cảm ứng bao

gồm ít nhất 4 công nghệ thành phần

chủ yếu: động cơ, cánh quạt, bộ phận

cảm ứng (nhiệt độ, độ ẩm), và hệ

thống phun hơi nước Tương tự, một

ổ cứng USB flash được tạo ra nhờ 3

công nghệ cơ bản: bản mạch in, đầu

cắm kết nối với các cổng USB, và vỏ

bảo vệ Mỗi công nghệ này lại được

tích hợp từ nhiều công nghệ đơn lẻ

khác Mặc dù việc ĐMCN có thể

được tạo ra nhờ phát triển các công

nghệ đơn lẻ để tạo ra sản phẩm hoặc

quy trình mới, nhưng ĐMCN dựa

trên tích hợp các công nghệ thành

phần sẵn có sẽ được nhiều DNN&V

quan tâm trong những năm tới

Hình 1 Các loại hình đổi mới công nghệ

Nguồn: Henderson, 1990; Narayanan, 2001

Đổi mới căn bản Đổi mới kết cấu

Đổi mới tuần tự Đổi mới mô-đun

Tác động ít tới kết cấu hệ thống công nghệ

Tác động lớn tới kết cấu hệ thống công nghệ

Các nghiên cứu so sánh mô hình ĐMCN giữa DNN&V ở Mỹ và Nhật Bản cho rằng, các doanh nghiệp Mỹ thường chú trọng phát triển các công nghệ hợp phần đơn

lẻ, trong khi đó nhiều DNN&V ở Nhật lại tập trung vào các giải pháp nhằm mở rộng tiềm năng ứng dụng để đưa ra các sản phẩm, quy trình hiện có Vì vậy, các doanh nghiệp Mỹ thường tập trung nguồn lực cho nghiên cứu, đổi mới các công nghệ hợp phần đơn lẻ, còn các công ty Nhật lại đi theo chiến lược tích hợp theo chiều ngang, coi trọng các nghiên cứu thích nghi nhằm mở rộng tiềm năng ứng dụng của các công nghệ hiện có.

Trang 16

Đối với các DNN&V ở các nước đang phát triển, ĐMCN chủ yếu được thực hiện theo hai cách:

- Ứng dụng công nghệ mới để thay thế công nghê đang được sử dụng; và

- Tái tổ chức, tích hợp các công nghệ hợp phần trong hệ thống công nghệ hiện có theo các cách khác nhau

Trên cơ sở đó, có thể phân chia ĐMCN thành bốn loại hình cơ bản: Đổi mới tuần tự, đổi mới mô-đun, đổi mới cấu trúc và đổi mới căn bản Cụ thể có thể phân thành bốn loại sau:

- Đổi mới tuần tự Đổi mới tuần tự là loại hình đổi mới tạo ra những

cải tiến về công nghệ dựa trên những sản phẩm, quy trình sản xuất hiện có của doanh nghiệp Loại đổi mới này dựa trên các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm được doanh nghiệp học hỏi, tích lũy thông qua quá trình sản xuất - kinh doanh Kết quả của đổi mới này vẫn là những sản phẩm thuộc dòng sản phẩm được doanh nghiệp sản xuất trước đó, hoặc là những quy trình sản xuất đã được doanh nghiệp ứng dụng vào sản xuất Mặc dù loại đổi mới này không đòi hỏi phải có kiến thức mới, nhưng để thành công doanh nghiệp cần phải có một số năng lực công nghệ, đặc biệt là năng lực thích nghi, cải tiến đối với sản phẩm hoặc quy trình công nghệ hiện có Đổi mới tuần tự thường được nhiều DNN&V lựa chọn do có thể tận dụng được các nguồn lực sẵn có

- Đổi mới mô-đun Đổi mới mô-đun

là loại đổi mới tạo ra những thay đổi đáng

kể đối với một số công nghệ hợp phần của

sản phẩm hoặc quy trình dựa trên các kiến

thức sẵn có về thiết kế và tích hợp hệ thống

Đổi mới mô-đun đòi hỏi doanh nghiệp phải

có kiến thức mới về một hoặc một số công

nghệ hợp phần

- Đổi mới kết cấu hệ thống công nghệ Ngược lại với đổi mới

mô-đun, đổi mới kết cấu công nghệ là loại đổi mới dựa trên việc tái tổ chức các

bộ phận, công nghệ hợp phần trong hệ thống công nghệ hiện có theo các cách khác nhau nhằm tạo ra một hệ thống công nghệ mới (sản phẩm, quy trình) Đổi mới kết cấu không đòi hỏi kiến thức mới về các bộ phận, công nghệ hợp phần, mà chủ yếu dựa trên kiến thức thiết kế và tích hợp các công nghệ hợp phần trong hệ thống công nghệ hiện có để tạo ra hệ thống công

Đổi mới mô-đun

Các thiết bị thông tin không dây (tai nghe nhạc, chuột máy tính, mô-đem, điện thoại kéo dài ), hoặc nhiều thiết bị gia công cơ khí được điều khiển bằng máy tính (CNC) là những ví dụ minh họa về đổi mới mô-đun

Trang 17

nghệ mới Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp mới thành lập thường quan tâm nhiều đến loại hình đổi mới này nhằm khai thác các thị trường ngách (Niches market)

- Đổi mới căn bản Đổi mới căn

bản là những thay đổi toàn bộ về tính

năng và nguyên lý công nghệ so với các

công nghệ cùng chủng loại hiện có Loại

đổi mới này đòi hỏi doanh nghiệp phải có

kiến thức hoàn toàn mới cả về các công

nghệ hợp phần và kết cấu hệ thống công

nghệ Thực tế, rất ít ĐMCN trong khu vực

DNN&V hiện nay (một số ít doanh nghiệp

mới thành lập) thuộc loại này

IV Đổi mới công nghệ và đổi mới

Tùy phạm vi của hoạt động đổi mới được nói đến, một số trường hợp gọi chung là đổi mới, nhưng cũng có trường hợp gọi cụ thể hơn là ĐMCN ĐMCN thường nhấn mạnh tới đối tượng cụ thể được đổi mới là công nghệ, còn đổi mới nói chung bao gồm nhiều vấn đề khác, như hoạt động quản lý, tiếp thị, sản xuất và phân phối, v.v…

Ở Việt Nam, hoạt động ĐMCN chưa thực sự được nhiều DNN&V quan tâm Điều này cho thấy, các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh phát triển khá mạnh so với các dịch vụ hỗ trợ ĐMCN

Kinh nghiệm thành công về ĐMCN cho thấy, hoạt động ĐMCN và phát triển kinh doanh thường được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác dụng hỗ trợ nhau Vì vậy, gần đây nhiều chương trình hỗ trợ ĐMCN cho các DNN&V có xu hướng gọi chung là đổi mới thay vì trước đây chỉ nhấn mạnh về ĐMCN

Đổi mới kết cấu hệ thống công nghệ

Một doanh nghiệp từng sản xuất quạt bàn trước đây, nay đầu tư sản xuất quạt trần thì trường hợp này có thể được xem là đổi mới kết cấu hệ thống công nghệ vì các công nghệ hợp phần của quạt trần (cánh quạt, động cơ, điều khiển…) cũng giống quạt bàn nhưng được tổ chức, tích hợp theo các cách khác nhau

Trang 18

tìm kiếm, lựa chọn công nghệ, chuyển giao công nghệ, huy động vốn cho ĐMCN, tiêu chuẩn chất lượng, tài sản trí tuệ)

Nhu vậy, yêu cầu đối với các nhà quản trị DNN&V là đảm bảo các hoạt động (chức năng) sản xuất - kinh doanh và ĐMCN được gắn kết chặt chẽ với nhau Quá trình áp dụng một công nghệ mới vào sản xuất - kinh doanh của một doanh nghiệp thường chịu tác động đồng thời của nhiều yếu

tố chủ quan (chuyên môn hóa, năng lực nội sinh) và khách quan (môi trường thể chế, hệ thống hỗ trợ, môi trường cạnh tranh) Vì vậy, để thành công trong ĐMCN, các doanh nghiệp cần xem xét, quản lý công nghệ trong mối tương quan với các yếu tố này (Ca, 2003)

Trong cộng đồng DNN&V, nhiều nhà quản trị doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về quản lý công nghệ Trong nhiều trường hợp, quản lý công nghệ thường chỉ hạn chế ở các nội dung quản lý kỹ thuật Một số trường hợp, mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của quản lý công nghệ, nhưng không có đủ năng lực để phát triển toàn diện các hoạt động quản lý công nghệ

Gaynor, chuyên gia nổi tiếng về quản lý công nghệ đã phác thảo 5 giai đoạn cơ bản với các hoạt động chủ yếu liên quan đến quản lý công nghệ (Gaynor, 1996)

Hình 2 Các giai đoạn của quản lý công nghệ

- Quan hệ công

- Hoạt động điều hành chung

Trang 19

Hình 2 cho thấy các hoạt động ở giai đoạn sau được bổ sung, phát triển thêm dựa trên các thành phần của giai đoạn trước đó Theo đó, nếu một doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển (Giai đoạn 1) thì chưa được coi là quản lý công nghệ Giai đoạn 2 có thêm hoạt động thiết kế và sản xuất, như vậy đã gắn nghiên cứu và phát triển với sản xuất Tuy nhiên, để được xem là có thực hiện quản lý công nghệ thì doanh nghiệp phải tiến hành thêm các hoạt động marketing, bán hàng, phân phối, và dịch vụ hỗ trợ khách hàng (Giai đoạn 3)

Nghiên cứu mới đây về quản lý công nghệ trong các DNN&V cho thấy, mặc dù nhiều hoạt động liên quan đến này không phải là mới đối với nhiều doanh nghiệp, nhưng thực hiện các hoạt động này trong mối tương quan mật thiết với nhau, kết hợp với nhau đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp cần có một tư duy mới, cách tiếp cận mới (Ca, 2003)

VI Khó khăn của DNN&V khi thực hiện ĐMCN

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy, bên cạnh những lợi thế nhất định, DNN&V có nhiều bất lợi so với các doanh nghiệp lớn khi tiến hành các hoạt động ĐMCN (Bảng 1)

Bảng 1 Lợi thế và bất lợi của DNN&V so với doanh nghiệp lớn

năng trong doanh nghiệp

Thiếu nguồn lực để phát triển mạng lưới hợp tác với các đối tác bên ngoài

Marketing

- Nhanh chóng thích ứng với những thay

đổi của thị trường

- Có nhiều cơ hội khai thác thị trường

Trang 20

Lợi thế Bất lợi

cho ĐMCN

Tăng trưởng

Có nhiều tiềm năng phát triển dựa vào

chiến lược tạo ra sự khác biệt về sản

khích, ưu đãi cho ĐMCN - Thiếu kỹ năng cần thiết để đáp ứng các điều kiện hỗ trợ theo quy định

- Thiếu thông tin về về các chính sách ưu đãi, các chương trình hỗ trợ

Khả năng học hỏi

Quá trình học hỏi nhanh chóng, thích

ứng nhanh với những thay đổi của thị

trường và công nghệ

Nguồn: The Handbook for Industrial Innovation, 1996

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng, cộng đồng DNN&V trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm tới khi áp lực cạnh trang ngày càng gia tăng Các khó khăn chủ yếu cản trở hoạt động ĐMCN của các DNN&V bao gồm:

- Thiếu kỹ năng nghiệp vụ và thực trạng các nguồn thông tin để tìm kiếm công nghệ nên không biết tìm kiếm bằng cách nào và tìm ở đâu

- Không biết đánh giá như thế nào để lựa chọn công nghệ thích hợp nên chi phí đầu tư thường cao hơn so với giá trị thương mại của công nghê mua về

- Chưa quen với việc mua công nghệ theo con đường chính thức nên thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong việc lựa chọn hình thức phù hợp để mua công nghệ và đàm phán hợp đồng CGCN với các nhà cung cấp

- Chưa chú trọng đầu tư cho các hoạt động thích nghi, làm chủ và cải tiến công nghệ mua về nên hiệu quả ứng dụng chưa cao

- Không có bộ phận chức năng thường xuyên cập nhật thông tin về công nghệ mới, các tiêu chuẩn mới và các quy định luật pháp mới, trong khi hệ thống thông tin trong nước còn nhiều bất cập

- Nguồn vốn tự có thấp, trong khi thiếu kỹ năng, kinh nghiệm để huy động vốn từ các nguồn bên ngoài cho các hoạt động ĐMCN

Trang 21

Chương Hai TÌM KIẾM CÔNG NGHỆ

Tìm kiếm, thu thập và sử dụng hiệu quả thông tin sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra quyết định đúng đắn, hạn chế rủi ro phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện các dự án ĐMCN Phần này giới thiệu một số loại thông tin công nghệ, các nguồn công nghệ và hướng dẫn các bước cơ bản để tiến hành tìm kiếm công nghệ

I Loại hình thông tin công nghệ

Về cơ bản, thông tin công nghệ bao gồm các thông tin kỹ thuật (tính năng, tính mới, mức độ hiện đại, công suất, tiêu hao nguyên-nhiên-vật liệu, tác động môi trường, điều kiện cần thiết để sử dụng công nghệ, v.v ) và các thông tin liên quan đến khía cạnh thương mại của công nghệ (giá cả, phương thức thanh toán, hình thức chuyển giao, tình trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ, v.v…)

Khi tiến hành tìm kiếm công nghệ, doanh nghiệp cần xác định rõ ràng và đầy đủ các loại thông tin liên quan đến công nghệ đó Bảng 2 tổng hợp các loại thông tin được thiết kế trong hệ thống cơ sở dữ liệu của nhiều

4 Tính năng nổi trội

5 Thông số kinh tế - kỹ thuật

6 Lĩnh vực ứng dụng

7 Mức độ phát triển của công nghệ

8 Điều kiện nhân lực để ứng dụng công nghệ

9 Điều kiện cơ sở hạ tầng nhà xưởng để vận hành dây chuyền thiết bị

10 Tác động môi trường

11 Hình thức chuyển giao

12 Tình trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ

13 Các nước mà công nghệ được chào bán, tìm mua

Trang 22

14 Bên chào bán công nghệ (*)

15 Giá tham khảo (*)

16 Mức độ hiện đại (*)

17 Khả năng hỗ trợ của bên bán (*)

18 Các nhà cung cấp công nghệ liên quan (*)

19 Các nhà cung cấp thiết bị liên quan(*)

20 Bài học thành công, thất bại (*)

(*): Các loại thông tin này thường được cung cấp theo phí dịch vụ

Khác với thông tin khoa học, thông tin công nghệ liên quan trưc tiếp tới sản xuất - kinh doanh và sinh lợi Vì vậy, doanh nghiệp sẽ phải trả phí

để có được những thông tin hữu dụng Nói chung, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thông tin chuyên nghiệp ở nước ngoài thường tổ chức việc cung cấp thông tin theo các gói dịch vụ khác nhau Về cơ bản, có hai loại: miễn phí và phải trả tiền Cụ thể như sau:

- Thông tin đơn giản, mang tính miêu tả: bao gồm các thông tin có tính chất miêu tả về công dụng, lĩnh vực ứng dụng, tính năng mới, các thông số kinh tế - kỹ thuật, hình thức chuyển giao (mua bán) và phương thức thanh toán, v.v…

- Thông tin chi tiết, đã được xử lý: bao gồm các nhà cung cấp công nghệ, giá tham khảo (ví dụ, mức giá thấp nhất mà bên có công nghệ có thể bán), mức độ hiện đại so với các công nghệ liên quan, khả năng hỗ trợ của bên bán (về vốn, thị trường, tư vấn), các nhà cung cấp thiết bị liên quan đến công nghệ, v.v Điều kiện để làm chủ/cải tiến của nhiều công nghệ có cùng công dụng trên thị trường

Ngoài những thông tin liên quan đến công nghệ, doanh nghiệp cũng cần thu thập đầy đủ các thông tin để đánh giá năng lực và uy tín của các nhà cung cấp làm căn cứ lựa chọn Về cơ bản, doanh nghiệp cần chú ý tới một số loại thông tin chủ yếu sau:

- Năng lực nghiên cứu và phát triển (trong lĩnh vực công nghệ chào bán)

- Quyền hợp pháp đối với công nghệ

- Điều kiện (vật chất - kỹ thuật)

- Năng lực tài chính

Trang 23

II Các nguồn cung cấp thông tin công nghệ

II.1 Nhận xét chung

Nguồn thông tin công nghệ trong thực tế khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên, nhiều DNN&V không biết rõ ràng và đầy đủ các loại hình tổ chức dịch vụ thông tin, tình trạng của các nguồn thông tin này ra sao, hoặc không biết tiếp cận các nguồn này như thế nào

Thực tế, vì phục vụ cho các mục đích, đối tượng khác nhau nên mỗi nguồn thông tin thường chuyên sâu vào từng loại thông tin khác nhau Các nguồn này đều có những điểm mạnh và hạn chế nhất định Vì vậy, DNN&V cần khai thác tốt nội dung thông tin từ nhiều nguồn để có những căn cứ đánh giá, so sánh phục vụ cho việc lựa chọn công nghệ phù hợp

Nói chung, khi tiến hành tìm kiếm công nghệ các DNN&V cần chú ý tới các nguồn thông tin sau:

- Doanh nghiệp khác cùng ngành;

- Khách hàng, nhà cung cấp thiết bị;

- Hội chợ, triển lãm hàng công nghiệp;

- Chợ công nghệ và thiết bị, sàn giao dịch công nghệ trên mạng;

- Trung tâm hỗ trợ DNN&V;

- Công ty tư vấn kỹ thuật, tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ;

- Hiệp hội, hội chuyên ngành;

- Viện nghiên cứu, trường đại học công nghệ

II.2 Thực trạng của một số nguồn cụ thể

1 Tìm kiếm từ các doanh nghiệp khác cùng ngành

Nhu cầu công nghệ thường xuất phát khi thấy rõ được tính hữu dụng của công nghệ trong thực tiễn sản xuất - kinh doanh Vì thế, không ít trường hợp, nhu cầu mua công nghệ có thể nẩy sinh sau các chuyến công tác, thăm quan nhà máy của các doanh nghiệp khác (trong nước, nước ngoài) Ngoài ra, khai thác tốt mối quan hệ cá nhân với đội ngũ kỹ sư, thợ lành nghề của doanh nghiệp khác cũng là cách làm hiệu quả Qua đó, có thể biết được ít nhất một nguồn công nghệ có thể mua hoặc bắt chước làm theo

Trang 24

2 Khai thác thông tin từ khách hàng, nhà cung cấp

Cũng có nhiều trường hợp khách hàng vừa là nguồn làm nảy sinh các

ý tưởng đổi mới, đồng thời là nguồn cung cấp thông tin công nghệ cho doanh nghiệp Vì vậy, trong quan hệ bạn hàng cần tạo cơ hội thuận tiện cho việc trao đổi, lắng nghe ý kiến của khách hàng, đặc biệt là các khách hàng lớn, các nhà phân phối sản phẩm

Mặt khác, nếu biết cách khai thác, doanh nghiệp có thể có được những gợi ý từ chính các nhà cung cấp máy móc, thiết bị về các giải pháp công nghệ (hợp lý hóa dây chuyền thiết bị), v.v…

3 Tìm kiếm thông qua hội chợ, triển lãm

Hội chợ là nơi để giới thiệu, quảng bá các sản phẩm mới, công nghệ mới, qua đó làm nảy sinh các ý tưởng đổi mới Tham gia hội chợ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thiết lập được nhiều mối quan hệ kinh doanh, mua bán công nghệ Các trung tâm hỗ trợ DNN&V, các hiệp hội chuyên ngành, VCCI thường là những đơn vị tham gia tổ chức các sự kiện này

4 Tìm kiếm qua các chợ công nghệ và thiết bị, sàn giao dịch công nghệ

Để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ, Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho DNN&V tìm kiếm công nghệ thông qua việc phát triển các trung tâm dịch vụ thông tin công nghệ quy mô quốc gia và khu vực Hệ thống thông tin giới thiệu danh mục các công nghệ tìm mua, chào bán thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Chợ công nghệ và thiết bị, sàn giao dịch công nghệ được tổ chức khá thường xuyên Gần đây, một số thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, v.v…) đã phát triển hình thức cung cấp dịch vụ thông tin qua mạng Internet Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các trung tâm thông tin KH&CN thuộc sở KH&CN thường là các đơn vị chủ trì các sự kiện này

Mặc dù, chất lượng thông tin còn những hạn chế nhất định, nhưng qua đó các doanh nghiệp có thể thu thập được một số thông tin sơ bộ trước khi chính thức tiếp cận các nhà tư vấn chuyên nghiệp

Tuy nhiên, chất lượng thông tin của các trung tâm dịch vụ của nhà nước có những điểm hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp Một phần là do mô hình sở hữu và cơ chế quản lý các trung tâm này không phù hợp Mặt khác, các trung tâm này thường có quy

mô khá lớn, đa ngành, trong khi năng lực quản lý và phát triển lại rất hạn chế nên chất lượng thông tin

Trang 25

5 Tìm kiếm thông qua các tổ chức quốc tế

Các tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ ở nước ngoài, đặc biệt ở một số nước trong khu vực (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,

Ấn Độ, v.v ) cũng là những kênh thông tin cần được các DNN&V quan tâm nhiều hơn Việc tiếp cận các nguồn thông tin này thường đòi hỏi chi phí khá tốn kém so với các kênh trong nước

Một số tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ khu vực và quốc tế cũng được thành lập với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế (APCTT, UNIDO, ASEAN) nhằm hỗ trợ các hoạt động chuyển giao công nghệ giữa các DNN&V DNN&V trong nước cần khai thác tốt các kênh thông tin này nhằm giảm bớt các chi phí ban đầu trước khi tiếp cận các nguốn thông tin công nghệ quốc tế Để thực hiện công việc này các doanh nghiệp cần thuê chuyên gia tư vấn thông thạo ngoại ngữ

6 Trung tâm hỗ trợ DNN&V

Trong nhiều năm qua, một số trung tâm hỗ trợ DNN&V đã các trung tâm này đã có nhiều hoạt động tích cực trong việc hỗ trợ các DNN&V phát triển sản xuất - kinh doanh, mở rộng thị trường Hoạt động hỗ trợ tìm kiếm công nghệ chưa thực sự được chú trọng

Để đáp ứng nhu cầu ĐMCN cho cộng đồng DNN&V, Chính phủ đã thành lập ba Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNN&V tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh4 Các trung tâm này có chức năng tư vấn cho Cục phát triển DNN&V và là đầu mối tư vấn về công nghệ và kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, hướng dẫn quản lý kỹ thuật và bảo dưỡng trang thiết bị, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ trang thiết bị mới cho DNN&V

Với sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế, các trung tâm này đang xây dựng các cơ sở dữ liệu thông tin, phát triển mạng lưới liên kết với các tổ chức thông tin công nghệ, tổ chức tư vấn trong nước và quốc tế

để tiến hành hỗ trợ thông tin công nghệ cho các DNN&V Sắp tới DNN&V

có thể truy cập miễn phí hoặc có thu phí thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến (online)

4 Ngày 12/05/2003 Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư đã có quyết định số 290/QĐ-BKH thành lập

Trang 26

7 Khai thác thông tin từ các trung tâm dịch vụ chuyển giao công nghệ

Thực tế cũng có một số DNN&V thành công trong việc thu thập được một số loại thông tin quan trọng (bí quyết công nghệ) từ các trung tâm

tư vấn chuyển giao công nghệ đã từng cung cấp dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp lớn

III Các bước tìm kiếm công nghệ

Về cơ bản, các DNN&V cần trải qua các bước sau để có thể có được thông tin công nghệ phù hợp:

Bước 1: Xác định rõ nhu cầu công nghệ

- Kinh nghiệm thành bại của nhiều DNN&V chỉ ra rằng khả năng nhận thức rõ ràng nhu cầu công nghệ có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để lựa chọn đường đi đúng hướng và giải pháp phù hợp để cuối cùng tìm được công nghệ phù hợp Trên cơ sở xác định rõ nhu cầu, doanh nghiệp mới có thể biết được nhu cầu đó sẽ được đáp ứng như thế nào và bằng cách nào

- Để xác định nhu cầu công nghệ,

cần tập trung trả lời các câu hỏi: ĐMCN

nhằm mục tiêu gì và công nghệ cần phải

đáp ứng một số tiêu chuẩn cơ bản nào,

mức độ hiện đại thế nào, tổng vốn đầu

tư tối đa cho dự án là bao nhiêu, trong

đó mức tối đa cho việc mua công nghệ

là bao nhiêu, v.v…

- Liệt kê đầy đủ các loại thông tin

công nghệ cần tìm kiếm, thu thập

Bước 2: Khai thác các nguồn thông tin

sẵn có

- Quá trình tìm kiếm công nghệ

thường bắt đầu bằng việc chủ động khai

thác hiệu quả các nguồn thông tin sẵn có

để thu thập những thông tin sơ bộ với

kỳ hội chợ, triển lãm, tham khảo thông tin từ các tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ, hiệp hội chuyên ngành, v.v Những thông tin thu thập được từ các nguồn sẵn có thường là những nội dung đơn giản, mang tính miêu tả Sau đó, có thể xúc tiến công việc việc tìm kiếm nâng cao qua các buổi gặp gỡ trực tiếp

Trang 27

Quá trình trao đổi thường diễn ra nhiều lần, có thể thành công hoặc thất bại Doanh nghiệp cần kiên trì và thể hiện sự cam kết đối với yêu cầu của mình ngay từ cuộc gặp đầu tiên với đối tác Khi trao đổi với đối tác, cần diễn đạt đầy đủ và chính xác nhu cầu công nghệ và các loại thông tin liên quan đến công nghệ đó

Trong trường hợp phải thông qua tổ chức môi giới trung gian để biết được thông tin về bên bán công nghệ, cần thỏa thuận rõ ràng

về vai trò và lợi ích của các

tổ chức này trong những lần gặp gỡ trao đổi tiếp theo với bên bán công nghệ

+ Các mối quan hệ quen biết (doanh nghiệp cùng ngành, chuyên gia

kỹ thuật, khách hàng và nhà cung cấp thiết bị)

+ Cơ sở dữ liệu thông tin công nghệ (CSDL) của các tổ chức dịch vụ thông tin trong nước và nước ngoài Việc truy cập thông tin có thể được thực hiện qua mạng internet, thư, email, fax, điện thoại Một số trường hợp phải trả phí dịch vụ ngay từ đầu, nhưng thông thường chỉ yêu cầu thanh toán phí dịch vụ đối với các gói thông tin chi tiết và các buổi môi giới chính thức sau này

+ Hội chợ, triển lãm chuyên ngành

+ Hội, hiệp hội chuyên ngành

+ Trường đại học, viện nghiên cứu công nghệ

Bước 3: Trao đổi chính thức

- Sau khi có được những thông tin

sơ bộ ban đầu, bước tiếp theo là thu xếp

các cuộc gặp mặt trao đổi chính thức với

các đối tác để thu thập được những thông

tin cụ thể phù hợp với nhu cầu và khả

năng của mình

- Tùy từng trường hợp, doanh

nghiệp có thể được gặp trực tiếp bên bán

công nghệ ngay từ đầu, hoặc thông các

tổ chức môi giới Trường hợp có sự hỗ

trợ của tổ chức trung gian, nên xác lập

một hợp đồng dịch vụ bằng văn bản dựa

trên những thỏa thuận cụ thể Cần lưu ý

tới các khoản chi phí phải trả cho các tổ

chức môi giới trung gian

- Các công việc trên thường đòi

hỏi khá nhiều thời gian và chi phí trong

khi hoạt động sản xuất - kinh doanh

không cho phép ngừng trễ Việc này có

thể tự thực hiện hoặc nhờ sự tư vấn của

các công ty tư vấn có uy tín

Trang 28

Bước 4: Lập danh sách nhà cung cấp công nghệ phù hợp

- Kết thúc quá trình trao đổi chính thức, cần lập ra một danh sách các nhà cung cấp công nghệ có thể lựa chọn Thông thường, danh sách này bao gồm khoảng 5 nhà cung cấp công nghệ khả dĩ

- Công việc này có thể cần đến sự trợ giúp của các tổ chức dịch vụ tư vấn công nghệ độc lập (không có mối quan hệ với nhà cung cấp), hoặc tham khảo thêm ý kiến của các kỹ sư chuyên ngành và các doanh nghiệp khác cùng ngành

Hộp 4 Tìm kiếm thông tin công nghệ

Một công ty cổ phần thuộc loại DNN&V chuyên sản xuất các chi tiết, linh kiện cơ khí dự định đầu tư cho một dự án sản xuất bánh xe dùng cho một mẫu vali kéo chuyên dụng Theo yêu cầu, loại bánh xe này phải có độ cứng, chịu lực tốt với kiểu dáng nhỏ gọn, bền, nhẹ, phù hợp với thiết kế của vali và khi sử dụng không gây ra tiếng ồn Sản phẩm mới dự kiến chế tạo thuộc loại hoàn toàn mới so với các sản phẩm truyền thống của doanh nghiệp

Để triển khai dự án này, ban lãnh đạo doanh nghiệp đã trao đổi với đội ngũ cán bộ, kỹ sư trong doanh nghiệp về thiết kế kiểu dáng, mẫu mã và loại vật liệu để chế tạo sản phẩm mới Nhưng để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm này, doanh nghiệp chưa biết sẽ cần những loại công nghệ, thiết

bị nào và có doanh nghiệp nào (trong nước, nước ngoài) sử dụng loại công nghệ này

Doanh nghiệp đã chủ động tìm đến một số trung tâm thông tin công nghệ trong nước đề xuất nhu cầu hỗ trợ tìm kiếm nhà cung cấp công nghệ này Trong những lần trao đổi với trung tâm này, doanh nghiệp đã không trình bày

rõ ràng, đầy đủ các loại thông tin cần thiết cho việc hỗ trợ tìm kiếm công nghệ nên công việc tìm kiếm mất nhiều thời gian và chi phí Trong khi đó, phần lớn các trung tâm dịch vụ thông tin của nhà nước hoạt động đa ngành nên cũng gặp nhiều khó khăn khi doanh nghiệp có yêu cầu trong chuyên ngành hẹp Cơ chế quản lý hiện hành không cho phép các trung tâm này thuê khoán các chuyên gia tư vấn chuyên ngành để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho DNN&V

Thực tế đã có một số công ty tư vấn thiết kế, viện nghiên cứu cơ khí trong nước gợi ý hợp tác nghiên cứu và chế tạo thử nghiệm loại sản phẩm này

để tìm ra các giải pháp, phương án công nghệ phù hợp bằng chi phí của doanh nghiệp Tuy nhiên, do eo hẹp về tài chính và e ngại rủi ro về kỹ thuật nên doanh nghiệp đã từ chối đề xuất này

Sau vài tháng tự tìm kiếm, thông qua giới thiệu của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái bình dương (APCTT), doanh nghiệp đã tìm đến một trung tâm môi giới công nghệ có trụ sở tại Thượng Hải, Trung Quốc Điểm mạnh của Trung tâm này là phát triển được một số cơ sở dữ liệu công nghệ chuyên ngành, được kết nối với các cơ sở dữ liệu của các tổ chức dịch vụ thông tin chuyên nghiệp và các hiệp hội chuyên ngành ở nhiều nước Ngoài ra,

Trang 29

Trung tâm này cũng có nhiều thành công trong việc tư vấn chuyển giao công nghệ cho các DNN&V

Rút kinh nghiệm từ những lần trước, doanh nghiệp đã có những chuẩn

bị khá chú đáo để trình bày rõ ràng và cụ thể những loại thông tin liên quan đến công nghệ cần tìm Sau một số cuộc gặp ban đầu, phía đối tác nhanh chóng nắm được nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp lựa chọn cho việc tìm kiếm Doanh nghiệp không phải thanh toán chi phí cho các cuộc gặp ban đầu

Theo thỏa thuận, doanh nghiệp đồng ý trả một khoản tiền để mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu trong thời hạn 30 ngày để khai thác thông tin từ cơ sở

dữ liệu này kèm theo sự trợ giúp về nghiệp vụ của trung tâm Số tiền này được thanh toán một lần ban đầu Nhờ đó, doanh nghiệp đã thu thập đựơc một số thôn gtin công nghệ có thể đáp ứng yêu cầu của mình

Sau đó, Trung tâm này chủ động đứng ra liên hệ với các nhà cung cấp

và tổ chức một số cuộc đối thoại, gặp mặt 3 bên (Doanh nghiệp, Nhà cung cấp công nghệ và Trung tâm môi giới) để trao đổi cụ thể hơn về mức độ phù hợp của công nghệ với yêu cầu và khả năng tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải trả một khoản phí dịch vụ cho việc thu xếp các cuộc gặp này (phí môi giới)

Sau môt thời gian, doanh nghiệp xúc tiến việc liên lạc và trao đổi trực tiếp với các nhà cung cấp công nghệ để thăm dò giá cả và các yêu cầu khác Các cuộc trao đổi, đàm phán sau này đều không có sự tham gia của Trung tâm môi giới

Sau khi hợp đồng chuyển giao công nghệ được ký kết, Trung tâm môi giới công nghệ yêu cầu phía Doanh nghiệp phải trả thêm một khoản phí khác (gọi là phí môi giới thành công) Yêu cầu từ phía Trung tâm môi giới đã dẫn đến những tranh chấp và ảnh hướng đáng kể đến quá trình triển khai dự án của doanh nghiệp

Trang 30

Chương Ba ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ THÍCH HỢP

Sau khi thu thập được thông tin về các công nghệ và nhà cung cấp, công việc tiếp theo là tiến hành đánh giá công nghệ và nhà cung cấp để lựa chọn công nghệ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp

Phần này giới thiệu một phương pháp luận đơn giản, bao gồm quy trình thực hiện đánh giá và các tiêu chí cơ bản để DNN&V tham khảo cho việc đánh giá, lựa chọn công nghệ cho dự án đầu tư của mình

I Quan điểm về sự thích hợp của công nghệ đối với doanh nghiệp

Thuật ngũ “công nghệ thích hợp” đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, do tính đa dạng và phức tạp của vấn đề này nên nhiều chuyên gia đánh giá công nghệ và các nhà hoạch định chính sách đã hiểu và đưa ra những tiêu chuẩn, tiêu chí và phương pháp phân tích khác nhau Thực tế cho thấy, với tính chất của ĐMCN trong các DNN&V ở Việt Nam, việc sử dụng các tiêu chí và phương pháp đó là không khả thi

Mặc dù trên thực tế có nhiều công nghệ được tạo ra cho cùng một mục tiêu, có cùng công dụng tượng như nhau, nhưng lại khác nhau về tính năng, mức độ hiện đại, quy mô, v.v Sở dĩ như vậy là dó quá trình nghiên cứu và tạo ra các công nghệ đó được thực hiện ở nhiều nước, khu vực khác nhau nên chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Như vậy, về lý tưởng thì một công nghệ được xem là thích hợp nhất khi nó được áp dụng nguyên bản tại một thời điểm và địa điểm nào đó (Kumar, 2000) Tuy nhiên, trong thực tế, điều này ít khi xảy ra đối với các DNN&V ở các nước đang phảt triển như Việt Nam

Do đó, sự thích hợp của một công nghệ không phải là bản chất của bất kỳ công nghệ nào, mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, như chiến lược kinh doanh, khả năng tài chính và các điều kiện để sử dụng công nghệ của một doanh nghiệp Ngoài ra, mức độ thích hợp của một công nghệ cũng phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội của quốc gia (hay địa phương) nơi doanh nghiệp hoạt động, như: văn hóa, pháp luật, nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu, điều kiện môi trường, v.v

Đối với DNN&V, công nghệ phù hợp là công nghệ đáp ứng được mục tiêu phát triển sản xuất - kinh doanh và cạnh tranh, trên cơ sở phù hợp với năng lực của doanh nghiệp, điều kiện của địa phương và quốc gia

Trang 31

II Các bước đánh giá để lựa chọn công nghệ phù hợp

Bước 1: Xây dựng các tiêu chuẩn/chỉ số đánh giá

- Cần nghiên cứu, lựa chọn một tập hợp các tiêu chuẩn trên cơ sở kết hợp đầy đủ các tiêu chí kinh tế-kỹ thuật, năng lực doanh nghiệp và môi trường kinh tế - xã hội có tác động tới hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp

- Tiêu chuẩn để đánh giá cần căn cứ vào nhu cầu công nghệ của bản thân doanh nghiệp tại thời điểm đó Chuẩn của trình độ công nghệ không nhất thiết đồng nhất giữa các ngành, thậm chí giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành Không nhất thiết cái gì cũng phải mới và tiên tiến Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp nên xác định tiêu chuẩn riêng cho mình theo hướng tiến bộ hơn so với tiêu chuẩn của mình trước đó để bảo đảm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm sản sản xuất ra, không tác động xấu đến môi trường, sức khỏe

Bước 2: Đánh giá sơ bộ

- Dựa trên các thông tin đã thu thập được (xem Phần tìm kiếm thông tin), tiến hành đánh giá, so sánh để chọn lọc ra một Danh sách các nhà cung cấp có nhiều triển vọng

- Công việc đánh giá có thể sử dụng các tiêu chí được đưa ra tại Bảng 3 và Bảng 4

Bước 3: Lập Danh sách một số nhà cung cấp có triển vọng

- Dựa trên kết quả đánh giá, chọn ra Danh sách một số nhà cung cấp

có nhiều triển vọng nhất (thông thường gồm 5 nhà cung cấp)

- Nếu cần, quyết định lựa chọn có thể kết hợp kết quả đánh giá với việc tham khảo ý kiến chuyên gia (các nhà tư vấn dịch vụ công nghệ, kỹ sư chuyên ngành, các đối tác khác)

Bước 4: Đánh giá chi tiết

- Đánh giá, so sánh các công nghệ thuộc Danh sách các nhà cung cấp

có triển vọng

- Công việc đánh giá có thể sử dụng các tiêu chí được đưa ra tại Bảng 3 và Bảng 4

Trang 32

- Lựa chọn một công nghệ thích hợp nhất

III Tiêu chí đánh giá công nghệ thích hợp

Dựa trên các tài liệu nghiên cứu về “công nghệ thích hợp” và đổi mới công nghệ, các chuyên gia đã tổng kết và đưa các nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau, phục vụ cho các mục tiêu và đối tượng khác nhau (APCTT,

2000, 2002; Kumar, 2000; UNIDO, 1996; ESCAP, 1993) Hệ thống các tiêu chí tóm tắt trong Bảng 3 dưới đây được xây dựng trên cơ sở tham khảo

và điều chỉnh từ các nghiên cứu đã được ứng dụng ở nhiều nước trong khu vực theo hướng phù hợp với các các DNN&V ở Việt Nam

Về cơ bản, việc đưa quyết định lựa chọn công nghệ cần phải được xem xét đánh giá khả năng đáp ứng đồng thời 3 điều kiện cơ bản sau:

1) Phù hợp với yêu cầu kinh tế - kỹ thuật do doanh nghiệp đề ra; 2) Phù hợp với năng lực công nghệ và kinh tế của doanh nghiệp; 3) Phù hợp với môi trường kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương nơi doanh nghiệp sẽ ứng dụng công nghệ đó vào sản xuất- kinhdoanh

Để tạo dễ dàng cho việc đánh giá, hệ thống các tiêu chí cụ thể được tổng hợp trong Bảng 3 Các DNN&V có thể sử dụng các tiêu chí này để đánh giá, xếp loại các công nghệ trong Danh sách công nghệ có triển vọng nhằm lựa chọn ra một công nghệ phù hợp nhất trong số đó Trường hợp chỉ

có một công nghệ được đưa ra đánh giá thì vẫn có thể áp dụng các tiêu chí này để đánh giá mức độ thích hợp của công nghệ đó

Trang 33

Bảng 3 Các tiêu chí đánh giá lựa chọn công nghệ phù hợp

Các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp về kinh tế - kỹ thuật

Tiêu chuẩn Thuộc tính đánh giá

1 Mức độ phức tạp của công nghệ Nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp

2 Đặc tính năng suất Mức độ nâng cao năng suất

3 Đặc tính chất lượng Mức độ nâng cao chất lượng sản

phẩm

4 Chi phí đầu tư + Mức đầu tư (công nghệ, lặp đặt,

vận hành ) có thể chấp nhận được + So với các công nghệ khác

5 Tỷ suất sinh lợi Mức độ tăng lợi nhuận

6 Tiêu hao năng lượng Mức độ tiết kiệm năng lượng

7 Tác động môi trường Mức độ thân thiện môi trường, an

10 Tính hữu dụng trong thực tế Số lượng doanh nghiệp đã sử dụng

công nghệ này (trong nước, ngoài nước)

11 Triển vọng ứng dụng của công

nghệ

+ Giai đoạn trong vòng đời công nghệ

+ Đang được ứng dụng thử nghiệm hay đã được ứng dụng thành công

+ Xu thể phát triển của các công nghệ liên quan

Trang 34

Các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp với

năng lực của doanh nghiệp

Tiêu chuẩn Thuộc tính đánh giá

1 Quy mô hoạt động Phù hợp với quy mô sản xuất

2 Mức độ sử dụng lao động Quy mô, cường độ sử dụng lao

động, trình độ tay nghề

3 Độ bền của máy móc, thiết bị Dễ/khó bảo dưỡng thường xuyên

4 Mức độ dễ truyền đạt Dễ/khó để truyền đạt các kỹ năng

vận hành và bảo dưỡng

5 Mức độ thích nghi, cải tiến + Dễ/khó để thích nghi, cải tiến

công nghệ bằng những thay đổi nhỏ

về sản phẩm/quy trình sản xuất + Dễ/khó để thích nghi, cải tiến công nghệ bằng những thay đổi nhỏ

về sản phẩm/quy trình sản xuất

6 Trình độ công nghệ tiên tiến nhất

trong khu vực

So sánh khoảng cách về trình độ công nghệ mà doanh nghiệp đang lựa chon với trình độ công nghệ tiên tiến nhất hiện nay

7 Nhu cầu về chi phí đầu tư Dễ/khó huy động được

8 Quan hệ tương tác với các công

nghệ khác của doanh nghiệp

Các loại hình tương tác của công nghệ này với các công nghệ khác đang đồng thời được sử dụng: độc lập, bổ sung hỗ trợ, hay thay thế nhau

Trang 35

Các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp với

môi trường kinh tế - xã hội

Tiêu chuẩn Thuộc tính đánh giá

1 Hệ thống chính sách và thể chế Điều kiện thuận lợi của hệ thống

chính sách, thể chế của chính phủ

để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ, thông tin và ưu đãi

2 Nhu cầu về nguyên liệu Mức độ sử dụng nguyên liệu sẵn có

ở địa phương

3 Tác động tới văn hóa - xã hội Mức độ gây tác động xấu tới các

giá trị văn hóa

4 Triển vọng ứng dụng cho cho

nhiều địa phương,

Khả năng truyền bá công nghệ sang nhiều địa phương

IV Tiêu chí dánh giá, lựa chọn nhà cung cấp công nghệ

Lựa chọn nhà cung cấp công nghệ phù hợp có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện cho bên mua nâng cao tính khả thi (về kỹ thuật, tài chính và thị trường) của dự án đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả khai thác công nghệ, cơ hội học hỏi nâng cao năng lực công nghệ Ở Việt Nam, đã có không ít bằng chứng cho thấy, mặc dù dây chuyền thiết bị công nghệ nhập khẩu thuộc loại tiên tiến, có nhiều tính năng ưu việt nhưng lại không đem lại nhiều lợi ích cho bên mua do những hạn chế nhất định liên quan đến nhà cung cấp (bên có công nghệ chào bán) Vì vậy, việc đánh giá lựa chọn nhà cung cấp công nghệ cần phải được xem là một bước không thể thiếu trong quá trình đánh giá lựa chọn công nghệ phù hợp Vậy, căn cứ vào các tiêu chí nào để có thể lựa chọn được nhà cung cấp phù hợp?

Trước hết, bên mua cần tìm hiểu nhà cung cấp là tổ chức thuộc loại hình nào: là một công ty sản xuất, hay tổ chức nghiên cứu công nghệ, hay

là một tổ chức chuyên cung cấp dịch vụ kỹ thuật? Trong trường hợp nhà cung cấp cũng là một công ty sản xuất đã từng sử dụng công nghệ đó, có nhiều kinh nghiệm thực tế thì bên mua có nhiều cơ hội để có được sự hỗ trợ

kỹ thuật (lắp đặt, vận hành, chạy thử, bảo dưỡng và khắc phục sự cố) trên

cơ sở thỏa thuận Ngoài ra, bên mua cũng cần chú ý đến năng lực thị trường

và uy tín (trong nước, quốc tế) của nhà cung cấp, vì điều này có thể tạo điều

Trang 36

kiện thuận lợi trong việc huy động các nguồn tài chính và mở rộng thị trường sản phẩm Bên mua cần phải tìm hiểu đẩy đủ thông tin liên quan đến quyền sở hữu và quyền chuyển giao hợp pháp của nhà cung cấp đối với công nghệ đó, nếu không bên mua có thể bị kiện theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ Thêm nữa, tình trạng tài chính của nhà cung cấp công nghệ cũng là một yếu tố cần được quan tâm lưu ý

Đối với một số DNN&V hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao (điện tử-viễn thông, tự động hóa, vật liệu mới ), bên mua cần đặc biệt chú ý tìm hiểu năng lực nghiên cứu và phát triển của nhà cung cấp Năng lực này, một mặt cho thấy chất lượng và triển vọng thương mại của công nghệ, mặt khác là cơ sở để bên mua xem xét đàm phán để có được các giải pháp hỗ trợ nghiên cứu để bên mua thích nghi, làm chủ công nghệ trong trường hợp cần thiết

Dựa vào những phân tích trên, một số tiêu chí cơ bản có thể được sử dụng để đánh giá sự phù hợp của nhà cung cấp công nghệ được tóm tắt trong Bảng 4

Bảng 4 Tiêu chí đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp công nghệ

1 Tỷ phần thị trường, phân khúc thị trường sản phẩm (trong nước, ngoài nước)

2 Tình trạng tài chính (giá trị tài sản, vay nợ )

3 Năng lực về nghiên cứu và phát triển

4 Quyền hợp pháp đối với sở hữu công nghệ

5 Quyền hợp pháp để chuyển giao công nghệ

6 Mức độ cung cấp các dịch vụ bảo hành, cung cấp thiết bị/linh kiện thay thế, giải quyết sự cố phát sinh

7 Mức độ cung cấp dịch vụ hỗ trợ để bên mua thích nghi, làm chủ công nghệ

8 Uy tín so với các nhà cung cấp khác

Trang 37

V Yếu tố có thể ảnh hưởng bất lợi tới đánh giá, lựa chọn công nghệ

Nói chung, đánh giá và lựa chọn công nghệ phù hợp là một vấn đề khó khăn đối với các DNN&V Vì vậy, các doanh nghiệp cần lưu ý một số vấn đề sau đây để đưa ra quyết định lựa chọn đúng đắn:

- Thuê các chuyên gia đánh giá không nắm vững yêu cầu và khả năng của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp không có khả năng nhận thức đầy đủ, rõ ràng về giá trị của công nghệ cho các mục tiêu trung và dài hạn

- Thiếu thông tin chính xác để đưa ra các quyết định lựa chọn công nghệ phù hợp

- Thiếu các tiêu chuẩn được công bố rõ ràng hoặc phù hợp với các DNN&V

- Thiếu kỹ năng phân tích các số liệu, thông tin một cách độc lập nên nhiều trường hợp phải dựa vào các những thông tin đã bị sửa đổi bởi bên bán công nghệ

Trang 38

Chương Bốn LỰA CHỌN HÌNH THỨC PHÙ HỢP

ĐỂ CÓ ĐƯỢC CÔNG NGHỆ MỚI

Sau khi lựa chọn được công nghệ phù hợp, vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp có được công nghệ đó Một doanh nghiệp có thể có được công nghệ mới bằng nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức đều có tính chất, lợi ích và hạn chế nhất định Lựa chọn được hình thức phù hợp tạo điều kiện thuận lợi doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ, giảm mức độ phụ thuộc vào các nguồn bên ngoài

Chương này giới thiệu cho các nhà quản trị DNN&V một cách tiếp cận phân tích khá đơn giản để hỗ trợ đưa ra quyết định lựa chọn đúng đắn

I Nguồn đổi mới công nghệ

Về cơ bản, ĐMCN của một doanh nghiệp có thể được tạo ra từ 02 nguồn cơ bản:

- Từ bên trong doanh nghiệp: do doanh nghiệp tự nghiên cứu, tạo ra

- Từ bên ngoài doanh nghiệp: do doanh nghiệp mua từ các tổ chức bên ngoài

Kinh nghiêm cho thấy, khả năng kết hợp 2 nguồn trên (với các mức

độ khác nhau) có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công trong ĐMCN đối với các DNN&V

I.1 Nguồn bên trong doanh nghiệp

Trong trường hợp này, công nghệ mới là kết quả của quá trình tự nghiên cứu và phát triển của doanh nghiêp Điều này trước hết đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực tốt về nghiên cứu và phát triển

Việc tự nghiên cứu, chế tạo ra công nghệ mới cho phép doanh nghiệp có một số lợi thế nhất định như khả năng sở hữu độc quyền về công nghệ và đáp ứng tốt nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp Tuy nhiên, hình thức này thường gắn với nhiều rủi ro, vì thời gian thực hiện ĐMCN lâu hơn, chi phí đầu tư cao hơn so với việc mua công nghệ sẵn có từ bên ngoài

Với thực trạng và năng lực công nghệ hiện nay, rất ít DNN&V có khả năng thực hiện ĐMCN thuần túy dựa vào nguồn lực tự có

Trang 39

I.2 Nguồn bên ngoài doanh nghiệp

Thực tế ĐMCN trong khu vực DNN&V ở Việt cho thấy, đa số các doanh nghiệp dựa vào các nguồn công nghệ từ bên ngoài Lựa chọn này đòi hỏi doanh nghiệp cần có một số năng lực nhất định, bao gồm: tìm kiếm, lựa chọn công nghệ thích hợp, đàm phán hợp đồng CGCN và thích nghi công nghệ mua về phù hơp với điều kiện ứng dụng của mình, v.v Lựa chọn này cho phép doanh nghiệp giảm bớt chi phí, thời gian thực hiện và rủi ro phát sinh

Hiện tại và trong tương lai gần, các DNN&V trong nước có thể tập trung xem xét, lựa chọn một số hình thức sau để có được công nghệ mới:

- Thiết kế và chế tạo theo mẫu sản phẩm sẵn có trên thị trường

- Mua và làm chủ một số công nghệ hợp phần

- Mua quyền sử dụng công nghệ (li-xăng)

- Mua thiết bị chứa đựng công nghệ

Nói chung, lựa chọn hình thức nào trước hết tùy thuộc vào bên bán công nghệ Trong trường hợp bên bán đưa ra nhiều hình thức lựa chọn thì quyết định của bên mua có thể dựa vào việc so sánh mức chi phí và lợi ích giữa các hình thức đó Bên mua cần

phải thận trọng đánh giá đầy đủ các

vấn đề liên quan đến kỹ thuật, giá cả,

uy tín của nhà cung cấp, cũng như lợi

ích của việc phát triển mối quan hệ

hợp tác kinh doanh lâu dài

So với các hình thức ĐMCN

dựa vào nguồn lực nội bộ của doanh

nghiệp, việc ĐMCN dựa vào các

nguồn công nghệ bên ngoài thường ít

tạo cơ hội để xây dựng năng lực công

nghệ nội sinh Khi đánh giá lựa chọn

hình thức phù hợp để có được công

nghệ mới cần lưu ý đối với yêu cầu

nâng cao năng lực công nghệ, vì về

lâu dài cho phép giảm mức độ phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài

Ở Việt Nam, mặc dù nhiều DNN&V chủ yếu dựa trên nguồn công nghệ từ bên ngoài, nhưng cũng có một số trường hợp khá thành công trong

Không ít trường hợp cho rằng, đối với các DNN&V, việc dựa vào nguồn công nghệ từ bên ngoài là cách hiệu quả nhất, thậm chí là cách duy nhất, để thực hiện ĐMCN và nâng cao khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, về lâu dài các doanh nghiệp phải xác định

rõ nhu cầu cụ thể đối với ĐMCN bằng cách xây dựng kế hoạch CGCN theo hướng tạo nhiều cơ hội cho việc học hỏi nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của mình Điều này, trước hết đỏi hỏi phải khai thác tốt các dịch vụ đào tạo, kỹ thuật của nhà cung cấp khi đàm phán hợp đồng CGCN

Trang 40

việc kết hợp nguồn công nghệ từ bên ngoài với nguồn nội bộ theo các mức

độ khác nhau Có thể thấy rõ xu hướng này trong một số ngành có áp lực cạnh tranh tương đối mạnh như điện tử, chế tạo khuôn mẫu, nhựa, chế biến thực phẩm, v.v

I.3 Tiêu chí đánh giá để lựa chọn hình thức phù hợp để có được công nghệ mới

1 Năng lực công nghệ

Năng lực công nghệ là điều kiện cơ bản để tạo ra công nghệ mới hoặc để tiếp thu và làm chủ công nghệ mới được tạo ra từ các tổ chức khác Nếu có năng lực tốt, doanh nghiệp sẽ

có nhiều khả năng lựa chọn để có

được công nghệ mới

Việc lựa chọn hình thức để có

được công nghệ mới phụ thuộc vào

năng lực hiện có của doanh nghiệp

Vì thế, trước hết cần đánh giá chính

xác năng lực công nghệ đang ở mức

độ nào Đối với các DNN&V, công

việc này có thể dựa vào sự trợ giúp

của các chuyên gia đánh giá có uy tín

Đối với nhiều DNN&V,

ĐMCN chủ yếu dựa vào các nguồn

bên ngoài nên cần lưu ý lựa chọn hình

thức phù hợp để tạo nhiều cơ hội cho

việc nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp

2 Thời gian đưa sản phẩm ra thị trường

Thời gian thực hiện một dự án ĐMCN là yếu tố quan trọng để xem xét lựa chọn hình thức tiếp nhận công nghệ mới Nói chung, ĐMCN dựa vào các nguồn công nghệ từ các tổ chức bên ngoài cho phép rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường so với việc tự phát triển ra công nghệ mới

Vì thế, cần cân nhắc kỹ các lợi ích và bất lợi giữa việc cho phép rút ngắn thời gian để đưa sản phẩm mới ra thị trường và nguy cơ giảm bớt lợi thế sở hữu về công nghệ cũng như cơ hội để tự nghiên cứu tạo ra công nghệ mới

Kinh nghiệm cho thấy, việc tự nghiên cứu tạo ra công nghệ mới

để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thị trường thường là cách không hiệu quả Nhưng điều này cũng không có nghĩa là giải pháp mua công nghệ sẵn có từ bên ngoài là

sự lựa chọn tối ưu Doanh nghiệp nên tính toán đẩy đủ các khoản thời gian dành cho các hoạt động đàm phán, kỹ kết hợp đồng CGCN, lắp đặt và vận hành hệ thống thiết bị, đào tạo nhân lực

và thích nghi công nghệ mới mua

về để phù hợp với điều kiện sản xuất của doanh nghiệp

Ngày đăng: 15/05/2014, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Mekong Project Development Facility (MPDF, 1999): SME in Vietnam On the Road of Prosperity. (Private sector discussion). WB 20. MPDF (1998): Business Services in Vietnam. WB Sách, tạp chí
Tiêu đề: SME in Vietnam On the Road of Prosperity
Tác giả: Mekong Project Development Facility
Nhà XB: WB
Năm: 1999
23. Mekong Capital (2003): Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa tại Việt Nam
Tác giả: Mekong Capital
Năm: 2003
26. Nguyễn Võ Hưng (2005): Nghiên cứu cơ chế và chính sách KH&CN khuyến khích đổi mới công nghệ đối với DNN&V có vốn nhà nước.(Báo cáo đề tài). Bộ KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ chế và chính sách KH&CN khuyến khích đổi mới công nghệ đối với DNN&V có vốn nhà nước
Tác giả: Nguyễn Võ Hưng
Nhà XB: Bộ KH&CN
Năm: 2005
29. Tether, B. S. (1998): “Small and Large Firms: Sources of Unequal Innovations?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Small and Large Firms: Sources of Unequal Innovations
Tác giả: Tether, B. S
Năm: 1998
18. Lý Đình Sơn (2002): Một số ý kiến trong việc xây dựng hệ thống thụng tin và chuyển giao cụng nghệ trong khu vực cỏc DNNVV. (Bỏo cáo tham luận hội thảo) Khác
24. Narayanan, V.K (2001): Managing technology and innovation for comtetitive advantage. Pearson Education, Inc, Singapore Khác
25. NISTPASS (2005): Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ. (Tài liệu hướng dẫn OSLO của OECD) Khác
27. Nguyễn Tỵ (2002): Xây dựng luận cứ khoa học hình thành khung chính sách, tổ chức quản lý và hệ thống hỗ trợ các doanh nghiệp vừavà nhỏ. (Báo cáo đề tài cấp Nhà nước). Liên minh các hợp tác xã Việt Nam Khác
28. Nguyễn Đăng Đậu, Nguyễn Xuân Tài (2003): Giáo trình quản lý công nghệ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất bản Thống Kê Khác
30. Trần Ngọc Ca (2000): Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam. (Báo cáo đề tài cấp Bộ KH&CN) Khác
31. Trần Ngọc Ca (2003): Quản lý công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do hoá kinh tế.(Báo cáo của Dự án SAREC) Khác
36. World Bank (2001): Committee of Donor Agencies for Small Enterprise Development. WBVăn bản pháp quy Khác
1. Luật Chuyển giao công nghệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày29/11/2006 Khác
2. Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ Khác
3. Nghị định số 122/2003/NĐ-CP ngày 22/10/2003 của Chính phủ về thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Khác
4. Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và công nghệ Khác
5. Quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (Dự thảo) Khác
6. Quyết định số 117/2005/QĐ-TTg ngày 27/05/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ mẫu tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Khác
7. Quyết định số 143 /2004/QĐ-TTg ngày 10/08/2004 của Thủ tướng Chớnh phủ phờ duyệt Chương trỡnh trợ giỳp đào tạo nguồn nhõn lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
8. Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 về quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Các loại hình đổi mới công nghệ - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Hình 1. Các loại hình đổi mới công nghệ (Trang 15)
Hình 2. Các giai đoạn của quản lý công nghệ - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Hình 2. Các giai đoạn của quản lý công nghệ (Trang 18)
Hình 2 cho thấy các hoạt  động  ở giai đoạn sau được bổ sung, phát  triển thêm dựa trên các thành phần của giai đoạn trước  đó - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Hình 2 cho thấy các hoạt động ở giai đoạn sau được bổ sung, phát triển thêm dựa trên các thành phần của giai đoạn trước đó (Trang 19)
Bảng 3. Các tiêu chí đánh giá lựa chọn công nghệ phù hợp - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Bảng 3. Các tiêu chí đánh giá lựa chọn công nghệ phù hợp (Trang 33)
Bảng 4. Tiêu chí đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp công nghệ - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Bảng 4. Tiêu chí đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp công nghệ (Trang 36)
Bảng 5. Mức độ phù hợp với tính chất ĐMCN của dự án đầu tư - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Bảng 5. Mức độ phù hợp với tính chất ĐMCN của dự án đầu tư (Trang 62)
Hình 3. Hình thức huy độngvốn đổi mới công nghệ - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Hình 3. Hình thức huy độngvốn đổi mới công nghệ (Trang 63)
Bảng 6. Mức độ phù hợp với tổ chức tài chính - Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam
Bảng 6. Mức độ phù hợp với tổ chức tài chính (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w